1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng việt nam

95 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong khoảng thời gian tương đối dài, từ cuối những năm 90 cho đến đầu năm 2007, hoạt động kinh doanh vàng ở Việt Nam và giá vàng đã diễn ra khá ổn định và khô

Trang 1

PHẠM THỊ THANH TUYỀN

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

GIÁ VÀNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 2

PHẠM THỊ THANH TUYỀN

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

GIÁ VÀNG VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN THỊ NHUNG

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 3

ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi với sự

hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thị Nhung

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, được trích dẫn, kế thừa và phát triển từ các công trình nghiên cứu, tạp chí, các trang web có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được trình bày đầy đủ trong danh mục tài liệu tham khảo

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thanh Tuyền

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

Mở đầu 1

Chương 1: Lý thuyết về vàng và các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng 1.1 Vàng và chức năng của vàng 4

1.1.1 Vàng là phương tiện trao đổi tiền tệ 4

1.1.2 Vàng là phương tiện cất giữ của cải, tiết kiệm 6

1.1.3 Vàng là nguyên liệu để sản xuất trang sức 6

1.1.4 Vàng được sử dụng trong y tế 6

1.1.5 Vàng được ứng dụng trong sản xuất công nghiệp 7

1.1.6 Vàng là công cụ đầu tư tài chính 7

1.2 Khái quát về thị trường vàng 8

1.2.1 Khái niệm thị trường vàng 8

1.2.2 Đặc điểm của thị trường vàng 8

1.2.3 Các chủ thể tham gia thị trường 9

1.3 Cơ sở lý thuyết về giá 9

1.3.1 Học thuyết kinh tế cổ điển ở nước Anh 9

1.3.1.1 Lý thuyết về giá trị – lao động của William Petty 9

1.3.1.2 Lý thuyết về giá trị lao động của Adam Smith 10

1.3.1.3 Lý thuyết về giá trị lao động của David Ricardo 11

Trang 5

1.3.3.2 Giá cả và tiền tệ 12

1.3.3.3 Giá cả có mối quan hệ khắng khít với giá trị sử dụng 13

1.3.3.4 Giá cả và các quan hệ kinh tế – xã hội 13

1.3.4 Sự hình thành giá trong các hình thái thị trường 14

1.4 Tổng quan các nghiên cứu các nhân tố 15

1.4.1 Cung và cầu vàng 16

1.4.2 Giá vàng và tỷ giá hối đoái 17

1.4.3 Giá vàng và chỉ số giá 19

1.4.4 Các nhân tố khác 20

1.4.5 Tổng hợp các nghiên cứu 22

Kết luận chương 1 23

Chương 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam 2.1 Đặc điểm thị trường vàng Việt Nam 24

2.1.1 Nhà nước kiểm soát cung vàng 24

2.1.2 Giá vàng Việt Nam và thế giới 25

2.1.3 Tình trạng nhập lậu vàng ở Việt Nam 27

2.1.4 Các đặc điểm khác 28

2.2 Thị trường vàng Việt Nam và diễn biến giá vàng qua các thời kỳ 28

2.2.1 Giai đoạn năm 2007 – 2011 29

2.2.2 Giai đoạn năm 2012 – 2014 31

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam 33

2.3.1 Giá vàng thế giới 33

2.3.2 Tỷ giá hối đoái USD/VND 34

2.3.3 Tỷ lệ lạm phát/chỉ số giá tiêu dùng 35

2.3.4 Các nhân tố định lượng khác 36

Trang 6

2.4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 42

2.5 Kết quả nghiên cứu 43

2.5.1 Thống kê mô tả các biến 43

2.5.2 Kiểm định nghiệm đơn vị 44

2.5.2.1 Giai đoạn 2007 – 2011 45

2.5.2.2 Giai đoạn 2012-2014 46

2.5.3 Mô hình kiểm định các nhân tố 46

2.5.3.1 Mô hình VAR giai đoạn 2007 – 2011 47

2.5.3.2 Mô hình VAR giai đoạn 2012 – 2014 53

2.5.4 Đánh giá kết quả nghiên cứu 55

Kết luận chương 2 58

Chương 3: Các giải pháp ổn định giá vàng và phát triển thị trường vàng Việt Nam 3.1 Đánh giá các kết quả đã đạt được 59

3.2 Các giải pháp nhằm tiếp tục ổn định giá vàng 61

3.2.1 Kiểm soát tỷ giá 62

3.2.2 Kiểm soát lạm phát 62

3.2.3 Các giải pháp khác 63

3.3 Các giải pháp phát triển thị trường vàng 65

Kết luận chương 3 67

Kết luận 68 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

CAD : đồng đô la Canada

COP : đồng Colombia Peso

Trang 8

Bảng 2.2: Thống kê mô tả các biến giai đoạn 2012 – 2014 43

Bảng 2.3: Kết quả kiểm định tính dừng biến VNGP 45

Bảng 2.4: Kết quả kiểm định tính dừng biến D(VNGP) 45

Bảng 2.5: Tổng hợp tính dừng các biến giai đoạn 2007 – 2011 46

Bảng 2.6: Tổng hợp tính dừng các biến giai đoạn 2012 – 2014 46

Bảng 2.7: Bảng tiêu chuẩn lựa chọn độ trễ tối ưu giai đoạn 2007 – 2011 47

Bảng 2.8: Kết quả ước lượng mô hình VAR giai đoạn 2007 – 2011 48

Bảng 2.9: Kết quả kiểm định các hệ số hồi quy giai đoạn 2007 – 2011 49

Bảng 2.10: Kết quả kiểm định Wald 50

Bảng 2.11: Kết quả ước lượng ảnh hưởng của biến DVNGP(-1), DWGP và DEX 50

Bảng 2.12: Kết quả phân rã phương sai giai đoạn 2007 – 2011 51

Bảng 2.13: Bảng tiêu chuẩn lựa chọn độ trễ tối ưu giai đoạn 2012 – 2014 53

Bảng 2.14: Kết quả kiểm định ảnh hưởng của biến DWGP 54

Trang 9

Hình 2.2: Diễn biến giá vàng Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011 30

Hình 2.3: Diễn biến giá vàng Việt Nam giai đoạn 2012 – 2014 31

Hình 2.4: Diễn biến giá vàng Việt Nam và thế giới năm 2012 – 2014 32

Hình 2.5: Diễn biến giá vàng thế giới và Việt Nam giai đoạn 2007 – 2014 33

Hình 2.6: Diễn biến giá vàng Việt Nam và tỷ giá giai đoạn 2007 – 2014 35

Hình 2.7: Diễn biến giá vàng Việt Nam và chỉ số giá giai đoạn 2007 – 2014 36

Hình 2.8: Giá vàng Việt Nam và chỉ số Vn-Index giai đoạn 2007 – 2014 37

Hình 2.9: Giá vàng Việt Nam và giá vàng thế giới năm 2013 39

Hình 2.10: Tác động của các cú sốc đến giá vàng Việt Nam 53

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong khoảng thời gian tương đối dài, từ cuối những năm 90 cho đến đầu năm

2007, hoạt động kinh doanh vàng ở Việt Nam và giá vàng đã diễn ra khá ổn định và không tác động lớn đến việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước (NHNN)

Cuối năm 2006 đầu 2007, sự bùng phát của thị trường chứng khoán với chỉ số VN-Index tăng đạt đỉnh cao 1.170,67 điểm ngày 12/3/2007 và bắt đầu đà tụt dốc với mức đáy là 496,64 điểm ngày 25/3/2008 Các nhà đầu tư gần như bỏ chạy khỏi thị trường và nhiều người đã phải bán tháo cổ phiếu của mình để chuyển sang thị trường bất động sản và vàng, góp phần đẩy giá trên hai thị trường này lên cao Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu và ngày càng rộng như hiện nay, giá vàng trong nước ngày càng gắn với giá vàng thế giới là điều không tránh khỏi Điều này đặt ra nhiều vấn đề cho quản lý vàng và từ đó tới quản lý đồng tiền quốc gia Việc quản lý tốt thị trường vàng với tư cách là một kênh đầu tư và là một bộ phận của thị trường tài chính, thị trường tiền tệ sẽ góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ

Giá vàng Việt Nam chịu ảnh hưởng từ nhiều nhân tố Câu hỏi đặt ra là mức độ tác động của các nhân tố đến giá vàng Việt Nam như thế nào, và nhân tố nào tác động mạnh nhất đến giá vàng Việt Nam? Làm thế nào để dự đoán sự biến động của giá vàng? Đây không chỉ là mối quan tâm của nhà đầu tư mà còn là của cơ quan quản lý

Vì vậy, cùng với việc vận dụng những kiến thức, lý luận khoa học đã được tiếp thu, tác giả chọn đề tài: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam” cho luận văn của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Trang 11

Luận văn làm rõ các nội dung sau đây:

