1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện bình chánh TP hồ chí minh đáp ứng với yêu cầu cải cách hành chính đến năm 2025

107 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với nhiều chính sách quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức thì Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 được Chính phủ ban hành

Trang 1

NGUYỄN THỊ HỒNG TƯƠI

CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH

TP HỒ CHÍ MINH ĐÁP ỨNG VỚI YÊU CẦU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018

Trang 2

NGUYỄN THỊ HỒNG TƯƠI

CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH

TP HỒ CHÍ MINH ĐÁP ỨNG VỚI YÊU CẦU

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 8310102 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LƯU THỊ KIM HOA

TP Hồ Chí Minh –Năm 2018

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018

Trang 3

Mục lục

Danh mục các bảng, biểu đồ

Danh mục các từ viết tắt

Phần mở đầu 1

Chương 1 1: Những lý luận chung về nguồn nhân lực và i chương trình cải cách hành chính i Nhà nước 1.1 Những lý luận chung về nguồn nhân lực ” 8

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 8

1.1.2 Cơ cấu nguồn nhân lực 9

1.1.3 Vai trò nguồn nhân lực 9

1.1.4 Chất lượng nguồn nhân lực và các nhân tố ảnh hưởng 10

1.1.4.1 Chất lượng nguồn nhân lực 10

1.1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực 10

1.2 Một số lý thuyết về nguồn nhân lực 12

1.2.1 Lý thuyết phân công lao động 12

1.2.2 Quan điểm của C.Mác và Ăngghen 13

1.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh 14

1.3 Quan điểm của Đảng về nguồn nhân lực 15

1.4 Chất lượng nguồn nhân lực ở các cơ quan hành chính nhà nước 20

1.4.1 Khái niệm cán bộ, công chức 20

1.4.2 Vị trí, vai trò của của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 20

1.4.3 Tiêu chí chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức 21

1.4.3.1 Thể lực 21

1.4.3.2 Trí lực 22

1.4.3.3 Phẩm chất đạo đức 23

Trang 4

1.5.2 Mục đích và vai trò của cải cách hành chính nhà nước 27

1.5.3 Mục tiêu của cải cách hành chính 28

Tóm tắt Chương 1 30

Chương 2: Thực trạng “ đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh ” từ năm 2013 đến năm 2017 2.1 Khái quát về huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn huyện 31

2.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 31

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh 34

2.2.1 Về thể lực 34

2.2.2 Về trí lực 37

2.2.3 Phẩm chất đạo đức 39

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh 41

2.3.1 Công tác sử dụng, tuyển dụng cán bộ, công chức 41

2.3.2 Công tác đánh giá cán bộ, công chức 43

2.3.3 Quy hoạch, luân chuyển cán bộ, công chức 46

2.3.4 Công tác đào tạo, bồi dưỡng 48

2.4 Đánh giá về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh 49

2.4.1 Những ưu điểm 50

2.4.2 Những mặt hạn chế 51

Trang 5

xã trên địa bàn huyện Bình Chánh, TPHCM gắn với cải cách hành chính đến năm 2025 ”

3.1 Quan điểm trong xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng

với yêu cầu cải cách hành chính 58

3.1.1 Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức 58

3.1.2 “Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ, đặc biệt là giải quyết mối quan hệ giữa tăng cường của Đảng và phát huy vai trò trách nhiệm của cá nhân 58

3.1.3 Hoạch định chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, công chức 59

3.1.4 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới 60

3.1.5 Nâng cao hiệu quả thực hiện công tác cải cách hành chính tại xã, thị trấn trên địa bàn huyện Bình Chánh 60

3.2 Mục tiêu, chỉ tiêu, phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính 62

3.2.1 Mục tiêu tổng quát 62

3.2.2 Chỉ tiêu 64

3.2.3 Phương hướng 65

3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, huyện Bình Chánh, TP.Hồ Chí Minh đến năm 2025 66

3.3.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức 67

Trang 6

chức; đổi mới nội dung và cách thức thi tuyển công chức theo vị trí việc làm”

68

3.3.4 ““Đổi mới nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ, công chức” 72

3.3.5 Thực hiện có hiệu quả chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP 74

3.3.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công vụ, thực hiện cải cách hành chính gắn với nâng cao sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp 76

3.3.7 Thực hiện có hiệu quả các chế độ đãi ngộ, phúc lợi và thực hiện cải cách tiền lương để để đảm bảo đời sống vật chất cán bộ công chức, thu hút cán bộ, công chức có tài, có năng lực 78

3.4 Khuyến nghị 80

3.4.1 Đối với Trung ương 80

3.4.2 Đối với địa phương 80

Tóm tắt Chương 3 82

Kết luận 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Chí Minh đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính đến năm 2025” hoàn toàn hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính bản thân và dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lưu Thị Kim Hoa

Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Tươi

Trang 8

Bảng 2.2 Trình độ đào tạo của cán bộ, công chức, những người hoạt động không chuyên trách cấp xã từ năm 2013 đến năm 2017 37 Bảng 2.3 Kết quả phân loại cán bộ, công chức, những người hoạt động không chuyên trách cấp xã (2013-2017) 44

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Thể hiện cơ cấu theo độ tuổi của cán bộ công chức, cán bộ không chuyên trách cấp xã tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2017 35 Biểu đồ 2.2 Thể hiện trình độ đào tạo của cán bộ, công chức, những người hoạt động không chuyên trách cấp xã từ năm 2013 đến năm 2017 38 Biểu đồ 2.3 Thể hiện kết quả đánh giá cán bộ xã, thị trấn huyện Bình Chánh từ năm 2013 đến năm 2017 44 Biểu đồ 2.4 Thể hiện kết quả đánh giá công chức xã, thị trấn huyện Bình Chánh

từ năm 2013 đến năm 2017 45 Biểu đồ 2.5 Thể hiện kết quả đánh giá những người hoạt động không chuyên trách xã, thị trấn từ năm 2013 đến năm 2017 45

Trang 10

“Sau hơn ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện việc cải cách bộ máy hành chính nhà nước chính là rất cần thiết, cấp bách được đặt ra nhằm xây dựng bộ máy chính quyền tinh gọn, hoạt động hiệu quả phục vụ hơn cho xã hội Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ công chức, xem đây là một nhân tố quyết định để phát triển đất nước Cùng với nhiều chính sách quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức thì Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 được Chính phủ ban hành tại Nghị quyết 30c/NQ-

CP ngày 08 tháng 11 năm 2011, trong đó có đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đủ khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong giai đoạn mới.”

