1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) những nhân tố tác động đến chất lượng thông tin của báo cáo bộ phậnnghiên cứu tình huống tại các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP HCM

99 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- PHAN THỊ THANH THẢO NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CỦA BÁO CÁO BỘ PHẬN: NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HCM

Trang 1

-

PHAN THỊ THANH THẢO

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG

THÔNG TIN CỦA BÁO CÁO BỘ PHẬN:

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG

KHOÁN TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2019

Trang 2

-

PHAN THỊ THANH THẢO

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG

THÔNG TIN CỦA BÁO CÁO BỘ PHẬN:

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài nghiên cứu này là do chính tác giả thực hiện Kết quả nghiên cứu của luận văn được phản ánh trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Tất cả các nội dung mà luân văn kế thừa từ các nghiên cứu trước đều được tác giả trích dẫn và trình bày nguồn cụ thể trong mục tài liệu tham khảo

Tp.HCM, tháng 05 năm 2019

Tác giả

Phan Thị Thanh Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ

TÓM TẮT - ABSTRACT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Những đóng góp của đề tài 3

6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận 3

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 4

7 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5

1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5

Nghiên cứu về quan điểm lập và trình bày báo cáo bộ phận 5

Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin BCBP 10

1.2 Các nghiên cứu trong nước 15

1.3 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng của tác giả 20

Khoảng trống nghiên cứu 20

Định hướng của tác giả 21

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 23

Trang 5

2.1 Tổng quan chuẩn mực kế toán về BCBP trên thế giới và ở Việt Nam 23

Trên thế giới 23

Ở Việt Nam 24

2.2 Vai trò của báo cáo bộ phận 25

2.3 Các vấn đề liên quan đến BCBP 26

So sánh VAS 28 và IAS 14 26

So sánh VAS 28 với IFRS 8 29

Ảnh hưởng của chuẩn mực VAS 28/IAS 14 và IFRS 8 lên BCBP 30

2.4 Lý thuyết nền tảng 31

Lý thuyết chi phí sở hữu độc quyền (Proprietary costs theory) 31

Lý thuyết đại diện (Agency theory) 32

Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory) 33

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Khung nghiên cứu 35

3.2 Mô hình nghiên cứu 36

3.3 Xây dựng giả thuyết 37

3.4 Phương pháp nghiên cứu 40

3.5 Đo lường các biến 41

Biến phụ thuộc: Chất lượng thông tin BCBP (SRQI) 42

Biến độc lập 44

3.6 Mẫu nghiên cứu 46

3.7 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 46

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

4.1 Kết quả nghiên cứu 48

Thống kê mô tả 48

Phân tích tương quan 50

Phân tích hồi quy đa biến 52

Kiểm định phần dư 56

Kiểm định sự khác biệt One–Way Anova 57

Trang 6

4.2 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 57

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 62

5.1 Kết luận 62

5.2 Kiến nghị 63

Kiến nghị với ban quản trị doanh nghiệp 63

Kiến nghị với sở giao dịch chứng khoán 64

Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức liên quan khác 64

5.3 Đóng góp của đề tài 65

Về mặt lý luận 65

Về mặt thực tiễn 65

5.4 Hạn chế của đề tài 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

❖ Chữ viết tắt tiếng Anh

- ASX: Australian Securities Exchange – Sở giao dịch chứng khoán Úc

- FASB: Financial Accounting Standards Board – Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính

- GAAP: Generally Accepted Accounting Principles – những nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung

- HOSE: Ho Chi Minh Stock Exchange – Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh

- HNX: Ha Noi Stock Exchange – Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

- IAS: International Accounting Standards – Chuẩn mực kế toán quốc tế

- IASC: International Accounting Standards Board – Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế

- IFRS: International Financial Reporting Standards – Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

- SFAS: Statement of Financial Accounting Standards – Chuẩn mực kế toán tài chính

- VAS: Vietnamese Accounting Standards – Chuẩn mực kế toán Việt Nam

❖ Chữ viết tắt tiếng Việt

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu về quan điểm lập và trình bày BCBP 7

Bảng 1.2 Tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin của BCBP 12

Bảng 1.3 Tổng hợp các nghiên cứu trong nước về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin của BCBP 17

Bảng 2.1 Tổng kết các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin của BCBP từ cơ sở lý thuyết 33

Bảng 3.1 Tổng hợp mô tả dấu kì vọng tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc 40

Bảng 3.2 Các khoản mục bắt buộc trình bày theo VAS 28: 42

Bảng 3.3 Đo lường các biến 45

Bảng 4.1 Tóm tắt thống kê mô tả mẫu khảo sát 48

Bảng 4.2 Tóm tắt số liệu thống kê mô tả của các biến 49

Bảng 4.3 Ma trận mối tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc 51

Bảng 4.4 Đánh giá sự phù hợp của mô hình: 52

Bảng 4.5 Kết quả phân tích phương sai ANOVA 53

Bảng 4.6 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 53

Bảng 4.7 Kết quả hệ số hồi quy chuẩn hóa 54

Bảng 4.8 Kết quả kiểm định ONE – WAY ANOVA 57

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Lịch sử phát triển của các chuẩn mực về BCBP 24

Sơ đồ 3.1 Khung nghiên cứu 35

Sơ đồ 3.2 Mô hình nghiên cứu 37

Sơ đồ 4.1 Mô hình mức độ tác động của các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP 55

Sơ đồ 4.2 Biểu đồ tần số của các phần dư chuẩn hóa 56

Sơ đồ 4.3 Biểu đố phân tán phần dư 56

Trang 10

Những nhân tố tác động đến chất lượng thông tin của báo cáo bộ phận: Nghiên cứu tình huống tại các doanh nghiệp niêm yết trên

sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM

Tóm tắt

− Lý do chọn đề tài nghiên cứu: Có một sự không thống nhất trong kết quả

nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP của các nghiên cứu trước đây Do đó, cần có thêm những bằng chứng thực nghiệm nhằm xác định các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Tp.HCM, đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng, làm căn cứ đề đưa ra một số kiến nghị giúp nâng cao chất lượng thông tin trình bày trên BCBP

− Mục tiêu nghiên cứu: Xác định những nhân tố tác động đến chất lượng

thông tin trình bày trên BCBP của các doanh nghiệp niêm yết tại SGDCK Tp.HCM Đưa ra một số kiến nghị giúp nâng cao chất lượng thông tin trình bày trên BCBP

− Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng nghiên cứu định lượng Mẫu

nghiên cứu là báo cáo tài chính của 235 công ty niêm yết trên SGDCK Tp.HCM năm 2017 Mô hình nghiên cứu được kế thừa từ nghiên cứu của Samel và cộng sự (2018) gồm 5 nhân tố tác động: quy mô công ty, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, chất lượng kiểm toán và nhân tố mức độ quốc tế hóa

− Kết quả nghiên cứu: Nhân tố đòn bẩy tài chính không có ảnh hưởng đến

chất lượng thông tin BCBP, 4 nhân tố là quy mô công ty, mức độ quốc tế hóa, chất lượng kiểm toán và khả năng sinh lời có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCBP, các biến độc lập giải thích được 39.2% sự thay đổi của biến phụ thuộc

− Kết luận và hàm ý: Các công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM hiện nay

chưa thực sự quan tâm đến việc lập và trình bày BCBP Với những nhóm ngành khác nhau chất lượng thông tin trình bày trên BCBP cũng không giống nhau

− Từ khóa: Chất lượng thông tin báo cáo bộ phận, quy mô công ty, chất lượng

kiểm toán, mức độ quốc tế hóa, khả năng sinh lời

Trang 11

Factors influencing the information quality of segment reporting: Case study in enterprises listed on Hochiminh Stock Exchange Abstract

− Reason for writing: There is a discrepancy in the research results on the

factors affecting the information quality of segment reporting of previous studies Therefore, it is necessary to have more empirical evidence to determine the factors affecting the information quality of segment reporting in enterprises listed on Hochiminh Stock Exchange, also a basis to make some recommendations to improve the information quality of segment reporting

− Problem: Determine the factors affecting the information quality of segment

reporting in enterprises listed on Hochiminh Stock Exchange Making some recommendations to improve the information quality of segment reporting

− Methods: This study is using quantitative research The research sample is

the financial report of 235 companies listed on the Ho Chi Minh Stock Exchange in

2017 The research model is inherited from the research of Samel et al (2018) including 5 impact factors: firm size, profitability, financial leverage, audit quality and degree of internationalization