Thứ nhất, Luận văn đúc kết lý luận tổng quan về tác động của các nhân tố đến giá vàng

Thứ hai, Luận văn xác định các nhân tố ảnh hưởng nào đến giá vàng Việt Nam Thứ ba, Luận văn đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của giá vàng Việt Nam và xác định nhân tố có ảnh hưởng nhiều nhất đến giá vàng

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: giai đoạn năm 2007 – 2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, định tính, thống kê và tổng hợp nhằm làm rõ vấn đề cần nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng: Luận văn sử dụng mô hình VAR để đánh giá các nhân

tố tác động đến giá vàng Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2014

Nghiên cứu định tính: Luận văn đánh giá sự ảnh hưởng của các chính sách quản

lý của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đến giá vàng Việt Nam bằng cách thu thập các số liệu, so sánh, đánh giá diễn biến của giá vàng và chia thời gian nghiên cứu thành hai giai đoạn để thấy rõ được mức ảnh hưởng của các chính sách đến giá vàng

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam

Trang 12

Chương 3: Một số giải pháp ổn định giá vàng và phát triển thị trường vàng Việt Nam

6 Những kết quả đạt được của luận văn

Một là, luận văn đã hệ thống lại các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam có liên quan đến giá vàng, thị trường vàng

Hai là, luận văn đã khái quát đặc điểm thị trường vàng Việt Nam và diễn biến giá vàng qua các giai đoạn từ năm 1989 đến hiện nay

Ba là, luận văn sử dụng mô hình VAR để xem xét mức độ ảnh hưởng của các nhân tố định tính và định lượng đến giá vàng Việt Nam

Bốn là, luận văn có đề xuất các giải pháp để điều tiết và phát triển thị trường vàng Việt Nam

Cuối cùng, luận văn đã mở ra hướng nghiên cứu, mở rộng vấn đề cho các bài nghiên cứu tiếp theo

Trang 13

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ VÀNG VÀ CÁC NHÂN TỐ

ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ VÀNG 1.1 Vàng và chức năng của vàng

Vàng là nguyên tố hóa học có ký hiệu là Au và có số nguyên tử là 79 Vàng nguyên chất có màu vàng nhạt sáng đẹp, không bị rỉ trong không khí và nước, không phản ứng với hầu hết các hóa chất, khối lượng nặng, mềm và sáng, dễ dát mỏng, dễ uốn, độ trơ cao

Vàng là kim loại quý, được sử dụng trong ngành trang sức, điêu khắc, trang trí, các ngành công nghiệp công nghệ cao, điện tử, bán dẫn, công nghiệp hàng không vũ trụ… Ngoài ra, vàng còn dùng để đúc tiền làm phương tiện thanh toán, là một loại tài sản tài chính, công cụ hỗ trợ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Lịch sử của vàng có thể coi là lịch sử nhân loại mà cho đến ngày nay, mọi cố gắng tạo ra vàng nhân tạo đều không thành công Hầu như chỉ có vàng giữ được vai trò “hai trong một” độc đáo của mình một cách lâu dài và bền vững: với tư cách hàng hóa thông thường và với tư cách hàng hóa tiền tệ Vì vậy, vàng có các chức năng riêng biệt, gắn liền với tư cách hàng hóa thông thường và tiền tệ của nó

1.1.1 Vàng là phương tiện trao đổi tiền tệ

Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, các hình thái tiền

tệ khác nhau đã ra đời và không ngừng phát triển nhằm đáp ứng, mở đường cho sự phát triển của các nền kinh tế, thúc đẩy khu vực hoá, toàn cầu hoá

Các đặc tính của một đồng tiền hàng hóa bao gồm: sự khan hiếm, tính bền, có thể chuyên chở, dễ phân chia, đồng chất và chất lượng được duy trì lâu bền Vàng

đã đáp ứng được đầy đủ các đặc tính trên Vì vậy, vàng được sử dụng rộng rãi khắp thế giới như một phương tiện chuyển đổi tiền tệ, bằng cách phát hành các đồng xu vàng hoặc thông qua các công cụ tiền giấy có thể quy đổi thành vàng (bản vị vàng)

Trang 14

Chế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà pháp luật quy định dùng vàng để đúc tiền vàng Trong quá trình phát triển kinh tế, chế độ này tiến triển dưới ba hình thức của ba chế độ khác nhau là bản vị tiền vàng, bản vị thoải vàng và bản vị hối đoái vàng Trong chế độ tiền tệ bản vị vàng, tiền dù ở hình thức nào (đúc bằng vàng, in trên giấy, tiền điện tử…) thì người sở hữu tiền vẫn luôn có một quyền quan trọng là yêu cầu người phát hành tiền đổi tiền thành vàng theo tỷ lệ cam kết

Hệ thống bản vị vàng quốc tế tồn tại trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, từ những năm 1870 đến Thế chiến thứ nhất nổ ra năm 1914 Thời kỳ bản vị vàng tạo cơ sở cho kinh tế tăng trưởng ổn định và thịnh vượng, lạm phát thấp Một

ưu điểm nổi bật của chế độ bản vị vàng là bảo đảm cho nhà đầu tư nước ngoài, giá trị khoản đầu tư của họ hiếm khi bị ảnh hưởng bởi sự mất giá của đồng tiền của nước nhận đầu tư so với đồng tiền của nước đầu tư, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các dòng chảy vốn đầu tư trực tiếp quốc tế

Sau Chiến tranh thế giới thứ II, hệ thống tiền tệ Bretton Woods được hình thành, đồng đôla Mỹ (USD) được gắn cố định với vàng ở mức 35 USD đổi lấy 1 ounce vàng Các đồng tiền khác được xác định giá trị theo USD với tỷ giá cố định

và có thể điều chỉnh Hệ thống Bretton Woods đã giúp hình thành nên thời kỳ huy hoàng với tốc độ tăng trưởng cao, và lạm phát tương đối thấp Tuy nhiên, mức giá

cố định 35USD/ounce trở thành phi thực tế qua thời gian, một phần do lạm phát và cơn sốt vàng do hậu quả của cuộc chiến tranh với Việt Nam Mức cố định 35USD/ounce đã được thay thế vào năm 1968 bởi một hệ thống hai tầng với thị trường tự do và thị trường chính thức

Khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào đầu những năm 1970, vàng không còn

là xương sống chính thức của hệ thống tiền tệ quốc tế và dưới những quy tắc của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, các quốc gia không thể đảm bảo đồng tiền của mình bằng vàng Mặc dù vậy vàng vẫn còn những chức năng tiền tệ nhất định và được chính thức sử dụng làm tài sản dự trữ của các ngân hàng Trung ương Vào cuối năm 2004, các ngân hàng Trung ương trên thế giới và các tổ chức chính thức nắm giữ khoảng

Trang 15

19% tổng trữ lượng vàng trên mặt đất với chức năng dự trữ Tính đến tháng 9/2008,

Mỹ là nước đứng đầu trong danh sách với mức dự trữ 8,133.5 tấn, sau đó là Đức với 3,413.2 tấn, Quỹ tiền tệ quốc tế 3,217.3 tấn, Pháp: 2,540.9 tấn, tiếp theo là Italy, Thụy Sỹ, Nhật Bản, Hà Lan, Trung Quốc

1.1.2 Vàng là phương tiện cất giữ của cải, tiết kiệm

Vàng được thừa nhận giá trị, và có giá trị tương đối ổn định so với các hàng hóa khác Vàng được sử dụng để tiết kiệm có thể ở dưới dạng đồ trang sức như dây chuyền, nhẫn, vòng, lắc, khuyên tai, hoặc dạng thanh (cây) vàng

Theo thống kê, thị trường đồ trang sức vàng rất phát triển ở một số quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc Đối với các quốc gia khác như Việt Nam, người dân vẫn

có tâm lý mua vàng về để tiết kiệm và coi đây là một biện pháp an toàn nhằm đảm bảo giá trị của tiền hoặc làm của hồi môn cho con cháu Mỗi năm có hàng trăm tấn vàng được nhập vào Việt Nam để phục vụ nhu cầu của người dân

1.1.3 Vàng là nguyên liệu để sản xuất trang sức

Với đặc tính không bị ăn mòn, có màu sắc đẹp, dễ gia công thành đồ trang sức nên nữ trang bằng vàng từ lâu đã rất được ưa chuộng nhờ tính thẩm mỹ, sang trọng

và độ bền của nó Do vàng nguyên chất mềm nên vàng thường được kết hợp với các kim loại khác để làm các đồ nữ trang cho con người Lĩnh vực dùng vàng vào ngành trang sức ngày càng phát triển, và gia tăng vị trí của nó trong các ngành chế tác ứng dụng vàng