Trong thời gian qua, công tác cải cách hành chính trên địa bàn huyện Bình Chánh được Huyện uỷ quan tâm triển khai thực hiện tại Kế hoạch số 95-KH/HU ngày 06 tháng 6 năm 2017 về thực hiện Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày 31 tháng 10 năm 2016 của Thành ủy TP Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X về Chương trình cải cải hành chính TP Hồ

Trang 11

Chí Minh giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn huyện Bình Chánh Sau hơn một năm triển khai, công tác cải cách hành chính của huyện Bình Chánh đã đạt nhiều kết quả

về cải cách tổ chức bộ máy, hướng tới xây dựng chính quyền điện tử phù hợp với đặc thù và điều kiện của địa phương Tuy nhiên, công tác cải cách hành chính trong thời gian qua trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều hạn chế, mặc dù tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính đúng hạn có tăng so với các năm, tuy nhiên vẫn còn tình trạng hồ sơ trả bổ sung lần 2 trở lên, gây phiền hà cho người dân trên lĩnh vực cấp giấy phép xây dựng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; công tác đánh giá phân loại cán bộ, công chức ở một số cơ quan, đơn vị chưa đảm bảo thực chất; công tác tinh giản biên chế chưa đạt theo kế hoạch đề ra; mức độ hài lòng của người dân đối với

sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước còn thấp

Để thực hiện thành công Chương trình hành động số 18-CTr HĐ/TU ngày 31 tháng 10 năm 2016 của Thành uỷ về Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020, thực hiện mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ công chức hành chính nhà nước có đủ phẩm chất chính trị”, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm và tận tụy phục vụ nhân dân đáp ứng yêu cầu tốt xây dựng, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, xây dựng TP Hồ Chí Minh sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình, đồng thời khắc phục những hạn chế trong công tác cải cách hành chính của huyện Bình Chánh trong thời gian qua, do đó tác giả đã “chọn đề tài” “Nâng cao chất lượng đội ngũ, cán bộ công chức cấp xã, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính đến năm 2025” Việc nghiên cứu thực hiện đề tài này là việc làm thiết thực giúp cho chính quyền địa phương có những giải pháp

để xây dựng chất lượng cán bộ, công chức đáp ứng với “chương trình cải cách hành chính” từ nay đến năm 2025, góp phần thực hiện thành công mục tiêu Nghị quyết Đảng bộ Thành phố lần X nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra

2 “ Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài: ”

Những nội dung liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ, công chức gắn với việc thực hiện cải cách hành chính, tác giả sử dụng tài liệu tham khảo từ lý thuyết các học thuyết kinh tế chính trị, Nghị quyết của Đảng Cộng sản

Trang 12

Việt Nam lãnh đạo, chủ trương của “Đảng bộ” Thành phố Hồ Chí Minh, từ các chính sách của chính quyền thành phố về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức gắn với thực hiện icải cách ihành chính, và từ những bài báo khoa học, luận văn thạc sĩ về nội dung có liên quan như sau:

“Chương trình hành động số 19-CTrHĐ/TU ngày 31 tháng 10 năm 2016 của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X về Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 2016-2020, đã đánh giá hạn chế của chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay; chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước, cải cách hành chính có hiệu quả; đồng thời chương trình hành động đề ra mục tiêu, giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị thành phố Đây là những luận cứ quan trọng để tác giả bám sát phân tích và xây dựng giải pháp phù hợp với chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách của chính quyền thành phố đảm bảo tính khả thi, hiệu quả của giải pháp được đề xuất.”

“Luận văn thạc sĩ của tác giả Trương Văn Thành (2009) với đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ quan nhà nước thuộc Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, TPHCM” Đề tài đã nêu cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực, đội ngũ icán bộ, công chức; các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức”

“Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Xuân Phương (2012) với đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trên địa bàn quận 6 –TPHCM giai đoạn 2015-2025” Đề tài đã nêu tổng quan, thực trạng, phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức trên địa bàn Quận 6”

“Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Huỳnh Thúy An (2016) với đề tài

“Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường (xã) trên địa bàn quận Tân Bình, TPHCM đáp ứng với yêu cầu cải cách hành chính đến năm 2025” Đề tài

đã đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp và kiến nghị về nâng cao chất

Trang 13

lượng đội ngũ cán bộ công chức gắn với chương trình cải cách hành chính đến năm

2025”

Tác giả Nguyễn Ngọc Ánh cho rằng “Chính sách cán bộ bao gồm đãi ngộ về vật chất và động viên về tinh thần” “Do đó, trong xây dựng, thực hiện chính sách, cần chú ý cân bằng, hài hòa cả lợi ích vật chất và tinh thần Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng nêu”: “Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách đối với cán bộ, công chức theo hướng khuyến khích cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ … Xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài” (Tạp chí Xây dựng Đảng, tháng 5-2018, trang 28)

Tác giả Nguyễn Minh Phương (2018), “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và một số vấn đề đặt ra trong hội nhập quốc tế, khẳng định chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nhân tố quyết định trực tiếp hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị Do vậy, trong những năm qua Đảng, Nhà nước luôn quan tâm chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế” (Nguyễn Minh Phương, 2018, Tạp chí lý luận chính trị)

Tác giả Phan Huy Đường (2014) cho rằng “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bao gồm: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng cơ cấu hợp lý, đủ trình độ, năng lực và phẩm chất thi hành công vụ phục vụ nhân dân và phụ vục sự nghiệp phát triển của đất nước, xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán

bộ, công chức kể cả cán bộ chức danh lãnh đạo, quản lý; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức gắn với vị trí việc làm” (Phan Huy Đường, 2014, Quản lý công)

Tác giả Đào Thị Thanh Thuỷ (2017) nghiên cứu “Các mô hình tuyển dụng công chức trên thế giới và định hướng ứng dụng cho Việt Nam”, đã nêu tổng quan

về mô hình tuyển dụng và phân tích thực tiễn các mô hình tuyển dụng theo vị trí việc làm của công chức trên thế giới và định hướng ứng dụng kinh nghiệm thực tế ở

Trang 14

Việt Nam, (Đào Thị Thanh Thuỷ, 2017, Các mô hình tuyển dụng công chức trên thế giới và định hướng ứng dụng cho Việt Nam)

Nhìn chung, các tác giả đã nghiên cứu một cách cơ bản, đi sâu, phân tích làm

rõ và đưa ra những luận cứ khoa học cùng với những kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực và chất lượng đội ngũ icán bộ, công chức Qua nghiên cứu tham khảo, tác giả kế thừa những phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực hiện nay và những kinh nghiệm thực tiễn trong nước và ngoài nước về cơ chế chính sách quản lý cán bộ, công chức, những giải pháp nâng đề xuất nâng cao hiệu quả phát triển nguồn nhân lực về tuyển dụng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức làm cơ sở để phân tích đánh giá những thực trạng chất lượng của đội ngũ cán

bộ, công chức trên địa bàn huyện Bình Chánh và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng với Chương trình cải cách hành chính Nhà nước hiện nay

Tuy nhiên, cho đến nay việc nghiên cứu “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công ichức cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính đến năm 2025” vẫn chưa có tác giả nào thực hiện