− Results: Financial leverage does not affect the information quality of

segment reporting Firm size, profitability, audit quality and degree of internationalization affect the information quality of segment reporting Independent variables explain 39.2% of the variation of the dependent variable

− Conclusion: The companies listed on the HCM Stock Exchange are

currently not really interested in making and presenting segment reporting For companies in different industry groups, the quality of information presented on segment reporting from those ones are not the same

Keywords: The information quality of segment reporting, firm size, audit

quality, degree of internationalization, profitability

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xu hướng quốc tế hóa mọi mặt đã mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp

ở Việt Nam hướng đến thị trường trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, đây cũng là một môi trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt, buộc các doanh nghiệp phải nâng cao tiềm lực tài chính, kiểm soát tốt hoạt động của đơn vị nhằm gia tăng sức cạnh tranh trong một môi trường kinh doanh mở Đặc biệt đối với các công ty đại chúng, muốn phát triển bền vững, vận hành một cách hiệu quả, giữ được giá trị cốt lõi, không bị các doanh nghiệp khác thâu tóm thì các doanh nghiệp này phải đạt được những thành tựu nhất định về vốn và phải đáp ứng được yêu cầu của pháp luật Do đó, việc công bố thông tin về tình hình hoạt động một cách minh bạch, đáng tin cậy là tất yếu, khách quan, không chỉ phát sinh từ các mối quan hệ xã hội, kinh tế, tài chính mà còn đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các cơ quan nhà nước, nhà đầu tư, cũng như từ nhu cầu quản lý của chính các doanh nghiệp

Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong quá trình thu hút vốn đầu tư, thuận tiện cho các nhà quản trị trong việc phân tích, dự báo hiệu quả hoạt động của công ty, cũng như có thêm công cụ để thực hiện chức năng quản lý, giám sát của các cơ quan nhà nước Trong những năm qua, Bộ tài chính đã cho ra đời nhiều văn bản pháp quy, đưa ra những hướng dẫn, quy định cụ thể và thống nhất việc lập và trình bày các báo cáo liên quan đến việc công bố thông tin tài chính nhằm tăng tính hữu ích của thông tin cho người sử dụng Ngày 15 tháng 02 năm

2005, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 28 (VAS 28) được công bố theo quyết định

số 12/2005/QĐ-BTC Chuẩn mực này đưa ra những nguyên tắc và hướng dẫn cách thức lập báo cáo cho các thông tin tài chính bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh hoặc khu vực địa lý nhằm cung cấp thêm thông tin cho người sử dụng BCTC, giúp họ hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, và nhận thấy được những rủi

ro bên cạnh những lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp mang lại, từ đó có những quyết định hợp lý

Trang 13

Tuy nhiên, sau 13 năm áp dụng VAS 28 ở Việt Nam, các nghiên cứu về BCBP đều cho thấy nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thấy được tầm quan trọng của việc trình bày BCBP, do đó không lập BCBP hoặc lập BCBP một cách sơ sài, làm giảm chất lượng thông tin của BCTC (Nguyễn Thị Phương Thúy, 2011; Nguyễn Thị Kim Nhung, 2013; Phan Thị Thu Trang, 2017) Vì vậy tác giả lựa chọn thực

hiện nghiên cứu đề tài “Những nhân tố tác động đến chất lượng thông tin của

báo cáo bộ phận: nghiên cứu tình huống tại các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Tp HCM” Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm ra

những nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP, từ đó giúp cho nhà quản trị có những giải pháp thích hợp nhằm cải thiện chất lượng thông tin trên BCBP

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài nghiên cứu là xác định những nhân tố tác động đến chất lượng thông tin BCBP của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Tp.HCM Do

đó nhiệm vụ cơ bản của nghiên cứu này là:

− Xác định và phân tích những nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trên BCBP của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Tp.HCM

− Đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố đến chất lượng thông tin của BCBP

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu của đề tài, nghiên cứu phải trả lời được các câu hỏi sau:

➢ Câu hỏi nghiên cứu 1: Những nhân tố nào đã tác động đến chất lượng

BCBP của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Tp.HCM?

➢ Câu hỏi nghiên cứu 2: Mức độ tác động của từng nhân tố đến chất

lượng BCBP như thế nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 14

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Tp.HCM

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP Số liệu thu thập từ BCTC hợp nhất đã kiểm toán năm 2017 của các công ty niêm yết trên SGDCK Tp.HCM

Đề tài không nghiên cứu các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản và dịch vụ tài chính

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Những phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

Phương pháp tiếp cận hệ thống, phân tích, tổng hợp: phương pháp này

dùng để tiếp cận với các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ đó xem xét, tổng hợp, lựa chọn những nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP và xây dựng mô hình nghiên cứu cho luận văn

Phương pháp điều tra chọn mẫu: Nghiên cứu thực hiện chọn mẫu bằng

phương pháp chọn mẫu thuận tiện Dữ liệu thu thập là dữ liệu thứ cấp, được lấy từ BCTC của các công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM (HOSE) năm 2017

Phương pháp thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy đa biến: Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 20 nhằm đo lường mức độ tác động của

Trang 15

Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung vào cơ sở lý luận những bằng chứng thực nghiệm liên quan đến chất lượng của BCBP, làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực kế toán

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Nghiên cứu cung cấp một bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin của BCBP trong bối cảnh ở các doanh nghiệp niêm yết tại SGDCK Tp.HCM năm 2017

Thông qua kết quả nghiên cứu, luận văn giúp xác định được những nhân tố tác động trực tiếp đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP Từ đó đưa ra một

số kiến nghị giúp hoàn thiện việc trình bày và công bố thông tin trên BCBP của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Tp.HCM nói riêng và các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu trình bày lý do nghiên cứu, khái quát toàn bộ nội dung của nghiên cứu và các phụ lục, luận văn có kết cấu 5 chương bao gồm:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu: Trình bày nội dung tổng quát của các

nghiên cứu trước đây có liên quan đến luận văn ở Việt Nam và trên thế giới Từ đó, xác định khoảng trống cần nghiên cứu và sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày các khái niệm, các lý thuyết làm cơ

sở cho nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày quy trình nghiên cứu,

phương pháp nghiên cứu, xây dựng giả thuyết và thiết lập mô hình nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả thu thập dữ liệu, kết quả

phân tích mức độ tác động của các nhân tố thông qua mô hình hồi quy

Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Đưa ra kết luận từ kết quả nghiên cứu, đề

xuất một số giải pháp và các chính sách nhằm cải thiện chất lượng BCBP

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Trong phạm vi chương này, tác giả trình bày khái quát các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam và trên thế giới có liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ đó xem xét những hạn chế cũng như những khoảng trống của những nghiên cứu trước đây, làm

cơ sở giúp cho tác giả định hướng để thực hiện nghiên cứu này

1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Từ thập niên 70 của thế kỷ XIX, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu và những cuộc thảo luận liên quan đến thông tin bộ phận Các nghiên cứu này phần lớn được thực hiện theo 2 hướng:

• Nghiên cứu về quan điểm lập và trình bày báo cáo bộ phận

• Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chất lượng báo cáo bộ phận

Nghiên cứu về quan điểm lập và trình bày báo cáo bộ phận

Thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ cạnh tranh trong ngành

và quyết định của nhà quản lý trong việc lập BCBP theo lĩnh vực kinh doanh Qua khảo sát 929 doanh nghiệp ở Hoa Kỳ có BCBP kinh doanh trong BCTC hàng năm, giai đoạn 1987-1991, Harris (1998) nhận định rằng, mức độ cạnh tranh ngành càng cao, mức độ công bố thông tin càng thấp Các nhà quản lý miễn cưỡng công bố thông tin bộ phận vì những công bố này sẽ cung cấp thông tin có giá trị cho các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, họ cố gắng che giấu những thông tin mà các công ty đối thủ có thể nắm bắt để thu lợi nhuận Do đó, mặc dù vẫn đáp ứng yêu cầu của chuẩn mực SFAS 14, các nhà quản lý có xu hướng xác định các bộ phận hoạt động một cách tùy ý theo cách làm giảm tính hữu ích thông tin bộ phận được công bố Nghiên cứu gặp hạn chế về mẫu nghiên cứu: phần lớn các doanh nghiệp được lựa chọn không lập BCBP theo lĩnh vực kinh doanh

Trong một nghiên cứu của Kinsey and Meek (2004) với mục tiêu là để xác định IAS 14R ảnh hưởng như thế nào đến việc công bố thông tin bộ phận hoạt động khi chuyển đổi từ IAS 14 sang IAS 14R đối với 960 công ty niêm yết ở Hoa Kỳ từ năm 1997 đến năm 2000 Kết quả cho thấy rằng các công ty đáp ứng các yêu cầu của IAS 14R là công bố thông tin cho cả bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh và khu