1.1.4 Vàng được sử dụng trong y tế

Các hợp kim vàng được sử dụng trong việc phục hồi nha khoa Tính dễ uốn của các hợp kim vàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo bề mặt kết nối răng Vàng keo được sử dụng trong nghiên cứu y khoa, sinh học và khoa học vật liệu

Trang 16

Ngoài ra vàng còn được dùng để chữa một số bệnh như viêm khớp, ung thư, một số bệnh ở mắt Rất nhiều các dụng cụ phẫu thuật, thiết bị trợ giúp và thiết bị điện tử được sản xuất ra có sử dụng một hàm lượng nhỏ vàng

1.1.5 Vàng được ứng dụng trong sản xuất công nghiệp

Ngoài chức năng dự trữ và tiết kiệm, làm trang sức vàng còn có các ứng dụng khá rộng rãi trong sản xuất công nghiệp Vàng được sử dụng để sản xuất mạch tích hợp, vi xử lý, dùng để mạ trong sản xuất các thiết bị, sử dụng trong ngành công nghiệp vũ trụ, sản xuất đồng hồ, các thiết bị bán dẫn, thậm chí dùng cả trong sản xuất vũ khí Ngoài ra, vàng có thể được chế tạo thành sợi chì, được dùng trong kỹ thuật thêu, ứng dụng để chuyển đổi màu của các điểm trắng và đen trên giấy ảnh thành màu xanh và xám trong công nghệ ảnh

1.1.6 Vàng là công cụ đầu tư tài chính

Các công cụ đầu tư ngày càng tăng mạnh cùng với sự bùng phát của thị trường tài chính, thị trường hàng hoá cả về qui mô và tốc độ luân chuyển

Một mặt, tiền dấu hiệu (giấy bạc ngân hàng, tiền đúc lẻ, tiền điện tử…) thiếu cơ

sở ổn định vững chắc và thực tế luôn chịu các áp lực giảm giá do thâm hụt ngân sách của các Chính phủ và các vấn đề chính trị, xã hội tiêu cực

Tốc độ lưu chuyển tiền tệ ngoài ngân hàng nhanh, cộng với sự tinh vi, phức tạp của các sản phẩm đầu tư đi kèm với các rủi ro tiềm ẩn, khó lường

Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-1998, khủng hoảng tài chính toàn cầu

2007 và gần đây là khủng hoảng nợ công ở Khu vực đồng tiền chung Châu Âu là các minh chứng cụ thể

Trong bối cảnh như vậy, vai trò của vàng với tư cách của một công cụ đầu tư đã phát triển mạnh mẽ, thay thế các kênh đầu tư khác

Trang 17

1.2 Khái quát về thị trường vàng

1.2.1 Khái niệm thị trường vàng

Thị trường vàng là nơi diễn ra các giao dịch mua bán vàng và các sản phẩm từ vàng bao gồm vàng vật chất, vàng nguyên liệu, vàng trang sức, vàng tài khoản và các công cụ phái sinh vàng Cũng giống các thị trường hàng hóa khác, thị trường vàng được vận hành tại mức giá điều chỉnh theo các điều kiện của thị trường

Hai trung tâm giao dịch vàng quan trọng nhất trên thế giới là thị trường vàng London và New York Thị trường vàng London là một trong những thị trường lâu đời nhất và là thị trường giao dịch vàng vật chất lớn nhất Hầu hết những thành viên của sàn này đều là các ngân hàng quốc tế lớn, thương gia và những nhà chế tạo vàng Chi nhánh Conex của Sàn dịch hàng hóa New York là sàn giao dịch vàng tương lai dành cho những thương gia Mỹ Sàn giao dịch này bắt đầu giao dịch các hợp đồng tương lai vàng vào ngày 31/12/1974

Ngoài ra, còn phải kể đến một số thị trường vàng quan trọng khác trên thế giới nằm ở Tokyo, Sydney, Hong Kong, Thượng Hải, Singapore, Dubai và Zurich Giao dịch toàn cầu về vàng được diễn ra chủ yếu trên thị trường OTC với khối lượng lớn Cho đến nay, London vẫn là trung tâm lớn nhất thế giới xét trên khía cạnh giao dịch OTC, xếp sau đó là thị trường New York, Zurich và Tokyo Hầu hết các giao dịch bán buôn OTC đều được thanh toán qua London Khối lượng vàng trung bình trong ngày được thanh toán thông qua Hiệp hội thị trường vàng London vào 12/2004 là 15.4 triệu ounce (tương đương với 480,000kg, trị giá 6.8 tỷ USD)

1.2.2 Đặc điểm của thị trường vàng

Thị trường vàng được gọi là thị trường không ngủ bởi đặc điểm giao dịch 24/24h, từ 6h sáng thứ 2 cho đến 3h sáng thứ 7 Do có sự chênh lệch múi giờ giữa các thị trường nên hoạt động giao dịch diễn ra liên tục, bắt đầu ở thị trường châu Á, đến thị trường châu Âu và Châu Mỹ…

Trang 18

Thị trường vàng có tính thanh khoản cao và hệ thống công nghệ thông tin hiện đại Người tham gia vào thị trường này có thể thực hiện giao dịch dễ dàng qua điện thoại hay internet một cách trực tiếp mà không cần thông qua trung gian Ngoài ra, người dùng có thể thiết lập chế độ tự động cho giao dịch: take profit hay stop loss Thị trường vàng tồn tại hình thức kinh doanh hai chiều Người kinh doanh đầu

tư vàng để kiếm lợi thường mua vào với giá thấp và bán ra với giá cao Khi giá hiện tại đang tăng cao, người kinh doanh có thể bán khống, đợi khi giá giảm sẽ mua trả

và thu lợi nhuận từ khoản chênh lệch này

1.2.3 Các chủ thể tham gia thị trường vàng

Ngân hàng trung ương là một thành viên lớn nhất của thị trường vàng thực hiện giao dịch nhằm quản lý danh mục Dự trữ ngoại hối Vàng có vai trò quan trọng trong Dự trữ ngoại hối quốc gia, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đồng thời giám sát hoạt động của thị trường và thu lợi nhuận

Ngân hàng thương mại: Các ngân hàng thương mại sử dụng hiệu quả nguồn vốn

dự trữ vàng từ người dân, đồng thời cung cấp các dịch vụ và tự doanh kiếm lời thông qua mua bán chênh lệch giá

Nhà đầu tư tổ chức và cá nhân: Nhà đầu tư trên thị trường vàng có thể là các công ty khai thác, chế tác vàng hoặc những nhà đầu tư nhỏ lẻ Họ tham gia vào thị trường nhằm mục đích kiếm lời dựa trên việc đầu cơ, ăn chênh lệch giá hoặc phòng

vệ dựa vào các công cụ phái sinh

1.3 Cơ sở lý thuyết về giá

1.3.1 Học thuyết kinh tế cổ điển ở nước Anh

1.3.1.1 Lý thuyết về giá trị lao động của William Petty

William Petty là một trong những người sáng lập ra học thuyết kinh tế cổ điển ở Anh Ông là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý thuyết giá trị lao động Theo ông, giá cả tự nhiên là giá trị hàng hoá, nó do lao động của người sản

Trang 19

xuất tạo ra Giá cả nhân tạo là giá cả thị trường của hàng hoá, giá cả nhân tạo thay đổi phụ thuộc vào giá cả tự nhiên và quan hệ cung – cầu hàng hoá trên thị trường

Về giá cả chính trị, William Petty cho rằng, nó là loại đặc biệt của giá cả tự nhiên Nó cũng là chi phí lao động để sản xuất hàng hoá, nhưng trong những điều kiện chính trị không thuận lợi Vì vậy, chi phí lao động trong giá cả chính trị thường cao hơn so với chi phí lao động trong giá cả tự nhiên bình thường

1.3.1.2 Lý thuyết về giá trị lao động của Adam Smith

Adam Smith chỉ ra rằng tất cả các loại lao động sản xuất đều tạo ra giá trị, lao động là thước đo cuối cùng của giá trị Ông phân biệt sự khác nhau giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi và khẳng định giá trị sử dụng quyết định giá trị trao đổi Khi phân tích giá trị hàng hoá, trong quan hệ số lượng với hàng hoá khác ông cho rằng giá trị trao đổi của hàng hóa bằng một lượng hàng hoá nào đó Như vậy giá trị trao đổi của hàng hoá là quan hệ tỷ lệ về số lượng giữa các hàng hoá Trong nền sản xuất hàng hoá phát triển khi chấm dứt nền thương nghiệp vật đổi vật thì giá trị hàng hoá được biểu hiện ở tiền

Ông chỉ ra lượng giá trị hàng hoá là do hao phí lao động trung bình cần thiết quyết định và đưa ra hai định nghĩa về giá cả là giá cả tự nhiên và giá cả thị trường

Về bản chất, giá cả thị trường là biểu hiện tiền tệ của giá trị Theo ông, nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó phù hợp với những gì cần thiết cho thanh toán về địa

tô, trả lương cho công nhân và lợi nhuận cho tư bản thì có thể nói hàng hoá đó được bán theo giá cả tự nhiên Còn giá cả thực tế mà qua đó hàng hoá được bán gọi là giá

cả, nó có thể cao hơn, thấp hơn hay trùng hợp với giá cả tự nhiên Giá cả tự nhiên

có tính khách quan, còn giá cả thị trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như giá

cả tự nhiên, quan hệ cung cầu

Trang 20

1.3.1.3 Lý thuyết giá trị lao động của David Ricardo

Trong lý thuyết giá trị – lao động, David Ricardo dựa vào lý thuyết của Adam Smith và kế thừa, phát triển tư tưởng của Adam Smith Ông phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hoá là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi và chỉ rõ giá trị sử dụng là điều kiện cần thiết cho giá trị trao đổi, nhưng không phải là thước đo của nó

Vì giá trị trao đổi là giá trị tương đối được biểu hiện ở một số lượng nhất định của hàng hoá khác (thay tiền tệ) nên Ricardo đặt vấn đề là bên cạnh giá trị tương đối, còn tồn tại giá trị tuyệt đối Đó là thực thể của giá trị, là số lượng lao động kết tinh, giá trị trao đổi là hình thức cần thiết và có khả năng duy nhất để biểu hiện giá trị tuyệt đối

David Ricardo cũng khẳng định “Giá trị là do lao động hao phí quyết định” và cấu tạo giá trị hàng hoá bao gồm 3 bộ phận là: c+v+m Ông đã phân tích lao động giản đơn và lao động phức tạp, qui lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình Ông cho rằng, lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị hàng hoá

1.3.2 Học thuyết “Lý luận về giá trị, giá cả” của KMarx và Ph.Ăngghen

Dựa trên quan điểm lịch sử, KMarx và Ph.Ăngghen đã thực hiện một cuộc cách mạng về học thuyết giá trị – lao động KMarx khẳng định, hàng hoá là sự thống nhất biện chứng của hai mặt là giá trị sử dụng và giá trị

Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người chẳng hạn cơm để ăn, xe đạp để đi lại vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định Công dụng của vật phẩm là do thuộc tính tự nhiên của vật chất quyết định Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn và là vật mang giá trị trao đổi Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá - chất của giá trị là lao động Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài

Trang 21

Từ việc phân tích các phạm trù giá trị nêu trên, KMarx đã đưa ra định nghĩa về giá cả “Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá” Giá cả ở đây là giá cả hàng hoá, là mức giá mà được xã hội thừa nhận Giá trị hàng hoá là giá trị xã hội, được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá, chứ không phải là giá trị cá biệt của từng người sản xuất

1.3.3 Bản chất kinh tế của phạm trù giá cả theo học thuyết K.MARX

1.3.3.1 Giá cả và giá trị hàng hoá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Giá trị là lao động của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Giá trị

là bản chất của giá cả, giá cả là hình thức biểu hiện của giá trị Trong nền kinh tế thị trường, cung và cầu là những lực lượng hoạt động trên thị trường Cung và cầu không chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn ảnh hưởng tới giá cả thị trường Khi cung bằng cầu, thì giá cả thị trường ngang bằng với giá trị của hàng hoá Khi cung lớn hơn cầu, thì giá cả thị trường thấp hơn giá trị, còn khi cung nhỏ hơn cầu thì giá

cả thị trường cao hơn giá trị Như vậy, cung và cầu thay đổi, dẫn đến làm thay đổi giá cả thị trường của hàng hoá

Trên thị trường, giá cả thị trường chịu tác động của các quy luật kinh tế của thị trường (quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu) nên mức giá cả của từng thứ hàng hoá luôn lên hoặc xuống theo quan hệ cung – cầu, tức là giá cả tách rời giá trị của nó

1.3.3.2 Giá cả và tiền tệ có mối quan hệ tác động qua lại với nhau

Tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá đem trao đổi, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá và do các yếu tố sau quyết định: giá trị hàng hoá, giá trị của tiền và ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá

Trang 22

Giá cả thị trường tỷ lệ thuận với giá trị thị trường của hàng hoá và tỷ lệ nghịch với giá trị của tiền Bởi vậy, ngay cả khi giá trị thị trường của hàng hoá không đổi thì giá cả hàng hoá vẫn có thể biến đổi do giá trị của tiền tăng lên hay giảm xuống Giá cả quyết định sức mua của tiền tệ và ngược lại tiền tệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến giá cả thị trường

Giá cả là yếu tố quyết định lượng tiền tệ trong lưu thông và có ảnh hưởng tới tốc độ lưu thông tiền tệ Ở mỗi thời kỳ nhất định, lưu thông hàng hoá bao giờ cũng đòi hỏi một lượng tiền cần thiết cho sự lưu thông

1.3.3.3 Giá cả có mối quan hệ khắng khít với giá trị sử dụng

Trong mỗi hình thái kinh tế – xã hội, sản xuất hàng hoá có bản chất khác nhau, nhưng hàng hoá đều có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Hai thuộc tính này thống nhất với nhau, nhưng là sự thống nhất của hai mặt đối lập

Đối với người sản xuất hàng hoá, họ tạo ra giá trị sử dụng, nhưng mục đích của

họ không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, họ quan tâm đến giá trị sử dụng là để đạt được mục đích giá trị mà thôi Ngược lại, đối với giới tiêu dùng (người mua), cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình, nhưng muốn có giá trị sử dụng thì phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Như vậy, trước khi thực hiện giá trị sử dụng, phải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng

Giá cả không những biểu hiện bằng tiền của giá trị, mà còn phản ánh giá trị sử dụng của hàng hoá Giá trị sử dụng được biểu hiện ra là: Chất lượng hàng hoá, chi phí sử dụng và tính thay thế lẫn nhau của hàng hoá trong sản xuất và tiêu dùng

1.3.3.4 Giá cả và các quan hệ kinh tế – xã hội

Giá cả thị trường chịu tác động của các quy luật kinh tế của thị trường như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu Các quy luật này tồn tại khách quan, Nhà nước cần vận dụng các quy luật để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế –

Trang 23

xã hội Điều này có nghĩa là, Nhà nước phải sử dụng công cụ giá cả để giải quyết các quan hệ kinh tế – chính trị – xã hội của đất nước, làm cho nền kinh tế phát triển hài hoà, ổn định chính trị và xây dựng công bằng trong xã hội

Giá cả phản ánh tổng hợp và đồng bộ các quan hệ kinh tế – chính trị – xã hội Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cần đảm bảo sự ổn định chính trị – kinh tế -

xã hội và thiết lập khuôn khổ luật pháp để tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế Kinh tế phát triển, hàng hoá sản xuất ra nhiều hơn, đáp ứng nhu cầu tốt hơn, giá cả sẽ ổn định hơn

Ngược lại, giá cả cũng tác động trở lại các quan hệ chính trị – kinh tế – xã hội Khi giá cả thị trường ổn định, sức mua của đồng tiền được giữ vững, thu nhập của người lao động ổn định và dần dần tăng lên, thì các quan hệ kinh tế – chính trị – xã hội cũng được ổn định

1.3.4 Sự hình thành giá trong các hình thái thị trường

Chính sách giá cả của người bán phụ thuộc vào hình thái thị trường Theo các nhà kinh tế thì có bốn kiểu hình thái thị trường, mỗi hình thái hình thành giá cả theo cách riêng của nó

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo bao gồm nhiều người mua, người bán cùng một loại sản phẩm giống nhau Trong loại thị trường này, doanh nghiệp là người chấp nhận giá và các doanh nghiệp đều phải hoạt động theo sự dẫn dắt của bàn tay vô hình của thị trường Không một người mua hay người bán nào có ảnh hưởng lớn đến mức giá thị trường hiện hành của hàng hoá

Thị trường cạnh tranh độc quyền gồm rất nhiều người mua và người bán không tuân theo giá thị trường thống nhất mà dao động trong khoảng rộng Người mua có thể thấy sự chênh lệch về giá chào bán và sẵn sàng mua ở các giá khác nhau Chính sách giá trong thị trường này đặc biệt phát huy tác dụng, ngoài ra doanh nghiệp có thể sử dụng các biện pháp yểm trợ bán hàng khác

Trang 24

Thị trường độc quyền tập đoàn là thị trường bao gồm một số ít người bán rất nhạy cảm với chính sách hình thành giá cả và chiến lược tiêu thụ của nhau, hàng hoá có thể giống hoặc không giống nhau Trong thị trường này, các doanh nghiệp đều có xu hướng chấp nhận mức giá của ngành và của các tập đoàn thường có xu hướng liên kết để xác định mức giá phù hợp cho sự phát triển của toàn ngành

Thị trường độc quyền tuyệt đối là thị trường chỉ có một người bán một loại sản phẩm Sự hình thành giá cả ở từng trường hợp diễn ra rất khác nhau Tổ chức độc quyền nhà nước có thể sử dụng chính sách giá cả để đạt được những mục tiêu nhất định Trong các tổ chức độc quyền tư nhân, doanh nghiệp thường tự xác định giá để thu lợi nhuận phù hợp

1.4 Tổng quan các nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng

Trên thế giới đã có nhiều bài viết và nghiên cứu về vàng và thị trường vàng dưới nhiều góc độ khác nhau Những nghiên cứu này có thể được phân loại thành bốn nhóm chính:

Phương pháp tiếp cận đầu tiên là tìm ra mô hình biến động giá vàng dưới tác động của các biến kinh tế vĩ mô, chẳng hạn như tỷ giá, thu nhập thế giới, những cú sốc chính trị

Phương pháp thứ hai tập trung vào vàng như là một kênh đầu cơ Cách tiếp cận này sẽ nghiên cứu tính hợp lý hoặc bất hợp lý của biến động giá vàng

Cách tiếp cận thứ ba xem xét việc đầu tư vào vàng nhiều hơn như một cách để

tự bảo hiểm rủi ro cho danh mục đầu tư chống lại lạm phát

Nhóm cuối cùng là những nghiên cứu để xây dựng mô hình giá vàng

Tác giả thực hiện tổng hợp các nghiên cứu theo từng nhân tố tác động đến giá vàng bao gồm: cung và cầu vàng, các biến kinh tế vĩ mô như tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, lãi suất… và các nhân tố khác như chỉ số giá chứng khoán, chính sách quản lý của nhà nước, các nhân tố định tính khác

Trang 25

1.4.1 Cung và cầu vàng

Vàng là một hàng hóa, vì vậy theo lý thuyết kinh tế vĩ mô đơn giản thì giá vàng phụ thuộc vào cung và cầu vàng trên thị trường Theo lý thuyết cung cầu, khi một trong hai hoặc cả hai đường cung và cầu dịch chuyển thì điểm cân bằng là giá vàng

sẽ dịch chuyển theo, tức là giá vàng thay đổi Vì vậy, các yếu tố làm dịch chuyển đường cung và cầu vàng sẽ làm giá vàng thay đổi

Nhìn từ phía cầu vàng, Hội đồng Vàng Thế giới (World Gold Council - WGC) phân loại vàng thành 4 nhóm riêng biệt, gồm vàng trang sức, vàng sử dụng trong khoa học công nghệ, vàng đầu tư, và vàng do Ngân hàng Trung ương (NHTW) nắm giữ Trong đó, loại vàng được quan tâm đến nhiều nhất là vàng đầu tư tồn tại dưới

cả hình thức vật chất (phần lớn ở dưới dạng vàng miếng) và phi vật chất (chứng chỉ quỹ đầu tư vàng và các sản phẩm tương tự)

Cầu vàng đầu tư là lượng vàng miếng được bán ròng hàng năm, không bao gồm vàng miếng được mua đi bán lại Hoạt động đầu tư vàng có thể bao gồm nhiều hình thức khác nhau như vàng vật chất, vàng tài khoản, phái sinh vàng hay đầu tư vào chứng khoán của các nhà sản xuất vàng Khi mua vàng để đầu tư thì người mua sẽ quan tâm hơn đến mức giá vàng trong tương lai, giá cả của các hàng hoá khác có liên quan, số lượng người tiêu dùng tham gia vào thị trường

Cầu vàng trang sức là vàng sử dụng sản xuất trang sức trừ đi số lượng xuất khẩu

và thay đổi hàng tồn kho, không bao gồm đồ trang sức cũ mua đi bán lại Đối với nhu cầu vàng trang sức, cầu sẽ thay đổi theo mức thu nhập, sở thích và mùa vụ Chẳng hạng, vào mùa lễ cưới hỏi nhu cầu mua vàng trang sức sẽ tăng cao góp phần làm tăng giá vàng Vì vậy, tùy vào từng trường hợp mà các nhân tố sẽ có tác động khác nhau đến giá vàng

Nguồn cung vàng trên thế giới đến từ hai nguồn là khai khoáng và vàng tái chế Theo thống kê của GFMS (Gold Fields Mineral Services) nguồn tái chế thường chiếm tỷ lệ khoảng 25-30% tổng lượng cung Đối với một quốc gia, nguồn cung này

Trang 26

đến từ nhập khẩu, khai khoáng trong nước và tái chế Ấn Độ là quốc gia tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới, cung vàng hơn 90% là nhập khẩu, 10% còn lại đến từ là vàng tái chế và khai khoáng trong nước

Nguồn cung vàng thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia Các quốc gia có hoạt động khai thác vàng thì nguồn cung phụ thuộc vào sản lượng khai thác hàng năm, năng lực của các công ty khai khoáng Đối với Việt Nam, nguồn cung vàng khai khoáng hàng năm không đáng kể, còn vàng tái chế cũng không nhiều, nguồn vàng tiêu thụ trong nước phần lớn phải đến từ nguồn vàng nhập khẩu Vì vậy, nguồn cung vàng phụ thuộc vào sản lượng vàng nhập khẩu hàng năm và cơ chế nhập khẩu cũng như hoạt động cung ứng vàng vào thị trường theo từng giai đoạn

1.4.2 Giá vàng và tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhau Đó

là giá cả chuyển đổi một đơn vị tiền tệ của nước này thành những đơn vị tiền tệ của nước khác Hiện nay, USD được xem là đồng tiền mang tính thanh toán toàn cầu,

do đó theo thông lệ, các loại hàng hóa hay ngoại tệ khi giao dịch trên thế giới thường được định giá theo USD và vàng cũng không ngoại lệ Bất cứ tác động nào ảnh hưởng đến giá trị đồng USD thì cũng tác động trực tiếp đến biến động giá vàng Khi giá trị của đồng USD dao động, giá vàng cũng dao động theo Vì vậy, tỷ giá hối đoái được sử dụng trong các nghiên cứu thường là tỷ giá giữa đồng tiền của một nước với đồng USD

Khi xem xét giá trị đồng USD, người ta thường đánh giá thông qua nền kinh tế

Mỹ Những yếu tố chính phản ánh sức mạnh hay suy yếu của nền kinh tế Mỹ, đó là tình trạng thị trường nhà ở, thị trường lao động, thị trường tín dụng và thị trường vốn, quyết định về lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ

Các nghiên cứu mối quan hệ giữa giá vàng và tỷ giá hối đoái bao gồm các tác giả như Dooley, Isard và Taylor (1995), Sjaastad và Scacciallani (1996), Tully và Lucey (2007), Siahai Fang, Wei Fan và Tao Lu (2012) và nhiều nghiên cứu khác

Trang 27

Nhìn chung các nghiên cứu đều chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến biến động giá vàng

Dooley, Isard và Taylor (1995) đã tiến hành một loạt các kiểm tra thực nghiệm

để xem liệu giá vàng có được giải thích bởi sự biến động tỷ giá, các yếu tố tiền tệ và các biến khác trong mô hình tỷ giá hối đoái chuẩn hay không Các tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy vector bội và kỹ thuật đồng liên kết với dữ liệu từ năm 1976 đến 1990 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi của giá vàng được giải thích bởi sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, và bất kỳ cú sốc nào đó làm giảm sự hấp dẫn của tài sản A khi các yếu tố khác không đổi sẽ làm tăng nhu cầu đối với các tài sản khác như vàng hoặc tài sản B Điều này sẽ dẫn đến những thay đổi trong mức giá cân bằng

Sjaastad và Scacciallani (1996) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa giá vàng và thị trường ngoại hối trong giai đoạn 1982-1990 Hai nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng sự biến động trong tỷ giá góp phần chính trong sự biến động của giá vàng Việc định giá cao hay thấp của một đồng tiền trong khu vực châu Âu có ảnh hưởng lớn đến giá vàng Theo các tác giả biến động của tỷ giá hối đoái thực giữa các loại tiền tệ mạnh giải thích gần như một nửa sự biến động giá vàng

Tully và Lucey (2007) đã sử dụng mô hình APGARCH để điều tra ảnh hưởng của một số biến kinh tế vĩ mô đến giá vàng Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn

1984 – 2003, kết quả của nghiên cứu là có mối quan hệ giữa giá hàng ngày và tương lai của vàng và tỷ giá đồng đô la Mỹ (USD)

Siahai Fang, Wei Fan và Tao Lu (2012) sử dụng các dữ liệu từ năm 1982 đến năm 1990, đã cho ra kết quả là tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia Châu Âu có tác động đáng kể đến giá vàng Ngoài ra, cập nhật giá vàng từ năm 1991 đến năm

2004, tác giả cũng đã chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái của USD so với đồng Euro và Yên Nhật (JPY) có tác động đáng kể đến giá vàng

Trang 28

1.4.3 Giá vàng và chỉ số giá

Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch

vụ khác tăng đủ mạnh

Lạm phát cũng được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn Vì vậy, lạm phát được xem là yếu tố chính, như là cơ sở để giữ vàng, bảo vệ tài sản cá nhân hay quỹ dự trữ của các tổ chức khỏi tác động của lạm phát Một nghiên cứu được thực hiện bởi Ghosh et al (2002) bằng cách sử dụng dữ liệu hàng tháng từ năm 1976 đến 1999 và mô hình VAR với các biến chỉ số giá đồng USD, chỉ số giá thế giới, lãi suất Mục đích của nghiên cứu là xem xét sự ảnh hưởng của mức lạm phát toàn thế giới, mức độ lạm phát của Mỹ, thu nhập thế giới, giá trị của đồng USD và các cú sốc ngẫu nhiên lên giá vàng Kết quả chỉ ra rằng giá vàng có liên quan với mức độ lạm phát của Mỹ, lãi suất và tỷ giá đồng USD

Trong khi đó, Blose (2010) chỉ ra rằng nhiều học giả khuyến khích các nhà đầu

tư mua vàng để bảo hiểm rủi ro trong giai đoạn lạm phát, bởi vì họ tin rằng giá vàng phản ánh mức độ lạm phát Một số học giả thậm chí lấy giá vàng như làm một biến thay thế của lạm phát trong nghiên cứu thực nghiệm của họ

Tuy nhiên, có một số nghiên cứu của các tác giả khác thì lại cho kết quả ngược lại Chẳng hạn như nghiên cứu của Jaffe (1989), Larsen và McQueen (1995), Cecchetti và cộng sự (2000), kết luận rằng giá vàng không chịu ảnh hưởng của lạm phát Hay một vài nghiên cứu ở các quốc gia không phải Mỹ, sử dụng dữ liệu giá vàng năm 1999, và kết quả là không chứng minh được mối quan hệ giữa giá vàng

và lạm phát, vàng không bảo hiểm ngăn ngừa lạm phát ở nhiều quốc gia

Trang 29

1.4.4 Các nhân tố khác

Sherman (1983) đã sử dụng mô hình hồi quy bội để xác định các yếu tố quyết định đến sự biến động của giá vàng Với R² bằng 76.03% ông thấy rằng lãi suất, tỷ giá hối đoái trọng thương của Mỹ, tổng thu nhập quốc nội (GDP), sự dư thừa thanh khoản và lạm phát không dự đoán được là các yếu tố làm biến động giá vàng Smith (2002) đã sử dụng dữ liệu từ năm 1991 đến 2001 để xác định mối quan

hệ ngắn hạn và dài hạn của giá vàng và giá cả thị trường chứng khoán Dữ liệu giá vàng được lấy từ London Stock Exchange cả 3 thời điểm trong ngày cùng với 18 chỉ số thị trường chứng khoán các nước Nhật Bản, Anh, Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Hà Lan, Ý, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Bỉ, Phần Lan, Đan Mạch, Hy Lạp, Bồ Đào Nha,

Na Uy, Áo, Thổ Nhĩ Kỳ và Ireland Kết quả của nghiên cứu là có mối tương quan nghịch nhưng yếu giữa giá vàng và giá chứng khoán trong ngắn hạn, tuy nhiên không có mối quan hệ trong dài hạn

Christie - David et al (2000) đã theo dõi các báo cáo tin tức trong 23 tháng từ năm 1992 đến năm 1995 để xem xét sự ảnh hưởng của các thông tin kinh tế vĩ mô tin đến giá vàng Trong này nghiên cứu, các biến được sử dụng bao gồm các biến kinh tế vĩ mô khác nhau, độ trễ của trái phiếu chính quyền địa phương, giá vàng và bạc trong tương lai Kết quả của nghiên cứu là giá vàng bị ảnh hưởng bởi những tin tức về chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá tiêu dùng, GDP và tỷ lệ thất nghiệp Tuy nhiên, tin tức về thâm hụt ngân sách không có ảnh hưởng đáng kể lên giá vàng

Pravit Khaemasunun (2009) đã tiến hành nghiên cứu dự báo giá vàng Thái Lan

Mô hình nghiên cứu có một biến phụ thuộc và mười bốn biến độc lập Biến phụ thuộc là giá vàng Thái Lan, các biến phụ thuộc là Giá dầu, chỉ số giá SET, lãi suất, giá vàng phái sinh tương lai, dịp tết Âm lịch (biến giả), tỷ giá USD/THB, tỷ giá AUD/THB, tỷ giá CAD/THB, tỷ giá PEN/THB, tỷ giá HKD/TBH, tỷ giá JPY/THB,

tỷ giá EU ponds (Đức và Ý)/THB, tỷ giá SGD/THB, tỷ giá COP/THB Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập lên biến phụ thuộc như

Trang 30

sau: tỷ giá AUD/THB, tỷ giá JPY/THB, tỷ giá CAD/THB, tỷ giá EU ponds/THB, giá vàng phái sinh tương lai, giá dầu tương quan thuận với giá vàng Trong khi đó,

tỷ giá USD/THB tương quan nghịch với giá vàng Thái Lan

Sindhu (2013) đã nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố được lựa chọn lên giá vàng Ấn Độ Các biến độc lập được lựa chọn là tỷ giá USD/IRN, giá dầu, tỷ lệ Repo, tỷ lệ lạm phát Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy giá vàng và tỷ giá USD/IRN tương quan thuận, giá vàng và giá dầu tương quan nghịch, giá vàng và tỷ

lệ Repo tương quan thuận trong thời gian 11/2006 – 08/2008, 03/2010 – 10/2011 và tương quan nghịch 09/2008 – 02/2010, giá vàng và tỷ lệ lạm phát Ấn Độ tương quan thuận

Ở Việt Nam, có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng, chính sách điều tiết cũng như các giải pháp phát triển thị trường vàng ở Việt Nam Tuy nhiên, do thiếu số liệu hoặc do chủ ý của các tác giả mà phần lớn các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số nhân tố nhất định như giá vàng thế giới, lạm phát,

tỷ giá hối đoái…

Thái Thị Hạnh Nhi (2011), tác giả đã xác định được mô hình dự báo phù hợp để

dự báo giá vàng trong nước bằng việc sử dụng các mô hình hồi quy bội, mô hình ARIMA, ARCH, GARCH và TGARCH Dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian 1/2008 đến 7/2011 Nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra rằng biến động của giá vàng trong nước không chỉ được giải thích bởi giá vàng thế giới, tỷ giá mà còn được giải thích thông qua các biến trễ của chính nó và biến trễ của sai số Tác giả sử dụng

mô hình TGARCH để xem xét tính chất bất cân xứng giữa các tin tức tốt và tin tức xấu đến giá vàng Kết quả cho ra rằng sự ảnh hưởng của tin tức đối với giá vàng có tính chất đối xứng, nghĩa là không có sự khác biệt giữa sự tác động của tin tốt và tin xấu đối với giá vàng

Nghiên cứu của Trương Thị Thanh Hoa (2012) thông qua mô hình VAR cũng

đã chỉ ra rằng giá vàng trong nước chịu ảnh hưởng của giá trị trong quá khứ của

Trang 31

chính giá vàng Giá vàng thế giới, chỉ số USD, và chênh lệch lợi tức trái phiếu Việt Nam so với trái phiếu chính phủ Mỹ có tác động đến giá vàng Việt Nam nhưng có

độ trễ Những biến động của lạm phát, chỉ số giá chứng khoán và lãi suất huy động

có vai trò nhất định đối với giá vàng

1.4.5 Tổng hợp các nghiên cứu

Qua các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và trong nước chúng ta nhận thấy

có rất nhiều nhân tố tác động đến giá vàng Các nhân tố tác động đến giá vàng có thể kể đến như là giá vàng thế giới, tỷ giá hối đoái, cung tiền, tỷ lệ lạm phát, chỉ số giá chứng khoán, tỷ lệ Repo, giá dầu thô, chỉ số USD, chỉ số giá hàng hóa (tỷ lệ lạm phát) và các biến định tính như tâm lý, mùa vụ, chính sách quản lý của nhà nước Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là tùy từng giai đoạn nghiên cứu, tùy quốc gia nghiên cứu sẽ cho ra các kết quả khác nhau về mức độ tác động, chiều hướng tác động của nhân tố đến giá vàng Có những nhân tố ở quốc gia này, khoảng thời gian này thì tác động đến giá vàng nhưng khi kiểm định ở quốc gia khác hay khoảng thời gian khác lại không ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng nhưng ngược chiều Vì vậy, khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam, tác giả sẽ vận dụng các kết quả nghiên cứu trên và nhìn nhận thực tế ở trong nước cũng như điều kiện thu thập dữ liệu để xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam, từ đó tiến hành kiểm định bằng mô hình để rút ra kết luận cho giai đoạn nghiên cứu