“Đề tài nghiên cứu” “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công ichức cấp xã, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính định hướng đến năm 2025” là nghiên cứu mới và phù hợp với định hướng phát triển huyện Bình Chánh Hiện nay, TP Hồ Chí Minh đang triển khai thực hiện cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 54/2017/QH14 ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội; chính sách này được xem là khâu đột phá, phù hợp tình hình phát triển của Thành phố sau hơn 30 năm đổi mới, làm điểm nhấn để “TP Hồ Chí Minh phát triển nhanh

và bền vững”, do đó việc nghiên cứu đề tài này là rất cần cần thiết, đánh giá thực trạng cán bộ, công chức cấp xã huyện Bình Chánh làm cơ sở sắp xếp tinh giản “đội ngũ cán bộ, công chức, thực hiện có hiệu quả chính sách thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức theo cơ chế đặc thù”

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 15

“Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh,TP Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển nền kinh tế hiện nay; đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực nói chung, và đội ngũ cán bộ công chức cấp xã nói riêng Trên cơ sở đánh giá những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân đề xuất giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính đến năm 2025

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận xuyên suốt trong toàn bộ quá trình nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt cả 3 chương Ngoài ra trong luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp thu thập dữ liệu: phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ công chức từ năm 2013 đến năm 2017 tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Phòng Nội vụ huyện Bình Chánh, báo cáo tình hình kinh tế xã hội hàng năm của Uỷ ban nhân dân huyện Bình Chánh” Phương pháp này được sử dụng ở chương 2

- “Phương pháp phân tích, tổng hợp: được tác giả sử dụng phân tích ở chương 2 nhằm phân tích, thống kê và đánh giá kết quả thực trạng đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh; tổng hợp kết quả trên thành bảng, biểu và thuyết minh

- Phương pháp phân tích thống kê, so sánh đối chiếu được sử dụng để phân tích thực trạng ở chương 2, qua đó đánh giá những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân hạn chế để đưa ra những quan điểm và đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính đến năm 2025

5 “ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ”

* “ Đối tượng nghiên cứu ”

Nghiên cứu về đội ngũi cán bộ, côngi chức, những người hoạt không chuyên trách ở phạm vi cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh về các

Trang 16

khía cạnh về tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, công chức cùng các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức gắn với thực hiện cải cách nền hành chính.”

6 “ Kết cấu luận văn ” :

“Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham khảo; nội dung luận văn được kết cấu gồm ba chương như sau”:”

Chương1: “Những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực và chương trình cải cách hành chínhi Nhà nước”

Chương 2: “Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh, TPHCM từ năm 2013 đến 2017”.”

Chương 3: “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh gắn với cải cách hành chính đến năm 2025”.”

Trang 17

Chương 1

“ NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC ”

1.1 “ Những lý luận chung về nguồn nhân lực ”

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

“Nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quyết định đối với sự phát triển của đất nước và phát triển nguồn nhân lực được xem là một vấn đề trọng tâm, cốt lõi của sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Có nhiều quan điểm, định nghĩa được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau về nguồn nhân lực”

Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” (David Begg et al,1995, trang 282)

Theo Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức

độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” (Phạm Minh Hạc, 2001, “trang 269”)

“Theo Nguyễn Hữu Dũng”: “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ Muốn

Trang 18

phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người Con người với tiềm năng

vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn” (Nguyễn Hữu Dũng, 2003, trang 5)

“Như vậy, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện thông qua số lượng và chất lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”

1.1.2 “ Cơ cấu nguồn nhân lực ”

“Cơ cấu nguồn nhân lực được xem là yếu tố quan trọng khi đánh giá nguồn nhân lực Cơ cấu nguồn nhân lực phản ánh mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổng thể nguồn nhân lực của một tổ chức Cơ cấu nguồn nhân lực thể hiện ở nhiều mặt khác nhau như: cơ cấu theo ngành nghề, lảnh thổ, lĩnh vực hoạt động, theo trình độ đào tạo và năng lực vị trí công tác của nguồn nhân lực, theo giới tính, theo độ tuổi

Cơ cấu nguồn nhân lực của một đất nước được quyết định bởi yếu tố cơ cấu đào tạo

và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định với nguồn nhân lực.”

1.1.3 “ Vai trò nguồn nhân lực ”

“Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực đóng vai trò quan trong góp phần thực hiện thành công trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và thực hiện CNH, HĐH đất nước Con người luôn đóng vai trò là nhân tố trung tâm trong bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào Vai trò của nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người trong sự phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của kinh tế xã hội C.Mac đã khẳng định con người có vai trò quyết định nhất trong lực lượng sản xuất của xã hội và con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người trong quá trình lao động sản xuất Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người

và vừa là phương thức để làm biến đổi toàn bộ đời sống xã hội Do vậy, một quốc

Trang 19

gia phát triển khi chất lượng cuộc sống của con người được đảm bảo, ngày càng nâng lên, năng lực sáng tạo của con người không ngừng được phát triển”

“Phát huy nguồn lực con người là yếu tố căn bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. “Con người là trung tâm của sự phát triển”, vừa là mục đích, vừa là động lực của sự phát triển Phát triển con người là sự gia tăng giá trị cho con người cả về tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng lẫn thể chất”

1.1.4 Chất lượng nguồn nhân lực và các nhân tố ảnh hưởng

1.1.4.1 Chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực được thể hiện các mối quan hệ bản chất bên trong của nguồn lực, và luôn có sự vận động, thay đổi Trong bối cảnh hiện nay khi những thành tựu khoa học công nghệ phát triển thì chất lượng của nguồn nhân lực luôn có sự vận động, đi lên theo các chiều hướng tích cực và cũng có nhiều thách thức yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực”

1.1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực

- Sự phát triển của kinh tế - xã hội

Trình độ của nền kinh tế tác động đến chất lượng nguồn nhân lực do nó là cơ

sở để xác định thu nhập, cải thiện mức sống, tuổi thọ, nâng cao dân trí xã hội của các tầng lớp dân cư Tăng trưởng kinh tế góp phần cải thiện mức thu nhập của nhân dân, tăng phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, lao động có tay nghề, chuyên môn được đào tạo hướng tới đáp ứng yêu cầu iphát triển của nguồn nhân lực phù hợp với

sự phát triển của nền kinh tế Mặt khác, nền kinh tế phát triển cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước, nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng”

- Chất lượng “ giáo dục và đào tạo, kế hoạch hóa dân số, y tế và chăm sóc sức khỏe ”

“Hệ thống giáo dục đào tạo phát triển có tác động mạnh đến sự phát triển của nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội hướng tới CNH, HĐH

ở mỗi quốc gia Chất lượng giáo dục đào tạo có vai trò trực tiếp quyết định chất lượng nguồn nhân lực hiện nay Trình độ giáo dục và đào tạo phát triển cao thì quy

mô nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng mở rộng, có chiều sâu Thực tế cho

Trang 20

thấy, ở các nước phát triển, nền giáo dục luôn được Nhà nước quan tâm, chi đầu tư cho giáo dục luôn ở mức cao trong tổng chi ngân sách nhà nước, nâng cao trình độ chuyên môn, “tay nghề, ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất, đưa các phát minh, sáng chế đến thực tiễn quá trình lao động hiệu quả hơn Hiện nay, chất lượng nền giáo dục và đào tạo ở nước ta vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển CNH, HĐH đất nước, nhất là đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, trình độ cao vẫn còn hạn chế” “Đại hội Đảng lần thứ XII đã xác định nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để phát triển giáo dục thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát triển toàn diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công dân”