Trang 17

vực địa lý Trong đó, công ty phải chỉ định một trong số nhóm sản phẩm và dịch vụ hoặc khu vực địa lý để làm bộ phận chính và các nhóm khác là bộ phận phụ Tuy nhiên, IAS 14R không hoàn toàn được chấp nhận Chỉ các công ty có quy mô lớn, niêm yết trên nhiều sàn chứng khoán, được kiểm toán bởi kiểm toán viên Big Five (nay là Big Four) công bố nhiều thông tin kế toán hơn và tuân thủ tốt hơn các yêu cầu của IAS 14R

Trong nghiên cứu của Tsakumis et al (2006) về tác động của áp lực cạnh tranh lên việc công bố BCBP Kết quả cho thấy rằng, những bộ phận nằm trong khu vực địa lý có mức độ cạnh tranh càng cao sẽ được công bố thông tin về bộ phận càng ít cụ thể Bên cạnh đó, quy mô công ty, doanh thu từ nước ngoài cũng là những nhân tố tác động tích cực đến việc công bố thông tin bộ phận, chúng thúc đẩy các doanh nghiệp công bố thông tin riêng cho từng quốc gia Hạn chế mà nghiên cứu gặp phải là chỉ thực hiện khảo sát 500 công ty lớn ở Mỹ năm 1998, do đó không thể áp dụng kết quả này để giải thích cho những công ty có quy mô nhỏ

Berger and Hann (2007) nghiên cứu về việc công bố lợi nhuận của bộ phận dưới ảnh hưởng của chi phí đại diện và chi phí sở hữu Nghiên cứu này điều tra điều

gì đã thúc đẩy người quản lý che giấu thông tin bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh của 796 doanh nghiệp Hoa Kỳ lập BCBP theo chuẩn mức SFAS 131 Tác giả đã chỉ

ra rằng: Do ảnh hưởng của lý thuyết chi phí đại diện, nhà quản lý có xu hướng che giấu thông tin về lợi nhuận thấp của bộ phận nhằm tránh bị đánh giá về khả năng quản lý kém và sự tập trung giám sát từ bên ngoài của các cổ đông Ngược lại, ảnh hưởng của lý thuyết chi phí sở hữu độc quyền làm cho nhà quản lý có xu hướng che giấu thông tin về lợi nhuận cao của bộ phận để tránh thu hút sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp cùng ngành Do đó, với yêu cầu lập BCBP theo “phương pháp quản lý” của SFAS 131 - tức là các doanh nghiệp có thể xác định bộ phận báo cáo tùy ý theo cơ cấu của tổ chức - các nhà quản lý có xu hướng che giấu những thông tin bất thường về lợi nhuận của bộ phận hoạt động bằng cách chia sẻ lợi nhuận giữa các bộ phận, hạn chế việc công bố thông tin bộ phận một các riêng biệt

Trang 18

Trong nghiên cứu của Nichols et al (2012) về tác động của việc áp dụng IFRS 8 lên BCBP của các công ty “Blue Chip” ở Châu Âu Với mẫu nghiên cứu là BCTC của 335 doanh nghiệp niêm yết trên 14 sàn GDCK ở Châu Âu năm 2009 Nghiên cứu tập trung xem xét những lợi ích khi áp dụng IFRS 8 và thấy rằng IFRS

8 yêu cầu xác định bộ phận dựa trên “phương pháp quản lý”, các bộ phận được xác định dựa trên lĩnh vực kinh doanh, khu vực địa lý, kết hợp lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý, hoặc bất kỳ định dạng nào khác được phản ánh trong sơ đồ tổ chức, miễn là các bộ phận này phải tạo ra doanh thu và phát sinh chi phí, có thông tin tài chính riêng biệt, hoạt động của chúng được các nhà quản lý thường xuyên xem xét

để ra quyết định điều hành hoạt động BCBP lập theo IFRS 8 sử dụng những thông tin có sẵn được tạo ra từ hệ thống quản lý nội bộ của doanh nghiệp Điều này giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí công bố thông tin, đồng thời giúp nhà đầu tư có thể xem xét doanh nghiệp dưới con mắt của nhà quản lý

Bên cạnh đó, kết quả đã cho thấy có một sự thay đổi sau khi IFRS 8 được

áp dụng là số lượng công ty lập BCBP tăng lên đáng kể, tuy nhiên việc áp dụng chuẩn mực này làm giảm khả năng so sánh của thông tin bộ phận giữa các công ty với nhau Hạn chế của nghiên cứu mà tác giả xác định là nghiên cứu này chỉ được thực hiện đối với những công ty “Blue Chip” ở Châu Âu, đây là những đơn vị được kiểm toán bởi những công ty kiểm toán quốc tế lớn Vì thế, kết quả nghiên cứu này

có thể không đại diện cho tất cả các công ty có quy mô khác nhau trên thế giới

❖ Tổng hợp các nghiên cứu về quan điểm lập và trình bày BCBP

Bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu về quan điểm lập và trình bày BCBP

1 (Spring,

Nghiên cứu mối quan hệ giữa mức

độ cạnh tranh trong ngành và quyết định của

Nhà quản lý có xu hướng che giấu thông tin bộ phận, hạn chế công bố thông tin của các lĩnh vực có mức

Trang 19

cạnh tranh cao ra bên ngoài

234

Ảnh hưởng của IAS 14R lên BCBP của những công ty áp dụng IAS

Chỉ các công ty có quy

mô lớn, niêm yết trên nhiều sàn chứng khoán, được kiểm toán bởi kiểm toán viên Big 4 mới công bố nhiều thông tin kế toán hơn

và tuân thủ tốt hơn các yêu cầu của IAS 14R George T

32–47

Tác động của áp lực cạnh tranh lên việc công bố BCBP

Bộ phận nằm trong khu vực địa lý có mức độ cạnh tranh càng cao sẽ công bố thông tin về bộ phận càng ít cụ thể

82, No.4, (2007), pp

869–906

Nghiên cứu về việc công bố lợi nhuận của bộ phận dưới ảnh hưởng của chi phí đại diện và chi phí sở hữu

Các nhà quản lý có xu hướng che dấu những thông tin bất thường về lợi nhuận của bộ phận hoạt động bằng cách chia sẻ lợi nhuận giữa các bộ phận, hạn chế việc công bố thông tin

bộ phận một các riêng biệt

Trang 20

79–105

Tác động của việc

áp dụng IFRS 8 lên việc công bố BCBP của các công ty “blue chip” ở Châu Âu

BCBP lập theo IFRS 8

sử dụng những thông tin có sẵn được tạo ra

từ hệ thống quản lý nội

bộ của doanh nghiệp

Số lượng công ty lập BCBP tăng lên đáng kể khi áp dụng IFRS 8

Áp dụng IFRS 8 làm giảm khả năng so sánh của thông tin bộ phận giữa các công ty với nhau

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)

Nhận xét

Những nghiên cứu trên tập trung vào nghiên cứu nhu cầu thông tin bộ phận của nhà đầu tư và các vấn đề gặp phải trong việc cung cấp thông tin bộ phận Các nghiên cứu cho thấy rằng, nhà quản lý có xu hướng hạn chế công bố thông tin bộ phận ra bên ngoài, đó là những thông tin về vốn, về khả năng sinh lời hay thông tin

về khu vực địa lý… nhằm mục đích hạn chế tác động của áp lực cạnh tranh từ các công ty đối thủ tiềm năng (Harris, 1998; Tsakumis et al., 2006) Ngoài ra, thông tin

về kết quả bộ phận là một trong những công cụ để các cổ đông đánh giá hiệu quả hoạt động bộ phận cũng như khả năng quản lý của nhà quản lý (Berger & Hann, 2007; Nichols et al., 2012) Do đó, để bảo vệ lợi ích của các cổ đông, các chuẩn mức kế toán lần lượt ra đời và cải thiện chất lượng thông tin công bố ra bên ngoài Tuy nhiên, chuẩn mực IFRS 8 là chuẩn mực về BCBP mới nhất được công bố cho phép các nhà quản lý trình bày thông tin bộ phận tùy ý, nên mặc dù số lượng công

ty công bố BCBP có tăng lên nhưng bằng cách công bố số liệu tổng hợp kết quả bộ phận, nhà quản lý vừa đáp ứng được yêu cầu của chuẩn mực kế toán, vừa đạt được mục đích của mình

