LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong” là k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
GIÃ THÀNH LỘC
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI TPBANK
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
GIÃ THÀNH LỘC
NÂNG CAO NĂNG LỰC CANH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI TPBANK
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh (Hướng ứng dụng) Mã số: 8340101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Lê Thanh Hà
TP Hồ Chí Minh - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc
của cá nhân tôi Các số liệu được nêu trong luận văn được trích nguồn rõ ràng và được thu thập từ thực tế có độ tin cậy nhất định và được xử lý trung thực, khách quan Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
TP Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2019
Học viên
Giã Thành Lộc
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT
ABSTRACT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa đóng góp của đề tài nghiên cứu 3
6 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh 5
1.1.1 Khái niệm về Cạnh tranh 5
1.1.2 Khái niệm về Năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp nói chung và Ngân hàng nói riêng 6
1.1.3 Sự khác nhau giữa cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng với cạnh tranh trong lĩnh vực khác 7
1.1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng phân khúc DNVVN của NHTM 8
1.1.4.1 Nhân tố khách quan 8
1.1.4.2 Nhân tố chủ quan 11
Trang 51.1.5 Tiêu chí cơ bản đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương
mại 16
1.2 Cơ sở lý thuyết về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 22
1.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh hoạt động tín dụng khách hàng vừa và nhỏ của một số ngân hàng thương mại 28
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP TIÊN PHONG 34
2.1.Tổng quan về Ngân hàng TMCP Tiên Phong 34
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng TMCP Tiên Phong 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Tiên Phong 35
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Tiên Phong từ năm 2015-2018 37
2.2 Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong từ năm 2015-2018 40
2.2.1 Tỷ trọng khách hàng doanh nghiệp SME 41
2.2.2 Doanh số cho vay và thu nợ đối với khách hàng doanh nghiệp SME 42 2.2.3 Tình hình dư nợ đối với khách hàng doanh nghiệp SME 43
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của TPBank trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp SME tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong từ năm 2015-2018 45 2.4 Kết quả đạt được và nhân tố tạo nên thành công 59
2.4.1 Kết quả đạt được 59
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 59
Tiểu kết chương 2 62
Trang 6CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN
HÀNG TMCP TIÊN PHONG 63
3.1 Định hướng hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong 63
3.2 Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp SME của TPBank 64
3.2.1 Giải pháp nâng cao về tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ 64
3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nhân sự trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp SME 65
3.2.3 Mạng lưới hoạt động 66
3.2.4 Năng lực tài chính 67
3.2.5 Năng lực công nghệ 67
3.2.6 Năng lực điều hành, quản trị 68
3.3 Kiến nghị với các cấp quản lý 69
3.3.1 Chính phủ và các cơ quan liên quan 69
3.3.2 Ngân hàng nhà nước 70
3.4 Hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo của bài luận 71
Tiểu kết chương 3 72
KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng 1 1 Bảng chỉ tiêu xếp loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 27
Bảng 2 1 Cơ cấu nguồn vốn huy động của TPBank 38
Bảng 2 2 Phân loại dư nợ theo khách hàng 39
Bảng 2 3 Số lượng khách hàng SME giai đoạn 2015-2018 41
Bảng 2 4 Tình hình cho vay và thu nợ khách hàng SME 42
Bảng 2 5 Doanh số cho vay khách hàng SME theo kỳ hạn 42
Bảng 2 6 Doanh số thu nợ khách hàng SME theo kỳ hạn 43
Bảng 2 7 Dư nợ khách hàng SME theo kỳ hạn vay 44
Bảng 2 8 Dư nợ theo loại hình doanh nghiệp SME 44
Hình 2 1 Mô hình tổ chức Ngân hàng TMCP Tiên Phong 36
Hình 2 2 Mạng lưới chi nhánh của các ngân hàng thương mại 52
Hình 2 3 Vốn điều lệ của TPBank và các NHTM 54
Trang 8HDBank : Ngân hàng TMCP Phát triển nhà TP Hồ Chí Minh
Khối SMEs : Khối Khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ
KPI : Chỉ số đo lường và đánh giá hiệu quả
Maritime Bank : Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
MBBank : Ngân hàng TMCP Quân Đội
SRM : Nhân viên/chuyên viên quan hệ khách hàng
Techcombank : Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam
Vietinbak : Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
VPBank : Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng
Trang 9phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh và phương pháp tổng hợp, tác giả đã phân tích, tổng hợp và chỉ ra những mặt tích cực và vấn đề tồn tại trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPBank trong giai đoạn 2015- 2018
Từ đó, Luận văn đã trình bày được hệ thống giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp SME tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong ở nhiều góc độ; đồng thời cũng đề xuất một số khuyến nghị cụ thể với Chính phủ và cơ quan quản lý để hoàn thiện hơn nữa khung chính sách, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và ngân hàng cùng phát triển
Từ khóa: #TPBank, # tín dụng doanh nghiệp; #SME; #năng lực cạnh tranh
Trang 10ABSTRACT
The lending lanscape of small and medium enterprises in Vietnam is currently facing many difficulties due to a shortage of capital and limited management capacity Therefore, this is a segment that many banks are particularly interested in, and tend to
enhance competitiveness It is the reason for author to choose the topic "Enhancing competitiveness in credit activities for small and medium enterprises segment in Tien Phong Commercial Joint Stock Bank (TPBank)" By using logical methods,
descriptive statistical methods, comparative methods and synthetic methods, the author analyzed, synthesized and pointed out positive aspects and problems in credit activities for small and medium enterprise in TPBank in the period of 2015-2018 Thesis has presented a system of solutions to enhance competitiveness in credit activities for SMEs at Tien Phong Commercial Joint Stock Bank in different aspects Besides, thesis also proposed some specific recommendations to the Government and regulatory agencies to enhance the policy framework, creating environment for SMEs and banks
to develop together
Từ khóa: #TPBank, # corporate lending activities; #SME; #competitiveness;
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Ngân hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, song với đặc điểm hoạt động, ngân hàng giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Trong số các hoạt động của ngành ngân hàng, hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp được coi là hoạt động trọng yếu, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được thực hiện liên tục, góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đầu tư phát triển và mở rộng quy mô sản xuất
Ở Việt Nam, một nền kinh tế mới nổi, với số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 90% về nguồn nhân lực, đóng góp tỷ trọng lớn cho ngân sách quốc gia và là loại doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nhưng có lẽ không chỉ Việt Nam mà ngay cả trên thế giới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn luôn khát vốn nhưng lại là khối doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng nhất
Theo báo cáo của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến thời điểm 31/12/2018, tổng
số lượng doanh nghiệp đạt 714.755 doanh nghiệp, đặc biệt số lượng doanh nghiệp thành lập mới cả nước mỗi năm đều trên 100 nghìn doanh nghiệp, cao nhất từ trước đến nay (năm 2016 có 110.100 doanh nghiệp; năm 2017 có 126.859 doanh nghiệp và năm 2018 có 131.275 doanh nghiệp), trong số đó có đến 96% là doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo khảo sát của của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có đến 70% doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng, chủ yếu do năng lực tài chính hạn chế, thiếu vốn đối ứng, phương án kinh doanh thiếu khả thi, thông tin tài chính thiếu minh bạch trong khi lại thiếu tài sản đảm bảo
Sau khi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2018 kèm các chính sách hỗ trợ tín dụng, đã có nhiều ngân hàng thương mại đồng loạt đưa ra các
Trang 12chương trình cho vay ưu đãi và nới lỏng các điều kiện vay vốn như BIDV, Viettinbank, Maritime Bank, VPBank, ABBank, ACB…
Hiện tại, VPBank đã phục vụ hơn 83.000 khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ với
60 trung tâm kinh doanh chuyên biệt, trong khi đó BIDV đã thống lĩnh thị trường về quy mô, số lượng doanh nghiệp được nhà băng này phục vụ lên đến 236.000 khách hàng…Hiện tại, TPBank chỉ mới bước đầu tập trung vào khách hàng doanh nghiệp SME, số lượng khách hàng phục vụ cũng chưa nhiều, chỉ trên dưới 32.000 khách hàng, một con số khá khiêm tốn so với dung lượng thị trường và ở khoảng cách khá xa so với các ngân hàng bạn trong cuộc đua giành thị phần
Nhận thức được phân khúc khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ là thị trường đầy tiềm năng, và không muốn bị các ngân hàng khác bỏ phía sau trong cuộc đua giành thị phần, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong đã và đang đề tích cực tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của TPBank trong hoạt động tín dụng đối với đối tượng này Với tư cách là một cán bộ thuộc TPBank, tác giả đã quyết định lựa
chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (TPBank)”
để nghiên cứu trong bài luận văn này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPBank Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, đưa ra một
số giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPBank
Câu hỏi nghiên cứu:
+ Thực tế cạnh tranh trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPBank thời gian qua như thế nào?
Trang 13+ Giải pháp nào cần phải thực hiện để nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPBank?
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của Ngân
hàng TMCP Tiên Phong
Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Tiên Phong, giai đoạn 2015-2018
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo thường niên của TPBank, báo cáo nội bộ của Khối KHDN TPBank, báo cáo thường niên, báo cáo tài chính của các ngân hàng cạnh tranh, các số liệu của Tổng cục thống
kê, Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, Ngân hàng nhà nước, các thông tin trên các trang tạp chí, báo đài có uy tín…
Phương pháp duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp…nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu
5 Ý nghĩa đóng góp của đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sẽ mang nhiều ý nghĩa thực tiễn đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPBank: + Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu trong năng lực cạnh tranh hiện tại của TPBank trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa
và nhỏ
+ Kết quả nghiên cứu có thể được dùng để định hướng và làm cơ sở đề xuất cho các chiến lược cạnh tranh trong tương lai của TPBank đối với hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 146 Kết cấu đề tài
Luận văn ngoài phần Mở đầu và Kết luận sẽ gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và hoạt động tín dụng của NHTM
- Chương 2: Phân tích năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng khách hàng
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong
- Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng
khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về Cạnh tranh
Trong thế kỷ 20, một số nhà nghiên cứu như Micheal Porter, J.B.Barney, P.Krugman…đã đưa ra một số lý thuyết về cạnh tranh trong môi trường hiện đại, đặc biệt phải kể đến lý thuyết “lợi thế cạnh tranh” trong những nghiên cứu của Giáo sư Micheal Porter M.Porter đã luận giải về sự cần thiết của “lợi thế cạnh tranh” và “lợi thế so sánh”
đối với các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh toàn cầu Theo đó, lợi thế cạnh tranh tức là nội lực của từng doanh nghiệp, của từng quốc gia, trong khi đó lợi thế so sánh là những sự khác biệt về tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, môi trường pháp lý
tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, quốc gia trong sản xuất và thương mại Hai lợi thế này có quan hệ tương hỗ, chặt chẽ với nhau Lợi thế cạnh tranh phát triển dựa trên lợi thế so sánh và ngược lại, lợi thế so sánh sẽ được phát huy nhờ lợi thế cạnh tranh (Dương Ngọc Dũng, 2005)
Vậy, có thể hiểu một cách đơn giản cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân,
tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng…Cạnh tranh, xét
ở mặt tích cực, không phải là triệt tiêu lẫn nhau mà là động lực thúc đẩy phát triển cho các doanh nghiệp, từ đó mang lại sự phát triển cho nền kinh tế Ngoài ra, cạnh tranh cũng góp phần to lớn cho sự sáng tạo đổi mới, giúp cho các chủ thể tham gia trân trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có được Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định những điểm mạnh, điểm yếu riêng của tổ chức mình cùng với những cơ hội
và thách thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi, chiến lược phù hợp nhất trong môi trường cạnh tranh
Trang 16Tương tự như các thành phần khác trong nền kinh tế, trong lĩnh vực ngân hàng, cạnh tranh được hiểu là sự tranh đua giữa những ngân hàng thương mại với nhau thông qua các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trên thị trường trong việc thu hút khách hàng, mở rộng thị phần, xây dựng uy tín, thương hiệu nhằm khẳng định vị trí của ngân hàng vượt lên khỏi các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động
1.1.2 Khái niệm về Năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp nói chung và Ngân hàng nói riêng
Về cơ bản, hiện chưa có một khái niệm cụ thể về năng lực cạnh tranh nói chung và năng lực cạnh tranh trong ngân hàng nói riêng bởi lẽ đây là một vấn đề trừu tượng, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau và đôi lúc có thể bị nhầm với năng lực kinh doanh của bản thân các doanh nghiệp Tuy nhiên, qua một số nghiên cứu trước đây, khái niệm
về năng lực cạnh tranh có thể được hiểu như sau:
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Quy thì: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động của môi trường xung quanh” Khái niệm này đề cập đến năng lực nội tại của NHTM và mối quan hệ của nó với sự phát triển của ngành ngân hàng trên cơ sở tận dụng được lợi thế nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn (Nguyễn Thị Quy, 2005)
Còn theo một số khái niệm khác, năng lực cạnh tranh có nhiều nét tương đồng với năng suất lao động Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra năng suất sản xuất cao bằng cách sử dụng các yếu tố sản xuất hiệu quả, giúp các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế
Cũng theo M Porter (1996), năng lực cạnh tranh cũng có thể được đo lường qua năng suất lao động Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp
Trang 17Tác giả Trần Sửu (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững
Từ những khái niệm tổng hợp trên, khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp có thể khái niệm tổng quan như sau: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững
Như vậy, nếu áp dụng khái niệm trên vào lĩnh vực ngân hàng, thì năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng một ngân hàng tạo, duy trì và phát triển các lợi thế giúp mở rộng thị phần, tạo ra mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời vẫn đảm bảo hoạt động an toàn, có khả năng chống chịu và vượt qua những biến động không có lợi trong môi trường kinh doanh
1.1.3 Sự khác nhau giữa cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng với cạnh tranh trong lĩnh vực khác
Thứ nhất, do lĩnh vực ngân hàng là một ngành đặc thù, thực hiện hoạt động kinh
doanh tiền tệ, nên cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng chịu sự chi phối mạnh mẽ của các chính sách tài chính, tiền tệ của Nhà nước hơn các ngành nghề khác Những thay đổi về chính sách tài chính, tiền tệ của Nhà nước (như lãi suất, tỉ giá ) sẽ ngay lập tức ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của từng đơn vị, trong khi các đơn vị khác sẽ chủ yếu bị ảnh hưởng ở phương diện đầu tư tài chính, hoạt động xuất nhập
khẩu
Thứ hai, sự phát triển của nền kinh tế luôn đi kèm với sự phát triển của ngành ngân
hàng Với một số quốc gia có nền kinh tế dựa trên ngân hàng như Việt Nam, hệ thống thanh toán càng đóng vai trò quan trọng Bởi vậy, sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng không đồng nghĩa với sự triệt hạ đối thủ mà thậm chí sự lớn mạnh của đối thủ lại là điều kiện để cho hệ thống Ngân hàng phát triển, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế tại
Trang 18Việt Nam Xét ở một góc độ khác, quan hệ của các ngân hàng không chỉ là cạnh tranh
mà còn là hợp tác, các ngân hàng cũng cho vay, gửi tiết kiệm lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng (phục vụ cho việc quản trị vốn, quản trị rủi ro) Do đó, nếu cạnh tranh giữa các ngân hàng dẫn tới sự phá sản sẽ gây hiệu ứng lan truyền và ảnh hưởng khá nghiêm trọng tới toàn bộ ngân hàng khi mối liên hệ giữa các ngân hàng là khá chặt chẽ Chính vì vậy, cạnh tranh trong ngân hàng mang tính xây dựng nhiều hơn là triệt tiêu so với các lĩnh vực khác
Các doanh nghiệp khi cùng làm về một sản phẩm sẽ cạnh tranh rất gay gắt để dành thị phần, tuy nhiên ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, có rất nhiều sản phẩm, dịch vụ khác nhau để phát triển (có ngân hàng chuyên phát triển thanh toán bán lẻ, có ngân hàng chuyên phát triển bán buôn, có ngân hàng chuyên phát triển dịch vụ đầu tư…) Do đó tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng cũng không cao như các ngành nghề khác
Như vậy, có thể thấy mặc dù cũng là một loại hình doanh nghiệp nhưng rõ ràng sức cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng là khác biệt so với các doanh nghiệp khác, vừa cạnh trạnh vừa hợp tác cùng nhau phát triển, chia thị phần
1.1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng doanh nghiệp vùa và nhỏ của NHTM
1.1.4.1 Nhân tố khách quan
a Môi trường kinh tế
Nền kinh tế là một hệ thống trong đó các hoạt động kinh tế có quan hệ biện chứng
và chịu ảnh hưởng tương hỗ Bởi vậy, mọi biến động của hoạt động kinh tế đều có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình hình kinh doanh và sản xuất của các lĩnh vực còn lại Tình hình của nền kinh tế vĩ mô như mức độ lạm phát có ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng của lĩnh vực tài chính ngân hàng Cụ thể, một nền kinh tế ổn định với tỷ lệ lạm phát vừa phải sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp SME, tạo ra lợi nhuận cao hơn, từ đó có thể trả vốn và lãi cho ngân hàng, hay
Trang 19nói cách khác, sự ổn định của nền kinh tế thể hiện qua mức độ lạm phát sẽ giúp ngân hàng có được những dự án tín dụng chất lượng cao Ngược lại, khi nền kinh tế tồn tại nhiều biến động, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp cũng trở nên thất thường, tác động tiêu cực đến thu nhập của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới khả năng hoàn trả nợ vay cho ngân hàng Có thể nói, môi trường kinh tế là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến chất lượng và quy mô của hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp SME , đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế Môi trường kinh tế với những ảnh hưởng tích cực sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của hoạt động tín dụng Cụ thể, khi nền kinh tế mở cửa hội nhập, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cùng với sự xuất hiện các doanh nghiệp FDI sẽ là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, đem đến cho ngân hàng thương mại nhiều cơ hội phát triển hoạt động tín dụng doanh nghiệp SME phục vụ cho các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước, từ đó giúp tăng trưởng quy mô tín dụng của ngành ngân hàng Thêm vào đó, môi trường kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng những khoản tín dụng ngân hàng cấp cho doanh nghiệp để mở rộng sản xuất kinh doanh Một ví dụ dễ thấy là tình hình tỷ giả của đồng USD và VND trong năm qua
b Những nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của nhà nước
Tính ổn định trong các chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đến đến chất lượng tín dụng phân khúc khách hàng doanh nghiệp SME của ngân hàng Nếu chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước không ổn định sẽ khiến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp SME gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình ngân hàng thu hồi nợ và ngược lại Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật với vai trò điều tiết các hoạt động trong nền kinh tế là môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu hệ thống pháp lý đồng bộ sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh triển khai được thuận lợi và đạt kết quả cao Ngược lại, nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, hay
Trang 20thay đổi sẽ làm cho hoạt động kinh doanh gặp khó khăn Tại Việt Nam, Ngân hàng nhà nước là đơn vị quản lý và xây dựng chính sách liên quan đến các hoạt động tín dụng, ngoại hối và tiền tệ Các chính sách, quy định của ngân hàng nhà nước có tác động trực tiếp lên hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, là kim chỉ nam định hướng cho quy mô và cơ cấu phát triển của hoạt động tín dụng trong từng ngành, lĩnh vực Cụ thể, dưới sự quản lý của ngân hàng nhà nước, các ngân hàng sẽ chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng chú trọng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, đặc biệt là nhu cầu vốn đối với lĩnh vực ưu tiên gồm nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; công nghiệp
hỗ trợ; doanh nghiệp nhỏ và vừa; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) Đồng thời, Ngân hàng nhà nước còn kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn và chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của mỗi ngân hàng, đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân
c Môi trường xã hội
Môi trường xã hội, trong đó quan trọng nhất là đạo đức xã hội là yếu tố trọng yếu ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng Quan hệ tín dụng là cầu nối giữa ngân hàng và khách hàng, được xây dựng trên cơ sở uy tín và lòng tin Trong môi trường xã hội mà tại đó đạo đức xã hội không tốt, lợi dụng lòng tin để lừa đảo sẽ làm giảm chất lượng tín dụng Rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng là việc cho vay mạo hiểm quá mức giữa ngân hàng và khách hàng vay, gây hậu quả nặng nề cho người gửi tiền và bản thân ngân hàng Rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụn gcó thể đến từ phía khách hàng, khi họ cố tình che giấu thông tin
và thực hiện những hoạt động gây rủi ro cho khoản vốn vay mà ngân hàng không mong muốn Rủi ro đạo đức trong tín dụng ngân hàng còn đến từ chính sự lựa chọn, bố trí sử dụng nhân sự ngân hàng thiếu năng lực, phẩm chất, tư cách đạo đức nghề nghiệp, dẫn đến
sự thông đồng giữa cán bộ quản lý và nhân viên ngân hàng với khách hàng để che giấu thông tin thật, nâng khống giá trị tài sản thế chấp và cố tình vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn cho vay
Trang 21d Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm những biến động bất khả kháng như thiên tai (động đất, hạn hán, lũ lụt,…), hoả hoạn làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp SME, nhất là đối với các ngành có liên quan đến hải sản, nông nghiệp, thuỷ sản Chính bởi vậy, khi môi trường tự nhiên nhiều biến động tiêu cực xảy ra sẽ khiến doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, không thể thu hồi vốn
đủ để hoàn trả nợ vay ngân hàng, từ đó làm giảm chất lượng tín dụng của những khoản
vay mà NHTM đã cấp cho doanh nghiệp
1.1.4.2 Nhân tố chủ quan
a Chính sách tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng doanh nghiệp SME
Chính sách tín dụng là yếu tố đầu tiên tác động dến việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, đây cũng là một chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Chính sách tín dụng chính là chủ trương, đường lối liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo, cụ thể bao gồm: hạn mức tín dụng, lãi suất cho vay và mức lệ phí, kỳ hạn của các khoản vay, các loại cho vay được thực hiện Các nội dung của chính sách tín dụng được xây dựng căn cứ trên chính sách tiền tệ và tài chính của Ngân hàng Nhà nước, điều kiện kinh tế, khả năng về vốn của ngân hàng
và nhu cầu tín dụng của khách hàng Khi các yếu tố này thay đổi, chính sách tín dụng cũng thay đổi theo Đối với mỗi loại khách hàng, ngân hàng có thể đưa ra các chính sách khác nhau cho phù hợp Ví dụ như với các khách hàng doanh nghiệp SME có uy tín với ngân hàng thì ngân hàng có thể cho vay không có tài sản đảm bảo, có hạn mức cao hơn, lãi suất ưu đãi hơn; còn đối với các khách hàng khác, việc có tài sản đảm bảo
là cần thiết Để có chất lượng tín dụng tốt, các ngân hàng cần phải có chính sách tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế của ngân hàng cũng như của thị trường Một chính sách tín dụng khách hàng doanh nghiệp SME đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở hạn chế rủi ro, tuân thủ phương pháp, đường lối chính sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội Điều
Trang 22đó cũng có nghĩa chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của ngân hàng thương mại có đúng đắn hay không
b Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng bao gồm những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiến hành trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Quy trình này gồm các bước bắt đầu từ khâu chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra trong quá trình cho vay cho đến khi thu hồi được nợ
Trong quy trình tín dụng, bước chuẩn bị cho vay rất quan trọng (khách hàng nhập
hồ sơ vay vốn ) Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc nhiều vào chất lượng công tác thẩm định và quy định về điều kiện, thủ tục cho vay của từng ngân hàng thương mại Quy trình này bao gồm 3 giai đoạn: khai thác và tìm kiếm khách hàng; hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và thành lập hồ sơ vay; phân tích thẩm định khách hàng và phương án, dự án vay vốn
Kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay giúp cho ngân hàng kiểm soát được chất lượng
sử dụng khoản tín dụng đã cung cấp cho khách hàng để có những hành động điều chỉnh can thiệp khi cần thiết, sớm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra Việc lựa chọn và áp dụng
có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu, giảm rủi ro tín dụng, nói cách khác sẽ nâng cao chất lượng tín dụng
Thu hồi và giải quyết nợ là khâu quyết định đến chất lượng tín dụng Sự nhạy bén của ngân hàng trong việc kịp thời phát hiện những biểu hiện bất lợi xảy ra đối với khách hàng cũng như những biện pháp xử lý kịp thời, tư vấn cho khách hàng sẽ giảm thiểu được những khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tác dụng tích cực đối với hoạt động tín dụng
Đồng thời với các bước trong quy trình tín dụng là công tác thu thập thông tin Thông tin tín dụng càng nhanh, càng chính xác và toàn diện thì khả năng phòng chống rủi ro tín dụng càng tốt Thông tin tín dụng có thể thu thập được từ rất nhiều nguồn: từ
Trang 23trung tâm tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, từ phòng thông tin tín dụng của các ngân hàng thương mại, qua báo chí, các tổ chức nghề nghiệp, qua việc cán bộ tín dụng trực tiếp thu thập tại cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng, qua báo cáo tài chính của khách hàng
Quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại không mang tính cứng nhắc Đối với mỗi khách hàng khác nhau, ngân hàng có thể chủ động, linh hoạt,thực hiện các bước trong quy trình tín dụng cho phù hợp Ví dụ như đối với các dự án lớn, bước phân tích
là rất quan trọng Thậm chí có trường hợp quá phức tạp, ngân hàng phải thành lập tổ thẩm định riêng Đối với những món vay tiêu dùng, việc giám sát mục đích sử dụng vốn cần được chú trọng nhiều hơn
c Công tác tổ chức của ngân hàng
Chất lượng và hiệu quả của hoạt động tín dụng phân khúc khách hàng doanh nghiệp SME phụ thuộc rất lớn vào công tác tổ chức của ngân hàng, tổ chức của ngân hàng cần cụ thể hoá và sắp xếp có khoa học, có tính linh hoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc đã quy định Ngân hàng được tổ chức một cách có khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn hệ thống cũng như với các cơ quan liên quan khác Tổ chức của ngân hàng cần cụ thể hoá và sắp xếp có khoa học, có tính linh hoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc đã quy định Qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng, quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng, phát hiện và giải quyết kịp thời các khoản tín dụng có vấn đề, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng
d Phẩm chất và trình độ cán bộ
Cán bộ tín dụng là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu của quy trình tín dụng, từ bước đầu tiên đến bước cuối cùng, chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng là nhân tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và trong hoạt động tín dụng nói riêng Cán bộ tín dụng có đạo đức nghề nghiệp, giỏi về
Trang 24chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, có kinh nghiệm đánh giá chính xác tính khả thi của
dự án, xác định được tính chân thực của các báo cáo tài chính, phát hiện các hành vi cố tình lừa đảo của khách hàng (như sửa chữa báo cáo tài chính, lập hồ sơ thế chấp giả, dùng một tài sản thế chấp đi vay ở nhiều nơi ) từ đó phân tích được khả năng quản lý
và năng lực thực sự của khách hàng để quyết định có cho vay hay không Bên cạnh đó cán bộ tín dụng cần có sự hiểu biết rộng về pháp luật, môi trưòng kinh tế xã hội, đường lối phát triển của đất nước, sự thay đổi của thị trường…dự đoán trước được những biến động có thể xảy ra từ đó tư vấn lại cho khách hàng xây dựng lại phương án kinh doanh cho phù hợp
e Kiểm soát nội bộ
Chất lượng tín dụng khách hàng doanh nghiệp SME phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định, chính sách và mức độ phát hiện kịp thời các sai sót cũng nguyên nhân dẫn đến những lệch lạc trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng Thông qua kiểm soát nội bộ giúp cho nhà lãnh đạo ngân hàng phát hiện những thuận lợi, khó khăn, nắm được tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra để đề ra các biện pháp giải quyết kịp thời
f Tình hình huy động vốn
Tình hình huy động vốn ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng Vốn huy động càng lớn, ngân hàng thương mại càng có khả năng cho vay, mở rộng hoạt động tín dụng Vốn huy động trung dài hạn là nguồn chủ yếu để cho vay trung dài hạn, vốn huy động ngắn hạn là nguồn chủ yếu để cho vay ngắn hạn Nếu ở ngân hàng không có sự phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn huy động và cho vay mà không dự kiến dược nguồn bù đắp thì rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra
g Các nhân tố từ phía khách hàng doanh nghiệp SME
Khách hàng, tức các doanh nghiệp SME, cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
vì khách hàng là người lập phương án, dự án xin vay và sau khi được ngân hàng chấp nhận, khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay để kinh doanh
Trang 25✓ Năng lực của khách hàng
Năng lực của khách hàng là nhân tố quyết định đến việc khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả hay không Năng lực của khách hàng càng cao thì khả năng cạnh tranh trên thị trường càng lớn, vốn vay càng được sử dụng có hiệu quả Ngược lại, nếu năng lực của khách hàng yếu kém, thể hiện ở việc không hiểu biết nhiều trong việc sản xuất, phân phối và khuyếch trương sản phẩm, không dự đoán được những biến động lên xuống của nhu cầu thị trường…thì sẽ dễ dàng bị đào thải trong môi trường kinh doanh cạnh tranh Chính bởi vậy, năng lực khách hàng sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả nợ ngân hàng, chất lượng tín dụng của ngân hàng bị ảnh hưởng
✓ Sự trung thực của khách hàng
Sự trung thực của khách hàng ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng của ngân hàng Nếu khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng với phương án, mục đích khi xin vay thì sẽ không trả được nợ đúng hạn Nếu các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng vi phạm chế độ kế toán thống kê đã được ban hành, không cung cấp các số liệu trung thực, thì sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc quản lý vốn vay của khách hàng nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh, cũng như để qua đó có thể đưa ra quyết định cho vay đúng đắn
✓ Rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng
Rủi ro là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những biến cố (sự kiện) xảy ra ngoài mong muốn và đem lại hậu quả xấu Trong sản xuất kinh doanh, rủi ro phát sinh dưới nhiều hình thái khác nhau: do năng lực sản xuất kinh doanh yếu kém, do thiên tai, hoả hoạn, hoặc là nạn nhân của sự thay đổi chính sách của nhà nước, do bị trộm cắp, lừa đảo …Ví dụ như giá bán nguyên vật liệu tăng vọt nhưng giá bán sản phẩm không thay đổi sẽ làm lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực trả nợ cho ngân hàng của doanh nghiệp
Trang 261.1.5 Tiêu chí cơ bản đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Trên cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và cạnh tranh trong doanh nghiệp đã phân tích ở trên, năng lực cạnh tranh trong ngân hàng thương mại có thể hiểu tương tự như trong các doanh nghiệp khác nhưng sở hữu những tính chất và đặc điểm rất riêng biệt và đặc thù Tuy vậy, trên nền tảng các lý thuyết đã được dẫn chiếu, tham chiếu ở trên, có thể tổng hợp rằng: năng lực cạnh tranh là khả năng duy trì và mở rộng các thị phần, tập khách hàng của mình thông qua khả năng tiếp cận khách hàng mới với dịch vụ chất lượng tốt hơn các đối thủ khác trên thị trường
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM sẽ gồm 2 bộ phận: “các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của các NHTM trên giác độ vi mô và các chỉ tiêu đánh giá tác động của những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
hệ thống ngân hàng” (Nguyễn Thi Quy, 2005)
Như vậy, cùng chịu sự tác động từ các nhân tố bên ngoài như nhau như môi trường kinh tế, xã hội, chính trị…thì hoạt động của các NHTM có tồn tại và phát triển hay không còn phụ thuộc vào năng lực nội tại của chính ngân hàng Có được năng lực cạnh tranh vững mạnh, ngân hàng có thể tận dụng và phát huy lợi thế cạnh tranh, đi trước đón đầu, ứng biến với sự thay đổi của thị trường
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Quy thì có một số tiêu chí dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM, đó là: (i) tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ; (ii) Chất lượng nguồn nhân lực; (iii) Mạng lưới hoạt động; (iv) Năng lực tài chính, (v) Năng lực công nghệ; (vi) Năng lực quản trị điều hành và (vii) Uy tín thương hiệu (Nguyễn Thi Quy, 2005)
Do hoạt động tín dụng là một trong chức năng chính của ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh chung của Ngân hàng Muốn có năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng doanh nghiệp SME thì ngân hàng cần phải có sản phẩm đa dạng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, cần phải có nguồn nhân lực tốt để đảm bảo
Trang 27tư vấn chính xác, giải quyết nhanh chóng, mạng lưới rộng khắp để tiếp cận được nhiều doanh nghiệp SME hơn, cần nền tảng công nghệ để có thể phục vụ khách hàng kịp thời, tiện lợi và chính xác, cần thương hiệu để tạo sự tin tưởng và tiềm lực tài chính để duy trì mọi hoạt động nêu trên Do đó, tác giả cho rằng việc sử dụng các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của PGS.TS Nguyễn Thị Quy nêu trên để đánh giá năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng doanh nghiệp SME của TPBank là phù hợp
Các tiêu chí đánh giá bao gồm:
1.1.5.1 Tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ
Sản phẩm dịch vụ là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sự đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ tạo điều kiện cho doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng và củng cố được vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường
Ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động trong ngành tài chính Đây
là một ngành khá đặc thù, sản phẩm đa dạng, đáp ứng phù hợp với thực tế, đặc thù kinh doanh của khách hàng thì càng dễ dàng có được lòng tin, tăng sức cạnh tranh cho ngân hàng Một ngân hàng có thể chuyên sâu vào một mảng dịch vụ thế mạnh hoặc cùng lúc phát triển nhiều sản phẩm Đối với những ngân hàng như vậy, tính cạnh tranh luôn cao hơn những ngân hàng chỉ nhắm đến một đối tượng khách hàng cụ thể do tính tùy biến
và điều chỉnh linh hoạt theo sự phát triển của thị trường
1.1.5.2 Chất lượng nguồn nhân lực
Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong ngành dịch vụ nói chung và dịch vụ tài chính nói riêng thì yếu tố con người đóng vai trò vô cùng quan trọng Nguồn nhân lực tài năng luôn là một trong những thế mạnh với các doanh nghiệp khi đánh giá về lợi thế cạnh tranh do năng suất lao động của những nhân lực tài năng thường cao hơn rất nhiều so với nguồn nhân lực bình thường Thông thường, những doanh nghiệp lớn thường sẵn sàng chi rất nhiều tiền để lôi kéo những cán bộ cốt cán, tài năng của doanh nghiệp khác về phục vụ cho mình Khi đó, chiến lược phát
Trang 28triển của doanh nghiệp hay chất lượng dịch vụ chắc chắn sẽ được cải thiện Dù có cùng
số lượng nhân viên nhưng những doanh nghiệp có nguồn nhân lực tốt hơn sẽ có những sản phẩm ưu việt hơn trên thị trường hoặc tối đa hóa được lợi nhuận cho doanh nghiệp Ngành tài chính là một trong những ngành đòi hỏi cao về trình độ, năng lực của nguồn nhân lực Các ngân hàng đóng vai trò là trung gian tài chính trên thị trường sẽ không thể phát huy hết vai trò của mình nếu không có nhân lực chuyên môn cao, có thể đưa ra những dự báo, tư vấn tài chính chính xác cho khách hàng Nói cách khác, chất lượng nhân lực trong ngành ngân hàng là vô cùng quan trọng, bởi chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể gây ra rủi ro lớn về tài chính cho toàn hệ thống và cho nền kinh tế Chính bởi vậy, chất lượng nguồn nhân lực là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng, đây cũng chính là chìa khóa mấu chốt để các ngân hàng nâng cao vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường
1.1.5.3 Mạng lưới hoạt động
Trong ngành tài chính - ngân hàng, mạng lưới hoạt động cũng là một yếu tố quan trọng khi đánh giá năng lực cạnh tranh bởi lẽ chính mạng lưới này sẽ giúp khách hàng gia tăng trải nghiệm, tiện ích, tăng nhận diện thương hiệu và khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng Một mạng lưới hoạt động ngân hàng hiệu quả (với độ phủ rộng và đặt tại những địa điểm trọng yếu) sẽ là tiền đề cho năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Bởi
lẽ, nếu mạng lưới hoạt động của các ngân hàng rộng nhưng không trọng điểm cũng sẽ làm tiêu tốn chi phí và không thu được nhiều hiệu quả trong hoạt động Ví dụ những chi nhánh đặt tại khu vực thưa dân cư hoặc xa thị trấn…sẽ là kém hiệu quả so với những chi nhánh đặt gần các khu vực trung tâm, có nhiều trung tâm thương mại, siêu thị…Bởi vậy, tùy thuộc vào chiến lược của từng ngân hàng mà việc mở rộng mạng lưới chi nhánh sẽ mang lại hiệu quả Tuy nhiên, với những ngân hàng lớn họ sẽ có năng lực cạnh tranh hơn do duy trì được mạng lưới chi nhánh rộng và được đặt tại những vị trí trọng yếu (do có khả năng chi trả chi phí thuê, mua địa điểm) với khả năng tiếp cận khách hàng cao và nâng cao trải nghiệm cho người dùng
Trang 29Mạng lưới hoạt động là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện quy mô kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp có mạng lưới hoạt động càng lớn thì càng dễ
có khả năng chiếm lĩnh thị phần, khẳng định vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường
1.1.5.4 Năng lực tài chính
Cũng như quy mô kinh doanh, năng lực tài chính thể hiện sức mạnh và khả năng
về đảm bảo nguồn lực tài chính cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Năng lực tài chính vừa là điều kiện, vừa là kết quả của quá trình vận hành hệ thống kinh doanh
Do đó, đây là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh nói chung của doanh nghiệp trên thị trường
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ, vì thế năng lực tài chính của Ngân hàng càng mạnh
sẽ tăng năng lực nội tại cho Ngân hàng Năng lực tài chính thường của doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng thể hiện thông qua các yếu tố sau: (i) Vốn chủ sở hữu; (ii) Khả năng huy động vốn; (iii) Khả năng thanh toán; (iv) Khả năng sinh lời và (v) Mức độ rủi ro
Với tiềm năng tài chính mạnh, Ngân hàng dễ dàng hạ lãi suất cho vay tùy thời điểm, còn tiền để cho vay trong khi các ngân hàng đối thủ đã chạm trần room tín dụng theo quy định của NHNN…Đây cũng là lý do mà các ngân hàng lớn thường có năng lực cạnh tranh hơn so với các ngân hàng nhỏ Như đã đề cập với năng lực tài chính tốt
sẽ giúp họ có thể có được đội ngũ nhân lực giỏi, tài năng và có khả năng duy trì các hoạt động của chi nhánh cũng như chi phí phát triển sản phẩm, một trong những chi phí rất lớn trong hoạt động doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng
1.1.5.5 Năng lực công nghệ
Có thể nói, công nghệ ngày càng trở nên quan trọng và dần trở thành nhân tốt cốt lõi tạo nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, công nghệ giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, hiệu quả hoạt động và quản lý Công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả công việc, văn hóa doanh nghiệp và các mối quan hệ trong doanh nghiệp
Trang 30Nó cũng ảnh hưởng đến vấn đề bảo mật thông tin và các lợi thế trong giao dịch Một doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ sẽ luôn đi trước các đối thủ một bước Đối với các ngân hàng, công nghệ không chỉ góp phần tạo ra những chuyển biến mang tính độc đáo và tiện lợi hơn cho các sản phẩm dịch vụ truyền thống mà còn giảm bớt các chi phí từ việc thuê nhân công, chi phí hoạt động chi nhánh…Đối với một số ngân hàng, với nền tảng ngân hàng lõi (core banking) tốt, các hoạt động giao dịch sẽ được tự động hóa hoàn toàn từ việc ghi nhận vào sổ cái cho đến lữu trữ trên các máy chủ hoặc luân chuyển dữ liệu giữa cho các phòng ban khác nhau, giảm thiểu các lỗi do con người gây ra, đồng thời tập trung hóa các nghiệp vụ tại một hội sở, giảm bớt chi phí tại các chi nhánh (nhân lực, cơ sở hạ tầng công nghệ…) Bên cạnh đó, như đã đề cập, việc tiếp cận của end-user với ngân hàng đang dần chuyển từ chi nhánh với các nhân viên ngân hàng sang các thiết bị di động (smart devices) Với những ngân hàng
có nền tảng công nghệ tốt, khả năng bảo mật cao sẽ dễ dàng có được thị phần khách hàng nhờ nâng cao trải nghiệm và tăng độ tin cậy cho khách hàng Với các doanh nghiệp phát triển dịch vụ, có khách hàng trung thành luôn là yếu tố cốt lõi của việc nâng cao tính cạnh tranh trong doanh nghiệp Đây là những đóng góp của năng lực công nghệ với năng lực cạnh tranh của ngân hàng
1.1.5.6 Năng lực quản trị điều hành
Năng lực quản trị điều hành là tiêu chí cơ bản đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và các NHTM nói riêng Một doanh nghiệp có phương hướng phát triển bền vững không thể thiếu sự quản trị điều hành đúng đắn của các cấp quản
lý Định hướng và chất lượng quản trị là thước đo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, đồng thời là “vũ khí tối thượng” để doanh nghiệp tồn tại một cách bền vững trước sự cạnh tranh khốc liệt của những đối thủ khác
Năng lực quản trị điều hành của ban lãnh đạo NHTM khá tương đồng với năng lực nhân sự Bởi lẽ, năng lực quản trị điều hành là một trong những kỹ năng của các nhân
sự cấp cao Với những ngân hàng lớn, có hệ thống công nghệ thông tin lớn và hệ thống
Trang 31chi nhánh lớn với nhiều sản phẩm đa dạng đòi hỏi năng lực quản trị điều hành càng cao
để tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu so với các ngân hàng khác Nếu năng lực quản trị điều hành yếu có thể dẫn tới hoạch định chiến lược không phù hợp và không quản lý được chi phí hoạt động, dễ dàng bị ngân hàng khác vượt qua về mặt lợi nhuận trong thời gian ngắn Chính vì vậy, năng lực quản trị điều hành có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong hoạt động ngân hàng, là yếu tố then chốt để NHTM có một chiến lược kinh doanh đúng đắn Một số tiêu chí thể hiện năng lực quản trị điều hành là: chiến lược kinh doanh, cơ cấu tổ chức, khả năng áp dụng phương thức quản trị ngân hàng hiệu quả và sự tăng trưởng trong kinh doanh
1.1.5.7 Uy tín, thương hiệu
Thương hiệu được tạo lập bởi nhận thức và niềm tin của con người do cảm nhận về sản phẩm dịch vụ mà họ nhận được Việc xây dựng thương hiệu rất quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng vì càng ngày khách hàng càng có nhiều sự lựa chọn, nhưng lại ít thời gian để cân nhắc và ra quyết định, nên phần lớn họ sẽ mua dựa vào niềm tin sẵn có Một thương hiệu mạnh sẽ là yếu tố tác động quan trọng nhất đến hành vi mua hàng, đồng thời mang lại cho khách hàng nhiều hơn so với một sản phẩm: đó là dịch vụ, là niềm tin, là các giá trị cộng thêm cho khách hàng – cả về mặt chất lượng và cảm tính Người tiêu dùng có xu hướng quyết định mua dựa vào yếu
tố thương hiệu chứ không phải yếu tố sản phẩm hay dịch vụ
Đối với ngành ngân hàng, uy tín, thương hiệu là nội lực vô cùng to lớn vì ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh bởi lẽ để tạo được một tên tuổi trên thị trường là một quá trình rất dài, tốn rất nhiều chi phí và công sức để đạt được Khách hàng cũng có xu hướng thường tin cậy những ngân hàng có những phản ứng tốt từ thị trường trong nhiều năm hơn là những ngân hàng non trẻ mới gia nhập thị trường Với những ngân hàng lớn, họ thường có riêng các ban truyền thông và dành nhiều chi phí để bảo vệ hình ảnh khỏi những vấn đề tiêu cực, phản cạnh tranh của các ngân hàng khác hoặc bảo
vệ mình trước những sự cố đáng tiếc Điều này để họ luôn tạo ra hình ảnh đẹp với
Trang 32khách hàng, đảm bảo thương hiệu của mình luôn có giá trị, tạo niềm tin thu hút khách hàng Với những ngân hàng nhỏ, họ sẽ cần thêm thời gian và chi phí để dần khẳng định được uy tín và thương hiệu của mình trên thị trường, để dần tạo niềm tin cho khách hàng, từ đó mới tạo thêm thị phần khách hàng mới và gặt hái được lợi nhuận tương xứng Đó cũng là lý do đặt uy tín và thương hiệu là một trong những yếu đố để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng
1.2 Cơ sở lý thuyết về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
NHTM là một định chế tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng cho các khách hàng tổ chức và cá nhân như nhận tiền gửi, cấp vốn vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán trên phạm vi trong và ngoài nước Nhờ vào hệ thống của các ngân hàng, nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động Đây cũng là nguồn tiền cho cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế (TCKT), cá nhân với mục tiêu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Việt Nam chưa có thị trường vốn , trong số các lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động truyền thống, mang lại nguồn lợi nhuận chủ đạo cho các ngân hàng Tuy vậy, hoạt động này tiềm ẩn rủi ro rất cao, gây ra những hậu quả nặng nề không chỉ đối với chính các ngân hàng mà còn đối với cả doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung
1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại được hiểu là các hoạt động nhận tiền gửi (bao gồm cả tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn…) và chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng nguồn vốn huy động của NHTM Ngoài ra, các Ngân hàng có thể huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu và bán cho các cá nhân và tổ chức kinh tế Ngoài các hình thức huy động vốn trên, các ngân hàng có thể huy động vốn bằng cách vay từ các tổ chức tín dụng trên thị trường liên ngân hàng hoặc “người cho vay cuối cùng của nền kinh tế”, ngân hàng trung ương 1
Trang 331.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Tín dụng là hình thức phổ biến nhất ở các định chế tài chính nói chung và NHTM nói riêng ở khắp các nơi trên thế giới Tại Việt Nam, hoạt động tín dụng hiện vẫn là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận cao nhất và có ý nghĩa sống còn đối với ngân hàng Số tiền mà ngân hàng huy động được trên thị trường (từ nguồn tiền gửi và vay trên thị trường liên ngân hàng) sẽ được sử dụng để cho vay lại và thu lợi nhuận Lợi nhuận mà ngân hàng thu được sẽ là chênh lệch giữa chi phí huy động nguồn và lãi suất ngân hàng cho vay và chi phí vận hành 1
1.2.3 Các loại hình dịch vụ khác cho khách hàng
Nghiệp vụ ủy thác: là dịch vụ ngân hàng cung ứng cho khách hàng khi nhận ủy
thác để quản trị các tài sản thay cho khách hàng Các tài sản này có thể chia làm 2 loại, gồm: tiền và hiện vật Hiện nay, phần đông khách hàng ủy thác cho ngân hàng giúp
mình quản trị tài sản bằng tiền hay ký gửi vào một tài khoản
Dịch vụ bảo đảm an toàn tài sản có giá trị: Đây là một trong những dịch vụ truyền
thống và lâu đời nhất của NHTM từ thửa sơ khai Tuy nhiên, hiện nay dịch vụ này thường tích hợp với các dịch vụ khác của ngân hàng (như vay bất động sản trả góp thường đi kèm với giữ giấy phép sở hữu căn hộ cho khách hàng) Với đội ngũ nhân viên bảo vệ và các két sắt hiện đại, kiên cố, ngân hàng có thể hỗ trợ khách hàng trong
việc ký gửi những giấy tờ có giá và các tài sản quý
Các dịch vụ kinh doanh khác: những dịch vụ khác bao gồm nhiều loại như bảo
đảm tín dụng, chiết khấu các khoản phải thu (factoring), phát hành thẻ tín dụng, làm dịch vụ tư vấn thuê mua…Đây đều là những hoạt động phái sinh trên cơ sở các hoạt động cơ bản của ngân hàng là huy động vốn và tín dụng
Ngoài những loại hình dịch vụ truyền thống của ngân hàng, hiện nay ngân hàng đang có xu hướng được số hóa Ngân hàng điện tử là một bước phát triển sơ khai của ngân hàng số , bao gồm một hệ thống phần mềm tin học cho phép khách hàng có thể
Trang 34tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua các phương tiện
điện tử
1.2.4 Hoạt động tín dụng của NHTM
1.2.4.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng 1
Tín dụng là một thuật ngữ xuất phát từ chữ La tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm)
Trong quan hệ tài chính, tín dụng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, nói cách khác đây là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể Khi quan hệ trao đổi hàng hóa xuất hiện cùng với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa Qua thời gian, tín dụng chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ để phục vụ cho các mục đích khác nhau
và dần trở thành biểu hiện của mối quan hệ kinh tế nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả
Khái niệm về tín dụng đã được xây dựng và chỉnh sửa theo các hình thái kinh tế -
xã hội khác nhau Song khái quát lại, tín dụng được hiểu theo khái niệm cơ bản sau:
Căn cứ theo Khoản 16, Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”, “tín dụng là một phạm trù kinh
tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên (bên cho vay) chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia (bên đi vay) được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên đi vay phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận”
Trong hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM), chính sách tín dụng là tổng thể các quy định của ngân hàng về hoạt động tín dụng nhằm đưa ra định hướng và hướng dẫn cho cán bộ tín dụng các thủ tục cần thiết, các bước công việc cần làm để thực hiện hoạt động tín dụng trong giới hạn trách nhiệm của họ Chính sách tín dụng được coi như là một kim chỉ nang của một ngân hàng, bao gồm tất cả nội dung liên
Trang 35quan đến hoạt động cấp tín dụng như: chính sách quy mô và hạn mức tín dụng; chính sách khách hàng; lãi suất và phí suất tín dụng; thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ; các khoản đảm bảo; chính sách xử lý nợ có vấn đề…
Ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho các cá nhân, tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau, gồm: cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh
Cụ thể như sau:
Cho vay: Đây là hình thức phổ biến nhất của cấp tín dụng và chiếm đa phần trong
hoạt động tín dụng của ngân hàng Theo đó, Ngân hàng thương mại trực tiếp cấp nguồn vốn cho cá nhân, tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống Nguyên tắc cho vay là các đối tượng vay phải hoàn trả đủ gốc và lãi khi đến hạn Hoạt động cho vay thường đi kèm với các rủi ro nên thông thường sẽ yêu cầu các biện pháp đảm bảo tài sản từ bên vay
Chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá Ngân hàng thương mại cấp tín dụng theo
hình thức chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác Do giấy tờ có giá là tài sản có giá trị và có tính thanh khoản cao nhưng cần phải được giữ (hold) trong một thời hạn cố định để hưởng lãi nên ngân hàng sẽ căn cứ trên giá trị của giấy tờ
có giá và mức độ rủi ro có thể phát sinh để cung cấp tạm thời nguồn vốn (số tiền được cấp sẽ theo một tỷ lệ % nhất định so với giá trị của giấy tờ có giá) cho cá nhân, tổ chức khi họ có nhu cầu về vốn mà chưa đến hạn thanh toán Khi tham gia dịch vụ, cá nhân,
tổ chức sở hữu thương phiếu và giấy tờ có giá phải chuyển nhượng ngay mọi quyền lợi
và lợi ích hợp pháp từ các giấy tờ có giá cho ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng: Ngân hàng thương mại căn cứ trên nhu cầu của khách hàng
để sử dụng uy tín và khả năng tài chính của mình bảo lãnh cho các khoản vay vốn, thanh toán cho khách hàng để thực hiện các hợp đồng, dự án với các đối tác khác
NHTM sẽ thu phí trên cơ sở cung cấp dịch vụ này
Cho thuê tài chính: Là loại hình tín dụng trung dài hạn, theo đó bên có nhu cầu
mua tài sản là máy móc thiết bị sẽ yêu cầu NHTM (thường thông qua các Công ty cho
Trang 36thuê tài chính của mình) dùng vốn để mua sau đó sẽ cho bên thuê thuê lại trong một khoản thời gian nhất định Bên thuê sẽ trả tiền thuê tài sản theo những định và khi hết thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê theo điều kiện hai bên thỏa thuận
1.2.5 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.5.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hiện nay có rất nhiều tiêu thức để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó bao gồm: vốn, lao động, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng…Tuy nhiên, mỗi một quốc gia, thể chế và nền kinh tế tùy thuộc theo cơ cấu trong nền kinh tế để phân loại các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau Hai tiêu chí thường sử dụng nhiều nhất ở phần lớn các nước là quy mô vốn và lao động Thông thường các nước có trình độ phát triển càng cao thì quy định về chỉ tiêu quy mô vốn cũng như lao động sẽ cao hơn so với các nước có trình độ phát triển thấp hơn Đối với các quốc gia phát triển (Mỹ, Pháp, Nhật), những doanh nghiệp có số lao động từ 500 trở xuống thì được coi là có quy mô vừa và nhỏ, trong số đó những doanh nghiệp có số lao động 200 trở xuống được coi là doanh nghiệp nhỏ Trong khi đó, nếu căn cứ theo tiêu chí xếp loại của nhóm NH Thế giới, doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ (micro) là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp có quy mô nhỏ là những doanh nghiệp có số lao động từ
10 đến 15 người, còn doanh nghiệp có quy mô vừa có từ 50 đến 300 lao động
Tại Việt Nam, việc phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được quy định trong các quy định pháp lý Cụ thể, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 đã
đinh nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ được hiểu như sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ
là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành
ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể doanh nghiệp vừa và
nhỏ được phân loại theo Bảng dưới đây:
Trang 37Bảng 1 1 Bảng chỉ tiêu xếp loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
Lĩnh vực
hoạt động
DN siêu nhỏ
Tối đa 20 tỷ đồng
Từ trên 10 người đến
Tối đa 20 tỷ đồng
Từ trên 10 người đến
Tối đa 20 tỷ đồng
Từ trên 10 người đến
100 người
(Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009)
Cách hiểu trên là chính thống và thường được sử dụng nhất hiện nay Tuy nhiên, một số văn bản pháp lý khác tại Việt Nam có một số cách hiểu tổng quan hơn như trong Thông tư 16/2013/TT-BTC quy định về tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ để gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng, căn cứ vào tiêu chí Doanh thu và số lượng lao động Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ là doanh nghiệp sử dụng dưới 300 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng
1.2.5.2 Đặc điểm tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một nhóm doanh nghiệp đặc thù và chiếm tỉ lệ lớn trong nền kinh tế, tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều đặc điểm riêng, cụ thể như sau:
Trang 38Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có tỉ lệ vay thấp do nhu cầu về vốn của họ chưa cao và chủ yếu phục vụ cho mục đích cho vay vốn lưu động vì vốn lưu động là bộ phận rất quan trọng trong quá trình sản xuất và lưu thông liên tục của doanh nghiệp SME Các khoản vay thường dựa trên các hợp đồng tiêu thụ có sẵn hoặc các hợp đồng đã ký Các khoản vay thường lặp lại nhiều lần trong thời gian ngắn nên mặc dù khoản vay giá trị thấp nhưng xét doanh số cho vay thì khá cao, mang lại lợi nhuận cao cho khách hàng nên các ngân hàng hiện nay cũng coi doanh nghiệp SME là đối tượng tiềm năng để phát triển
Các doanh nghiệp SME thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay hơn so với đối tượng khác do năng lực quản lý của các doanh nghiệp SME còn gặp nhiều bất cập, thiếu kinh nghiệm, kiến thức, trình độ và năng lực quản trị kinh doanh trong môi trường cạnh tranh gay gắt, đồng thời cũng chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ tư vấn tài chính chuyên nghiệp Trong khi đó, với bề dày quản trị rủi ro, ngân hàng thường từ chối cấp tín dụng cho những đối tượng này Các doanh nghiệp SME không (hoặc ít) có tài sản đảm bảo hợp pháp hoặc chưa có đủ uy tín để vay tín chấp (do thông tin chưa minh bạch, hoặc chưa có thu nhập đáng kể từ lúc thành lập…) hoặc không có khả năng xây dựng phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án khả thi để cho xin vay vốn Điều này gây ra nhiều khó khăn cho các tổ chức tín dụng trong việc sử dụng các chỉ tiêu tài chính để chấm điểm, xếp hạng tín dụng
1.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh hoạt động tín dụng khách hàng vừa và nhỏ của một số ngân hàng thương mại
1.3.1 Kinh nghiệm của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Trong bối cảnh Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, các ngân hàng thương mại trong nước phải không ngừng xây dựng chiến lược kinh doanh, đứng vững và phát triển trên thị trường tín dụng khách hàng doanh nghiệp SME Trong số các NHTM Việt Nam, Vietinbank được đánh giá là một trong những ngân hàng đi đầu về tín dụng khách hàng doanh nghiệp SME với nhiều chiến lược cạnh
Trang 39tranh hiệu quả, giúp ngân hàng luôn đứng đầu về thị phần tín dụng mảng này trên thị trường
Để làm được điều đó, VietinBank luôn chủ động, tích cực tìm kiếm và dành nguồn vốn ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Dòng vốn giá rẻ này giúp cộng đồng doanh nghiệp tận dụng lợi thế để tập trung phát triển sản xuất kinh doanh Cụ thể, VietinBank trong giai đoạn 2015-2017 đã duy trì lãi suất cho vay ngắn hạn dưới 6,5%/năm đối với
5 lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ, bao gồm: (i) Nông nghiệp; (ii) Sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu; (iii) Sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ; (iv) Doanh nghiệp trong ngành công nghiệp hỗ trợ; (v) Doanh nghiệp khởi nghiệp ứng dụng các công nghệ, sáng kiến mới vào nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh
Bên cạnh đó, VietinBank hiện ban hành nhiều chương trình tín dụng thúc đẩy tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ như: Chương trình tín dụng Đồng hành cùng KHDN vừa và nhỏ ; Gói tín dụng “Cho vay linh hoạt - lãi suất cố định”; Gói vay 10.000 tỷ đồng hỗ trợ DN công nghiệp hỗ trợ tại TP Hồ Chí Minh; Chương trình ưu đãi lãi suất cho vay dành cho DN khởi nghiệp quy mô 3.000 tỷ đồng; Cho vay phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch
Ngoài ra, VietinBank cũng hỗ trợ khách hàng SME phí dịch vụ bằng chính sách tối
ưu Theo đó, VietinBank ban hành Gói sản phẩm Combo 6 in 1 với đa dạng ưu đãi về dịch vụ tài khoản, tiền gửi, tiền vay, quản lý dòng tiền, tài trợ thương mại và các sản phẩm, dịch vụ khác Đồng thời, VietinBank cũng sửa đổi biểu phí dịch vụ, áp dụng phí dịch vụ linh hoạt theo rủi ro của giao dịch
Nhằm tạo cơ chế chính thống, xuyên suốt chăm sóc doanh nghiệp vừa và nhỏ có mối quan hệ thân thiết, VietinBank đã ra mắt VietinBank SME Club với thông điệp
“Hội tụ cùng phát triển” Thành viên trong Hiệp hội sẽ được Vietinbank hỗ trợ về tài chính với lãi suất ưu đãi Với kinh nghiệm lâu năm và là đối tác tin cậy của hơn 45 nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam cùng mạng lưới gần 1.000 ngân hàng đại lý; SME Club mở ra cơ hội hợp tác, kinh doanh giữa các DN thông qua các cuộc hội
Trang 40thảo, tọa đàm, kết nối kinh doanh (Business matching) dành riêng cho các thành viên ngay khi tham gia
1.3.2 Kinh nghiệm của ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trong thời gian vừa qua, BIDV đã đẩy mạnh phát triển mảng khách hàng doanh nghiệp SME và thu được nhiều thành tựu: đến cuối năm 2017, số lượng khách hàng doanh nghiệp SME đạt 236.000 khách hàng, tăng 14% so với năm 2016, (chiếm xấp xỉ 39% lượng khách hàng doanh nghiệp SME ở Việt Nam); quy mô tính dụng SME đạt 220.000 tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2016 và chiếm khoảng 17% quy mô tổng dư nợ của toàn nền kinh tế
Nổi bật với cam kết “Đồng hành cùng SME ” trong các năm qua, BIDV đã hiện thực hóa cam kết thông qua nhiều sản phẩm, chương trình ưu đãi và các giải pháp hỗ trợ tích cực cho cộng đồng SME Việt Nam Trong đó, BIDV đã xây dựng quy trình cấp tín dụng riêng cho khách hàng doanh nghiệp SME với thủ tục đơn giản nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro, phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử, tăng cường huy động các nguồn vốn giá rẻ nhằm hỗ trợ khách hàng…
Ngoài ra, BIDV còn ký kết hợp đồng tín dụng trị giá 300 triệu USD với Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam, trong
đó một khoản vay 200 triệu USD do ADB cung cấp, và khoản vay 100 triệu USD do ADB thu xếp hợp vốn từ 12 ngân hàng thương mại với kỳ hạn 3 năm và 5 năm Quan
hệ đối tác của ADB với BIDV sẽ giúp thúc đẩy hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn Với khoản cho vay này, ADB trở thành định chế tài chính đầu tiên cấp vốn vay dài hạn cho BIDV ADB sẽ phối hợp với BIDV để tối ưu hóa những tác động tích cực về mặt xã hội và môi trường của khoản hỗ trợ, thông qua triển khai hệ thống quản lý môi trường và xã hội
Ngày 12/07/2018, tại Singapore, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã được vinh danh với 2 giải thưởng: “Best SME Bank Vietnam 2018” (Ngân