“Quy mô và tốc độ gia tăng dân số ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Hiện nay, do cơ cấu dân số theo tuổi biến đổi nhanh, Việt Nam đang trong thời kỳ “Cơ cấu dân số vàng” Năm 2006, Việt Nam đã bắt đầu bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” khi có trên 66% dân số trong độ tuổi có khả năng lao động (từ 15 đến 64 tuổi) Theo dự báo của Tổng cục Thống kê (năm 2016), thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” của Việt Nam kéo dài đến khoảng năm 2041 Đây là giai đoạn mang lại nhiều cơ hội nhờ lực lượng dân số trong độ tuổi lao động dồi dào Tuy nhiên, cũng là thách thức trong quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm và việc làm có năng suất, chất lượng, thu nhập cao Quỹ Dân số Liên hợp quốc cũng cảnh báo: Chất lượng dân số thấp đang là yếu tố cản trở sự phát triển và đặt Việt Nam trước nguy cơ tụt hậu xa hơn Do vậy, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta trong thời gian tới cần phải có chiến lược chính sách kế hoạch hóa dân số và điều chỉnh tốc độ tăng dân số hợp lý tạo tiền đề cho sự phát triển nền kinh tế xã hội, tập trung chăm lo phúc lợi xã hội, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”

“Chất lượng hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe cho người lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến trí lực và thể lực của nguồn nhân lực Chính sách y tế phù hợp

Trang 21

tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có thể tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe để nâng cao sức khỏe, tuổi thọ trong tương lai để có lực lượng lao động dồi dào, khỏe mạnh, có chất lượng phục vụ quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia”.”

- “ Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ”

“Nhà nước muốn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó thực hiện giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp, đổi mới chính sách tài chính, tiền tệ; xây dựng và kiện toàn hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô là những công cụ để quản lý nền kinh tế thị trường, điều tiết hoạt động của nền kinh tế thị trường, duy trì ổn định kinh tế, định hướng phát triển các ngành, các lĩnh vực và thực hiện các chính sách xã hội Nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao, phát triển chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia, ngành, địa phương Đồng thời, Nhà nước phải chú trọng hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô như: Chính sách y tế, chính sách văn hóa

xã hội, chính sách bảo hiểm, chính sách tiền lương, chính sách thu hút nhân tài, chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao …tạo động lực khuyến khích, thôi thúc tinh thần sáng tạo “người lao động không ngừng nâng cao trình độ, năng suất lao động, tính kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cống hiến cho xã hội””

1.2 Một số lý thuyết về nguồn nhân lực

1.2.1 Lý thuyết phân công lao động Adam Smith

Theo lý luận của học thuyết kinh tế Adam Smith, Ông cho rằng phân công lao động là sự tiến bộ hết sức vĩ đại trong sự phát triển sức sản xuất lao động, làm tăng thêm hiệu suất, hiệu quả lao động Adam Smith là người đầu tiên khẳng định toàn diện, rõ ràng và mạch lạc quan điểm này: sự giàu có của các quốc gia không phải là do "rừng vàng biển bạc" mà có; nó không là gì hết ngoài toàn bộ những sản phẩm do lao động của con người tạo ra Cội nguồn của cải lao động; tài sản của xã hội phụ thuộc vào hai nhân tố bao gồm thứ nhất là phụ thuộc vào tỷ lệ lao động làm việc trong nền sản xuất vật chất; thứ hai phụ thuộc vào trình độ phát triển của phân

Trang 22

công lao động trong xã hội Theo ông, nguyên nhân làm tăng thêm của cải xã hội, là

“một sự tiến bộ hết sức vĩ đại trong sự phát triển sức sản xuất của lao động” Phân công lao động có nhiều ưu điểm: bảo đảm kỹ thuật phát triển; tiết kiệm thời gian chuyển từ việc này sang việc khác; làm dễ dàng cho việc sử dụng máy móc Sự phân công lao động phụ thuộc vào mức độ trao đổi và quy mô, tính chất của thị trường Trong một thị trường nhỏ bé, đơn giản thì sự phân công lao động cũng đơn giản, tức là không ai muốn chuyên tâm vào một công việc gì vì không có khả năng trao đổi sản phẩm dư thừa do sức lao động của mình làm ra để lấy sản phẩm của người khác Qua viê ̣c nghiên cứu về sự phân công lao đô ̣ng, Adam Smith khẳng định rằng khoa học phải nhằm vào mục tiêu tìm ra những quy luật tức là mối quan

hệ nhân quả để giải thích cách thức mà loài người làm ra của cải Ông đã đi tiên phong theo hướng này và đã chỉ ra rằng sự giàu có của mỗi quốc gia phụ thuộc vào hai nhóm yếu tố: một là kỹ năng và phương pháp phán đoán trong quá trình lao động; hai là tỷ lệ giữa số người được sử dụng vào lao động có ích và số người phi sản xuất Ngay sau đó Adam Smith đã bắt đầu luận chứng một cách đầy thuyết phục rằng đến lượt nó, sự cải tiến về năng suất lao động và phần lớn kỹ năng, sự khéo léo

và óc phán đoán đúng đắn của con người đều nhờ vào sự phân công lao động. “ Lý thuyết phân công lao động của Adam Smith chú trọng sự phân công hợp tác lao động Ông cho rằng cội nguồn của của cải lao động; tài sản của xã hội phụ thuộc vào hai yếu tố: thứ nhất, phụ thuộc vào tỉ lệ lao động làm việc trong nền sản xuất vật chất; thứ hai, phụ thuộc vào trình độ phát triển của phân công lao động trong xã hội Theo ông, phân công là nguyên nhâ làm tăng thêm của cải của xã hội, là “một

sự tiến bộ hết sức vĩ đại trong sự phát triển của sức sản xuất lao động”

1.2.2 Quan điểm của C.Mac và Ph Ăngghen

C Mác và Ph Ăngghen cho rằng “Khuynh hướng chung của tiến trình phát triển lịch sử quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội – đó là con người và công cụ lao động và công cụ lao động do con người sáng tạo ra Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội tự nói lên trình độ phát triển của xã hội” (Phạm Công Nhất và Cộng sự, 2017, trang 399)

Trang 23

C.Mác cho rằng “Con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử, mà con người còn là chủ thể sáng tạo ra quá trình lịch sử icon ingười Đó là quá trình ihoạt độngi có ý thức của con người nhằm mục đíchicải tạo tự nhiên, cải tạoi xã hội và cải tạo chính bản thân con người Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội Mác khẳng định phát triển con người làm thước đo chung cho sự phát triển toàn xã hội và phát triển sản xuất vì sự phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống tốt đẹp hơn Mác coi sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển con người là một trong những biện pháp mạnh mẽ để cải biến xã hội” (Bùi Văn Mưa và Cộng sự, 2014, trang 353)”

1.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh

“Tư tưởng trung tâm trong luận điểm về cách mạng của “Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng về con người.Chủ tịch Hồ Chí Minh coi con người là mục tiêu, phương tiện và động lực của cách mạng Nhân tố con người là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống các yếu tố, năng lực, phẩm chất, đặc trưng của con người, làm cho con người trở thành chủ thể của lịch sử, tức trở thành chủ thể tích cực trong hoạt động thực tiễn, sáng tạo trên các lĩnh vực của đời sống xã hội” Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Muốn có chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người XHCN”, từ

là con người mới Vấn để xây dựng con người mới được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng (ngày 11-2-1951): “Xúc tiến công tác văn hoá để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc” Khái niệm con người mới XHCN đã được sử dụng trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng Đại hội IV của Đảng đã nêu cụ thể:

“Con người XHCN là con người Việt Nam mới là những đặc trưng nổi bật: làm chủ tập thể, lao động, yêu nước XHCN và tinh thần quốc tế vô sản”

Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh “CNH, HĐH, hội nhập quốc tế, phát triển con người để đưa nước ta sang một trình độ phát triển mới về chất và động lực, năng lựcinội sinhicho sự phát triển đó chính là nguồn lực con người” Thực tiễn đã và đang chứng minh tính đúng đắn trong các quan điểm của Chủ nghĩa Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người XHCN Việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố căn bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế

Trang 24

nhanh và bền vững “Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 của Đảng ta khẳng định Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”

1.3 Quan điểm của Đảng về nguồn nhân lực

“Đảng ta đã coi: “Phát triển con người là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội”. “Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII, trong nhiệm vụ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng ta đã khẳng định”: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố căn bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ nhận thức “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ CNH, HĐH”, đồng thời khẳng định phương hướng: “Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; triển khai thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở; ứng dụng nhanh các công nghệ tiên tiến, hiện đại; từng bước phát triển kinh tế tri thức” Phương hướng này đã được cụ thể hóa bằng một hệ thống giải pháp khả thi

đi vào công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước “Đại hội XII của Đảng xác định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một trong mười ba định hướng phát triển lớn để hiện thực hoá mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại””

“”Nghị “quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020,

đã xác định một trong những nhiệm vụ cải cách hành chính là xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”:

-Ðến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình dộ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nuớc;

Trang 25

- “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt,

có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân thông qua các hình thức đào tạo, bồi duỡng phù hợp, có hiệu quả”;

- “Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức, kể cả cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý”;

- “Trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức hợp lý gắn với vị trí việc làm”;

- “Hoàn thiện quy dịnh của pháp luật về tuyển dụng, bố trí, phân công nhiệm

vụ phù hợp với trình độ, năng lực, sở trường của công chức, viên chức trúng tuyển; thực hiện chế dộ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh”;

- “Hoàn thiện quy dịnh của pháp luật về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện cơ chế loại bỏ, bãi miễn những nguời không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân; quy dịnh rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức tương ứng với trách nhiệm và có chế tài nghiêm dối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật, vi phạm dạo dức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức”;

-Ðổi mới nội dung và chương trình đào tạo, bồi duỡng cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện việc đào tạo, bồi duỡng theo các hình thức: Huớng dẫn tập sự trong thời gian tập sự; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức; dào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng bắt buộc kiến thức, kỹ năng tối thiểu truớc khi bổ nhiệm và bồi dưỡng hàng năm”

“Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII, trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững; đặc biệt chú trọng tập trung lãnh đạo chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ như: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy

Trang 26

tín, ngang tầm nhiệm vụ; Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh””

“Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 19 tháng 5 năm 2018 Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ Hội nghị đã nhất trí cao ban hành Nghị quyết của Trung ương “về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, trọng tâm tập trung vào đội ngũicán bộ cấp chiến lược và đội ngũ iBí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp; xác định cần phải tập trung vào”:

- Hai nội dung trọng tâm là: “Một là tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện,

đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích

chung; Hai là tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp uỷ,

người đứng đầu các cấp đi đôi với phân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo, đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực”

- Năm nội dung đột phá trong công tác cán bộ bao gồm: “thứ nhất là đổi

mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng: xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh

tương đương; thứ hai là kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền; thứ ba là thực hiện nhất quán

chủ trương bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương ở

những nơi đủ điều kiện; thứ tư là cải cách chính sách tiền lương và nhà ở để tạo

động lực cho cán bộ phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc; có cơ chế, chính sách

để tạo cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và thu hút, trọng dụng nhân tài; thứ năm là

Trang 27

hoàn thiện cơ chế để cán bộ, đảng viên thật sự gắn bó mật thiết với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ”

“Quan điểm của Đảng về công tác cải cách hành chính được xác định qua các

kỳ Đại hội: Đại hội VI (1986), Đảng đã đề ra chủ trương thực hiện cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước, theo hướng gọn, nhẹ, bớt đầu mối Đại hội VII (1991), Đảng xác định tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước và đề ra những nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương, hệ thống chính trị gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được sắp xếp, kiện toàn Hội nghị Trung ương 8 khoá VII (1-1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước; Cải cách một bước nền hành chính nhà nước được xác định là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, với mục tiêu là xây dựng một nền hành chính trong sạch có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của Nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội Đại hội VIII của Đảng (1996) đề cập tới yêu cầu tiến hành cải cách hành chính đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơ bản để thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1996-2000) Nghị quyết Đại hội VIII nhấn mạnh nhiệm

vụ xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với cơ chế mới; cải tiến quy trình xây dựng

và ban hành văn bản pháp luật của Chính phủ, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp lại bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương Nghị quyết Trung ương 7 khoá VIII đề ra chủ trương tiến hành sắp xếp lại

tổ chức bộ máy đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn liền với cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; kiên quyết sắp xếp một bước bộ máy các tổ chức trong hệ thống chính trị, thực hiện tinh giản biên chế, cải cách chính sách tiền lương Đại hội IX của Đảng (2001) bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững

Trang 28

mạnh, từng bước hiện đại hoá đã đưa ra một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng Đây là vấn đề liên quan đến bản chất của nền hành chính nhà nước ta - Nền hành chính trong nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, nhân dân là chủ thể duy nhất và tối cao của quyền lực nhà nước”

“Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bình Chánh lần thứ XI nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức như sau”:

- “Kiện toàn, sắp xếp hợp lý tổ chức bộ máy Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, xã – thị trấn; tiếp tục thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính tạo động lực cho cán bộ, công chức an tâm công tác Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ có trình độ, năng lực cho hệ thống chính trị Có kế hoạch luân chuyển cán bộ Kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy hành chính những cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, tiêu cực, tham nhũng, phiền hà dân Công khai, minh bạch công tác tuyển dụng công chức”

- “Đào tạo, bồi công chức, viên chức; chú trọng kỹ năng quản lý điều hành, thực hiện công vụ và giáo dục đạo đức, phẩm chất chính trị Hướng tới tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức với số lượng phù hợp, chất lượng ngày càng cao, cơ cấu hợp lý, có trình độ chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm, không ngừng đổi mới, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ”

- “Hiện đại hoá nền hành chính, kiện toàn phương thức điều hành, ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 Cải cách hành chính theo hướng minh bạch, thường xuyên khảo sát chỉ số hài lòng của người dân để điều chỉnh cho phù hợp”

Trang 29

1.4 “ Chất lượng nguồn nhân lực ở các cơ quan hành chính nhà nước ”

1.4.1 Khái niệm cán bộ, công chức

“Theo Luật Cán bộ, Công chức (năm 2008, Điều 4) quy định”: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong

bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”

“Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó

Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà

nước”

1.4.2 “ Vị trí, vai trò của của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ”

.Chính quyền cấp phường, xã có vị trí, vai trò, tầm quan trọng, là nền tảng cơ

sở của bộ máy chính quyền Nhà nước, là công cụ sắc bén để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm cơ sở cho chiến lược ổn định và phát triển kinh tế

xã hội Để bộ máy chính quyền cơ sở hoạt động có hiệu lực, hiệu quả thì nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng trong xây dựng hoàn thiện bộ máy chính quyền nhà

Trang 30

nước, trong đó đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đóng vai trò quan trọng trong bộ máy chính quyền cơ sở thể hiện ở các khía cạnh sau”:

“ Thứ nhất, đội ngũ cán bộ, công chức là nhân tố quyết định trong việc thực

hiện hóa sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về tất cả các mặt của đời sống kinh tế xã hội, góp phần hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; xây dựng nền hành chính dân chủ trong sạch, vững mạnh hoạt động có hiệu lực, hiệu quả

“ Thứ hai, đội ngũ cán bộ công chức thực hiện chức năng là cầu nối giữa

Đảng, Nhà nước với nhân dân, vì đội ngũ cán bộ, công chức là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, đưa các chính sách, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến gần với nhân dân, giải quyết mọi nhu cầu của nhân dân đảm bảo sự phát triển kinh tế của địa phương, duy trì đảm bảo tình hình an ninh trật tư xã hội, chăm lo mọi mặt phúc lợi, an sinh xã hội”

“ Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã giữ vai trò quyết định trong việc

xây dựng và thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, thực hiện thànnh công quá trình cải cách hành chính và đổi mới phát triển đất nước Cán

bộ công chức cấp xã cũng giữ vai trò quyết định năng lực lãnh đạo của chính quyền

cơ sở

“Tóm lại, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nói chung, đội ngũ cán bộ công chức cấp phường xã nói riêng là nhân tố quyết định cho sự thành bại của công cuộc cách mạng đổi mới đất nước, gắn liền vận mệnh của Đảng, đất nước và của cả dân tộc Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác cán bộ là khâu quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả công việc, là khâu then chốt trong sự nghiệp cách mạng, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào những thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế”

1.4.3 Tiêu chí chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức

1.4.3.1 Thể lực

Trang 31

“Thể lực là trạng thái về sức khỏe con người, là điều kiện cơ sở nền tảng của phát triển trí tuệ, là phương tiện truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn Thể lực có ý nghĩa quyết định năng lực hoạt động của con người Sức khoẻ là cái vốn quý nhất của con người trong xã hội, đồng thời là cơ sở, là nền tảng để con người sáng tạo, hăng say học tập, nhiệt tình trong lao động, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật để phục vụ tốt cho sự phát triển kinh

tế xã hội Chính vì vậy, việc chăm sóc sức khỏe là một trong những nhiệm vụ để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cho bộ máy hành chính nhà nước, tạo tiền đề để phát huy có hiệu quả tiềm năng con người””

“Ngoài yếu tố về sức khoẻ, quy định tuổi của cán bộ, công chức là để tạo mặt bằng chung, bảo đảm khả năng làm việc tốt, bảo đảm sự kế thừa và đổi mới cán bộ Tuổi đời không phải là một yếu tố quyết định phẩm chất, năng lực, trình độ, hiệu quả công việc Tuổi đời là một tiêu chí xã hội quan trọng, xác định vị trí, vai trò và

uy tín xã hội của mỗi người cán bộ Người cán bộ cần có tuổi đời thích hợp với chức trách, vai trò, nhiệm vụ hiện tại đang đảm nhận, có độ “dư thừa” cần thiết để bảo đảm khả năng phát huy lâu dài, ít nhất là một nhiệm kỳ công tác”

1.4.3.2 Trí lực

““Trí lực là yếu tố năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức, tiếp cận tri thức, khả năng nắm bắt, phân tích, quyết định khả năng sáng tạo lao động của của con người Với sự phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH, HĐH hiện nay thì yếu tố trí tuệ ngày càng có vai trò quyết định Trí lực được biểu hiện qua trình độ chuyên môn, năng lực và kỹ năng công tác””

“Trình độ bao gồm các khía cạnh: chuyên môn, nghiệp vụ; lý luận chính trị; quản lý nhà nước; tin học; ngoại ngữ Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đòi hỏi người cán bộ, công chức phải trang bị đầy đủ kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học là rất cần thiết và không thể thiếu trong việc ứng dụng khoa học công nghệ trong quá trình thực thi công vụ, góp phần cải cách nền hành chính nước ta,

Trang 32

mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới””

+ Trình độ lý luận chính trị là những kiến thức, sự am hiểu về lý luận chính trị của người cán bộ, công chức, là yếu tố quyết định tạo nên phẩm chất chính trị của cán bộ, công chức Đối với cán bộ, công chức cấp xã, ngoài trình độ nghiệp vụ chuyên môn được quy định thì công chức phải có trình độ trung cấp chính trị và cán

bộ lảnh đạo quản lý phải có trình độ cao cấp hoặc cử nhân chính trị

+ Trình độ quản lý Nhà nước và kỹ năng giao tiếp: việc đào tạo này khác với đào tạo chuyên môn ở chỗ nó trang bị cho công chức những kiến thức về nhà nước, pháp luật, quản lý nhà nước, kiến thức về công chức, công vụ, đạo đức công vụ, thủ tục hành chính nhà nước Bên cạnh đó, hành vi ứng xử, kỹ năng giao tiếp của công chức trong công vụ, trong mối quan hệ với công dân, tổ chức cũng rất quan trọng, thể hiện ở thái độ, tác phong, cách ăn nói, lắng nghe

“Năng lực gồm có năng lực tư duy và năng lực thực thi, thừa hành Năng lực

tư duy chia thành các cấp độ khác nhau như: biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, phản biện, sáng tạo; năng lực thực thi, thừa hành theo yêu cầu, tiêu chuẩn của các ngạch cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp Kỹ năng công tác gồm: giao tiếp, quản lý thời gian, phân tích công việc, lập kế hoạch, phân công và phối hợp, làm việc nhóm, điều hành hội họp”.

“Ngoài ra, công chức giữ vị trí lãnh đạo, quản lý còn cần có năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý; tập hợp, đoàn kết công chức Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cũng đã đề ra mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH, HĐH giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội”

1.4.3.3 Phẩm chất đạo đức

Trang 33

“Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: đạo đức là cái gốc của người cách mạng Người đặc biệt nhấn mạnh “Đảng ta là một đảng cầm quyền Mỗi đảng viên

và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tới thật trung thành của nhân dân” Vì vậy chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên chính là vấn đề cốt lõi góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trong tình hình hiện nay”

“Khi nói về người cán bộ, công chức có đức, có tài là muốn đề cập đến nhiều khía cạnh cụ thể như: phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn, chuyên môn, năng lực quản lý Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thực tế làm thước đo Do đó, Người luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng, gắn liền đức với tài, lời nói đi đôi với hành động và hiệu quả trên thực tế Đạo đức của cán bộ, công chức được đặt trên lập trường của giai cấp công nhân và chỉ có một mục đích: Vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân; chỉ có một tinh thần: Tận tụy hy sinh vì dân, vì nước Đạo đức cán bộ, công chức “đức” và

“tài” không tách rời nhau Con người trong xã hội nói chung và người cán bộ, công chức có đạo đức và tài năng nói riêng là nhân tố quyết định sự thành công để xây dựng mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh Mỗi người có thể đóng góp cho xã hội khi người đó thực sự làm tốt chuyên môn theo sự phân công lao động xã hội trên nền tảng có một chế độ xã hội dân chủ thực sự tất cả

vì con người, vì tương lai, hạnh phúc của con người Xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả và trong sạch là mục tiêu của công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay Để thực hiện thành công mục tiêu này thì trước tiên phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp và có đạo đức trong thực thi công vụ phục vụ nhân dân”

Công chức khi tiến hành thực thi công vụ phải tuân thủ những chuẩn mực vừa mang tính đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp và những chuẩn mực quy định mang tính pháp luật của nhà nước, trong các quan hệ giữa con người với con người,

Trang 34

giữa con người với xã hội; giữa con người với tổ chức trên cơ sở hướng đến lợi ích chung

1.4.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bô, công chức

- Công tác sử dụng, tuyển dụng cán bộ, công chức

Việc tuyển chọn sử dụng và bổ nhiệm đối với cán bộ, công chức phải xuất phát từ các yêu cầu, nhiệm vụ của ngành, địa phương trên cơ sở đảm bảo chất lượng, năng lực và trình độ chuyên môn phải phù hợp với vị trí tuyển dụng và bổ nhiệm, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên có tính quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan Vì vậy, nếu tuyển dụng đúng người, phù hợp với yêu cầu thực tiễn thì quá trình thực thi công vụ của một cơ quan sẽ đảm bảo hoạt động hiệu quả”

- Công tác đánh giá cán bộ, công chức

Thực hiện đánh giá cán bộ, công chức hàng năm là nhiệm vụ bắt buộc ở mỗi

cơ quan, đơn vị Thực tiễn công tác đánh giá cán bộ, công chức ở nước ta đã từng bước được đổi mới Qua đó, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức nhận ra những ưu điểm, hạn chế và có kế hoạch khắc phục về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực và hiệu quả công tác của cán bộ, công chức Làm căn cứ tuyển chọn để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu ứng

cử, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán

bộ, công chức Đồng thời việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải tuân theo nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm tính khách quan, trung thực, chính xác, công khai và tạo điều kiện để cán bộ, công chức được trình bày ý kiến của mình về kết luận đánh giá

- Quy hoạch và luân chuyển cán bộ

* Công tác quy hoạch cán bộ nhằm hướng mục tiêu cơ bản

Một là tạo sự chủ động, có tầm nhìn chiến lược trong công tác cán bộ; khắc phục tình trạng hụt hẫng trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đảm bảo tính kế thừa, phát triển, sự ổn định của chính trị

Trang 35

Hai là chuẩn bị từ xa và tạo nguồn cán bộ dồi dào để đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ đảm nhận các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp vững vàng

về chính trị, trong sáng về đạo đức và thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ

*Mục tiêu của công tác luân chuyển cán bộ nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Luân chuyển cán bộ nhằm rèn luyện, thử thách và khảo nghiệm cán bộ để làm căn cứ cho việc bố trí, sắp xếp và sử dụn cán bộ lãnh đạo, quản lý thei quy hoạch, khắc phục tư duy khép kín, cục bộ địa phương trong công tác cán bộ hiện nay

- “ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ”

“Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nguồn nhân lực, nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, quyết định sự phát triển của của mỗi ngành nói riêng, và của cả nước nói chung Đội ngũ cán bộ, công chức cần phải được quan tâm, chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng về năng lực công tác, kỹ năng nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm và ý thức tận tụy để phục vụ nhân dân Thực hiện việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được xác định trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020”

“ Về nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng: phải căn cứ vào tiêu chuẩn ngạch công

chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý, vị trí việc làm; gắn với công tác sử dụng, quản lý cán bộ, công chức phù hợp với kế hoạch đạo tạo, bồi dưỡng và nhu cầu xây dựng phát triển nguồn nhân lực thực tiễn hiện nay” Thực hiện phân công, phân cấp trong tổ chức bồi dưỡng tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, kết hợp phân công và cạnh tranh trong tổ chức bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm Đề cao ý thức tự học và việc lựa chọn nội dung chương trình bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm của cán bộ, công chức Đào tạo, bồi dưỡng phải thực hiện đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch và hiệu quả nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thực sự có năng lực, giải quyết các vấn đề thực tiễn hiệu quả, có chất lượng

Trang 36

“ Về yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng: việc thực hiện công tác đào

tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về giáo dục đào tạo, phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng quy hoạch nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức trang bị những kiến thức, kỹ năng, lý luận cơ bản nhằm mục đích xây dựng đội ngũ cán bộ công chức thực sự có năng lực, giải quyết vấn đề thực tiễn trên nguyên tắc hiệu quả và chất lượng đáp ứng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”

1.5 “ Tổng quan cải cách hành chính và yêu cầu của cải cách hành chính ”

1.5.1 Khái niệm cải cách hành chính

“Theo các chuyên gia của Liên hiệp quốc cải cách hành chính là những nổ lực có chủ định nhằm tạo nên những thay đổi căn bản trong hệ thống hành chính nhà nước thông qua cải cách có hệ thống hoặc thay đổi các phương thức để cải tiến

ít nhất một trong những yếu tố cấu thành hành chính nhà nước là thể chế, cơ cấu tổ chức, nhân sự, tài chính công và cải tiến trình quản lý” (Nguyễn Hữu Hải, 2016, trang 58)

Theo Từ điển kinh tế Gabler (1997): “Cải cách hành chính bao gồm cải cách

về tổ chức, nhân sự, quy trình và công vụ cũng như các biện pháp thích ứng của hành chính công nhằm tạo ra các cơ quan hành chính hiệu quả, thể chế hoá các thẩm quyền hành chính một cách rõ ràng, đơn giản hoá hành chính và gần dân” (Từ điển kinh tế Gabler ,1997, tái bản lần thứ 14)

“Cải cách hành chính được hiểu là những thay đổi có tính hệ thống, lâu dài và

có mục đích nhằm làm cho hệ thống hành chính nhà nước hoạt động tốt hơn, thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ quản lý xã hội của mình Cải cách hành chính nhằm thay đổi và làm hợp lý hóa bộ máy hành chính, với mục đích tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước”

“Ở Việt Nam hiện nay, cải cách hành chính nhà nước đang hướng tới mục tiêu”: “Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp,

Trang 37

năng động, phục vụ nhân dân hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ - pháp quyền, quy định trách nhiệm và cơ chế giải trình của nhà nước” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, 2016, trang 178)

1.5.2 “ Mục đích và vai trò của cải cách hành chính nhà nước ”

“Cải cách hành chính nhà nước nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước trong quá trình quản lý các mặt của đời sống xã hội, mà trước tiên là quản lý, định hướng và điều tiết sự phát triển kinh tế - xã hội và duy trì trật tự xã hội theo mong muốn của nhà nước Ngoài ra, cải cách hành chính nhà nước nhằm đổi mới nền hành chính nhà nước từ hoạt động cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức, hoạt động phù hợp đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Cải cách hành chính là yêu cầu bức xúc và là trọng tâm của việc xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, vì nhân dân Mục tiêu của cải cách hành chính nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, có

đủ năng lực, sừ dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của Nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, phục vụ tốt đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong

xã hội”

“Cải cách hành chính nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo trật tự của xã hội, duy trì sự phát triển xã hội theo định hướng của nhà nước Vì vậy, vai trò của cải cách hành chính nhà nước là động lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội Đồng thời, cải cách hành chính tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho tất cả các hoạt động kinh tế, xã hội nâng cao hiệu quả và năng lực chỉ đạo thực hiện, thanh tra, kiểm tra thực hiện thể chế”

“Sau hơn 30 năm, công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nước lãnh đạo tạo nên những bước ngoặt thay đổi vượt bậc trong đời sống kinh tế - xã hội Từ nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng

Trang 38

XHCN, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội luôn được nhà nước chú trọng Những thành tựu đạt được kể trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân quan trọng phải

kể đến đó là sự quan tâm sâu sắc Đảng và Nhà nước ta trong quá trình thực hiện từng bước cải cách nền hành chính nước ta từ năm 1986 đến nay Khẳng định tầm quan trọng của cải cách hành chính nhà nước với tư cách là một bộ phận không tách rời và quyết định sự thành công của quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta xác định: cải cách hành chính là nội dung trọng tâm của công cuộc đổi mới và cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN”

1.5.3 “ Mục tiêu của cải cách hành chính nhà nước ”

Chính phủ ban hành Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 8/11/2011 về chương trình Tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020 xác định khung pháp

lý cho chiến lược cải cách hành chính ở Việt Nam giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đề ra ba nhiệm nhiệm trọng tâm là cải cách thể chế hành chính Nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công Những mục tiêu cụ thể được xác định trong giai đoạn này gồm:

- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực phục vụ cho sự phát triển của đất nước

- Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng, thuận lợi nhằm kéo giảm chi phí thời gian, kinh phí của doanh nghiệp trong việc tuân thủ thủ tục hành chính

- Xây dựng hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương thông suất, trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả

- Bảo đảm phát huy quyền dân chủ của nhân dân, quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực

và trình độ đáp ứng yêu cầu quá trình CNH, HĐH đất nước

Trang 39

Tóm tắt Chương 1

Ở Chương 1, tác giả đã phân tích làm sáng tỏ những khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực; những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực; vai trò, cơ cấu nguồn nhân lực cơ quan hành chính nhà nước; các nhân tố ảnh hưởng đội ngũ cán bộ công chức; khái quát công tác cải cách hành chính hiện nay ở nước ta; đồng thời nêu một vài kinh nghiệm thực tiễn về quản lý cán bộ, công chức ở một số nước và địa phương gắn với thực hiện cải cách hành chính Qua đó, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Bình Chánh đáp ứng với yêu cầu cải cách hành chính giai đoạn hiện nay

Trang 40

CHƯƠNG 2: “ THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH, TP HỒ CHÍ MINH ”

TỪ NĂM 2013 ĐẾN NĂM 2017

2.1 “ Khái quát về huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh, những điều kiện

tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ”

2.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên

“Bình Chánh là một trong năm huyện ngoại thành, nằm ở cửa ngõ phía Tây – Tây Nam của nội thành TP Hồ Chí Minh, có diện tích tự nhiên là 25.255,29 ha, chiếm 12,05 % tổng diện tích tự nhiên của Thành phố, trong đó đất nông nghiệp là 14.824,18 ha, chiếm tỷ lệ 58,7%; đất phi nông nghiệp là 10.431,81 ha, chiếm tỷ lệ 41,3%”

“Thực hiê ̣n Nghi ̣ đi ̣nh 130/2003/NĐ - CP ngày 5 tháng 11 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về viê ̣c thành lập các Quận Bình Tân, Tân Phú và các phường trực thuộc; điều chỉnh địa giới hành chính phường thuộc Quận Tân Bình; thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Bình Chánh, Cần Giờ và Hóc Môn; trên cơ sở chia tách 4

xã – thi ̣ trấn: Tân Ta ̣o, Bình Tri ̣ Đông, Bình Hưng Hòa và Thi ̣ trấn An La ̣c để thành

lập 10 phường trực thuô ̣c Quâ ̣n Bình Tân Sau lễ công bố thành lâ ̣p Quâ ̣n Bình Tân, Huyện Bình Chánh đã tổ chức lễ công bố thành lâ ̣p Thi ̣ trấn Tân Túc, hiê ̣n nay huyện Bình Chánh còn la ̣i 16 xã –thi ̣ trấn gồm thị trấn Tân Túc, xã An Phú Tây, Bình Hưng, Bình Chánh, Tân Kiên, Tân Quý Tây, Tân Nhựt, Hưng Long, Phong Phú, Đa Phước, Qui Đức, Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, Bình Lợi, Vĩnh Lộc A và Vĩnh Lộc B; trong đó xã có diện tích lớn nhất là xã Lê Minh Xuân 3.508,87 ha và

xã có diện tích nhỏ nhất là xã An Phú Tây 586,58 ha; đơn vị hành chính của huyện gồm 15 xã và 01 thị trấn với 101 ấp, 5 khu phố, 1.778 tổ nhân dân, 65 tổ dân phố”

“Vị trí địa lý: phía Bắc giáp quận Bình Tân và huyện Hóc Môn; phía Đông giáp Quận 8, Quận 7 và huyện Nhà Bè; phía Tây giáp huyện Đức Hòa, Bến Lức - tỉnh Long An; phía Nam giáp huyện Cần Giuộc - tỉnh Long An”

Ngày đăng: 30/12/2020, 18:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w