Trang 21

Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin BCBP

Bugeja et al (2015) nghiên cứu các nhân tố tác động đến BCBP được lập theo chuẩn mực IAS 14R và IFRS 8 dựa trên mẫu là BCTC của những công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Úc (ASX), bao gồm 1.241 công ty áp dụng IAS 14R vào năm 2002 và 1.617 doanh nghiệp áp dụng IFRS 8 năm 2009 Kết quả so sánh cho thấy rằng, cả hai chuẩn mực đều dẫn đến việc các công ty có số lượng bộ phận được lập báo cáo tăng lên Trong đó, khả năng sinh lời, mức độ cạnh tranh trong ngành và

sự đa dạng ngành công nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến số lượng bộ phận được báo cáo Khi áp dụng IFRS 8 các doanh nghiệp có xu hướng giảm số lượng các khoản mục được báo cáo đặc biệt là ở tại các công ty đa quốc gia có mức lợi nhuận cao

Nghiên cứu của Leung and Verriest (2015) xem xét tác động của IFRS 8 đối với thông tin BCBP theo khu vực địa lý tại các doanh nghiệp ở Châu Âu, sự khác biệt khi áp dụng IFRS 8 và liệu rằng việc áp dụng IFRS 8 có gây ra hậu quả về kinh tế và thông tin không Nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu thứ cấp là BCTC của các công ty tại 18 nước ở Châu Âu, từ năm 2008 đến năm 2009, trong đó có

737 công ty công bố BCBP theo khu vực địa lý và 632 công ty công bố BCBP theo lĩnh vực kinh doanh Trong đó, chất lượng BCBP được đo lường bằng 4 chỉ tiêu là thông tin kết quả bộ phận, số lượng các khoản mục, số lượng BCBP và mức độ phân tách bộ phận, thông qua mô hình nghiên cứu được đề xuất gồm có biến độc lập là IFRS 8, quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), thua lỗ, đòn bẩy tài chính, phần trăm doanh thu bán ra nước ngoài, tốc độ tăng trưởng (MTB) và cạnh tranh trong ngành Kết quả phân tích đa biến cho thấy, đối với báo các bộ phận theo khu vực địa lý, IFRS 8 và phần trăm doanh thu bán ra nước ngoài tác động ngược chiều với thông tin kết quả bộ phận IFRS 8, phần trăm doanh thu bán ra nước ngoài và quy mô công ty tác động cùng chiều với số lượng BCBP IFRS 8 tác động ngược chiều và quy mô công ty, tác động cùng chiều với số lượng các khoản mục IFRS 8 và phần trăm doanh thu bán ra nước ngoài tác động cùng chiều với mức độ phân tách bộ phận, tốc độ tăng trưởng (MTB) tác động ngược

Trang 22

chiều với mức độ phân tách bộ phận Bên cạnh đó, đối với báo các bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh, IFRS 8 tác động cùng chiều với thông tin kết quả bộ phận và

số lượng BCBP, tác động ngược chiều với số lượng các khoản mục Cạnh tranh trong ngành tác động ngược chiều với thông tin kết quả bộ phận và số lượng các khoản mục Quy mô công ty tác động cùng chiều với thông tin kết quả bộ phận, số lượng BCBP và số lượng các khoản mục

Souza et al (2016) nghiên cứu các nhân tố tác động đến mức độ trình bày thông tin trên BCBP ở Brazil vào năm 2010 và 2011 Nghiên cứu bao gồm 272 công ty thuộc 20 ngành kinh tế Nghiên cứu đã xác định được 8 nhân tố có tác động đến mức độ công bố thông tin là quy mô công ty, hệ số nợ, lợi nhuận, ngành công nghiệp, lãi/lỗ, mức độ quản lý của doanh nghiệp, chủ thể kiểm toán và năm công

bố Kết quả không tìm thấy ảnh hưởng đáng kể của 4 nhân tố lợi nhuận, ngành công nghiệp, lãi/lỗ và năm công bố đến mức độ trình bày thông tin trên BCBP Bên cạnh

đó, kết quả cho thấy rằng công ty càng lớn, mức nợ công ty càng cao thì mức công

bố càng cao; các công ty có mức độ quản trị doanh nghiệp tốt thể hiện mức độ công

bố thông tin trên BCBP nhiều hơn so với các công ty khác; và các công ty được kiểm toán bởi một trong những "Big 4" hiển thị mức độ công bố cao hơn so với những công ty được kiểm toán bởi các đơn vị khác

Samel et al (2018), nghiên cứu một số bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố tác động đến chất lượng của BCBP, đồng thời đề xuất một công cụ đo lường mới về chỉ số chất lượng BCBP, dựa trên cơ sở dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường niên của 171 công ty tại Châu Âu với 440 quan sát từ năm 2006 đến năm 2012 Nghiên cứu sử dụng nhiều mô hình hồi quy để điều tra các nhân tố quyết định chất lượng BCBP, và xây dựng phép đo mới về chất lượng BCBP Nghiên cứu

đã đưa ra các nhân tố tác động đến chỉ số chất lượng BCBP (SRQI) dựa trên mô

hình được đề xuất là: SRQI = β0 + β1(FSIZE) + β2 (ROA) + β3(LEV) +

β4(EXPORT) + β5(BIG 4) + β6(CONROLS) + ε Trong đó, quy mô công ty

(FSIZE), khả năng sinh lời (ROA), đòn bẩy tài chính (LEV), mức độ quốc tế hóa (EXPORT), quy mô công ty kiểm toán (BIG 4) và biến kiểm soát (CONTROLS)

Trang 23

phản ánh ngành công nghiệp và quốc gia Chất lượng BCBP được đo lường bằng 5 chỉ tiêu số lượng bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh, số lượng bộ phận theo khu vực địa lý, số lượng khoản mục theo lĩnh vực kinh doanh, số lượng khoản mục theo khu vực địa lý, mức độ phân tách bộ phận

Kết quả cho thấy có sự thay đổi đáng kể về chất lượng BCBP giữa các công

ty được lấy mẫu Các tập đoàn lớn, được kiểm toán bởi Big 4 và được định hướng quốc tế hóa thì có xu hướng cung cấp chất lượng BCBP cao hơn Ngược lại, đòn bẩy tài chính tác động tiêu cực đến chất lượng của BCBP Tuy nhiên, chất lượng BCBP không liên quan đáng kể đến khả năng sinh lời Hạn chế của nghiên cứu là mẫu nghiên cứu chỉ thực hiện thu thập dữ liệu ở các công ty ở Châu Âu, nơi áp dụng một chính sách kế toán thống nhất

❖ Tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố tác động đến chất

lượng thông tin của BCBP

Bảng 1.2 Tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố tác động đến

chất lượng thông tin của BCBP

Tên tác

giả, (năm

công bố)

Tên đề tài nghiên cứu

Nơi công

bố nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu

Biến độc lập

Đo lường biến phụ thuộc

Accounting , Vol 42, (2015), P

310-366

Xem xét

sự tác động của quan điểm quản lý đến BCBP

Nghiên cứu cho thấy: khả năng sinh lời, mức độ cạnh tranh trong ngành và

sự đa dạng ngành công nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến

số lượng bộ phận được báo cáo Khi

áp dụng IFRS 8, các doanh nghiệp có xu hướng giảm số lượng các khoản mục được báo cáo đặc biệt là ở tại các công ty đa quốc gia

- Khả năng sinh lời

- Mức độ cạnh tranh trong ngành

- Sự đa dạng ngành công nghiệp

Số lượng

bộ phận được báo cáo

Trang 24

có mức lợi nhuận cao

Accounting , p 273–

309, (2015)