Trang 32

Kết luận chương 1

Chương 1 đã khái quát các nội dung cơ bản về vàng, thị trường vàng, chức năng của vàng Vàng là một trong những kim loại quý được quan tâm nhiều nhất do vai trò nổi bật của chúng trong tiền tệ, đầu tư và tiêu dùng

Đồng thời trong chương này, tác giả cũng đã tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động giá vàng Sự biến động của giá vàng là tổng hợp từ sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Lạm phát, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá chứng khoán, giá dầu… hay bất kỳ một cú sốc nào cũng có thể tác động đến giá vàng với các mức độ khác nhau Việc xem xét tác động thực tế của các nhân tố lên giá vàng Việt Nam sẽ được tác giả làm rõ và đánh giá ở Chương 2 của luận văn này

Trang 33

tế Thị trường vàng Việt Nam hiện tại có các đặc trưng chủ yếu như nhà nước kiểm soát cung vàng để điều tiết giá vàng, giá vàng trong nước có sự chênh lệch lớn so với giá vàng thế giới, tình trạng buôn lậu vàng phổ biến

2.1.1 Nhà nước kiểm soát cung vàng

Ở Việt Nam lượng vàng sản xuất chỉ đáp ứng khoảng 5% nhu cầu vàng trong nước, do đó cung vàng chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu Để đáp ứng nhu cầu vàng miếng của thị trường thì phải xuất ngoại tệ để nhập khẩu vàng Hoạt động nhập khẩu đã được thực hiện suốt một thời gian dài khiến mỗi khi xuất hiện cơn sốt vàng, đã tác động tiêu cực đến ổn định tỷ giá và kinh tế vĩ mô Vì vậy, tùy từng giai đoạn và tình hình nền kinh tế vĩ mô, Nhà nước có các biện pháp khác nhau bằng việc ban hành các quy định đối với hoạt động nhập khẩu vàng nhằm kiểm soát cung vàng, ổn định nền kinh tế

Vào khoảng từ năm 1990, việc nhập khẩu vàng đã được cho phép, và đến cuối năm 1996 Nhà nước đã quyết định ngừng nhập khẩu vàng do sự khan hiếm ngoại tệ trong nước Từ năm 2001 việc nhập khẩu vàng được cho phép trở lại nhưng tiến hành với sự kiểm soát chặt chẽ theo đầu mối và có hạn mức

Đến tháng 5/2008, để hạn chế nhu cầu ngoại hối, kiềm chế thâm hụt thương mại, giảm sức ép lên lạm phát, NHNN đã ngừng cấp phép nhập khẩu vàng Điều này đã tạo ra một sự khan hiếm, và tạo tâm lý khan hiếm về cung vàng trên thị trường làm giá vàng trong nước tăng cao

Trang 34

Tháng 11/2009 trước áp lực tăng giá vàng, NHNN đã cho phép nhập khẩu trở lại nhằm tạo liên thông giữa giá vàng trong nước và thế giới, giảm cơn sốt giá vàng

Kể từ năm 2010 đến tháng 3/2012 NHNN quản lý lượng vàng nhập khẩu bằng cách cấp quota nhập khẩu vàng cho các doanh nghiệp Tuy nhiên từ ngày 03/04/2012, nhằm tăng cường quản lý thị trường vàng, Chính phủ đã ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP, theo đó NHNN là cơ quan độc quyền nhập khẩu vàng miếng

và cung ra thị trường Trong các giai đoạn căng thẳng cung vàng, NHNN tăng cung cho thị trường thông qua các phiên đấu thầu vàng Trong năm 2013, NHNN đã thực hiện đấu thầu tăng cung vàng miếng trên thị trường, từng bước cân bằng cung cầu vàng miếng, không còn tình trạng làm giá, góp phần quan trọng trong việc duy trì

ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối và nền kinh tế vĩ mô

Như vậy, qua từng thời kỳ NHNN đã có những chính sách khác nhau để quản lý hoạt động nhập khẩu vàng, nguồn cung vàng Và cuối cùng, NHNN đã trở thành đơn vị độc quyền nhập khẩu vàng và cung ứng vàng cho thị trường

2.1.2 Giá vàng Việt Nam và thế giới có chênh lệch nếu quy đổi theo tỷ giá

Là nước nhập khẩu vàng, Việt Nam không thể chi phối và kiểm soát giá vàng thế giới Sự biến động bất thường của giá vàng thế giới luôn là yếu tố dẫn dắt biến động của giá vàng trong nước với diễn biến theo sát thị trường thế giới Tuy nhiên, thực tế giá vàng trong nước và giá vàng thế giới quy đổi luôn có sự chênh lệch từ nhiều năm qua

Vàng thế giới khi nhập khẩu vào Việt Nam phải tốn thêm các chi phí như thuế, chi phí chế tác gây nên tình trạng chênh lệch Tuy nhiên mức chênh lệch hợp lý

do các chi phí này gây ra chỉ ở mức 400.000 đồng/lượng, trong khi đó giá vàng trong nước nhiều lúc cao hơn giá vàng thế giới đến 3 – 4 triệu đồng/lượng Các nguyên nhân khác làm tăng mức chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới có thể được nhắc đến như sau:

Trang 35

Một là thị trường Việt Nam chưa liên thông với thị trường thế giới Nguồn cung

vàng trong nước luôn bị kiểm soát từ cơ chế cấp quota nhập khẩu vào những năm

trước 2012 đến việc độc quyền nhập khẩu và sản xuất vàng miếng từ tháng 3/2012

Điều này làm cho nguồn cung vàng trong nước nhiều lần bị gián đoạn, góp phần

làm giá vàng trong nước tăng cao và chênh lệch nhiều so với giá vàng thế giới

Hai là tình trạng đầu cơ vàng, tình trạng hai tỷ giá cũng góp phần tăng giá vàng

trong nước và làm tăng mức chênh lệch với giá vàng thế giới

Ba là tình hình những năm gần đây thị trường chứng khoán trong nước ảm đạm,

thị trường bất động sản đóng băng đã khiến cho giới đầu tư tìm đến vàng nhiều hơn,

làm vàng trong nước tăng giá trong khi giá vàng thế giới không biến động

Khoảng cách chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới là một trong các

cơ sở để tác giả đưa vào mô hình các biến nghiên cứu khác có ảnh hưởng đến giá

vàng Việt Nam bên cạnh giá vàng thế giới

Hình 2.1: Chênh lệch giá vàng thế giới quy đổi và giá vàng Việt Nam Nguồn: số liệu tác giả thu thập và tính toán từ Sggp.org.vn

Nhìn vào hình 2.1 cho thấy giá vàng trong nước có lúc thấp hơn giá vàng thế

giới 1.5 triệu đồng/lượng vào giữa quý 1/2009 Tuy nhiên mức chênh lệch này bắt

0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50

Trang 36

đầu nới rộng từ năm 2013, khi giá vàng trong nước luôn cao hơn giá vàng thế giới quy đổi trên 2 triệu đồng/lượng Trong năm 2013 có thời điểm giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới 3.6 triệu đồng/lượng

2.1.3 Tình trạng nhập lậu vàng ở Việt Nam vẫn còn phổ biến

Mặc dù không có một thống kê chính xác là đã có bao nhiêu lượng vàng lậu vào Việt Nam, nhưng thực tế là các cơ quan chức năng liên tục phát hiện các vụ nhập lậu vàng với nhiều quy mô khác nhau

Nhập lậu vàng là một vấn đề đã tồn tại nhiều năm qua do lượng cầu trên thị trường vàng Việt Nam là rất lớn và không ngừng gia tăng trong khi nguồn cung hạn chế Ngoài ra còn một số nguyên nhận làm cho tình trạng nhập lậu vàng ở Việt Nam vẫn còn phổ biến như dưới đây

Thứ nhất, do có sự chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới Việc giá vàng trong nước và quốc tế luôn có sự chênh lệch lớn làm cho tình trạng buôn lậu vàng, trang sức vàng qua biên giới tăng Tính trung bình, 1kg vàng tương đương 26.6 lượng, khi nhập lậu vào Việt Nam sẽ thu lãi hơn 100 triệu đồng Thứ hai, việc quản lý tình trạng nhập lậu vàng vẫn còn hạn chế

Thứ ba, mức xử phạt hành chính chưa thật hiệu quả Hiện nay, mức xử phạt các hành vi buôn lậu vàng tối đa chỉ là 500 triệu đồng kèm tịch thu tang vật Số tiền xử phạt đó so với giá trị thu được từ việc nhập lậu trái phép vàng qua cửa khẩu còn khá thấp nên khung hình phạt này còn tương đối nhẹ, chưa đủ sức răn đe đối với các đối tượng buôn lậu

