Hai giai đoạn được đánh dấu với những sự biến đổi lớn trong nền kinh tế làm nền tảng cho một nghiên cứu khá thú vị nhằm phân tích tầm quan trọng của hai yếu tố mở cửa thương mại và chính
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
***
PHAN NGỌC THANH BẢO
NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ MỞ CỬA THƯƠNG MẠI
LÊN ERPT TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
***
PHAN NGỌC THANH BẢO
NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ MỞ CỬA THƯƠNG MẠI
LÊN ERPT TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu thu thập được từ các nguồn, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
PHAN NGỌC THANH BẢO
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
I GIỚI THIỆU CHUNG 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Phương pháp nghiên cứu 3
1.4 Dữ liệu nghiên cứu 4
1.5 Cấu trúc bài nghiên cứu 4
II KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5
2.1 Cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến giá cả trong nước 5
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ truyền dẫn tỷ giá 7
2.2.1 Chính sách tiền tệ trong nước, lạm phát và can thiệp Chính phủ 7
2.2.2 Mức độ biến động của tỷ giá hối đoái 8
2.2.3 Độ chênh lệch sản lượng 8
2.2.4 Độ mở cửa thương mại 9
2.3 Tổng quan nghiên cứu trước đây 9
2.3.1 Các nghiên cứu các nước trên thế giới 9
a Nghiên cứu ở các nước phát triển 9
b Nghiên cứu ở các nền kinh tế mới nổi 11
c Nghiên cứu về chính sách tiền tệ và ERPT 13
d Nghiên cứu về mức độ mở cửa thương mại và ERPT 15
2.3.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam 17
Trang 5III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Mô hình nghiên cứu 21
3.2 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 23
3.3 Phân chia mẫu nghiên cứu và đặt giả thuyết 24
3.4 Các bước thực hiện nghiên cứu 31
IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4.1 Kiểm định nghiệm đơn vị 33
4.2 Lựa chọn độ trễ thích hợp 38
4.3 Kiểm định tính ổn định của mô hình 42
4.4 Kiểm định nhân quả Granger 43
4.5 Phân tích phản ứng xung 47
4.6 Kết quả phân rã phương sai 56
V KẾT LUẬN CHUNG 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
CPI: Consumer price index (Chỉ số giá tiêu dùng)
GSO: General Statistics Office Of Vietnam (Tổng cục thống kê Việt Nam) IFS: International Financial Statistics (Thống kê tài chính Quốc tế)
IMF: International Monetary Fund (Quỹ tiền tệ Quốc tế)
IP: Industrial production index (Chỉ số sản xuất công nghiệp)
VAR: Vector Autoregression
VECM: Vector Error Correction Model
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.3.1 Cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2000-2014
2 Bảng 3.3.2: Giả thuyết về mức độ ERPT dựa trên những môi trường kinh tế khác nhau
3 Bảng 4.1.1: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị cho CPI trong giai đoạn 2000-2006
ở chuỗi dữ liệu gốc
4 Bảng 4.1.2: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị cho CPI trong giai đoạn 2000-2006
ở chuỗi dữ liệu lấy sai phân bậc 2
5 Bảng 4.1.3: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị cho các biến trong GĐ 2000-2006
6 Bảng 4.1.4: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị cho các biến trong GĐ 2007-2014
7 Bảng 4.2.1 : Bảng kiểm định độ trễ tối đa của mô hình VAR giai đoạn 2000-2006
8 Bảng 4.2.2 : Bảng kiểm định phần dư của mô hình VAR giai đoạn 2000-2006
9 Bảng 4.2.3 : Bảng kiểm định độ trễ tối đa của mô hình VAR giai đoạn 2007-2014
10 Bảng 4.2.4 : Bảng kiểm định phần dư của mô hình VAR giai đoạn 2007-2014
11 Bảng 4.4.1: Kết quả kiểm định nhân quả Granger giai đoạn 2000-2006
12 Bảng 4.4.2: Tóm tắt kết quả kiểm định nhân quả Granger 2000-2006
13 Bảng 4.4.3: Kết quả kiểm định nhân quả Granger giai đoạn 2007-2014
14 Bảng 4.5.1: Kết quả ước lượng hệ số trong mô hình VAR 2000-2006
15 Bảng 4.5.2: Kết quả ước lượng hệ số trong mô hình VAR 2007-2014
16 Bảng 4.5.3: Tóm tắt phản ứng tích lũy của giá tiêu dùng trước cú sốc 1% của các biến qua hai giai đoạn
17 Bảng 4.5.4: Phản ứng tích lũy CPI khi NEER thay đổi 1% qua hai giai đoạn
18 Bảng 4.6.1: Phân rã phương sai của CPI theo cơ chế phân rã phương sai Cholesky cho giai đoạn 2000-2006
19 Bảng 4.6.2: Phân rã phương sai của CPI theo cơ chế phân rã phương sai Cholesky cho giai đoạn 2007-2014
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
1 Hình 3.3.1: Tình hình biến động lạm phát giai đoạn 2000-2014
2 Hình 3.3.2: Biến động của Trị giá sản xuất công nghiệp và cung tiền M2
2000-2014
3 Hình 3.3.3: Tình hình biến động giá dầu thế giới giai đoạn 2000-2014
4 Hình 3.3.4: Biến động của tỷ giá hối đoái 2000-2014
5 Hình 4.3.1: Kiểm định tính ổn định của mô hình VAR giai đoạn 2000-2006
6 Hình 4.3.2: Kiểm định tính ổn định của mô hình VAR giai đoạn 2007-2014
7 Hình 4.5.1: Phản ứng tích lũy của giá tiêu dùng trước 1 cú sốc tỷ giá qua hai giai đoạn 2000-2006, 2007-2014
8 Hình 4.5.2: Phản ứng tích lũy của giá tiêu dùng trước các cú sốc các biến trong mô hình Giai đoạn 2000-2006
9 Hình 4.5.3: Phản ứng tích lũy của giá tiêu dùng trước các cú sốc các biến trong mô hình giai đoạn 2007-2014
10 Hình 4.6.1: Kết quả phân rã phương sai của CPI theo cơ chế phân rã Cholesky giai đoạn 2000-2006
11 Hình 4.6.2: Kết quả phân rã phương sai của CPI theo cơ chế phân rã Cholesky giai đoạn 2007-2014
Trang 9TÓM TẮT
Bài viết này xem xét hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá vào giá tiêu dùng ở Việt Nam qua hai thời kỳ: 2000-2006 và 2007-2014 Hai giai đoạn được đánh dấu với những sự biến đổi lớn trong nền kinh tế làm nền tảng cho một nghiên cứu khá thú vị nhằm phân tích tầm quan trọng của hai yếu tố mở cửa thương mại và chính sách tiền tệ tác động lên hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá (ERPT) Mô hình VAR của giá dầu thế giới, giá trị sản xuất công nghiệp, cung tiền, tỷ giá và giá tiêu dùng được ước tính cho từng giai đoạn Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù không phải là yếu tố quyết định lớn nhất của sự biến đổi giá cả, tỷ giá hối đoái cũng đã khẳng định tầm ảnh hưởng ngày càng tăng cao hơn theo thời gian Trong khi mở cưa thương mại là yếu tố chi phối trong việc xác định ERPT thì bằng chứng cho thấy sự hỗ trợ không mấy rõ ràng về tầm quan trọng của môi trường lạm phát
Trang 10I GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Lý do chọn đề tài
Kể từ sau những cuộc khủng hoảng kinh tế và những sự kiện lớn về việc hội nhập vào những thị trường lớn trên thế giới, Việt Nam cùng với các nước trong khu vực đã tiến hành những thay đổi mạnh mẽ trong việc thực hiện của chính sách tiền tệ và tự do hóa, lựa chọn các cơ chế điều hành chính sách phù hợp với đặc điểm, quy mô của nền kinh
tế cũng như phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nó Một số nước đã lựa chọn cơ chế điều hành chính sách tiền tệ và tự do hóa đặc trưng bởi mức độ tự chủ cao trong việc điều hành hay việc lựa chọn các chế độ tỷ giá và mức độ tự do dòng vốn quốc tế với mục tiêu chính là hướng tới một thị trường tiền tệ ổn định, minh bạch, thúc đẩy tăng trưởng và ổn định giá cả hàng hóa trong nước Để có thể điều hành hiệu quả các chính sách đó và đảm bảo đạt được các mục tiêu vĩ mô đề ra cũng như đánh giá các tác động bên trong và bên ngoài nền kinh tế đem lại, cơ quan chức năng nhiều nước đã tiến hành phân tích và đánh giá cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ cũng như đánh giá mức
độ ảnh hưởng của việc hội nhập của nước mình thông qua những nghiên cứu định lượng để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách cũng như hạn chế các tác động tiêu cực hoặc tận dụng những cơ hội trong quá trình hội nhập
và tự do hóa hiện nay Đối với Việt Nam, việc phân tích và đánh giá cơ chế truyền dẫn tiền tệ, hiệu ứng ERPT đã được đề cập tại một số nghiên cứu trước đây, tuy nhiên việc tiếp cận và phân tích định lượng về sự ảnh hưởng song song hai yếu tố chính sách tiền
tệ và mở cửa thương mại lên hiệu ứng ERPT thì còn hạn chế trong nhiều nghiên cứu, điều này nhằm định hướng được nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của giá cả qua nhiều thời khắc và sự kiện kinh tế bởi trong thời điểm này nền kinh tế Việt Nam đang đi kèm với áp lực ngày càng tăng của lạm phát, vấn đề đáng quan tâm nhất của cả nền kinh tế lúc bấy giờ Vậy vấn đề đặt ra ở đây là liệu độ mở cửa thương mại và chính sách tiền tệ có tác động lên hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá vào giá tiêu dùng ở Việt Nam
Trang 11hay không và nếu có tác động thì xu hướng và mức độ của nó diễn ra như thế nào ? Để giải đáp được vấn đề đó thì tác giả đã thực hiện nghiên cứu: “Tác động của mở cửa thương mại và thay đổi chính sách tiền tệ lên hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá tại Việt Nam”
để làm luận văn bảo vệ cho khóa học thạc sĩ của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính nhằm giải quyết hai vấn đề:
- Thứ nhất, đánh giá chung về tác động sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá cả ở Việt Nam bằng cách ước lượng mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2014
- Thứ hai, đánh giá tầm quan trọng tương đối của yếu tố độ mở cửa thương mại và chính sách tiền tệ lên hiệu ứng truyền dẫn (ERPT) tại Việt Nam trong giai đoạn
đó
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng các phương pháp phân tích định lượng để đo lường các hệ số truyền dẫn đồng thời so sánh, đối chiếu các kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị ADF, PP để kiểm định tính dừng của các biến nghiên cứu, kiểm định Granger để kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các biến nghiên cứu
- Sử dụng mô hình VAR (Vector autoregression model) với chức năng phân rã Cholesky và phân rã phương sai để đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam
- Các bước kiểm định, thực hiện ước lượng trong mô hình này sử dụng phần mềm Eview
Trang 121.4 Dữ liệu nghiên cứu
Với luận văn này, tác giả đã sử dụng số liệu thống kê trong khoảng thời gian từ năm
2000 đến năm 2014 từ các nguồn dữ liệu như sau:
- Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
- Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)
- Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO)
1.5 Cấu trúc bài nghiên cứu
Bài viết gồm năm phần với bố cục như sau:
thích các biến và nguồn dữ liệu dùng trong mô hình
cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 13II KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách mở cửa thương mại lên các biến số kinh
tế vĩ mô luôn là mối quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch định chính sách trong những năm gần đây Các nghiên cứu tiêu biểu, có tầm ảnh hưởng lớn sẽ được tóm lược trong phần này Đầu tiên là khung lý thuyết về hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá, về chính sách tiền
tệ, về chính sách mở cửa và kế đến là các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và thế giới
Khi nhắc đến thuật ngữ “Pass - through”, người ta muốn đề cập đến mức độ tác động đến giá cả liên quan như: giá xuất khẩu, nhập khẩu, giá tiêu dùng trong nước và mức
độ mở cửa nền kinh tế Hai thập kỷ qua, một lượng lớn tài liệu kinh tế về truyền dẫn tỷ
giá hối đoái đã được nghiên cứu Theo Bhagawati (1991) cụm từ “pass - through” –
truyền dẫn tỷ giá hối đoái - lần đầu tiên được sử dụng trong ngôn ngữ kinh tế bởi
Steve Magee (1973) trong bài báo của mình khi giải thích sự tác động của giảm giá
tiền tệ Kể từ đó thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong kinh tế
Hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá (Exchange rate pass – through, ERPT) thường được hiểu là mức % thay đổi giá trong nước tính bằng đồng tiền của nước nhập khẩu khi tỷ giá tiền
tệ giữa các đối tác thương mại thay đổi 1%
Theo Goldberg và Kentter (1997), ERPT được xác định như là “ Phần trăm thay đổi
giá nhập khẩu tính bằng đồng nội tệ khi tỷ giá giữa các nước xuất khẩu và nhập khẩu thay đổi 1%” Hay hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá chính là độ co giãn của giá trong nước so với tỷ giá
2.1 Cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến giá cả trong nước
Câu hỏi được đặt ra là tại sao tỷ giá có thể tác động đến giá cả trong nước của một quốc gia? Năm 1953 Milton Friedman đã lập luận rằng cơ chế tỷ giá thả nổi có thể làm thay đổi nhanh chóng giá tương đối của một quốc gia “Tăng tỷ giá làm giá hàng hóa nước ngoài trở nên đắt hơn khi tính bằng nội tệ, ngay cả khi giá của chúng tính bằng ngoại tệ không thay đổi, và hàng hóa trong nước trở nên rẻ hơn khi tính bằng ngoại tệ,
Trang 14ngay cả khi giá của chúng không thay đổi nếu tính bằng nội tệ Điều này làm giảm nhập khẩu và tăng xuất khẩu”
Trong học thuyết Goldberg và Knetter (1997) đã chỉ ra rằng sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát qua các chỉ số giá theo hai kênh là trực tiếp và gián tiếp
- Kênh truyền dẫn trực tiếp: khi một cú sốc trong tỷ giá làm mất giá đồng
nội tệ, nghĩa là tỷ giá tăng Điều này khiến giá cả hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt hơn, tức là ảnh hưởng đến chỉ số giá nhập khẩu Nếu hàng hóa đó được dùng cho mục đích tiêu dùng cuối cùng, giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng lên chỉ số giá tiêu dùng, hoặc nếu hàng hóa nhập khẩu là nguyên nhiên vật liệu dùng cho quá trình sản xuất sẽ khiến chi phí sản xuất tăng cao và như một hệ quả đẩy giá tiêu dùng tăng gây ra áp lực lạm phát
- Kênh truyền dẫn gián tiếp: khi có sự mất giá của đồng nội tệ, sẽ khiến
hàng hóa trong nước rẻ hơn, dẫn đến cầu xuất khẩu của quốc gia tăng Điều này sẽ gây
ra một gia tăng trong cầu lao động, tiền lương và sau đó là tổng cầu, như một hệ quả
có thể khiến làm phát tăng Tuy nhiên, ảnh hưởng này chỉ có thể diễn ra trong dài hạn
vì tính chất cứng nhắc của của giá cả trong ngắn hạn Bên cạnh đó, tình trạng đôla hóa ngày càng gia tăng trong nền kinh tế có thể là một nhân tố làm khuếch đại hiệu ứng truyền dẫn gián tiếp này Một khi tỷ giá biến động tăng, đồng nội tệ sẽ mất giá sẽ khiến cho giá cả các tài sản được định giá bằng đồng ngoại tệ như bất động sản, ô tô…
sẽ tăng lên Và đây là nguyên nhân khiến giá cả tiêu dùng tăng
giá hối đoái Khi đồng nội tệ của một nước giảm mạnh làm cho cầu của hàng hóa nhập khẩu giảm và giảm mạnh tiền lương danh nghĩa tính bằng ngoại tệ Điều này làm cho các tập đoàn xuyên quốc gia đã mở chi nhánh và dịch chuyển cơ sở sản xuất vào nước nội địa Tăng trưởng sản xuất làm tăng cầu lao động và tăng tiền lương, khiến cho sản xuất hàng hóa nội địa thay thế hàng nhập khẩu tăng thông qua FDI Kết quả làm cho giá tiêu dùng bị đẩy lên cao
Trang 15Cơ chế truyền dẫn tỷ giá có thể diễn ra một cách hoàn hảo, không hoàn hảo hoặc không xảy ra tùy vào đặc điểm kinh tế của từng quốc gia Khi cơ chế này xảy ra hoàn hảo, 1% phá giá nội tệ sẽ làm tăng 1% giá cả nội địa và ngược lại Nếu đồng nội tệ phá giá nhưng không làm thay đổi giá cả tính bằng nội tệ, ta nói rằng cơ chế truyền dẫn tỷ giá
đã không xảy ra Trường hợp 1% phá giá làm tăng giá cả ít hơn 1% khi cơ chế truyền dẫn tỷ giá diễn ra không hoàn hảo
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ truyền dẫn tỷ giá
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự truyền dẫn của tỷ giá, trong bài nghiên cứu này tác giả chỉ đề cập đến một số yếu tố thường được các nhà nghiên cứu quan tâm như sau:
2.2.1 Chính sách tiền tệ trong nước, lạm phát và can thiệp Chính phủ
Môi trường lạm phát cũng ảnh hưởng đến sự phản ứng của giá khi có sự thay đổi trong TGHĐ (Taylor, 2000), ông đã đưa ra lập luận trong khía cạnh này rằng độ nhạy của giá
cả tới sự biến động của tỷ giá hối đoái phụ thuộc hoàn toàn vào lạm phát Như vậy, môi trường lạm phát làm tăng ERPT và ngược lại Xu hướng giảm dần gần đây trong ERPT
đã được thấy trong các tài liệu, như lập luận của Taylor (2000), trùng hợp với sự thay đổi với một môi trường lạm phát thấp (được gọi là giả thuyết của Taylor)
Chính phủ sẽ có những can thiệp để bình ổn tỷ giá và kiềm giữ lạm phát Khi dòng tiền chảy vào một quốc gia tăng, tỷ giá có xu hướng giảm làm tăng giá trị của đồng tiền, chính phủ mua ngoại tệ và bán nội tệ để bình ổn tỷ giá Điều này tao áp lực tăng cung nội tệ và tạo áp lực gia tăng lạm phát Tuy nhiên, điều này có thể không xảy ra do biện pháp vô hiệu hóa của chính phủ, vì thế khi một cú sốc tỷ giá xảy ra thì tỷ giá có thể không tăng (giảm) như kỳ vọng và làm phát cũng vậy, không tăng (giảm) như kỳ vọng
Trang 162.2.2 Mức độ biến động của tỷ giá hối đoái
Mức độ biến động của tỷ giá hối đoái có thể có mối tương quan cùng chiều hay nghịch chiều với mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá cả hàng hóa trong nước Khi xảy
ra sự biến động của tỷ giá hối đoái đối với đồng tiền quốc gia nhập khẩu:
- Nếu các công ty xuất khẩu nhận thấy rằng sự biến động này sẽ kéo dài và tồn tại lâu và điều chỉnh giá bán thì trong trường hợp này mức độ truyền dẫn của tỷ giá sẽ có mối quan hệ cùng chiều với mức độ biến động của tỷ giá hối đoái
- Nếu các công ty xuất khẩu cho rằng sự biến động này chỉ là tạm thời thì công ty xuất khẩu sẽ chấp nhận giảm lợi nhuận tạm thời để không điều chỉnh giá bán hàng hóa vì việc điều chỉnh giá bán hàng hóa sẽ phải phát sinh thêm các chi phí khác Trong trường hợp này mức độ truyền dẫn của tỷ giá có mối quan hệ ngược chiều với
sự biếng động của tỷ giá
2.2.3 Độ chênh lệch sản lƣợng
Cũng giống mức độ biến động của tỷ giá hối đoái thì độ chênh lệch sản lượng cũng có mối liên hệ cùng hoặc ngược chiều so với mức độ truyền dẫn tỷ giá Trong một nền kinh tế lớn, khi sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng, tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, nhu cầu về hàng hóa nhập khẩu giảm qua đó có thể là giảm giá hàng hóa nhập khẩu, trong trường hợp này mối quan
hệ giữa độ chênh lệch sản lượng và mức độ truyền dẫn là nghịch Ngược lại, khi sản lượng thực tế của nền kinh tế tăng cao hơn mức tiềm năng, một mặt nhu cầu về hàng hóa gia tăng qua đó làm tăng giá tiêu dùng, mặt khác khi sản lượng thực tế cao hơn sản lượng tiềm năng các doanh nghiệp gặp phải vấn đề về sản xuất, phải đầu tư thêm làm cho chi phí sản xuất tăng cao, qua đó cũng làm tăng giá tiêu dùng hàng hóa, trong trường hợp này, độ chênh lệch sản lượng sẽ có mỗi quan hệ cùng chiều với mức độ truyền dẫn
Trang 172.2.4 Độ mở cửa thương mại
Quốc gia càng có độ mở của cao thì càng chịu nhiều sự biến động của tỷ giá, đối với các quốc gia độ mở cửa thấp, giao thương với bên ngoài còn hạn chế thì dù xảy ra một
cú sốc tỷ giá lớn thì cung tiền trong nước cũng ít có sự biến động hơn, lạm phát cũng không tăng như dự kiến nên ERPT không hoàn toàn Độ mở cửa càng cao càng làm tăng mức độ ERPT thông qua tác động của TGHĐ lên giá nhập khẩu được xác định bằng ngoại tệ Bởi vì sự phụ thuộc vào nhập khẩu càng gia tăng, dẫn đến ERPT càng tăng Độ mở cửa thương mại cũng có thể tác động chùng chiều hoặc ngược chiều với mức độ truyền dẫn tỷ giá Độ mở thương mại càng lớn thì hàng hóa xuất nhập khẩu chiếm tỷ trọng càng cao trong nền kinh tế, lúc này hàng hóa chịu tác động lớn của tỷ giá hối đoái nên mức độ truyền dẫn cao, tỷ giá biến động lớn sẽ dẫn đến giá cả biến động mạnh Tuy nhiên khi sự mở cửa thương mại cao sẽ tạo xu hướng cạnh tranh gay gắt nên truyền dẫn tỷ giá trong trường hợp này sẽ biến động ngược chiều
2.3 Tổng quan nghiên cứu trước đây
Với các công trình nghiên về truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá cả được thực hiện cho nhiều quốc gia khác nhau, ngành công nghiệp khác nhau, mốc thời gian, dữ liệu,
mô hình và đặc điểm quốc gia khác nhau Nếu lấy tiêu chí quốc gia để phân chia thì có thể thấy rõ các xu hướng:
2.3.1 Các nghiên cứu các nước trên thế giới
a Nghiên cứu ở các nước phát triển
Mc.Carthy, J (2000) “Pass-Through of Exchange Rates and Import Prices to
Domestic Inflation in Some Industrialized Economies”, ông là một trong các nhà
nghiên cứu đầu tiên dùng nền tảng VAR để đo lường mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái Trong bài nghiên cứu tác giả đã sử dụng mô hình VAR đệ quy để đo lường sự ảnh hưởng của tỷ giá và giá nhập khẩu đến giá cả nội địa PPI và chỉ số giá tiêu dùng CPI ở các nền kinh tế công nghiệp hóa được lựa chọn từ 1976 - 1998 Kết quả nghiên cứu cho
Trang 18thấy rằng những thay đổi của tỷ giá có ảnh hưởng khiêm tốn lên lạm phát giá cả nội địa trong khi giá nhập khẩu có ảnh hưởng lớn hơn, ở các nước có thị phần nhập khẩu lớn hơn và có tỷ giá, giá nhập khẩu ổn định hơn thì ERPT lớn hơn và có vai trò quan
trọng trong tiến trình lạm phát
Hahn, E (2003) “Pass-Through of External Shocks To Euro Area Inflation” nghiên
cứu tác động cua chuyển dịch cú sốc bên ngoài đến chuỗi chỉ số giá và đến lạm phát khu vực đồng tiền chung châu Âu Bài nghiên cứu cũng sử dụng mô hình VAR như nghiên cứu của Mc.Carthy, J (2000) để đo lường mức truyền dẫn và thu được kết quả: mức truyền dẫn là lớn nhất và nhanh nhất do cú sốc bên ngoài đó là cú sốc giá nhập khẩu trừ giá dầu mỏ, tiếp đến là cú sốc tỷ giá, và cuối cùng là cú sốc giá dầu Mức ảnh hưởng giảm dần theo chuỗi chỉ số giá, nói cách khác là mức truyền dẫn đến chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất, tiếp đến là chỉ số giá sản xuất và sau cùng là chỉ số giá tiêu dùng Cú sốc bên ngoài đóng góp phần lớn cho lạm phát ở khu vực đồng Euro kể từ
khi Liên minh tiền tệ châu Âu được thành lập
Ihrig, J., Marazzi, M and Rothenberg, A (2006) Nghiên cứu mức truyền dẫn tỷ giá
hối đoái đến giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở nhóm quốc gia G7 từ cuối những năm
1970, 1980 Kết quả nhận được là có sự sụt giảm giá nhập khẩu và biến động giá tiêu dùng gần như tất cả các nước G7 Khoảng một nửa các quốc gia này có sự biến động sụt giảm đáng kể giữa 1975-1989 và 1990-2004 có ý nghĩa thống kê Tiếp theo là kết quả ước lượng khi đồng nội tệ giảm giá 10% khiến giá nhập khẩu tăng trung bình 7% ở các quốc gia này những năm 1970, 1980, và chỉ tăng khoảng 4% trong 15 năm trở lại Tương tự, đồng nội tệ giảm giá 10% khiến giá tiêu dùng tăng trung bình gần 2% những
năm 1970, 1980, và ảnh hưởng trung lập đến giá tiêu dùng trong 15 năm trở lại
Anderton (2003): “Extra-Euro Area Manufacturing Import Prices and Exchange Rate
Pass-Through” Nghiên cứu cho thấy ERPT của các thay đổi trong tỉ giá hối đoái
Trang 19(TGHĐ) hiệu lực của đồng euro lên giá giá sản phẩm nhập khẩu từ khu vực ngoài khu vực sử dụng đồng euro dao động trong khoảng 50% - 70% Trong khi định giá theo thị trường thì ước tính dao động từ 50% - 30% Các quốc gia thành viên EU nhưng không
sử dụng đồng euro dựa theo giá thị trường tương đối nhiều hơn trong khi khu vực đồng
euro nhập khẩu từ Mỹ chịu mức độ ảnh hưởng lớn hơn của ERPT
Campa, Goldberg và González-Mínguez (2005): “Exchange Rate Pass-Through to
Import Prices in the Euro Area” Nghiên cứu này phân tích thực nghiệm sự truyền dẫn
từ những thay đổi trong TGHĐ đến giá nhập khẩu ERPT lên giá nhập khẩu trong ngắn hạn ảnh hưởng không đầy đủ và mức độ ảnh hưởng này khác nhau tùy từng lĩnh vực
kinh doanh và từng quốc gia Trong dài hạn, ERPT cao hơn và gần tới 1
Gagnon, J and Ihrig, J (2004): “Monetary Policy and Exchange Rate
Pass-Through” Kết quả nghiên cứu này cho thấy ERPT vào lạm phát nội địa có vẻ đã suy
giảm ở rất nhiều các quốc gia kể từ những năm 1980, nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng rộng rãi về mối liên hệ mạnh mẽ và có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ ERPT và sự thay đổi của lạm phát Tác giả cũng tìm thấy bằng chứng rằng hành vi chính sách tiền
tệ được quan sát có thể là một yếu tố của sự suy giảm tỉ lệ ERPT
b Nghiên cứu ở các nền kinh tế mới nổi
Mihaljek, D and Klau, M (2000) “A Note On The Pass-Through From Exchange
Rate And Foreign Price Changes To Inflation In Selected Emerging Market Economies” Bài nghiên cứu này trình bày các ước tính của truyền dẫn khi tỷ giá hối
đoái thay đổi và giá nhập khẩu thay đổi (được đo bằng ngoại tệ) đến lạm phát trong nước Mẫu là một nhóm gồm 13 nền kinh tế mới nổi (Nam Phi, Brazil, Chile, Mexico, Peru, Cộng hòa Czech, Hungary, Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines và Thaí Lan), trong giai đoạn từ thập niên 1980 đến năm 1990 Nghiên cứu cho thấy mức truyền dẫn từ thay đổi tỷ giá vào lạm phát thì thông thường là mạnh hơn
Trang 20truyền dẫn từ giá nhập khẩu Nhưng có một sự suy giảm đáng kể từ giữa những năm
1990, có lẽ là do kết quả của những điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định và cải cách cơ cấu được thực hiện ở các nền kinh tế mới nổi
Leigh, D and M Rossi (2002) sử dụng mô hình VAR với dữ liệu thống kê hàng tháng
từ tháng 1 năm 1994 đến tháng 4 năm 2002 để nghiên cứu sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng tại Thổ Nhĩ Kỳ Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của
cú sốc tỷ giá hối đoái đến các chỉ số giá tại Thổ Nhĩ Kỳ kéo dài trên 1 năm và có mức tác động mạnh nhất sau 4 tháng, sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến giá bán sỉ có mức độ mạnh hơn giá tiêu dùng và sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái là hoàn toàn trong một thời gian ngắn và với mức độ lớn hơn so với các ước lượng được thực hiện tại các nước
đang phát triển khác trong nghiên cứu
Choudri và Hakura (2006): “Exchange Rate Pass-Through to Domestic Prices: Does
the Inflationary Environment Matter?” Nghiên cứu này kiểm định giả thuyết được đề
xuất bởi Taylor (2000) rằng môi trường lạm phát thấp dẫn đến ERPT tới giá nội địa thấp Sử dụng số liệu của 71 quốc gia trong giai đoạn 1979 – 2000 để kiểm chứng mức
độ của sự phá giá lên lạm phát Mức độ truyền dẫn tỉ giá mạnh hay yếu phụ thuộc vào mức độ lạm phát ban đầu của nước phá giá ERPT yếu đối với nước có mức lạm phát
ban đầu thấp và cao đối với nước có mức lạm phát ban đầu cao
Frankel và cộng sự (2005): “Slow Pass-Through Around the World: A New Import for
Developing Countries?” Nghiên cứu được thực hiện trên 76 quốc gia, cho thấy ERPT
ở các nước đang phát triển là cao hơn, ở các nước phát triển là thấp hơn; trong thập niên
90, sự ảnh hưởng bởi ERPT này yếu đi đối với các nước đang phát triển và được giải
thích bởi những thay đổi trong môi trường tiền tệ
Jeffrey Frankel, David Parsley, and Shang-Jin Wei (2005) Sử dụng dữ liệu là giá
tám mặt hàng có thương hiệu, của 76 quốc gia Những yếu tố quyết định quan trọng của
Trang 21hệ số truyền dẫn bao gồm thu nhập bình quân đầu người, khoảng cách giữa hai nước, thuế, quy mô quốc gia, tiền lương, lạm phát dài hạn, và biến đổi tỷ giá trong dài hạn Qua nghiên cứu mẫu này rút ra được: 1)Truyền dẫn của thay đổi tỷ giá là lớn nhất trong việc xác định giá hàng hoá nhập khẩu tại bến tàu, mà giá này thì nhỏ hơn giá của hàng hoá cùng loại ở cấp độ bán lẻ, thấp hơn giá các sản phẩm thay thế của nội địa, và vẫn thấp hơn chỉ số CPI 2) Chi phí vận chuyển là một rào cản quan trọng làm cho truyền dẫn chậm ở tất cả bốn giai đoạn - cầu cảng nhập khẩu, bán lẻ, giá của đối thủ cạnh tranh, và CPI 3) Hệ số truyền dẫn cao hơn đáng kể trong một môi trường lạm phát cao
và cũng bị ảnh hưởng bởi môi trường có tỷ giá thay đổi tạm thời
c Nghiên cứu về chính sách tiền tệ và ERPT
Hiệu ứng ERPT cũng có thể phụ thuộc vào chính sách tỷ giá và chính sách tiền tệ của một quốc gia Chính sách tiền tệ ổn định hơn và tỷ lệ làm phát thấp hơn sẽ dẫn đến mức độ hiệu ứng ERPT thấp hơn vì ít có khả năng nhà xuất khẩu nước ngoài sẽ truyền dẫn các thay đổi tỷ giá hối đoái (Taylor, 2000) Tuy nhiên, Choudhri và Hakura (2001)
đã khẳng định rằng mức độ tác động của tỷ giá hối đoái lên các chỉ số giá là một yếu tố quan trọng cần xem xét khi lựa chọn một chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái thích hợp cho từng quốc gia Mức độ truyền dẫn thấp của tỷ giá hối đoái đến các chỉ số giá sẽ giúp một quốc gia có nhiều cơ hội hơn để theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập Điều này cũng giúp quốc gia đó dễ dàng triển khai chính sách lạm phát mục tiêu hơn so với quốc gia có mức độ truyền dẫn lớn
Gagnon và Ihrig, 2004 đã nhấn mạnh vai trò của các cơ quan tiền tệ và tài khóa, bằng cách bù đắp một phần tác động của những thay đổi trong TGHĐ lên giá cả Devereux
và Engel (2001) và Bacchetta và van Wincoop (2003) khám phá ra vai trò của việc định giá đồng nội tệ trong việc giảm mức độ ERPT
Trang 22Clark (1999) xem xét phản ứng giá cả ở các giai đoạn sản xuất khác nhau trong bối
cảnh khác nhau, cụ thể là những phản ứng với một cú sốc chính sách tiền tệ trong nước Đánh giá đúng cơ chế lan truyền tiền tệ, thì tỷ giá là yếu tố rất quan trọng cho sự hiểu biết và dự báo những ảnh hưởng của chính sách tiền tệ vào nền kinh tế thực Hiểu được những kênh truyền dẫn mà chính sách tiền tệ tác động đến sản lượng và lạm phát qua
đó tăng cường hiệu quả của chính sách tiền tệ và cho phép các ngân hàng trung ương duy trì các biến kinh tế vĩ mô quan trọng ở mức mục tiêu Với ảnh hưởng sâu rộng của
nó đến nền kinh tế thực, chính sách tiền tệ được nghiên cứu rất nhiều qua các năm Phần lớn các bài nghiên cứu kinh tế khác nhau nghiên cứu về các kênh truyền dẫn mà thông qua đó chính sách tiền tệ tác động đến các thành phần khác nhau của nền kinh tế
Đa số các nghiên cứu tập trung chủ yếu ở Mỹ và Châu Âu nhưng trong những năm gần đây đã được nghiên cứu rộng rãi trong các nước phát triển như Hungary năm 2004, Ukraine vào 2005, Slovenia năm 2006, Extonia năm 2004…
Nghiên cứu về phản ứng của nền kinh tế trước những cú sốc chính sách tiền tệ trong và ngoài nước giai đoạn trước và sau khủng hoảng kinh tế Châu Á được hai tác giả Mala
Raghavan và Param Silvapulle trong nghiên cứu : “ Structural VAR approach to
Malaysian Monetary Policy Framework Evidence from the Pre- and Post- Asian Crisis Periods” thực hiện tại Malaysia (2006) Kết quả thực nghiệm cho thấy có sự khác biệt
đáng chú ý là trong giai đoạn trước khủng hoảng chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đáng kể đến giá cả, sản lượng, cung tiền và lãi suất trong khi đó giai đoạn sau khủng hoảng chỉ những cú sốc trong cung tiền mới ảnh hưởng mạnh đến sản lượng Hơn thế nữa chính sách tiền tệ trong nước dễ bị tổn thương bởi những cú sốc về sản lượng và giá cả hàng hóa thế giới ở giai đoạn sau khủng hoảng hơn là trước khủng hoảng Những phát hiện này cho thấy khủng hoảng đã làm thay đổi kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ trong việc lan truyền tác động những cú sốc đến các thành phần nền kinh tế Malaysia
Trang 23Nghiên cứu “Pass through effect of exchange rate and monetary policy in Sri Lanka”
của Sooriyakumar và Krishnapillai và Henry Thompson (2012) đã kiểm tra hiệu
quả của chính sách tiền tệ trong cú sốc tỷ giá hối đoái mục tiêu giữa các giai đoạn khác nhau ở Sri Lanka Kết quả cho thấy gần đây chính sách tiền tệ theo tỷ giá mục tiêu khá phổ biến chứ không nhắm theo lạm phát mục tiêu Nguyên nhân tỷ lệ lạm phát cao trong thời gian đây ở Sri Lanka là do Ngân hàng trung ương mua trái phiếu phát hành bởi Chính phủ để tiền tệ hóa chi tiêu quốc phòng và tăng tiền lương của nhân viên Chính phủ trong giai đoạn này do mục đích chính trị, do đó dẫn đến lạm phát và sự biến dạng chính sách tiền tệ Tăng trưởng kinh tế có thể giảm trong dài hạn nếu chính sách tiền tệ không hoặt động tối ưu trên lạm phát và tỷ giá hối đoái mục tiêu
Phân tích tác động của các kênh truyền dẫn tiền tệ và lãi suất, Besiik Samkharadze đã
sử dụng phương pháp VAR để phân tích tác động của các kênh truyền dẫn tiền tệ và lãi
suất ở nước Georgia từ 2002 đến 2007 “ Monetary transmission Mechanism in
Georgia: Analyzing pass through of different Channels, 2008” Kết quả thực nghiệm từ
bài nghiên cứu này cho thấy tỷ giá hối đoái là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lạm phát, lãi suất cũng ảnh hưởng đáng kể thông qua GDP thực và lạm phát Đặc biệt ở Georgia cung tiền có ảnh hưởng mạnh lên sản lượng còn tổng cung tiền tổng thể thì hầu như không tác động, và chính sách tiền tệ nói chung, chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp đều có tác động đến sản lượng thực và lạm phát ở Georgia
d Nghiên cứu về mức độ mở cửa thương mại và ERPT
Độ mở của quốc gia, được tính bằng % nhập khẩu trên tổng sản lượng, cũng ảnh hưởng mức truyền dẫn tỷ giá Một cách trực quan, độ mở giao thương quốc tế của quốc gia càng lớn, thì mức truyền dẫn tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng càng lớn Hơn nữa, theo
Mc Carthy (2000), một quốc gia nhỏ thường có mức truyền dẫn tỷ giá cao hơn một
quốc gia lớn Điều này là do ở các quốc gia lớn, cầu sẽ giảm phản ứng lại với mức giá nội địa tăng, nguyên nhân từ tỷ giá giảm khiến cầu thế giới và giá thế giới giảm
Trang 24Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn and Marcelo Sánchez (2007) đã xem xét hiệu ứng
truyền dẫn từ tỷ giá đến giá cả trong 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh, Trung
và Đông Âu Từ đó, dựa trên mô hình VAR, một phần nào thay đổi cách nghĩ thông thường rằng mức tryền dẫn tác động lên cả giá nhập khẩu và giá tiêu dùng ở các nền kinh tế mới nổi luôn cao so với các quốc gia phát triển Ở các thị trường mới nổi với tỷ
lệ lạm phát một con số (nhất là các nước châu Á), người ta nhận thấy rằng mức tác động của tỷ giá lên giá nhập khẩu và giá tiêu dùng thấp và không khác nhau là mấy so với các nền kinh tế phát triển Nghiên cứu này cũng cho thấy mức truyền dẫn tỷ giá và lạm phát có mối quan hệ cùng chiều, phù hợp với giả thuyết của Taylor khi hai nước (Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ) được loại trừ khỏi phân tích Cuối cùng, về mặt lí thuyết có
sự tồn tại mối liên hệ cùng chiều giữa chính sách mở cửa nhập khẩu và mức truyền dẫn
tỷ giá nhưng trên thực tế tác giả chưa tìm được bằng chứng thực nghiệm vững chắc về
vấn đề này
Theo kết quả của nghiên cứu “Openness and Inflation: Theory and Evidence” của
Romer (1993), mối quan hệ giữa mở cửa và lạm phát sẽ mạnh hơn ở các quốc gia có
tình hình chính trị bất ổn và tính độc lập của ngân hàng trung ương thấp Việc mở rộng tiền tệ không được dự đoán trước sẽ làm cho TGHĐ thực sụt giảm và bởi vì trong nền kinh tế mở cửa nhiều hơn, những thiệt hại của sự sụt giảm này sẽ lớn hơn, lợi ích đạt được từ việc mở rộng tiền tệ không dự đoán trước rõ ràng giảm theo mức độ mở cửa của nền kinh tế Dữ liệu của nghiên cứu này cho thấy có mối tương quan âm khá mạnh giữa mức độ mở cửa nền kinh tế và lạm phát
Theo Goldfajn và Werlang (2000) đưa ra khung lý thuyết rằng yếu tố chính quyết
định mức độ truyền dẫn là chu kỳ của nền kinh tế, sự đánh giá quá cao hay quá thấp tỷ
lệ lạm phát lúc đầu và mức độ mở cửa của nền kinh tế Họ cũng phát hiện ra rằng hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá đạt đỉnh sau 12 tháng
Trang 25Niloufer Sohrabji (2011): Nghiên cứu này xem xét sự tác động của tỷ giá hối đoái vào
giá cả tại Ấn Độ qua 3 giai đoạn 1975-1986, 1992-1998 và 1999-2010 với nhiều cấp độ khác nhau của việc thay đổi của chế độ chính sách tiền tệ và độ mở cửa làm ảnh hưởng đến ERPT Mô hình VAR của giá dầu, giá lương thực, chênh lệch sản lượng, tỷ giá, giá tiêu dùng và lãi suất được ước tính cho từng thời kỳ Độ mở cửa được ước lượng làm giá tăng ERPT, nghiên cứu cho thấy ERPT thực sự có ý nghĩa nhưng chưa hoàn toàn ERPT cao nhất được phát hiện trong giai đoan cuối cùng Bằng chứng kết quả nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy độ mở cửa có tương quan dương với ERPT trong khi yếu tố lạm phát có mối tương quan yếu hơn
2.3.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam
a Nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá
Trong bài nghiên cứu của mình, Võ Văn Minh (2009) dùng mô hình VAR để ước
lượng mức tác động của mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại Việt Nam với chuỗi số liệu tháng từ 1/2001 - 2/2007 cũng chứng minh được việc phá giá đồng Việt Nam tạo ra tác động không hoàn hảo lên giá nhập khẩu và lạm phát CPI Kết quả định lượng cho thấy mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá nhập khẩu sau 6 tháng là 1,04, sau 1 năm
là 0,21; tuy nhiên mức truyền dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng trong 4 tháng đầu là âm và mức tác động tích lũy sau 1 năm chỉ là 0,13 – ở mức thấp so với các nước trong khu vực Do độ lớn mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng là khá thấp, tác giả khuyến nghị một sự linh hoạt hơn của cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ví dụ như
cho phép sự biến động biên độ tỷ giá hối đoái lớn hơn
Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) trong một nghiên cứu về các
yếu tố tác động lên lạm phát CPI của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010, cho kết luận khi Ngân hàng Nhà nước tăng 1% tỷ giá chính thức USD/VND sẽ tạo áp lực làm tăng lạm phát, và tỷ giá giải thích khoảng 19% mức lạm phát CPI sau 12 tháng và khoảng 30% sau 17 tháng Nghiên cứu cho thấy tỷ giá là một yếu tố khá quan trọng giải thích biến động của lạm phát, nhưng hạn chế chính của nghiên cứu này là việc sử dụng tỷ giá
Trang 26chính thức giữa VND và USD thay vì tỷ giá hữu hiệu giữa VND và các đồng tiền của nhiều nước bạn hàng
Nguyễn Thị Ngọc Trang & Lục Văn Cường (2012) đã khảo sát sự chuyển dịch tỷ giá
danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam cho giai đoạn Quý 1/2001 đến Quý 4/2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy sự chuyển dịch tỷ giá danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá sản xuất là hoàn toàn trong dài hạn Kết quả ước lượng cũng cho thấy tác động của chi phí sản xuất của nhà xuất khẩu nước ngoài cũng được chuyển dịch hoàn toàn vào chỉ số giá nhập khẩu trong dài hạn Bài viết cũng phát hiện rằng không có sự chuyển dịch bất cân xứng từ tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu khi có sự biến động lớn và biến động nhỏ trong tỷ giá hối đoái Kết quả kiểm định giai đoạn 2 của sự chuyển dịch
tỷ giá cho thấy sự chuyển dịch tỷ giá hối đoái danh nghĩa có hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất, sau đó đến chỉ số giá sản xuất và cuối cùng là chỉ số giá tiêu dùng
b Các nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ
Mở rộng hơn các nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá là các nghiên cứu về truyền dẫn chính sách tiền tệ, các nghiên cứu này sẽ xem xét thêm các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ bên cạnh tỷ giá hối đoái đó là các kênh lãi suất và cung tiền Hiện này các nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn chính sách tiền tệ tại Việt Nam cũng không nhiều
Nguyễn Phi Lân (2010) Tại trang thông tin của Ngân hàng Nhà nước, bài nghiên cứu
của tác giả với chuỗi số liệu từ 1998 - 2009 về cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ cũng cho thấy tương quan tỷ lệ thuận giữa tỷ giá và lạm phát mặc dù khả năng giải thích của
tỷ giá đối với lạm phát là khá khiêm tốn, 5% sau 12 tháng và 8% sau 24 tháng Kết quả phân tích cũng cho thấy sự biến động của tỷ giá phụ thuộc rất lớn vào công tác điều hành chính sách tiền tệ thông qua các công cụ lãi suất và lượng tiền cung ứng ra lưu
Trang 27thông, các nhân tố bên ngoài nền kinh tế cũng tác động tới sự biến động của tỷ giá nhưng không quá lớn
Trần Ngọc Thơ & Nguyễn Hữu Tuấn (2012): Bằng cách tiếp cận mô hình SVAR,
nghiên cứu đã ước lượng tác động của cú sốc chính sách tiền tệ đối với Việt Nam Các kênh truyền dẫn lãi suất và tỷ giá hối đoái đã được phân tích để xác định độ lớn và thời gian chính sách tiền tệ truyền dẫn đến các biến mục tiêu Kết quả nghiên cứu cho thấy
có tồn tại một số puzzle trong đó có price puzzle Kênh lãi suất tạo ra phản ứng trễ đối với biến lạm phát trong khi tỷ giá hối đoái lại có phản ứng ngay tức thì trước cú sốc tỷ giá hối đoái Như vậy có thể thấy lạm phát ở Việt Nam nhạy cảm nhiều hơn với kênh tỷ giá hối đoái
Tóm lại hầu hết các nghiên cứu đều có chung kết quả là mức độ truyền dẫn của các cú sốc tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng mạnh nhất lên chỉ số giá nhập khẩu, kế tiếp là chỉ số giá sản xuất và cuối cùng là chỉ số giá tiêu dùng Qua đó, cho thấy vai trò quan trọng của ERPT là khả năng dự báo lạm phát và những tác động của nó mà bất kỳ ngân hàng Trung ương nào cũng phải nắm rõ để điều hành chính sách tiền tệ Vì vậy việc đo lường hiệu ứng ERPT một cách toàn diện tại Việt Nam là vô cùng cấp thiết, đặc biệt là trong giai đoạn gần đây lam phát tăng cao, Việt Nam tham gia thành viên nhiều tổ chức Thế giới, song song với những vấn đề đó đang cần được chú ý qua hai yếu tố quan trọng đó là mức độ mở cửa thương mại cũng như chính sách tiền tệ đều có ảnh hưởng đến sự truyền dẫn tỷ giá theo từng mức độ khác nhau
Có thể thấy chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh so sánh mức ảnh hưởng của từng yếu tố vĩ
mô đến ERPT tại Việt Nam để có thể đánh giá đầy đủ về tầm quan trọng của từng nhân
tố nhằm đưa ra định hướng chính sách phù hợp, bên cạnh những mặt đóng góp tích cực, các bài nghiên cứu còn những hạn chế nhất định Kết hợp với hai yếu tố chính sách tiền tệ và độ mở cửa thương mại, mục tiêu của bài nghiên cứu này sẽ đi sâu vào khảo sát vai trò của hai yếu tố chính sách tiền tệ và mở cửa thương mại lên ERPT tại Việt Nam và cố gắng vượt qua những mặt hạn chế của các nghiên cứu trước kia
Trang 28III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu này, một số phương pháp nghiên cứu được thực hiện như:
được sử dụng và ứng dụng chức năng hàm phản ứng xung IRF (Impulse Response Function), phân rã phương sai (Variance decomposition) để đo lường
và phân tích sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái đồng thời thông qua chức năng phân
rã phương sai, tác giả phân tích tác động của các yếu tố vĩ mô đến sự truyền dẫn
đó tại Việt Nam Phương pháp này, cùng các bước thực hiện, thu thập và xử lý
dữ liệu sẽ được trình bày cụ thể sau đây
Mô hình VAR được Chrishtopher H Sims nêu ra lần đầu vào năm 1980 Mô hình đưa
ra để phản biện một số giả định trong việc sử dụng mô hình nhiều phương trình, trong
đó giả định then chốt là việc tồn tại các biến ngoại sinh Theo Sims, các yếu tố vĩ mô luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau, do đó không hề phân biệt biến nào là ngoại sinh
và nội sinh Từ đó ông đề xuất mô hình VAR, một mô hình nhiều biến số mà trong đó các biến số đều đóng vai trò như sau đều là biến nội sinh
Khác với các mô hình khác, mô hình VAR không đòi hỏi nhiều kiến thức về các lực tác động đến một biến như làm mô hình cấu trúc hay phương trình giả lập mà các kiến thức cần thiết là một danh sách các biến số với giả thuyết là có ảnh hưởng lẫn nhau, chính vì thế mô hình VAR rất thích hợp trong đo lường tương tác giữa các biến vĩ mô theo chuỗi số liệu thời gian Với các nghiên cứu trên thế giới, để đo lường mức độ ảnh hưởng của các chính sách lên ERPT thì tương tự như McCarthy (2000), Hahn (2003),
Ca „Zorzi et al (2007), Bhattacharya et al (2010) tác giả cũng đã sử dụng VAR để kiểm tra tác động của tỷ giá do khả năng giải thích tốt bất kỳ biến quan sát nào bằng tất cả các biến nội sinh và giá trị trễ của các biến đó Do đó, luận văn này cũng sử dụng mô hình VAR để giải đáp cho mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
Trang 293.1 Mô hình nghiên cứu
ERPT được ước tính dựa trên giá nhập khẩu, giá xuất khẩu và giá cả trong nước tuy nhiên bài nghiên cứu này chỉ tập trung xác định mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá
cả trong nước Nghiên cứu này cũng như những mô hình nghiên cứu trước đây giới thiệu bởi McCarthy (2006) và Michele Ca‟ Zorzi, Elke Hahn and Marcelo Sasnchez (2007) tiến hành và đưa các biến vào trong mô hình lần lượt là:
i i i
iY + γ Y + U β
+
= Y
1t 2t
1t 1t ∝
Trang 30
i i i
+ δ
= Y
2t 2t
1t
chứa p trễ của mỗi biến, với 2 biến mô hình có 2^2p hệ số góc và 2 hệ số chặn, nếu k biến thì hệ có k phương trình với k^2 p hệ số gốc và k hệ số chặn
Việc sử dụng một tiến trình được lặp đi lặp lại để nhận diện ra những cú sốc tác động đồng thời đến những biến tương ứng và những biến xếp sau đó, nhưng lại không gây tác động đến những biến đứng trước Với các nhân tố tác động từ nền kinh tế, ta đưa ra những giả định như sau:
cùng lúc trong chuỗi nhưng không bị ảnh hưởng cùng lúc bởi bất kỳ biến động nào khác, và chỉ chịu ảnh hưởng bởi cú sốc của chính nó trong quá khứ Do vậy, đây là biến đầu tiên trong mô hình
hối đoái, chỉ số giá tiêu dùng và theo sau là giá dầu
giá
sẽ đứng trước giá tiêu dùng, và tiếp theo tác động đến thứ tự của các biến còn lại
sau cùng theo thứ tự
Trang 31Mô hình VAR đệ quy đáp ứng những giả thiết đề ra trong mô hình, với hàm phản ứng xung và phân rã phương sai sẽ được ứng dụng để ước lượng nhằm giải quyết những vấn đề đã đặt ra
3.2 Mô tả dữ liệu nghiên cứu
Để nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ và độ mở cửa thương mại đến ERPT tại Việt Nam, luận văn sử dụng dữ liệu từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 12 năm 2014 Các
dữ liệu đều được điều chỉnh tính mùa vụ bằng phương pháp Census X11 vì thường tăng cao vào những dịp lễ tết Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các biến sau đây:
- OIL: Logarit cơ số tự nhiên của giá dầu thế giới (OIL), lấy theo giá dầu U.K Brent đơn vị USD/thùng
- IIP: Theo lý thuyết, giá trị sản xuất công nghiệp được sử dụng như một biến đại diện cho chênh lệch sản lượng IIP thực và IIP tiềm năng của nó, được điều chỉnh tính thời vụ theo phương pháp Census X11, được quy về kỳ gốc (2000M1=100) Nguồn : GSO, ADB
- M2: Logarit cơ số tự nhiên khối tiền mở rộng của Việt Nam Và được điều chỉnh tính mùa vụ theo phương pháp Census X11 Nguồn: IFS, ADB
- NEER: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương (NEER), được tính với rổ tiền tệ
từ 10 đối tác xuất nhập khẩu chính của Việt Nam, đơn vị tính VNĐ/USD, được quy về kỳ gốc (2000M1=100) Nguồn: IFS, GSO, FXSTOP
- CPI: Giá trong nước được đại diện bởi chỉ số giá tiêu dùng, được quy về kỳ gốc (2000=100) và được điều chỉnh tính thời vụ theo phương pháp Census X11 Nguồn: IFS, GSO, ADB
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp theo tháng từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 12 năm 2014, bao gồm 180 quan sát Dữ liệu được thu thập từ các nguồn Tổng cục thống
kê Việt Nam (GSO), Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) và Thống kê tài chính thế giới (IFS) Dựa vào tình hình chung của nền kinh tế và các giai đoạn khác nhau của sự
mở cửa thương mại và chính sách tiền tệ tại Việt Nam mà tác giả phân chia mẫu nghiên
Trang 32cứu thành 2 giai đoạn 2000-2006 và từ 2007– 2014 và ước tính ERPT cho từng thời kỳ,
cụ thể:
- Giai đoạn 1: Từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 12 năm 2006 gồm 84 quan sát
- Giai đoạn 2: Từ tháng 1 năm 2007 đến tháng 12 năm 2014 gồm 96 quan sát
3.3 Phân chia mẫu nghiên cứu và đặt giả thuyết
Để đáp ứng mục tiêu bài viết là nghiên cứu sự tác động của chính sách tiền tệ và mở cửa thương mại lên truyền dẫn tỷ giá tại Việt Nam, luận văn tham khảo hướng nghiên cứu của Gagnon và Ihrig (2004), hay Coulibaly và Kempf (2010) Theo đó, lựa chọn mốc thời gian để tách dữ liệu làm hai mẫu nhỏ với hai kỳ nghiên cứu khác nhau và tiến hành so sánh mức độ và độ trễ truyền dẫn tỷ giá ở hai kỳ nghiên cứu này Mốc thời gian này được xác định khi mà đất nước có những chuyển biến trong những chính sách tiền tệ và mở cửa và đó cũng chính là hai đối tượng đang được nghiên cứu
Những chuyển biến trong chính sách tiền tệ
Hình 3.3.1: Tình hình biến động lạm phát giai đoạn 2000-2014
Với Việt Nam, vì chưa áp dụng lạm phát mục tiêu, trong khi chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong thời gian qua là chính sách đa mục tiêu, Việt Nam kỳ vọng vừa đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng vừa kiểm soát giá cả - lạm phát, vừa ổn định tiền tệ (Ủy ban Kinh tế Quốc Hội và UNDP Việt Nam 2012), do đó việc xác định mốc thời gian để tách dữ liệu
Trang 33dựa vào quan sát thực tiễn chuyển biến chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát là khó thực hiện, tuy nhiên hiệu quả của chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát được phản ứng qua thực tiễn lạm phát Vì vậy tác giả dựa trên thực tiễn lạm phát Việt Nam từ tháng 1/2000 đến tháng 12/2014 và cho rằng điểm cắt vào khoảng vào năm 2007, ở thời điểm này tỷ lệ lạm phát là 10.037%, thời điểm lạm phát bắt đầu vượt mốc hai con số so với giai đoạn trước tỷ lệ lạm phát chỉ dưới 10%, cũng tính từ thời điểm này lạm phát Việt Nam có biên độ dao động cao nhất trong suốt thời kỳ từ 2000-2014 và với mức tăng nổi trội vào cuối năm 2008
Hình 3.3.2: Biến động của Trị giá sản xuất công nghiệp và cung tiền M2
Trang 34Nhiều nhận định của các nhà chức trách hay chuyên gia kinh tế cho rằng, đối với Việt Nam mốc thời gian này là điểm khởi đầu cho một giai đoạn tăng trưởng “nóng”, tuy nhiên không phải điều này lúc nào cũng thể hiện dấu hiệu tốt bởi Việt Nam đã quá chú trọng đến con số tăng trưởng mà quên đi hai chữ “bền vững” và chính điều này đã làm cho Việt Nam chưa thể cất cánh và gặp nhiều khó khăn Nếu như năm 2007 là năm đỉnh cao với tốc độ tăng trưởng GDP lên tới 8.5% thì đây cũng là giai đoạn đất nước phải đối diện với những vấn đề nan giải: tăng trưởng không cao nhưng luôn quá nóng, chính sách tiền tệ và tín dụng thắt chặt nhưng lạm phát vẫn cao điều mà trái ngược với giai đoạn 2000-2006 với chính sách tiền tệ nới lỏng, bên cạnh đó việc phát triển dựa trên đầu tư khiến lượng cung tiền trong nền kinh tế tăng chóng mặt, và tất nhiên điều đánh đổi ở đây là khó giữ lạm phát ở mức thấp Theo số liệu Ngân hàng phát triển Châu Á, trong giai đoạn 2007 cho đến nay lượng cung tiền M2 tăng ít nhất 20% trong mỗi năm, nỗi trội nhất vẫn là năm 2007 với mức tăng 46%, cung tiền tăng nhanh trong khi thực lực của nền kinh tế không mạnh, hiệu quả sử dụng vốn thấp khiến lượng hàng hóa sản xuất ra không tăng cùng nhịp với tốc độ tăng cung tiền dẫn đến giá cả leo thang, đồng tiền trở nên mất giá
Những chuyển biến trong chính sách thương mại
Với mốc thời điểm dùng để tách mẫu là năm 2007 là dựa vào những chuyển biến của chính sách tiền tệ thì ở đây nó cũng làm mốc thời gian để thấy rằng những thay đổi chủ chốt trong chính sách thương mại Vào thời điểm này, lúc mà lạm phát bắt đầu có dấu hiệu tăng đột biến thì ngoài lý do được giải thích là hệ quả từ những quyết sách của các nhà chức trách trong việc điều hành và thay đổi những chính sách tiền tệ thì một số nhà phân tích đã cho rằng đó cũng là hệ lụy từ việc thay đổi những chính sách thương mại lúc này Khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) vào đầu năm 2007, cùng với những cải cách về cơ chế chính sách và môi trường đầu tư đã tạo điều kiện cho nguồn vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng mạnh trong giai đoạn này mà chủ yếu là đổ vào chứng khoán, trái phiếu và IPO doanh nghiệp
Trang 35lớn và hệ quả là lạm phát tăng cao khi Ngân hàng Nhà Nước cung ứng một nguồn nội
tệ lớn để thu ngoại tệ vào nhằm mục tiêu ổn định, điều này làm tổng phương tiện thanh toán tăng cao tác động đến lạm phát
Song song với việc mở cửa, việc gánh chịu hệ lụy đối với các cuộc khủng hoảng tài chính 2007 và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động làm cho giá của các mặt hàng nhập khẩu Việt Nam tăng cao điều này dẫn đến chi phí sản xuất tăng vọt và hệ quả cuối cùng là lạm phát tăng Với thời điểm khoảng đầu năm 2007, giá dầu dầu Thế giới có xu hướng tăng mạnh và có biên độ dao động mạnh nhất, điều này trái ngược với giai đoạn
từ năm 2000-2006 là chỉ tăng dần ở một biên độ thấp
Hình 3.3.3: Tình hình biến động giá dầu thế giới giai đoạn 2000-2014
Trang 36Chính sách mở cửa đẩy mạnh trong giai đoạn 2007- 2014 cũng đã đem lại sự tăng
trưởng đáng kể cho nên kinh tế Việt Nam và nổi trội là năm 2007, xuất khẩu biến động
mạnh hơn so với những giai đoạn trước đó Tăng trưởng xuất khẩu khá cao khởi điểm
là năm 2007 và đỉnh điểm là khoảng năm 2008
Bảng 3.3.1 Cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2000-2014
Nguồn: IMF Country Report Vietnam
Sự kết hợp của những thay đổi trong nhiều yếu tố cụ thể là việc mở cửa thương mại,
tiếp theo đó là ảnh hưởng của cuộc suy thoái toàn cầu dẫn đến giá các mặt hàng trên
thế giới tăng mạnh và nguồn vốn nước ngoài đổ đã ảnh hưởng không ít đến sự biến
động của tỷ giá Đối với tỷ giá hối đoái thì vẫn có hiện tượng tăng bắt đầu cuối năm
2007 trở đi
- Giai đoạn 2000-2006: Khi giai đoạn suy thoái kết thúc do ảnh hưởng mạnh mẽ của
cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, nền kinh tế đi vào ổn định thì tỷ giá lại được neo
giữ tương đối cứng nhắc theo đồng USD Đây cũng là các giai đoạn mà tỷ giá trên thị
trường tự do cũng ổn định và theo sát với tỷ giá chính thức Nguyên nhân là do giai
Trang 37đoạn trước đó tỷ giá chính thức đã được tăng liên tục và đến cuối giai đoạn đã ngang bằng với tỷ giá thị trường tự do
- Giai đoạn 2007-2014: Trong giai đoạn suy thoái kinh tế hoặc khủng hoảng với
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nỗ lực bình ổn kinh tế vĩ mô Gắn liền với những giai đoạn biến động mạnh này là sự chênh lệch lớn giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do Sức ép của thị trường đã buộc NHNN phải nới rộng biên độ tỷ giá hoặc chính thức phá giá, làm cho VND mất giá mạnh mẽ so với thời điểm trước đó
Hình 3.3.4 Biến động của tỷ giá hối đoái 2000-2014
Trên đây là những thay đổi rõ rệt của những yếu tố vĩ mô theo thời kỳ trong những điều kiện kinh tế khác nhau mà tác giả đề cập ở đây chính là những chính sách tiền tệ
và mở cửa thương mại tại Việt Nam, và đó cũng là vấn đề mà tác giả muốn nhấn mạnh
để làm cơ sở cho việc phân chia mẫu nghiên cứu thành hai giai đoạn đó là:
- Giai đoạn 1: Từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 12 năm 2006
Trang 38- Giai đoạn 2: Từ tháng 1 năm 2007 đến tháng 12 năm 2014
Theo giả thuyết của Taylor, ERPT sẽ thấp hơn trong giai đoạn khi mà sử dụng các chính sách triệt để để cải thiện môi trường lạm phát và ERPT được kỳ vọng sẽ cao hơn trong giai đoạn khác khi có một chính sách thắt chặt tiền tệ và cao nhất trong giai đoạn nếu không có chính sách tiền tệ đưa ra để kiểm soát lạm phát Điều đó trái ngược với kết quả đạt được khi nhận xét môi trường thương mại Nhập khẩu tăng dần trong giai đoạn thứ hai cùng với giá dầu tăng cao hơn cho thấy ERPT sẽ cao nhất trong giai đoạn này Môi trường thương mại được hạn chế trong giai đoạn đầu tiên dẫn đến ERPT thấp hơn mặc dù giá dầu cao Dựa trên giả thuyết đó và những lập luận của mình, tác giả sẽ tóm gọn phần thực trạng nền kinh tế và đặt giả thuyết như sau:
Bảng 3.3.2: Giả thuyết về mức độ ERPT dựa trên những môi trường kinh tế khác nhau
2000-2006
- Xuất nhập khẩu tương đối thấp, cán cân thương mại thâm hụt do hội nhập chưa cao
- Chính sách tỷ giá được quản
lý theo sự điều tiết của Nhà nước
- Giá dầu Thế giới theo xu hướng tăng dần nhưng không ảnh hưởng nhiều vì thương mại tương đối khép kín
- Thực hiện chính sách tiền để kiểm soát lạm phát và mục tiêu
ổn định kinh tế trong giai đoạn này Tuy nhiên trong thực tế, chính sách tiền tệ vẫn có chút nới rộng dẫn đến tỷ lệ lạm phát trung bình biến động nhưng không cao không đáng kể
Kết hợp hai điều kiện kinh tế trên tác giả giả định trong giai đoạn
này: ERPT trung bình
Trang 392007-2014
- Việt Nam đẩy mạnh hội nhập bên ngoài, nguồn vốn nước ngoài vào VN tăng dẫn đến tỷ giá biến động mạnh
- Tự do hóa thương mại lớn làm tăng xuất khẩu và nhập khẩu, cán cân thương mại thặng dư
- Hội nhập cao kết hợp với ảnh hưởng của các hệ quả cuỗ suy thoái dẫn đến việc giá lương thực
và dầu thô tăng mạnh đã ảnh hưởng khá nhiều đến tỷ giá
Chính sách tiền tệ thắt chặt thông qua việc tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát tuy nhiên giá lương thực tăng cao thêm vào
đó là ảnh hưởng cuộc suy thoái toàn cầu buộc Chính phủ phải bơm một lượng lớn cung tiền trong giai đoạn này để cứu vãn điều này làm lạm phát càng tăng cao và tăng đột biến trong giai đoạn này
Kết hợp hai điều kiện kinh tế trên tác giả giả định trong giai đoạn
này: ERPT cao
Nguồn: Thông tin chính sách và lập luận của tác giả
3.4 Các bước thực hiện nghiên cứu
Chuỗi dữ liệu đưa vào mô hình, được thực hiện tuần tự như sau với công cụ Eview:
bắt buộc của mô hình VAR là chuỗi dữ liệu phải dừng Dùng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị ADF (Augmented Dickey- Fuller), PP (Phillips Peron) để kiểm định tính dừng Nếu chúng vẫn không dừng thì sử dụng sai phân theo bậc trong VAR để biến đổi về chuỗi dừng, đầu tiên là sai phân bậc 1, nếu bậc 1 chưa được thì lấy sai phân bậc hai, bậc ba…
Trang 40 Kiểm định nhân quản Ganger
dự báo tốt nhất bằng công cụ VAR Lag Other Selection Criteria trong Eview dựa trên các tiêu chí như: FPE (Final prediction error criterion), AIC (Akaike information criterion), SIC (Schwars information criterion) Độ trễ phù hợp nếu thỏa mãn nhiều nhất các tiêu chuẩn trên Lựa chọn độ trễ phù hợp vì cho thấy giá trị kỳ trước thường
có ảnh hưởng nhất định đến giá trị kỳ sau hoặc kỳ vọng tương lại thường dựa trên giá trị hiện tại và quá khứ của biến
cho thấy tác động của một cú sốc ngoại sinh trên toàn bộ tiến trình theo thời gian Qua
đó có thể phát hiện mối quan hệ động theo thời gian
có thể thấy một cái nhìn tổng quan đơn giản hơn vế cấu trúc động của mô hình VAR, đạt được sự thông gọn về khả năng dự báo
Mục tiêu là để xác định tác động khác nhau của mở cửa và chính sách tiền tệ lên ERPT qua hai giai đoạn đã được đề cập ở trên, nghiên cứu này ước tính hai VAR và so sánh kết quả Các bước kiểm định, thực hiện ước lượng trong mô hình này sử dụng phần mềm Eview