Nghiên cứu về tác động của IFRS

8 lên BCBP lập theo khu vực địa lý

Nghiên cứu xác định biến độc lập là IFRS

8, quy mô công ty,

tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), thua lỗ, đòn bẩy tài chính, phần trăm doanh thu bán

ra nước ngoài, tốc

độ tăng trưởng (MTB) và cạnh tranh trong ngành

Chất lượng BCBP được đo lường bằng

4 chỉ tiêu là thông tin kết quả bộ phận,

số lượng các khoản mục, số lượng BCBP và mức độ phân tách bộ phận

- Lãi/lỗ

- Mức độ

quản lý của doanh nghiệp

4 chỉ tiêu là thông tin kết quả bộ phận, số lượng các khoản mục,

số lượng BCBP và mức độ phân tách

nt and Economic Research, Vol 7, (2016), p

804-816

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức

độ trình bày thông tin trên BCBP ở Brazil

Nghiên cứu đã xác định được 8 nhân tố tác động đến mức

độ công bố thông tin

là quy mô công ty,

hệ số nợ, lợi nhuận, ngành công nghiệp, lãi/lỗ, mức độ quản

lý của doanh nghiệp, chủ thể kiểm toán và năm công bố

- Lãi/lỗ

- Mức độ

quản lý của doanh nghiệp

- Chủ thể

kiểm toán

- Năm

Mức độ công bố thông tin trên BCBP được đo lường bằng

số lượng khoản mục báo cáo và

số lượng bộ phận được báo cáo

Trang 25

Đo lường chất lượng BCBP tại các công

ty ở Châu Âu

Kết quả cho thấy có

sự thay đổi đáng kể

về chất lượng BCBP giữa các công ty được lấy mẫu Các tập đoàn lớn, được kiểm toán bởi Big 4

và được định hướng quốc tế hóa thì có xu hướng cung cấp chất lượng BCBP cao hơn Ngược lại, đòn bẩy tài chính tác động tiêu cực đến chất lượng của BCBP Tuy nhiên, chất lượng BCBP không liên quan đáng kể đến khả năng sinh lời

Biến độc lập:

- Quy mô

công ty kiểm toán

Biến kiểm soát:

- Ngành

công nghiệp

- Quốc gia

Chất lượng BCBP được đo lường bằng

5 chỉ tiêu

số lượng bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh,

số lượng bộ phận theo khu vực địa

lý, số lượng khoản mục theo lĩnh vực kinh doanh, số lượng khoản mục theo khu vực địa lý, mức độ phân tách

Trang 26

Hay theo Bugeja et al (2015), khả năng sinh lời ảnh hưởng tích cực đến số lượng

bộ phận được báo cáo nhưng trong nghiên cứu của Souza et al (2016) không tìm thấy mối liên hệ của nhân tố khả năng sinh lời đến mức độ công bố thông tin bộ phận

1.2 Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến BCBP chủ yếu tập trung vào nghiên cứu nhằm xác định nhân tố tác động đến chất lượng thông tin BCBP

Nguyễn Thị Phương Thúy (2011), nghiên cứu các nhân tố chi phối đến việc lập và trình bày BCTC, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện chuẩn mực kế toán Việt Nam về BCBP theo hướng phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế Số liệu thu thập từ BCTC của 118 công ty niêm yết trên SGDCK tại Tp.HCM năm 2010 Nghiên cứu xác định có 5 nhân tố tác động đến việc lập BCBP là: Quy mô công ty, quyền sở hữu phân tán, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính và công ty kiểm toán Kết quả nghiên cứu quyền sở hữu phân tán, khả năng sinh lời và đòn bẩy tài chính tác động ngược chiều với việc lập và trình bày BCTC Hai nhân tố quy mô công ty, công ty kiểm toán không có mối tương quan với biến phụ thuộc Tác giả cho rằng việc lập BCBP của các công ty niêm yết ở Việt Nam còn nhiều bất cập và hạn chế, việc lập BCBP chỉ là một hình thức đối phó với yêu cầu của VAS28 Hạn chế của nghiên cứu là chỉ phân tích thống kê số lượng BCBP được lập cũng như các khoản mục trình bày trên báo cáo mà chưa đo lường được mức độ tác động của các nhân tố đến việc lập và trình bày BCBP

Nguyễn Thị Kim Nhung (2013) thực hiện nghiên cứu vận dụng chuẩn mực

kế toán quốc tế để hoàn thiện việc trình bày BCBP của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam Mẫu nghiên cứu gồm 176 công ty niêm yết tại SGDCK Tp.HCM năm 2012 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ trình bày BCBP chịu ảnh hưởng của các nhân tố: Quy mô công ty; Đòn bẩy tài chính; Khả năng sinh lời; Thời gian hoạt động; Mức độ tăng trưởng; Công ty kiểm toán; Lĩnh vực kinh doanh Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian hoạt động, khả năng sinh lời, công ty kiểm toán, lĩnh vực kinh doanh tác động cùng chiều với mức độ trình bày BCBP Mức độ tăng

Trang 27

trưởng tác động ngược chiều với mức độ trình bày BCBP Đòn bẩy tài chính và quy

mô công ty không có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu này Nghiên cứu cũng cho thấy có nhiều công ty không lập BCBP trong BCTC đã kiểm toán, nhiều công ty lập BCBP với mục đích là tuân thủ VAS 28, đưa ra rất ít thông tin hữu dụng cho người dùng

Huỳnh Thị Thùy Dung (2017) nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin được trình bày trên BCBP của các công ty niêm yết trên HOSE Dữ liệu được tập hợp từ BCTC đã kiểm toán của 180 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE năm 2016 Nghiên cứu đã xác định được 5 nhân tố tác động cùng chiều đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP là Quy mô công ty, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ, chủ thể kiểm toán, thời gian hoạt động Kết quả nghiên cứu chỉ rõ các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của VAS 28, chất lượng thông tin trình bày trên BCBP còn thấp, trình bày sơ sài Hạn chế của đề tài là

số lượng mẫu nhỏ, chỉ thực hiện nghiên cứu các công ty niêm yết trên HOSE

Phan Thị Thu Trang (2017), xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCBP của các công ty niêm yết ở thị trường chứng khoán Việt Nam Với mẫu sử dụng gồm 159 công ty niêm yết ở sàn HOSE và 167 công ty ở sàn HNX vào năm 2015 Nghiên cứu kế thừa mô hình của Leung and Verriest (2015) và được phát triển trong nghiên cứu của Steman (2016) gồm 5 nhân tố tác động là Quy mô công ty; Đòn bẩy tài chính; Tốc độ phát triển; Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản; Mức độ cạnh tranh trong ngành công nghiệp, đo lường bằng 4 chỉ tiêu: thông tin kết quả bộ phận; Số lượng các khoản mục; Số lượng bộ phận; Mức độ cụ thể của việc phân tách bộ phận Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 2 chỉ tiêu về chất lượng có liên quan đến các biến độc lập là số lượng các khoản mục và số lượng bộ phận, và

có 3 nhân tố tác động là quy mô công ty, tốc độ phát triển và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản Trong đó, tốc độ phát triển tác động ngược chiều với số lượng các khoản mục, quy mô công ty tác động cùng chiều với số lượng bộ phận và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản tác động ngược chiều với số lượng bộ phận

Trang 28

❖ Tổng hợp các nghiên cứu trong nước về các nhân tố tác động đến chất

lượng thông tin BCBP

Bảng 1.3 Tổng hợp các nghiên cứu trong nước về các nhân tố tác động đến

chất lượng thông tin của BCBP

Mục tiêu nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu Biến độc lập

Đo lường biến phụ thuộc

Nghiên cứu các nhân tố chi phối đến việc lập và trình bày BCTC, từ

đó đưa ra giải pháp hoàn thiện chuẩn mực kế toán Việt Nam về BCBP theo hướng phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế

Kết quả nghiên cứu cho thấy quyền sở hữu phân tán, khả năng sinh lời và đòn bẩy tài chính tác động ngược chiều với việc lập và trình bày BCTC Hai nhân

tố Quy mô công

ty, công ty kiểm toán không có mối tương quan với biến phụ thuộc

- Quy mô công ty

- Quyền sở hữu phân tán

- Khả năng sinh lời

- Đón bẩy tài chính

- Công ty kiểm toán

Thông tin kết quả bộ phận

đo lường bằng trị số logarit số lượng chỉ tiêu được báo cáo cho mỗi bộ phận hoạt động

Nghiên cứu vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn thiện việc trình bày BCBP của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian hoạt động, khả năng sinh lời, công ty kiểm toán, lĩnh vực kinh doanh tác động cùng chiều với mức độ trình bày BCBP

Mức độ tăng trưởng tác động ngược chiều với mức độ trình bày

- Quy mô công ty

- Đón bẩy tài chính

- Khả năng sinh lời

- Thời gian hoạt động

- Mức độ tăng trưởng

- Công ty kiểm toán

- Lĩnh vực kinh doanh

Số lượng bộ phận được báo cáo

Trang 29

BCBP Đòn bẩy tài chính và quy

mô công ty không có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu này

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin được trình bày trên BCBP của các công ty niêm yết trên HOSE

Nghiên cứu đã xác định được 5 nhân tố tác động cùng chiều đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP là Quy

mô công ty; Khả năng sinh lời;

Đòn bẩy nợ; Chủ thể kiểm toán;