Hiện tại với các chính sách quản lý chặt chẽ và đồng bộ của NHNN đối với thị trường vàng đã góp phần giảm hiện tượng đầu cơ, nhập lậu vàng Tuy nhiên, khi giá vàng trong nước và thế giới vẫn còn chênh lệch cao thì tình trạng nhập lậu vàng vẫn còn tồn tại và tiếp diễn

Trang 37

2.1.4 Các đặc điểm khác

Xu hướng tăng giá vàng ở Việt Nam mạnh mẽ hơn nhiều so với xu hướng tăng giá vàng thế giới nói chung và các nước hấp thụ vàng lớn trên thế giới nói riêng Theo WGC, mức độ giao động giá vàng thế giới năm 2010 là 16.1%, của Trung quốc là 15.8% và Ấn độ là 16.8% Tính toán mức độ giao động của giá vàng trong nước năm 2010 cho thấy, mức độ giao động giá vàng trong nước là 11.8%, thấp hơn nhiều so với các mức giao động trên Điều này cho thấy sự ổn định hơn của xu hướng đi lên đối với giá vàng trong nước

Sự phát triển của thị trường vàng trong nước đôi khi trái chiều với sự phát triển của thị trường vàng thế giới Trong khi thị trường vàng thế giới đang phát triển nhanh chóng, với các hình thái đầu tư hiện đại, cho phép các nhà đầu tư tiếp cận dễ dàng, nhanh chóng, với chi phí thấp hơn nhiều so với đầu tư, kinh doanh vàng vật chất, thì thị trường vàng Việt Nam lại giới hạn ở các giao dịch vàng vật chất, các giao dịch cho vay và huy động vàng không còn được cho phép, kinh doanh vàng trên tài khoản nước ngoài cũng bị cấm

Những khác biệt này, ở những góc độ nhất định đã có tác động không nhỏ tới vấn đề quản lý tiền tệ, ổn định vĩ mô và huy động nội lực phát triển kinh tế - xã hội

2.2 Thị trường vàng Việt Nam và diễn biến giá vàng qua các thời kỳ

Việt Nam đã gia nhập WTO từ cuối năm 2006, việc gia nhập WTO sẽ tác động lên nền kinh tế một nước thông qua các tác động trực tiếp cũng như tác động gián tiếp của tiến trình hội nhập Hội nhập kinh tế quốc tế, sự tham gia rộng hơn của các định chế tài chính nước ngoài và các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam đã có tác động tích cực đến hệ thống tài chính của Việt Nam Thị trường vàng với tư cách là một bộ phận cấu thành hệ thống tài chính quốc gia, có mối quan

hệ chặt chẽ với thị trường chứng khoán, tiền tệ và ngoại hối Vì vậy, thị trường vàng Việt Nam có những thay đổi, và diễn biến giá vàng ngày càng gắn với thị trường thế giới, chịu tác động trực tiếp từ những biến động kinh tế, chính trị trên thế giới

Trang 38

2.2.1 Giai đoạn năm 2007 – 2011

Trong giai đoạn này, thị trường vàng trong nước có những bước thay đổi đáng

kể Năm 2008 là năm đánh dấu sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các sàn giao dịch vàng, đến cuối năm đã có hơn 10 sàn giao dịch vàng đi vào hoạt động, và tiếp tục tăng lên 20 sàn giao dịch và 5 ngân hàng tham gia trong năm 2009 Đồng thời, hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài cũng phát triển với 11 Ngân hàng thương mại và 8 doanh nghiệp kinh doanh vàng tham gia

Tuy nhiên do thiếu khung pháp lý chặt chẽ nên thị trường vàng Việt Nam chứa đựng nhiều rủi ro và thường xuyên chứng kiến các kỷ lục của giá vàng Vì vậy, ngày 30/09/2009 Chính phủ đã ban hành văn bản số 369/TB-VPCP yêu cầu đóng cửa các sàn giao dịch vàng trong nước Tiếp sau đó, ngày 06/01/2010, NHNN ban hành thông tư 01/2010/TT-NHH quy định các TCTD và doanh nghiệp kinh doanh vàng trên tài khoản nước ngoài có trách nhiệm tất toán, đóng các tài khoản vàng ở nước ngoài trước ngày 30/03/2010

Trong năm 2011, NHNN đã ban hành Thông tư 11/2011/TT-NHNN quy định chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD nhằm loại trừ vàng khỏi

hệ thống tín dụng và không cho phép sử dụng nó làm phương tiện dẫn vốn

Cùng với những thay đổi của thị trường vàng, giá vàng Việt Nam thời kỳ này cũng biến động liên tục Cuối năm 2006 đầu 2007, thị trường chứng khoán bùng phát, chỉ số VN-Index đạt đỉnh cao 1170.67 điểm tại ngày 12/3/2007 Bước sang năm 2008, kinh tế thế giới trải qua những biến động dữ dội, khủng hoảng tài chính, phá sản hàng loạt các Ngân hàng, tập đoàn tài chính, thất nghiệp gia tăng, tăng trưởng giảm sút Ở Việt Nam, chỉ số Vn-Index cũng bắt đầu đà tụt dốc và đạt mức đáy là 496.64 vào ngày 25/3/2008 Các nhà đầu tư gần như bỏ chạy khỏi thị trường

và nhiều người đã phải bán tháo cổ phiếu của mình để chuyển sang thị trường bất động sản và vàng, góp phần đẩy giá trên hai thị trường này lên cao

Trang 39

Giá vàng trong nước năm 2008 trải qua 2 thời điểm tăng giá mạnh vào tháng 3/2008 và 7/2008 khi vượt qua mức 19 triệu đồng/lượng Trong tháng 8/2011, giá vàng tiếp tục phá các kỷ lục mới khi đạt mức 41 triệu đồng/lượng, 45 triệu đồng/lượng và đỉnh điểm là 49 triệu đồng/lượng

Hình 2.2: Diễn biến giá vàng Việt Nam giai đoạn 2007-2011

Nguồn: số liệu tác giả thu thập và tính toán từ Sggp.org.vn Nguyên nhân giá vàng trong nước năm 2011 tăng là từ rất nhiều lý do, trong đó

có thể kể đến một số lý do chính như sau:

Thứ nhất, tác động từ sự gia tăng giá vàng trên thị trường vàng thế giới Đặc biệt từ năm 2008, giá vàng thế giới tăng khá nhanh và mạnh từ mức 1.370 USD/ounce lên trên 1.900 USD/ounce Nguyên nhân là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nguồn cung vàng có xu hướng giảm khi ngành khai thác vàng thế giới tiếp tục gặp khó khăn từ các cuộc đình công quy mô lớn tại Nam Phi Thứ hai, nguồn cung vàng trong nước hạn chế vì phần lớn vàng sử dụng ở Việt Nam là từ nhập khẩu, trong khi nguồn vàng nhập khẩu bị gián đoạn với cơ chế cấp quota, không đáp ứng đủ nhu cầu

Thứ ba, lạm phát cũng là một trong các yếu tố tác động đến giá vàng trong giai đoạn này Tính chung trong cả năm 2011, mặt bằng giá đã tăng 18.58% so với 2010

Trang 40

Tiền VND có xu hướng bị mất giá nên người dân sẽ có xu hướng tìm đến vàng như

là một biện pháp để hạn chế rủi ro

2.2.2 Giai đoạn năm 2012 – 2014

Năm 2012 là năm đánh dấu cho một thời kỳ mới đối với thị trường vàng Việt Nam khi Chính Phủ ban hành Nghị định số 24/2012/NÐ-CP ngày 03/04/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và Thông tư số 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 hướng dẫn Nghị định 24 Mục tiêu của Nghị định này là đảm bảo sự ổn định và minh bạch của thị trường, giảm hiện tượng đầu cơ, vàng hóa trên thị trường Kết quả đạt được là tốc độ tăng giá vàng đã thấp hơn rất nhiều so với hơn một thập kỷ trước đó Đây là giai đoạn kết thúc chuỗi tăng giá vàng liên tục trong 12 năm từ 2001 đến 2011

Hình 2.3: Diễn biến giá vàng Việt Nam giai đoạn 2012 – 2014

Nguồn: số liệu tác giả thu thập và tính toán từ Sggp.org.vn Hình 2.3 cho thấy giá vàng từ năm 2012 đã có dấu hiệu sụt giảm, khi giảm từ

45 triệu/lượng vào tháng 2/2012 xuống 42 triệu vào tháng 5/2012 Mặc dù, trong các tháng cuối năm 2012 giá vàng có xu hướng tăng trở lại nhưng lực tăng của giá vàng không cao Trong 2013, giá vàng giảm liên tục từ mức 46 triệu/lượng vào đầu năm xuống mức 35 triệu vào cuối năm Tính cả năm 2013 giá vàng đã giảm 11 triệu

Ngày đăng: 30/12/2020, 19:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w