Thời gian hoạt động

- Quy mô công ty

- Khả năng sinh lời

- Đòn bẩy nợ

- Chủ thể kiểm toán

- Thời gian hoạt động

Chất lượng thông tin được trình bày trên BCBP được đánh số N khoản mục được trình bày theo lĩnh vực kinh doanh hay theo khu vực địa lý hoặc số khoản mục lớn hơn giữa trình bày theo lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý nếu trong trường hợp

DN trình bày BCBP theo

cả lĩnh vực kinh doanh

và khu vực địa lý N có giá trị từ 0 đến 9 N càng cao thì CLTT cuat BCBP được đánh

Trang 30

Xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCBP – bằng chứng tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc

độ phát triển tác động ngược chiều với số lượng các khoản mục, quy mô công ty tác động cùng chiều với

số lượng bộ phận

và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản tác động ngược chiều với

số lượng bộ phận

- Quy mô công ty

- Đòn bẩy tài chính

- Tốc độ phát triển

- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

- Mức độ cạnh tranh trong ngành công nghiệp

Chất lượng thông tin BCBP đo lường bằng 4 chỉ tiêu: thông tin kết quả bộ phận,

số lượng khoản mục,

số lượng bộ phận, Mức độ

cụ thể của việc phân tách bộ phận

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Nhận xét

Tương tự như các nghiên cứu ở nước ngoài, các nghiên cứu ở Việt Nam đã xác định có một số lượng đáng kể các nhân tố tác động đến chất lượng BCBP Tuy nhiên những nghiên cứu này mặc dù đều được thực hiện tại Việt Nam nhưng cũng cho kết quả không thống nhất:

Nhân tố quy mô công ty: Nguyễn Thị Phương Thúy (2011) và Nguyễn Thị

Kim Nhung (2013) cho rằng quy mô công ty không có mối tương quan với việc lập

và trình bày BCBP Mặt khác, trong nghiên cứu của Huỳnh Thị Thùy Dung (2017)

và Phan Thị Thu Trang (2017) lại cho rằng quy mô công ty có tác động cùng chiều đến việc lập và trình bày BCBP

Nhân tố khả năng sinh lời: Nguyễn Thị Phương Thúy (2011) và Phan Thị

Thu Trang (2017) chứng minh rằng khả năng sinh lời có ảnh hưởng ngược chiều với việc lập và trình bày BCTC Trong khi đó, Nguyễn Thị Kim Nhung (2013) và Huỳnh Thị Thùy Dung (2017) lại xác định khả năng sinh lời có ảnh hưởng tích cực đến thông tin BCBP

Trang 31

Nhân tố công ty kiểm toán: Nguyễn Thị Phương Thúy (2011) đã không tìm

thấy mối liên hệ giữa nhân tố công ty kiểm toán với việc lập và trình bày BCBP Nguyễn Thị Kim Nhung (2013) và Huỳnh Thị Thùy Dung (2017) lại xác định công

ty kiểm toán tác động cùng chiều đến việc lập và trình bày BCTC

Nhân tố đòn bầy tài chính: Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thúy

(2011) đã xác định nhân tố đòn bẩy tài chính tác động ngược chiều tới việc lập và trình bày BCTC Nguyễn Thị Kim Nhung (2013) và Phan Thị Thu Trang (2017) lại không tìm thấy mối liên hệ giữa nhân tố đòn bẩy tài chính tới việc lập và trình bày BCBP Ngoài ra, Huỳnh Thị Thùy Dung (2017) lại cho rằng đòn bẩy tài chính tác động tích cực tới việc lập và trình bày BCTC

1.3 Khoảng trống nghiên cứu và định hướng của tác giả

Khoảng trống nghiên cứu

Qua khảo sát các nghiên cứu trên thế giới và các nghiên cứu ở Việt Nam, tác giả có một số nhận xét như sau:

❖ Đối với các nghiên cứu nước ngoài

Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới tập trung vào việc xem xét ảnh hưởng của việc áp dụng các chuẩn mực kế toán trong việc lập và trình bày thông tin BCBP (Harris, 1998; Kinsey and Meek, 2004; Tsakumis et al., 2006; berger and Hann, 2007; Nichols et al., 2012), trong đó IFRS 8 là chuẩn mực mới nhất với những yêu cầu nhiều hơn về trình bày BCBP Một số nghiên cứu đã đưa ra mô hình nghiên cứu và xác định được các nhân tố tác động đến việc lập và trình bày thông tin BCBP (Bugeja et al., 2015; Leung and Verriest, 2015; Souza et al., 2016; Samel

et al., 2018) Tuy nhiên những nghiên cứu này cho kết quả không nhất quán với nhau Bên cạnh đó, trong nghiên cứu của Samel et al., (2018) đã đề xuất một thước

đo mới cho chất lượng thông tin BCBP Đây là một điểm mới so với những nghiên cứu trước về đề tài BCBP

❖ Đối với các nghiên cứu trong nước

Chúng ta có thể thấy có khá nhiều đề tài nghiên cứu về BCBP ở Việt Nam Những nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện theo hướng đo lường mức độ công

Trang 32

bố thông tin, mức độ tuân thủ chuẩn mực kế toán trong việc công bố thông tin hoặc

đo lường chất lượng của thông tin được công bố BCBP (Nguyễn Thị Phương Thúy, 2011; Nguyễn Thị Kim Nhung, 2013; Huỳnh Thị Thùy Dung, 2017; Phan Thị Thu Trang, 2017) Điều này chứng minh rằng các nhà nghiên cứu rất quan tâm đến vấn

đề làm sao để nâng cao chất lượng của việc công bố thông tin BCTC nói chung và BCBP nói riêng

Mặc dù giống như những nghiên cứu ở nước ngoài, kết quả của những nghiên cứu này là không thống nhất nhưng các tác giả đều có quan điểm chung là các doanh nghiệp trong nước chưa thực sự quan tâm đến việc lập BCBP, việc lập BCBP của các doanh nghiệp còn rất sơ sài, chỉ mang tính chất đối phó với những yêu cầu của chuẩn mức kế toán và của nhà nước

Do đó, tác giả nhận thấy cần phải có thêm những nghiên cứu về đề tài này

để có thêm những bằng chứng cho thấy sự cần thiết của BCBP, từ đó có những giải pháp hữu hiệu cải thiện chất lượng thông tin BCBP ở Việt Nam

Định hướng của tác giả

Qua xem xét, đánh giá kết quả của các nghiên cứu trước ở Việt Nam cũng như quốc tế, tác giả nhận thấy cần có thêm những bằng chứng đáng tin cậy hơn trong việc xác định các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin BCBP, cũng như chứng minh cho sự cần thiết của BCBP, làm căn cứ để có những giải pháp hữu hiệu trong nâng cao chất lượng thông tin BCBP cho các doanh nghiệp trong nước Bên cạnh đó, mô hình nghiên cứu cùng với thước đo về chất lượng thông tin BCBP được xây dựng bởi Samel et al (2018) là một điểm mới, chưa từng được thực hiện kiểm định tại Việt Nam Do đó, trong nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP này, tác giả đề xuất vận dụng mô hình nghiên cứu gồm có 5 nhân tố tác động đến chất lượng thông tin BCBP là quy mô công ty, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, chất lượng kiểm toán và nhân tố mức độ quốc

tế hóa, đồng thời sử dụng thang đo được đề xuất trong nghiên cứu của Samel et al (2018) để đo lường chất lượng thông tin BCBP với bối cảnh ở các công ty niêm yết tại SGDCK Tp.HCM

Trang 33

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 giới thiệu tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về các quan điểm lập và trình bày BCBP và các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin trình bày trên BCBP Qua việc phân tích, tổng hợp kết quả của các nghiên cứu, tác giả đã nhận thấy:

Đối với các nghiên cứu ở nước ngoài về BCBP phần lớn được thực hiện theo 2 hướng: Nghiên cứu về quan điểm lập và trình bày báo cáo bộ phận; Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chất lượng báo cáo bộ phận Kết quả của những nghiên cứu này chỉ rằng, các doanh nghiệp mặc dù tuân thủ chuẩn mực kế toán nhưng có xu hướng hạn chế công bố thông tin bộ phận ra bên ngoài nhằm hạn chế

áp lực cạnh tranh từ các đối thủ tiềm năng bằng cách công bố số liệu tổng hợp kết quả bộ phận Một số nghiên cứu khác đã tìm ra được những nhân tố tác động đến chất lượng BCBP, tuy nhiên các kết quả này là không thống nhất

Bên cạnh đó, các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu tập trung xem xét những nhân tố tác động đến chất lượng BCBP Tương tự như các nghiên cứu ở nước ngoài, kết quả của những nghiên cứu ở Việt Nam cũng không nhất quán với nhau Các tác giả đều cho rằng việc lập BCBP của các doanh nghiệp ở Việt Nam còn sơ sài, mang tính chất đối phó với những quy định của nhà nước

Do đó, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đây, luận văn xác định khe hổng nghiên cứu, nhận thấy cần phải có thêm những bằng chứng đáng tin cậy hơn trong việc xác định các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin BCBP làm căn cứ để có những giải pháp hữu hiệu trong nâng cao chất lượng thông tin BCBP cho các doanh nghiệp trong nước, từ đó chọn lọc các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin của BCBP, làm cơ sở để thực hiện các bước công việc tiếp theo ở chương sau

Trang 34

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Tổng quan chuẩn mực kế toán về BCBP trên thế giới và ở Việt Nam

Đối với các công ty kinh doanh đa dạng hoặc ở nhiều khu vực khác nhau, thì việc công bố hoạt động kinh doanh của các bộ phận một cách riêng biệt sẽ cung cấp thêm thông tin cho các nhà đầu tư trong việc đánh giá giá trị công ty bên cạnh nguồn số liệu trên báo cáo kế toán hợp nhất

Trên thế giới

Các BCBP lần đầu tiên được công bố một cách tự nguyện bởi các công ty kinh doanh đa dạng ở Hoa Kỳ (Foster, 1975; Kinney, 1971) Tháng 12 năm 1976, Hội đồng Chuẩn mực Kế toán tài chính (FASB) ban hành chuẩn mực SFAS 14

“BCTC cho bộ phận của một doanh nghiệp kinh doanh”, đây là chuẩn mực đầu tiên

đề cập đến vấn đề lập và trình bày BCBP theo lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa

lý, với mục đích hỗ trợ người sử dụng BCTC trong việc phân tích và hiểu BCTC của doanh nghiệp bằng cách cho phép đánh giá tốt hơn về hiệu suất trong quá khứ của doanh nghiệp và triển vọng trong tương lai

Ngày 01 tháng 01 năm 1983, chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 14 “Báo cáo

bộ phận” do Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) ban hành có hiệu lực, với

nội dung gần giống với SFAS 14, yêu cầu doanh nghiệp lập báo cáo thông tin tài chính theo lĩnh vực kinh doanh hoặc khu vực địa lý Chuẩn mực yêu cầu công bố cho các lĩnh vực 'chính' và 'phụ', với báo cáo lĩnh vực 'chính' được lập dựa trên quan

điểm về “tính chất rủi ro và lợi ích kinh tế” của bộ phận

Sau đó, IAS 14 được sửa đổi (IAS 14R) vào năm 1998 với sự thay đổi quan

trọng là chuyển cách tiếp cận từ quan điểm về “tính chất rủi ro và lợi ích kinh tế” của bộ phận sang cách tiếp cận trên “quan điểm quản lý”

Tháng 6 năm 1997, Chuẩn mực SFAS 131 ra đời thay thế cho chuẩn mực SFAS 14, yêu cầu doanh nghiệp công bố báo cáo thông tin về các bộ phận hoạt động trong BCTC hàng năm và trong BCTC giữa niên độ cho các cổ đông Nó cũng thiết lập các tiêu chuẩn cho các công bố có liên quan về sản phẩm và dịch vụ, khu

Trang 35

vực địa lý và khách hàng lớn Chuẩn mực này không áp dụng cho các doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp đại chúng hoặc các tổ chức phi lợi nhuận

Năm 2005, một dự án hội tụ giữa US GAAP và IFRS được tiến hành,

Chuẩn mực IFRS 8 “Bộ phận hoạt động” chính thức được áp dụng vào tháng 11

năm 2006 thay thế cho chuẩn mực IAS 14R, có nội dung gần giống với SFAS 131

và áp dụng cho kỳ kế toán kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2009 IFRS 8 yêu cầu chủ yếu

là những doanh nghiệp có chứng khoán được giao dịch công khai công bố thông tin

về bộ phận hoạt động, sản phẩm và dịch vụ, khu vực địa lý hoạt động và khách hàng chính của họ Thông tin được dựa trên các báo cáo quản lý nội bộ, cả trong việc xác định các bộ phận hoạt động và đo lường thông tin bộ phận được công bố

(Nguồn: P André et al., 2016)

Sơ đồ 2.1 Lịch sử phát triển của các chuẩn mực về BCBP

Ở Việt Nam

Để thu hẹp khoảng cách giữa các hệ thống kế toán, tiến đến một hệ thống chuẩn mực kế toán áp dụng cho tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới (Vũ

Hữu Đức, 2010), chuẩn mực kế toán Việt Nam số 28 “Báo cáo bộ phận” (VAS 28)

đã ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC, ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Mục đích của chuẩn mực này là quy định nguyên tắc và phương pháp lập báo cáo các thông tin tài chính theo bộ phận, lĩnh vực kinh doanh và các khu vực địa lý khác nhau của doanh nghiệp nhằm hỗ trợ người sử dụng BCTC: “Hiểu rõ về tình hình hoạt động các năm trước của doanh

Trang 36

nghiệp; Đánh giá đúng về những rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp và đưa

ra những đánh giá hợp lý về doanh nghiệp”

Mặc dù chuẩn mực VAS 28 ra đời từ năm 2015 nhưng việc áp dụng chuẩn mực vào việc lập BCTC của các doanh nghiệp rất hạn chế Do đó, Ngày 15 tháng

01 năm 2010, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư hướng dẫn số 09/2010/TT-BTC

“Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán” quy định các

công ty đại chúng, doanh nghiệp có chứng khoán trao đổi công khai, doanh nghiệp đang phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán phải có BCBP lập theo VAS 28 trong thuyết minh BCTC Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự quan tâm đến việc công bố BCBP trong BCTC của mình cho đến ngày 05 tháng 04

năm 2012, khi Bộ tài chính ra Thông tư số 52/2012/TT-BTC “Hướng dẫn về việc

công bố thông tin trên thị trường chứng khoán”, bắt buộc các doanh nghiệp phải

công bố thông tin về BCBP trong thuyết minh BCTC năm 2011 hoặc giải trình lý

do không lập BCBP thì các doanh nghiệp mới thực sự chú ý đến nội dung này

Ngoài ra, Thông tư số 52/2012/TT-BTC cũng cho phép các doanh nghiệp không niêm yết thị trường chứng khoán có thể không lập BCBP theo mẫu quy định trong VAS 28 mà có thể lập BCBP tùy ý theo nhu cầu quản lý của nhà quản trị để phù hợp với đặc thù kinh doanh theo lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý của doanh nghiệp mình

2.2 Vai trò của báo cáo bộ phận

Thông tin bộ phận nói chung là một nguồn thông tin quan trọng cho các nhà phân tích tài chính trong việc định giá một công ty (Brown, 1997) BCBP giúp giải quyết các vấn đề về dòng tiền trong tương lai trong môi trường kinh tế khác nhau, với mức độ rủi ro và lợi ích khác nhau, do đó giúp nhà đầu tư đánh giá được giá trị của công ty (Tse, 1998; Givoly et al, 1999) Đối với các công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực hay trong nhiều khu vực địa lý, việc công bố BCBP sẽ giúp cho các nhà đầu tư có thêm thông tin để đánh giá số liệu kế toán hợp nhất (Kinney, 1971) Thông qua việc so sánh hiệu quả hoạt động của các bộ phận, cho phép nhà đầu tư

Trang 37

đưa ra những quyết định hợp lý, nên đầu tư vào khu vực nào, lĩnh vực nào để đem lại lợi ích tốt nhất

Việc cung cấp thông tin bộ phận còn có giá trị cho chính công ty Hiệu suất hoạt động của các bộ phận sẽ cho thấy trình độ quản lý của các nhà quản lý, làm cơ

sở cho những cải tiến trong sự phối hợp giữa các bộ phận và tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Knutson, 1993)

Nói tóm lại, BCBP có ý nghĩa quan trọng đối với cả nhà đầu tư cũng như chính các nhà quản trị của doanh nghiệp Nó cung cấp những thông tin hữu ích nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và các cơ quan quản nước trong việc phân tích, đánh giá các dữ liệu tài chính, giúp hiểu rõ hơn về thành quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá đúng về những lợi ích kinh tế và rủi ro trong tương lai Bên cạnh đó, BCBP còn hỗ trợ cho các nhà quản trị trong việc hoạch định chiến lược và kiểm soát hoạt động cho chính doanh nghiệp của mình

2.3 Các vấn đề liên quan đến BCBP

So sánh VAS 28 và IAS 14

Để phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế, Bộ Tài Chính đã xây dựng chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 28 có nhiều điểm tương đồng so với chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 14 Tuy nhiên, ở một số điểm VAS 28 trình bày cụ thể hơn IAS 14 nhằm giúp cho người làm kế toán hiểu và sử dụng chuẩn mực được dễ dàng hơn

Về điểm giống nhau:

Theo VAS 28 và IAS 14, các bộ phận được báo cáo phải được xác định là chính yếu hay thứ yếu dựa trên tính chất rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp Trong đó, nếu báo cáo chính yếu lập theo lĩnh vực kinh doanh thì báo cáo thứ yếu phải căn cứ vào thông tin khu vực địa lý Ngược lại, nếu báo cáo chính yếu căn cứ vào thông tin khu vực địa lý thì báo cáo thứ yếu phải lập theo lĩnh vực kinh doanh Trong đó:

- “Bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh: Là bộ phận có thể phân biệt được của

một doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ riêng lẻ, một nhóm các sản phẩm hoặc dịch vụ có liên quan mà bộ phận này có rủi

Trang 38

ro và lợi ích kinh tế khác với các bộ phận kinh doanh khác.” (VAS 28, đoạn 09; IAS

14, đoạn 9)

- “Bộ phận theo khu vực địa lý: Là bộ phận có thể phân biệt được của một

doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ trong phạm vi một môi trường kinh tế cụ thể mà bộ phận này có rủi ro và lợi ích kinh tế khác với các bộ phận kinh doanh trong các môi trường kinh tế khác.” (VAS

28, đoạn 09; IAS 14, đoạn 9)

Bên cạnh đó, VAS 28 và IAS 14 đều thống nhất quy định một lĩnh vực kinh doanh hay khu vực địa lý được xác định là một bộ phận phải báo cáo khi thoả mãn một trong các điều kiện sau: Doanh thu (hoặc lợi nhuận) của bộ phận báo cáo phải chiếm từ 10% trở lên trên tổng doanh thu (hoặc tổng lợi nhuận) của toàn doanh nghiệp hoặc tài sản của bộ phận phải chiếm từ 10% trở lên trên tổng tài sản của doanh nghiệp

− Đối với báo cáo bộ phận chính yếu lập theo lĩnh vực kinh doanh hoặc theo

khu vực địa lý, VAS 28 và IAS 14 đều yêu cầu phải bao gồm các chỉ tiêu:

• Doanh thu bộ phận: là doanh thu từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ cho

khách hàng bên ngoài và từ các giao dịch với các bộ phận khác Đây chính là doanh thu trình bày trong Báo cáo KQHĐKD của doanh nghiệp được tính trực tiếp hoặc phân bổ cho bộ phận

• Kết quả bộ phận: là doanh thu bộ phận trừ chi phí bộ phận

• Tổng giá trị còn lại của tài sản bộ phận: Trong đó, tài sản bộ phận phải đang

được sử dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh tại bộ phận và được tính trực tiếp hoặc được phân bổ vào bộ phận đó

• Nợ phải trả bộ phận: là các khoản nợ trong kinh doanh của bộ phận được

tính trực tiếp hoặc phân bổ vào bộ phận đó

• Chi phí phát sinh để mua TSCĐ sử dụng tại bộ phận

• Chi phí khấu hao TSCĐ và chi phí trả trước dài hạn được phân bổ cho bộ

phận

• Các khoản chi phí lớn không bằng tiền khác

Trang 39

• Bảng đối chiếu số liệu giữa các bộ phận với BCTC của doanh nghiệp hoặc

BCTC hợp nhất

Bên cạnh đó, VAS 28 và IAS 14 cũng khuyến khích các doanh nghiệp trình bày thêm các chỉ tiêu sau:

• Lãi/ lỗ thuần và các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của bộ phận

• Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh của bộ phận

• Bản chất, giá trị của các khoản doanh thu, chi phí lớn

− Báo cáo đối với bộ phận thứ yếu lập theo lĩnh vực kinh doanh hoặc khu vực

địa lý phải gồm các thông tin sau:

• Doanh thu bộ phận từ việc bán hàng ra bên ngoài

• Tổng giá trị còn lại của tài sản bộ phận

• Tổng chi phí đã phát sinh để mua TSCĐ

Về điểm khác nhau:

Khi xác định bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh hay bộ phận theo khu vực địa lý, VAS 28 có thể hiện cụ thể hơn IAS 14 ở một số điểm:

- Đối với bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh, VAS 28 yêu cầu doanh

nghiệp cần xem xét các nhân tố như tính chất hàng hóa dịch vụ, quy trình sản xuất, kiểu hoặc nhóm khách hàng, phương pháp phân phối sản phẩm, dịch vụ và điều kiện của môi trường pháp lý

- Đối với bộ phận theo khu vực địa lý, doanh nghiệp cần quan tâm đến

tính tương đồng về môi trường kinh tế, chính trị, tính tương đồng của hoạt động kinh doanh; mối quan hệ của các hoạt động trong các khu vực địa lý, mức độ rủi ro

có liên quan đến vị trí địa lý,

- Đối với chỉ tiêu về doanh thu bộ phận, khác với IAS 14, VAS 28 có

quy định rõ: “doanh thu bộ phận không bao gồm: Thu nhập khác; Doanh thu từ tiền lãi hoặc cổ tức, kể cả tiền lãi thu được trên các khoản ứng trước hoặc các khoản tiền cho các bộ phận khác vay, trừ khi hoạt động của bộ phận chủ yếu là hoạt động tài chính; hoặc lãi từ việc bán các khoản đầu tư hoặc lãi từ việc xoá nợ trừ khi hoạt động của bộ phận đó chủ yếu là hoạt động tài chính.”

Trang 40

Ngoài ra, VAS 28 còn quy định cụ thể:

- Tài sản của bộ phận phải bao gồm cả các khoản phải thu, các khoản

cho vay, các khoản đầu tư tài chính và các tài sản khác nếu chúng tạo ra thu nhập cho bộ phận từ tiền lãi hay cổ tức được nhận

- Tài sản của bộ phận không bao gồm tài sản thuế thu nhập hoãn lại,

các khoản dự phòng giảm giá có liên quan vì các khoản này được trừ trực tiếp trong Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp

- Chi phí bộ phận không bao gồm: “Chi phí khác, chi phí tiền lãi vay, lỗ

từ việc bán các khoản đầu tư hoặc lỗ từ việc xoá nợ, phần sở hữu của doanh nghiệp trong khoản lỗ của bên nhận đầu tư do đầu tư vào các công ty liên kết, công ty liên doanh hoặc các khoản đầu tư tài chính khác được hạch toán theo phương pháp vốn chủ sở hữu, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí hành chính chung và các chi phí khác phát sinh liên quan đến toàn bộ doanh nghiệp.”

- Trường hợp nếu kết quả của bộ phận có chi phí lãi vay thì nợ phải trả

của bộ phận cũng bao gồm nợ phải trả chịu lãi có liên quan Nợ phải trả bộ phận không bao gồm nợ phải trả thuế hoãn lại

Tóm lại, VAS 28 và IAS 14 có sự tương đồng khá lớn về các khái niệm cũng như các yêu cầu về nội dung khi trình bày và công bố BCBP Tuy nhiên, VAS

28 đã giải thích rõ hơn một số chỉ tiêu nhằm hỗ trợ người lập và người sử dụng BCBP

So sánh VAS 28 với IFRS 8

So với IFRS 8, điểm khác biệt lớn nhất của VAS 28 chính là quan điểm về việc xác định bộ phận để lập BCBP và các nội dung yêu cầu trình bày trong BCBP

Giống như IAS 14, VAS 28 xác định bộ phận báo cáo là bộ phận kinh doanh được chia theo ngành hay khu vực địa lý dựa trên tính chất rủi ro và lợi ích kinh tế, gồm bộ phận chính yếu và bộ phận thứ yếu

Theo IFRS 8, Bộ phận hoạt động được xác định dựa trên quan điểm quản

lý Theo đó, bộ phận hoạt động là các hoạt động kinh doanh có thể tạo ra lợi nhuận hoặc phát sinh chi phí, các thông tin về lợi nhuận và chi phí này phải được ghi nhận

Ngày đăng: 30/12/2020, 19:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm