1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) kiểm định mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở việt nam

87 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm đảm bảo thông tin về lợi nhuận trong kỳ đáng tin cậy và có thể sử dụng được, vai trò của kiểm toán viên ở đây là phải phát hiện và điều chỉnh tối thiểu hóa các khoản điều chỉnh mà n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN MINH NHỰT

KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA Ý KIẾN KIỂM TOÁN VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở

VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN

MÃ SỐ: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS MAI THỊ HOÀNG MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Kiểm định mối quan hệ giữa ý kiến

kiểm toán và quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết

ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của bản thân Nội dung,

kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và dựa theo số liệu thu thập được Các tài liệu, đoạn trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tác giả

TP HCM, tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Nhựt

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.1.1 Lý do thực tiễn 1

1.1.2 Lý do lý luận 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 4

1.6 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY 6

2.1 Cơ sở lý thuyết 6

2.1.1 Cơ sở lý thuyết về kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán 6

2.1.1.1 Khái niệm và vai trò của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính 6

2.1.1.2 Các loại ý kiến của Báo cáo kiểm toán 7

2.1.2 Cơ sở lý thuyết về quản trị lợi nhuận của công ty 12

2.1.2.1 Định nghĩa quản trị lợi nhuận và hành vi quản trị lợi nhuận 12

2.1.2.3 Cách thức tiến hành quản trị lợi nhuận 22

2.1.2.4 Định lượng hành vi quản trị lợi nhuận 26

2.2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan trước đây 36

2.2.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa việc phát hành ý kiến kiểm toán và việc quản trị lợi nhuận 36

2.2.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa việc phát hành ý kiến kiểm toán bởi công ty kiểm toán danh tiếng và việc quản trị lợi nhuận 37

Trang 4

2.3 Giả thiết nghiên cứu 39

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

3.1 Mô hình nghiên cứu 40

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 45

3.2.1 Lựa chọn mẫu 45

3.2.2 Thu thập dữ liệu 46

3.3 Phương pháp nghiên cứu 46

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

4.1 Thống kê mô tả 48

4.1.1 Thống kê mô tả mẫu 48

4.1.2 Thống kê mô tả các biến 51

4.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 53

4.3 Phân tích hồi quy 56

4.3.1 Phân tích sự phù hợp của mô hình 56

4.3.2 Kiểm định giả thiết H1 57

4.3.2 Kiểm định giả thiết H2 58

4.3.3 Phân tích mối quan hệ của các biến kiểm soát 59

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN, HẠN CHẾ VÀ ĐỀ XUẤT 61

5.1 Kết luận 61

5.2 Hạn chế của bài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 62

5.2.1 Hạn chế của bài nghiên cứu 62

5.2.1 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH SÁCH CÔNG TY TRONG MẪU NGHIÊN CỨU

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCTC Báo cáo tài chính

VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam

VSA Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam OLS Ordinary least squares Phương pháp bình phương bé nhất HNX Hanoi Stock Exchange Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội HOSE Hochiminh City Stock

Exchange

Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Bảng tóm tắt các biến 43

Bảng 4.1: Số lượng ý kiến kiểm toán trong giai đoạn nghiên cứu 48

Bảng 4.2: Tổng hợp báo cáo kiểm toán bởi nhóm công ty kiểm toán 48

Bảng 4.3: Tổng hợp loại kiểm toán bởi các công ty kiểm toán không nằm trong nhóm Big 4 48

Bảng 4.4: Tổng hợp loại kiểm toán bởi các công ty kiểm toán không nằm trong nhóm Big 4 49

Bảng 4.5: Bảng phân tích phương sai ý kiến kiểm toán giữa 2 sàn HOSE và HNX 50

Bảng 4.6: Bảng thống kê mô tả các biến của toàn mẫu 51

Bảng 4.7: Bảng thống kê mô tả các biến dạng ý kiến không điều chỉnh 51

Bảng 4.8: Bảng thống kê mô tả các biến dạng ý kiến điều chỉnh 52

Bảng 4.9: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 55

Bảng 4.10: Kết quả hồi quy mô hình phân tích 56

Bảng 4.11: Bảng kỳ vọng dấu và kết quả hồi quy 57

Trang 7

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1.1 Lý do thực tiễn

Thực tế, gian lận hay nói khác hơn việc quản trị lợi nhuận trong công bố thông tin trên BCTC là một trong những chủ đề thời sự hiện nay, đặc biệt sau sự kiện hàng loạt các công ty hàng đầu trên thế giới bị phá sản vào đầu thế kỷ 21 Các công ty bị phá sản

đã cho là có gian lận về BCTC có thể kể ra rất nhiều như sự đổ vỡ của Tập đoàn năng lượng Enron, vụ bê bối về tài chính của Tập đoàn viễn thông Worldcom dẫn tới Công

ty đi đến bờ vực phá sản,… Nhà quản lý cao cấp gồm cả giám đốc điều hành (CEO) và giám đốc tài chính (CFO) của những công ty này đều bị cho rằng đã tham gia vào việc chế biến số liệu đưa đến BCTC gian lận Tại Việt Nam, việc BCTC có sai phạm trọng yếu nhưng kiểm toán không phát hiện được hoặc như có sự chênh lệch lợi nhuận lên hàng trăm tỷ đồng giữa BCTC trước và sau kiểm toán Chẳng hạn như Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín số liệu sau kiểm toán lỗ tăng thêm gần 179 tỷ đồng hay Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Việt Nam có lợi nhuận sau kiểm toán giảm 107 tỷ đồng Không chỉ số liệu sau kiểm toán so với trước kiểm toán

lỗ tăng thêm hoặc lời giảm xuống mà nhiều trường hợp lại là số lời tăng thêm như Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa số liệu trước kiểm toán lỗ 176,66 tỷ đồng nhưng

số liệu sau kiểm toán lời 62,71 tỷ đồng, tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam số liệu sau kiểm toán lời được điều chỉnh tăng thêm 168,53 tỷ đồng Một trường hợp khác mà Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã đình chỉ đợt chào bán

cổ phiếu ra công chúng là của công ty cổ phần Dược Phẩm Viễn Đông Công ty này

đã đưa vào bản cáo bạch chào bán cổ phiếu một số thông tin sai lệch và bỏ sót các thông tin quan trọng, gây hiểu nhầm và ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư Các sai phạm ở một số công ty niêm yết khác như là công khai tình hình tài chính nhưng không có báo cáo kiểm toán đính kèm theo, một số BCTC đã được kiểm toán thì báo cáo kiểm toán cũng chưa đảm bảo chất lượng điển hình như vụ kết quả kiểm

Trang 8

toán chưa chính xác của các công ty kiểm toán độc lập đối với công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết

1.1.2 Lý do lý luận

Trong xu thế phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng, nhu cầu về các thông tin về tình hình tài chính của các công ty niêm yết là một nhu cầu vô cùng thiết yếu đối với người sử dụng BCTC Tuy nhiên,

do sự mâu thuẫn lợi ích giữa các bên mà chủ yếu là mâu thuẫn lợi ích giữa nhà đầu

tư và công ty muốn thu hút đầu tư mà phần nào đó BCTC được công bố đã bị bóp méo theo ý muốn của người lập và trình bày Lý thuyết thông tin bất cân xứng chỉ ra rằng nhà quản lý thường có xu hướng cung cấp thông tin có lợi cho họ và các đối tượng khác không có điều kiện tiếp cận thông tin gốc nên khả năng sẽ đưa ra quyết định sai Thông qua hình thức này hay hình thức khác nhằm mục đích quản trị lợi nhuân, nhà quản lý sẽ cung cấp thông tin không đúng cho người sử dụng BCTC

Ngành kiểm toán ra đời nhằm giảm thông tin bất cân xứng đặc biệt là thông tin công bố về lợi nhuận, một trong những chỉ tiêu quan trọng thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư Nhằm đảm bảo thông tin về lợi nhuận trong kỳ đáng tin cậy và

có thể sử dụng được, vai trò của kiểm toán viên ở đây là phải phát hiện và điều chỉnh tối thiểu hóa các khoản điều chỉnh mà nhà quản lý có xu hướng thực hiện để đạt được mức lợi nhuận mong muốn trong quá trình kiểm toán của mình Người sử dụng luôn

kỳ vọng báo cáo kiểm toán là một sự đảm bảo tuyệt đối về tình hình tài chính của doanh nghiệp Họ cho rằng BCTC đã được kiểm toán phải chính xác Nhưng kiểm toán là công việc có những hạn chế tiềm tàng như thông tin kế toán không thể chính xác do những ước tính kế toán; hay nếu doanh nghiệp cố tình gian lận, giấu thông tin, làm giả chứng từ thì kiểm toán viên sẽ khó phát hiện ra hoặc công việc và thời gian kiểm toán còn phụ thuộc vào mức phí Với những hạn chế vốn có như vậy, dịch vụ kiểm toán chỉ cung cấp một mức đảm bảo hợp lý

Xuất phát từ thực tế và lý luận đó, người sử dụng BCTC luôn đặt ra một câu hỏi rằng liệu có mối quan hệ nào tồn tại giữa ý kiến kiểm toán và quản trị lợi nhuận

Trang 9

tại các công ty công bố BCTC Ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu

định lượng về vấn đề này nên tác giả quyết định chọn đề tài “Kiểm định mối quan

hệ giữa ý kiến kiểm toán và quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam” để nghiên cứu trong luận văn này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu là cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi quản trị lợi nhuận ở các

công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Theo chuẩn mực kiểm toán,

các loại ý kiến kiểm toán được đưa ra tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể Những truờng hợp này có tính chất và mức độ nghiêm trọng khác nhau tùy thuộc vào mức

độ sai sót trên BCTC ảnh hưởng như thế nào đến quyết định của người sử dụng BCTC

và phạm vi công việc có thể thực hiện được trong một của kiểm toán của kiểm toán viên Tuy nhiên, khi kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần có nghĩa là BCTC đã có hành vi quản trị lợi nhuận ở mức độ cao từ phía nhà quản lý Do đó, bài nghiên cứu này kỳ vọng rằng các BCTC có hành

vi quản trị lợi nhuận sẽ có khả năng cao nhận được các ý kiến kiểm toán không phải

là ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần Ngoài ra, liệu rằng việc quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết có công ty kiểm toán trong nhóm Big4 có dẫn đến khả năng

sẽ nhận ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần cao hơn các công

ty niêm yết có công ty kiểm toán không phải trong nhóm Big4 hay không?

Từ đó, đề tài đưa ra các mục tiêu nghiên cứu như sau:

- Thứ nhất, nghiên cứu các bài viết, công trình về việc quản trị lợi nhuận trong

các công ty niêm yết, từ đó đưa ra các giả thiết nghiên cứu

- Thứ hai, khảo sát và phân tích mối quan hệ giữa các loại ý kiến kiểm toán và

việc quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 10

- Thứ ba, nghiên cứu khả năng nhận ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp

nhận toàn phần đối với việc lựa chọn công ty kiểm toán trong nhóm Big4 khi công ty niêm yết có hành vi quản trị lợi nhuận

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa các loại ý kiến kiểm toán và hành

vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu là BCTC của các công ty phi tài chính được niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) từ năm 2011 trở về trước và còn giao dịch đến hết năm 2015

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đã nêu, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng theo quy trình: sau khi thu thập đầy đủ dữ liệu của các công

ty niêm yết trên sàn chứng khoán từ 2011 đến 2015, thông qua việc sử dụng công cụ Eview với mô hình hồi quy OLS, tác giả trình bày và đánh giá kết quả hồi quy thu được về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu

Luận văn của tác giả là một công trình nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu của luận văn đã đóng góp khoa học một số điểm cơ bản như sau:

Trang 11

nghiên cứu, tác giả đưa ra bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa các ý kiến kiểm toán và quản trị lợi nhuận của các công ty Từ đó giúp người đọc BCTC có một

số nhận định ban đầu khi tiếp cận báo cáo kiểm toán

1.6 Kết cấu của luận văn

Luận văn được thực hiện bao phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng, kết luận và được kết cấu bởi 5 chương chính:

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

Trình bày các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho việc hình thành cơ sở lý thiết của mô hình nghiên cứu

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trình bày cơ sở lý thuyết về báo cáo kiểm toán và các loại ý kiến kiểm toán,

cơ sở lý thuyết về hành vi quản trị lợi nhuận Đưa ra giả thiết cho bài nghiên cứu

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu gồm: mô hình nghiên cứu và các biến của mô hình, điều kiện và quy trình chọn mẫu, cách thu thập nguồn dữ liệu đầu vào, cách xác định giá trị các biến và các phương pháp định lượng được sử dụng

để phục vụ việc nghiên cứu

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trình bày kết quả kỳ vọng lý thuyết về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi quản trị lợi nhuận của công ty niêm yết, sau đó tiến hành so sánh và thảo luận

về kết quả k vọng lý thuyết với kết quả đạt được từ mô hình

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, HẠN CHẾ VÀ KIẾN NGHỊ

Trình bày tóm tắt các kết quả mà nghiên cứu đạt được cùng với các hạn chế

của nghiên cứu và đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 12

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TRƯỚC ĐÂY

và độc lập.” (Arens & cộng sự, 2013) Do đó tất cả các cuộc kiểm toán đều phải kết thúc bằng một báo cáo để xác nhận những thông tin được kiểm toán là có phù hợp với những chuẩn mực đã được thiết lập hay không

Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa

ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của BCTC của đơn

vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán (Luật Kiểm toán độc lập

số 67/2011/QH12)

Theo ISA 200, mục đích của kiểm toán BCTC là làm tăng độ tin cậy của người

sử dụng đối với BCTC, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không Đối với hầu hết các khuôn khổ về lập và trình bày BCTC cho mục đích chung, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến về việc liệu

BCTC có được lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu,

phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không

Như vậy, sau khi kết thúc việc kiểm toán, kiểm toán viên cần trình bày ý kiến kiểm toán một cách rõ ràng bằng văn bản, trong đó nêu rõ cơ sở của ý kiến đó Văn bản đó chính là báo cáo kiểm toán Theo VSA 700 trước đây, báo cáo kiểm toán về

BCTC là loại báo cáo bằng văn bản do kiểm toán viên và công ty kiểm toán lập và

Trang 13

công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về BCTC của một đơn vị đã được kiểm toán

Salehi và Abedini (2008) cho rằng báo cáo kiểm toán là một phương tiện truyền thông giữa kiểm toán viên và người sử dụng BCTC, nó cho thấy phần quan trọng nhất của hoạt động kiểm toán và thể hiện kết quả của việc đánh giá BCTC đến người sử dụng Đối với kiểm toán viên, báo cáo kiểm toán là tài liệu trình bày các kết luận sau cùng về BCTC được kiểm toán, nên nó phải đúc kết được toàn bộ công việc

mà họ đã tiến hành Đối với công chúng, báo cáo kiểm toán là sản phẩm cuối cùng quan sát được từ một quá trình không thể quan sát nên nó chứa thông tin cốt yếu cho những người sử dụng BCTC để đưa ra những quyết định kinh tế (Butler và cộng sự, 2004)

2.1.1.2 Các loại ý kiến của Báo cáo kiểm toán

Nhằm mục tiêu hướng đến hòa hợp và hội tụ với quốc tế trong lĩnh vực kế toán

và kiểm toán, Bộ Tài chính ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của tác giả là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán từ 2011 – 2015 nên báo cáo kiểm toán được thu thập cho bài nghiên cứu chịu sự chi phối của chuẩn mực kiểm toán trước đây và chuẩn mực kiểm toán sau này Phần này trình bày các loại ý kiến của báo cáo kiểm toán theo hai hệ thống chuẩn mực kiểm toán:

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam trước đây (Ban hành và công bố theo Quyết định

120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 09 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014)

Theo đoạn 34 VSA 700 trước đây, căn cứ kết quả kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra một trong các loại ý kiến về BCTC, như sau:

- Ý kiến chấp nhận toàn phần;

- Ý kiến chấp nhận từng phần;

Trang 14

- Ý kiến từ chối (hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến);

- Ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược);

Đối với những BCTC đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, và phù hợp với chuẩn mực và chế

độ kế toán Việt Nam hiện hành, kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần Kiểm toán viên không thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần trong trường hợp xảy ra một trong các tình huống có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, như:

- Phạm vi công việc kiểm toán bị giới hạn;

- Bất đồng ý kiến với ban giám đốc;

- Tình huống chưa rõ ràng

a) Trong trường hợp kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ và thích hợp các bằng chứng kiểm toán và không thực hiện được thủ tục thay thế phù hợp, nếu ảnh hưởng của việc giới hạn phạm vi kiểm toán nêu trên được xem là trọng yếu nhưng:

+ chưa ảnh hưởng đến tổng thể BCTC thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp

nhận từng phần dạng ngoại trừ (do giới hạn phạm vi kiểm toán);

+ ảnh hưởng đến tổng thể BCTC thì kiểm toán viên xem xét để đưa ra ý kiến từ

chối (ý kiến không thể đưa ra ý kiến)

b) Trong trường hợp kiểm toán viên và ban giám đốc bất đồng ý kiến về việc lựa chọn, áp dụng chuẩn mực và chế độ kế toán hoặc về sự không phù hợp của các thông tin ghi trong BCTC hoặc phần thuyết minh BCTC dẫn đến sai lệch trọng yếu nhưng:

+ chưa ảnh hưởng đến tổng thể BCTC thì kiểm toán việc đưa ra ý kiến chấp

nhận từng phần dạng ngoại trừ (do không thống nhất với ban giám đốc)

+ ảnh hưởng đến tổng thể BCTC thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến không chấp

nhận

Trang 15

c) Đối với trường hợp tồn tại sự kiện không chắc chắn xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị được kiểm toán và kiểm toán viên, nếu sự

kiện đó được xem là có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC thì kiểm toán viên đưa ra ý

kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào

Bên cạnh việc đưa ra ý kiến về BCTC, kiểm toán viên cũng có thể trình bày đoạn nhấn mạnh về một số yếu tố ảnh hưởng không trọng yếu đến BCTC nhưng không làm thay đổi ý kiến của kiểm toán viên Các vấn đề thường được kiểm toán viên lưu ý là khi thông tin đính kèm với BCTC không nhất quán với BCTC, hoặc khi khách hàng còn tồn tại yếu tố không chắc chắn trọng yếu liên quan đến các sự kiện hoặc điều kiện gây ra nghi ngờ về giả định hoạt động liên tục và thông tin này đã được công bố đầy đủ trong phần thuyết minh BCTC…

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành (Ban hành kèm theo Thông tư số

214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014)

Chuẩn mực kiểm toán hiện hành gồm 37 chuẩn mực, trong đó có ba chuẩn mực quy định về báo cáo kiểm toán và ý kiến kiểm toán:

- VSA 700: Hình thành ý kiến kiểm toán và báo cáo kiểm toán về BCTC

- VSA 705: Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần

- VSA 706: Đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáo kiểm toán về BCTC

VAS 700 hiện hành quy định ý kiến kiểm toán gồm hai dạng:

Ý kiến chấp nhận toàn phần khi kiểm toán viên kết luận rằng BCTC được lập,

trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC đựợc

áp dụng

Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần trong báo cáo kiểm toán được

đưa ra trong các trường hợp:

Trang 16

- Phạm vi công việc kiểm toán bị giới hạn;

- Kiểm toán viên kết luận rằng BCTC, xét trên phương diện tổng thể, vẫn còn sai sót trọng yếu

a) Trong trường hợp kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng kiểm toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng:

+ không lan tỏa đối với BCTC thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán ngoại

trừ

+ lan tỏa đối với bảo cáo tài chính thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến từ chối

Trong một số rất ít trường hợp liên quan đến nhiều yếu tố không chắc chắn, kiểm toán viên phải từ chối đưa ra ý kiến khi mặc dù đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp liên quan đến từng yếu tố không chắc chắn riêng biệt nhưng kiểm toán viên vẫn kết luận rằng không thể đưa ra ý kiến kiểm toán về BCTC do những ảnh hưởng tương tác có thể có của những yếu tố không chắc chắn và những ảnh hưởng lũy kế của những yếu tố này đến BCTC

b) Trong trường hợp kiểm toán viên kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu nhưng:

+ không lan tỏa đối với BCTC thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán ngoại

trừ

+ lan tỏa đối với BCTC thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán trái ngược

Nếu kiểm toán viên thấy cần phải thu hút sự chú ý của người sử dụng đối với một vấn đề đã được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC, mà theo xét đoán của kiểm toán viên, vấn đề đó là đặc biệt quan trọng để người sử dụng hiểu được BCTC thì kiểm toán viên phải trình bày thêm đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” trong báo cáo kiểm toán, để thể hiện là kiểm toán viên đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp cho thấy vấn đề đó không bị sai sót trọng yếu trong BCTC Đoạn “Vấn đề

Trang 17

cần nhấn mạnh” chỉ được đề cập đến các thông tin đã được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC để không làm giảm tính hữu hiệu của nó như:

- Sự không chắc chắn liên quan tới kết quả trong tương lai của các vụ kiện tụng hoặc các quyết định của cơ quan quản lý;

- Việc áp dụng một chuẩn mực kế toán mới trước ngày có hiệu lực (nếu được phép) mà việc áp dụng đó có ảnh hưởng lan tỏa đối với BCTC;

- Một biến cố lớn đã ảnh hưởng hoặc tiếp tục có ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính của đơn vị

Nếu kiểm toán viên thấy cần phải trao đổi về một vấn đề khác ngoài các vấn

đề đã được trình bày hoặc thuyết minh trong BCTC, mà theo xét đoán của kiểm toán viên, vấn đề khác đó là thích hợp để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc kiểm toán,

về trách nhiệm của kiểm toán viên hoặc về báo cáo kiểm toán, đồng thời pháp luật và các quy định cũng không cấm việc này thì kiểm toán viên phải trình bày về vấn đề

đó trong báo cáo kiểm toán, với tiêu đề “Vấn đề khác” hoặc “Các vấn đề khác”

So sánh hai hệ thống chuẩn mực này về phương diện ý kiến kiểm toán, ta thấy

có hai thay đổi cơ bản:

- Thứ nhất, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành gộp ý kiến ngoại trừ, ý kiến không chấp nhận và ý kiến từ chối đưa ra ý kiến thành dạng ý kiến không phải

là ý kiến chấp nhận toàn phần Như vậy chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành

phân loại ý kiến kiểm toán thành hai loại chính là ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn

phần và ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần

- Thứ hai, khi có yếu tố trọng yếu nhưng không chắc chắn liên quan đến sự kiện có thể xảy ra trong tương lai, nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị và kiểm toán viên thì kiểm toán viên đưa ra ý kiến có đoạn nhấn mạnh thay vì ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào Như vậy, chuẩn mực kiểm toán hiện hành đã loại

bỏ ý kiến chấp nhận từng phần dạng tùy thuộc vào so với chuẩn mực cũ Sở dĩ có sự loại bỏ này là vì các xử lý kế toán cho những yếu tố không chắc chắn đã được quy

Trang 18

định trong VAS 18 – Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng Nếu doanh nghiệp

áp dụng đúng theo chuẩn mực thì kiểm toán viên không cần đưa ra ý kiến ngoại trừ dạng tùy thuộc vào nữa

Tóm lại, để kiểm định mối quan hệ giữa các loại ý kiến kiểm toán với việc quản trị lợi nhuận của công ty, tác giả chia các loại ý kiến kiểm toán được ban hành trong giai đoạn 2011 – 2015 theo VSA 700 trước đây thành hai loại ý kiến kiểm toán

chính giống như VSA 700 hiện hành là ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không

phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (được thay thế bằng thuật ngữ ý kiến kiểm toán điều chỉnh) Như vậy, ý kiến kiểm toán điều chỉnh trong phạm vi bài nghiên cứu sẽ

bao gồm ý kiến chấp nhận từng phần, ý kiến không chấp nhận và ý kiến từ chối Ngoài ra, ý kiến chấp nhận toàn với đoạn nhấn mạnh cũng được xếp vào nhóm ý kiến kiểm toán điều chỉnh để tách biệt với ý kiến chấp nhận toàn phần Mặc dù đây không phải là cách phân loại chính thức theo như quy định của chuẩn mực kiểm toán quốc

tế cũng như Việt Nam nhưng cách phân loại này thường được sử dụng trong nhiều nghiên cứu (Butler và cộng sự, 2004; Lin và cộng sự, 2011; Vichitsarawong và Pornupatham, 2015) Các nghiên cứu phân loại ý kiến chấp nhận toàn phần với đoạn nhấn mạnh như một dạng điều chỉnh với hàm ý là ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần được xem là ý kiến chuẩn hoặc “hoàn hảo” (clean opinion) và bất cứ một sự khác biệt nào so với ý kiến chuẩn, kể cả đoạn nhấn mạnh, cũng được xem như là điều chỉnh

2.1.2 Cơ sở lý thuyết về quản trị lợi nhuận của công ty

2.1.2.1 Định nghĩa quản trị lợi nhuận và hành vi quản trị lợi nhuận

a Quản trị lợi nhuận

Các học giả không có sự đồng thuận trong việc định nghĩa quản trị lợi nhuận,

có ít nhất có ba quan điểm:

(1) Quản trị lợi nhuận là “quá trình thực hiện các bước có chủ ý trong khuôn khổ những nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi để mang đến một mức độ

Trang 19

mong đợi về lợi nhuận được báo cáo” (Davidson, Stickney và Weil (1987), được trích dẫn trong Schipper (1989) trang 92)

(2) Quản trị lợi nhuận là “một sự can thiệp có mục đích trong quá trình cung cấp thông tin tài chính ra bên ngoài nhằm đạt được những lợi ích cá nhân” “Một sự

mở rộng nhỏ cho định nghĩa này là sẽ bao gồm hành vi quản trị lợi nhuận

“thực”, đạt được bằng việc quyết định thời gian đầu tư hay tài trợ vốn để thay đổi lợi nhuận được báo cáo hoặc một số bộ phận của nó” (Schipper 1989, trang

92)

(3) “Hành vi quản trị lợi nhuận xuất hiện khi nhà quản lý sử dụng xét đoán trong việc lập BCTC và trong việc thực hiện các giao dịch để thay đổi BCTC nhằm đánh lừa những bên có quyền lợi về tình hình kinh tế của công ty hoặc ảnh hưởng đến những kết quả của các hợp đồng mà phụ thuộc vào những số liệu

được báo cáo” (Healy và Wahlen 1999, trang 368)

Việc thiếu sự đồng thuận trong định nghĩa về quản trị lợi nhuận đưa đến những cách hiểu khác nhau về bằng chứng thực nghiệm trong những nghiên cứu nhằm phát hiện ra hành vi quản trị lợi nhuận, hoặc cung cấp bằng chứng về động cơ của hành vi quản trị lợi nhuận Cả ba định nghĩa đều cho rằng đó là những hành vi liên quan đến việc lập BCTC – bao gồm sắp xếp các giao dịch để có thể áp dụng cách xử lý kế toán như mong đợi Tuy nhiên, định nghĩa thứ hai cũng cho thấy quản trị lợi nhuận thông qua quyết định về thời gian thực hiện đầu tư và tài trợ vốn Nếu thời gian ghi nhận một khoản chi phí tự định bị trì hoãn hoặc đẩy nhanh trong một thời gian ngắn trong năm tài chính thì đó là cách để quản trị lợi nhuận

Từ đó tác giả rút ra định nghĩa về quản trị lợi nhuận như sau:

Định nghĩa chung: Quản trị lợi nhuận là việc nhà quản lý công ty thực hiện

các tác động trên báo cáo tài chính nhằm tạo ra lợi nhuận như mong muốn của nhà quản lý

Trang 20

b Hành vi quản trị lợi nhuận:

Hành vi "là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại Hành động là toàn thể những hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của cơ thể, có mục đích cụ thể là nhằm đáp ứng lại kích thích ngoại giới" là hành động hoặc phản ứng của đối tượng (khách thể) hoặc sinh vật, thường sử dụng trong sự tác động đến môi trường, xã hội Hành

vi có thể thuộc về ý thức, tiềm thức, công khai hay bí mật, và tự giác hoặc không tự giác Hành vi là một giá trị có thể thay đổi qua thời gian (theo wikipedia.org)

Hành vi quản trị lợi nhuận xét về góc độ kế toán đó là một hiện tượng trong việc lập BCTC

Có hai quan điểm về hành vi quản trị lợi nhuận: quan điểm cơ hội (opportunistic) cho rằng nhà quản lý đánh lừa nhà đầu tư; quan điểm về thông tin, được làm sáng tỏ lần đầu tiên bởi Holthausen và Leftwich (1983), việc tự do đưa ra các quyết định quản lý là phương tiện để các nhà quản lý tiết lộ cho các nhà đầu tư những mong đợi cá nhân về dòng tiền trong tương lai của công ty

Các định nghĩa cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận được thực hiện nhằm mục đích che dấu tình trạng đang xấu đi, nhưng cách dùng từ “đánh lừa” trong định nghĩa của Healy và Wahlen (1999) ngăn cản khả năng là hành vi quản trị lợi nhuận có thể xảy ra nhằm mục đích tăng cường các dấu hiệu trong báo cáo lợi nhuận Ví dụ như khi một nhà quản lý khai thiếu thu nhập bằng cách tăng các khoản dự phòng đối với các khoản nợ xấu, các khoản hàng tồn kho lỗi thời Với thông tin về các khoản lập

dự phòng trên thông thường là một dấu hiện để nhà đầu tư phân biệt một doanh nghiệp yếu và một doanh nghiệp mạnh Tuy nhiên, hành động trên của nhà quản lý nhằm đánh lừa nhà đầu tư bởi vì nhà quản lý có thể đang để dành thu nhập cho những kỳ sau Điều này có thể là do các cam kết về thưởng trong định nghĩa thứ ba Để giải thích, các nghiên cứu trước không thể phân biệt liệu rằng kinh nghiệm của nhà quản

lý về các quyết định là để đánh lừa hay để thông tin, kết luận điển hình trong các nghiên cứu là các khoản khuyến khích đưa đến hành vi quản trị lợi nhuận trên thực

tế (de facto opportunistic earning management) Theo định nghĩa thứ ba, hành vi quản

Trang 21

trị lợi nhuận nghiên nhiều về gian lận Gian lận được định nghĩa là “một hoặc nhiều hành vi cố ý được thiết kế để đánh lừa người khác và gây cho họ những tổn thất về tài chính” (National Association of Certified Fraud Examiners, 1993) Do đó, khác biệt chính giữa định nghĩa thứ ba và gian lận là những bên có lợi ích có thể lường trước hành vi của nhà quản lý và đàm phán những điều khoản trong hợp đồng

Có thể nói rằng, định nghĩa của quản trị lợi nhuận tập trung vào mục đích, ý định của nhà quản trị, đó là khó khăn đáng kể để tiếp cận, quan sát (Dechow & Skinner, 2000; Lo, 2008; Wiedman, 2002) Vì tính phức tạp, trừu tượng, đa dạng và khó nắm bắt đó mà các cuộc thảo luận về việc đo lường quản trị lợi nhuận vẫn đang tiếp tục

Mặc dù có khá nhiều cách ghi nhận quản trị lợi nhuận trước đây, nhưng trong phần lớn các nghiên cứu, cụ thể là các nghiên cứu của Lo (2007), Roychowdhury (2006), Graham et al (2005) và Bruns & Merchant (1990) đã nhóm quản trị lợi nhuận thành hai loại: Quản trị lợi nhuận thực (Real Earning Management) như là một hành động có ảnh hưởng đến dòng tiền và quản trị lợi nhuận dựa trên biến kế toán dồn tích (Accrual Management) thông qua những thay đổi trong chính sách kế toán và ước tính kế toán Đây cũng là hai cách tiếp cận nhận được sự chú ý và công bố rộng rãi

Cụ thể, những tài liệu học thuật nghiên cứu quản trị lợi nhuận thông qua các thao tác lên các biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh như Jones (1991), Dechow et al (1995), Tahir et al (2011), Daniel et al (2008), Dechow et al (2010); thông qua quản trị lợi nhuận thực như Bartov (1993), Gunny (2010), Graham et al (2005), Roychowdhury (2006); hay cả hai như Zhang (2007), Cohen et al (2008), Bartov & Cohen (2009), Cohen & Zarowin (2010)

Ngoài ra, một nghiên cứu khác của Jiraporn et al (2006) lại nhóm quản trị lợi nhuận hành hai nhóm là quản trị lợi nhuận thu lợi (Beneficial Earning Management)

và quản trị lợi nhuận cơ hội (Opportunistic Earning Management) Quản trị lợi nhuận thu lợi được coi là hữu ích nếu nó có thể sử dụng chính sách của mình để truyền đạt thông tin riêng mà nó có về triển vọng của công ty – điều không thể được nhìn thấy

Trang 22

trên lịch sử BCTC của công ty (Arya, Glover & Sunder, 2003; Demski, 1998; Subramanyam, 1996; Watts & Zimmerman, 1986).Trong khi quản trị lợi nhuận được coi là cơ hội nếu nhà quản lý dùng chính sách của họ để phát huy tối đa lợi ích của

họ bằng cách điều khiển các sự kiện liên quan đến doanh thu của công ty (Healy & Palepu, 1993)

Trong quá trình nghiên cứu đã cho tác giả thấy cách tiếp cận trước nhất nhưng cũng là cách tiếp cận phổ biến nhất đối với quản trị lợi nhuận chính là sử dụng biến

kế toán dồn tích (trích trước) Các ý kiến ủng hộ cho rằng các nhà quản lý sẽ sử dụng phương pháp trích trước tùy ý để doanh thu dịch chuyển giữa các kỳ kế toán hoặc trong việc trì hoãn chi tiêu (Jones, 1991; Dechow et al., 1995) Cách tiếp cận này phân loại các khoản trích trước vào hai thành phần: trích trước tùy ý và không tùy ý hay còn gọi là biến kế toán dồn tích điều chỉnh được (Discretionary Accruals) và không điều chỉnh được (Non – Discretionary Accruals) Trích trước không tùy ý là những phần được tạo ra từ các hoạt động bình thường của công ty mà không có sự can thiệp của nhà quản trị Trích trước tùy ý phải chịu tác động của nhà quản lý, nó thể hiện mức độ điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp do nhà quản trị lựa chọn và vận dụng các phương pháp kế toán, sử dụng các ước tính kế toán và các giao dịch nội bộ Như vậy biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh chính là lợi nhuận có được bằng việc vận dụng các phương pháp kế toán – chính vì vậy nó được xem là đại diện cho quản trị lợi nhuận Tuy nhiên, thách thức lớn đối với các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp trích trước để phát hiện quản trị lợi nhuận là khả năng của các mô hình phân loại riêng biệt một cách chính xác các khoản trích trước vào các khoản trích trước tùy ý và không tùy ý

Từ đó, tác giả rút ra định nghĩa về hành vi quản trị lợi nhuận như sau:

Định nghĩa chung: hành vi quản trị lợi nhuận là hiện tượng mà nhà quản trị

sử dụng các phương pháp kế toán nhằm điểu chính biến kế toán dồn tích để đạt được lợi nhuận như mong muốn

Trang 23

Trên đây là những định nghĩa và cách tiếp cận đã được các nhà nghiên cứu trước tiến hành tìm hiểu, tiếp cận, trình bày và đã được công nhận cũng như sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu liên quan đến quản trị lợi nhuận mà tác giả đã tìm hiểu và hệ thống lại Từ đó có thể thấy rằng quản trị lợi nhuận không phải là một khái niệm mới mẻ và xa lạ, mà từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, đồng thời cũng cho thấy đây là một vấn đề phức tạp, khó khăn trong cách tiếp cận và định nghĩa chính xác, cụ thể và vẫn luôn là đề tài gây tranh cãi, thu hút sự bàn luận nhằm đưa ra được định nghĩa chính xác nhất

2.1.2.2 Động cơ của quản trị lợi nhuận

Quản trị lợi nhuận phản ánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty (Scott, 1997) Việc lựa chọn phương pháp kế toán áp dụng để thực hiện quản trị lợi nhuận nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán Do đó, hành động quản trị lợi nhuận là tuân thủ khuôn khổ pháp lý và là sự vận dụng linh hoạt, khéo léo các khoản trống trong chuẩn mực kế toán để sắp xếp lại BCTC theo mục đích chứ không phải là hành động phi pháp Có nhiều lý do dẫn đến hành động quản trị lợi nhuận Dưới đây là một số động cơ đưa đến hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản trị doanh nghiệp

2.1.2.2.1 Hợp đồng nợ

Các hợp đồng nợ là một đề tài quan trọng trong nghiên cứu kế toán tài chính

vì người cho vay thường dùng số liệu kế toán để điều tiết các khoản cho vay, ví dụ như yêu cầu một số mục tiêu hoạt động phải được thỏa mãn hoặc áp đặt giới hạn cho hoạt động đầu tư và tài chính Mối liên hệ giữa số liệu kế toán và các hợp đồng nợ được dùng trong các nghiên cứu nhằm phát hiện (i) tại sao khi các công ty thực hiện bắt buộc hoặc tự nguyện thực hiện các thay đổi kế toán mà không có ảnh hưởng về dòng tiền; (ii) các yếu tố quyết định đến các quyết định về các ước tính kế toán có ảnh hưởng đến thu nhập thuần của nhà quản lý

Trang 24

Nhà quản lý có động cơ gia tăng lợi nhuận nhằm tránh vi phạm các điều khoản trong hợp đồng nợ Vì nếu vi phạm các điều khoản này, các chủ nợ có thể tăng lãi suất hoặc yêu cầu doanh nghiệp trả các khoản nợ ngay lập tức do họ lo sợ rủi ro không thu hồi được khoản nợ

2.1.2.2.2 Cam kết thưởng

Các nghiên cứu kiểm tra giả thuyết về tiền thưởng của Healy (1985), Gaver et

al (1995), Holthausen, Larker and Sloan (1995) cung cấp bằng chứng nhất quán với việc nhà quản lý thay đổi thu nhập trên báo cáo để gia tăng tiền thưởng Trừ nghiên cứu của Healy (1985), những nghiên cứu này cung cấp bằng chứng nhất quán rằng nhà quản lý giảm thu nhập trên báo cáo để gia tăng tiền thưởng trong tương lai Thêm vào đó, Holthausen et al (1995) tìm thấy một ít bằng chứng về việc nhà quản lý tăng thu nhập và đề xuất rằng bằng chứng về thu nhập tăng thêm trong nghiên cứu của Healy (1985) được kết luận bởi thí nghiệm của ông

Cam kết thưởng là một động cơ mạnh khuyến khích nhà quản lý có hành vi quản trị lợi nhuận Hợp đồng cam kết thưởng nhằm cân bằng giữa hành vi của nhà quản lý với lợi ích của cổ đông vì lợi ích của hai nhóm này có thể xung đột Hợp đồng cam kết thưởng cho nhà quản lý có thể khá phức tạp

Tổng mức lương thưởng cho nhà quản lý bao gồm ba thành phần, tiền lương, trợ cấp hưu trí và chăm sóc sức khỏe, và tiền thưởng Ba thành phần này phụ thuộc lẫn nhau, nhưng thành phần thứ ba có liên quan cụ thể đến các chức năng kiểm soát quản lý Trong đó, mối quan hệ giữa tiền thưởng và hành vi điều chỉnh lợi nhuận được thảo luận chính

Phương án tiền thưởng có thể phân loại thành kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn Kế hoạch tiền thưởng ngắn hạn dựa trên kết quả trong năm nay Kế hoạch thưởng dài hạn dựa trên kết quản trong hoạt động dài hạn và có liên quan đến giá của

cổ phiếu phổ thông của công ty Một nhà quản lý có thể kiếm được tiền thưởng theo

Trang 25

cả hai kế hoạch Hiện kim cho các khoản thưởng ngắn hạn và quyền chọn mua cổ phiếu của công ty khi thưởng dài hạn

Có sự khác biệt lớn trong tỷ lệ các khoản tiền thưởng so với lương cơ bản Công ty với tỷ lệ tiền thưởng cao có xu hướng về tình hình tài chính tiếp theo tốt hơn những công ty khác (Gerhart và Milkovich, 1990) Kế hoạch thưởng dựa vào mức thu nhập trần và mức thu nhập sàn Giữa mức trần và sàn, tiền thưởng là một tỷ lệ phần trăm của thu nhập Ở mức trần, tiền thưởng là tối đa và ở dưới mức sàn thì không

có tiền thưởng Trên mức trần và dưới mức sàn, thu nhập được hoãn lại cho đến giai đoạn sau Thời gian ghi nhận của các giao dịch, đặc biệt là các khoản dồn tích cuối năm, có thể được sử dụng để chuyển thu nhập từ một giai đoạn kế toán sang giai đoạn

kế toán tiếp theo Thu nhập có thể được quản lý bằng cách điều chỉnh các khoản dồn tích tự định Theo nghiên cứu của DeAngelo và Skinner (1994) đã có bằng chứng cho thấy các khoản dồn tích có thể bị thao túng bởi các nhà quản lý để che giấu hiệu suất kém hoặc trì hoãn một phần thu nhập bất thường để dành cho những năm tới

Nghiên cứu của Baker và các cộng sự (2003) về mối quan hệ giữa cấu trúc của tiền thưởng cho nhà quản lý, đặc biệt là hình thức thưởng bằng quyền mua cổ phiếu với việc sử dụng các khoản dồn tích tự định trong báo cáo thu nhập Họ cho rằng quyền chọn mua cổ phiếu tạo động cơ để tạm thời làm suy giảm giá cổ phiếu của công ty trước ngày được thưởng bằng quyền chọn, do đó hạ thấp giá thực hiện của quyền chọn Họ đưa ra giả thuyết, và tìm thấy bằng chứng rằng thưởng bằng quyền chọn mua cổ phiếu có quan hệ với việc lựa chọn các khoản dồn tích tự định nhằm làm giảm thu nhập trong giai đoạn hướng đến ngày được thưởng

Theo lý thuyết đại diện, nhà quản lý chỉ là người đại diện cho các cổ đông Các nhà quản lý và các cổ đông có quyền lợi khác nhau cho nên nhà quản lý hành động vì lợi ích của họ thay vì của các cổ đông Nếu có cơ hội nhà quản lý sẽ điều chỉnh thu nhập để tối đa lợi ích của họ Các nhà quản lý sẽ sử dụng các khoản dồn tích tự định, chi phí cho nợ khó đòi, thời điểm ghi nhận giao dịch để quản trị lợi nhuận nhằm gia tăng giá cổ phiếu và thu lãi từ quyền chọn cổ phiếu Trong một số trường

Trang 26

hợp, các nhà quản lý thậm chí còn tạo ra doanh số bán hàng giả và vốn hóa chi phí hoạt động để điều chỉnh thu nhập và để đánh lừa các nhà đầu tư

Trong thực tế ở Việt Nam, các công ty niêm yết thường có chế độ trả lương, thưởng cho ban điều hành bằng một tỷ lệ (%) của lợi nhuận kế toán Do đó, để gia tăng mức lương, thưởng nhà quản trị thường có xu hướng gia tăng lợi nhuận Hoặc cam kết thưởng theo hạn mức (đạt tối thiểu X đồng lợi nhuận thì được thưởng Y đồng), nhà quản trị có xu hướng quản trị lợi nhuận về hạn mức được thưởng Nếu chưa đạt ngưỡng lợi nhuận đặt ra, nhà quản trị có xu hướng gia tăng lợi nhuận để đạt được tiền thưởng Nếu lợi nhuận vượt ngưỡng X, nhà quản trị thường có xu hướng chuyển lợi nhuận sang năm sau, bởi vì dù có vượt cũng chỉ được thưởng Y đồng

2.1.2.2.3 Phát hành cổ phiếu

Ngày càng nhiều các nghiên cứu xem xét động cơ của nhà quản lý để gia tăng thu nhập trên báo cáo trong bối cảnh phát hành cổ phiếu Thông tin bất cân xứng giữa chủ sở hữu – nhà quản lý – nhà đầu tư, đặc biệt là vào thời điểm phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Mô hình của Leland và Pyle (1977) đề xuất rằng lượng vốn được nắm giữ nội bộ báo hiệu sự đánh giá riêng của họ, mô hình của Hughes (1986), Titman và Trueman (1986), Datar và các cộng sự (1991) xem xét vai trò của danh tiếng của kiểm toán viên đối với giá chào bán Trong những mô hình này, thông tin bất cân xứng được giải quyết bằng cách lựa chọn một sự chứng nhận từ bên ngoài hoặc bằng một cam kết bằng hợp đồng rằng sẽ phạt các tổ chức phát hành nếu công

bố thông tin sai sự thật Các nghiên cứu thực nghiệm cho rằng thông tin bất cân xứng tồn tại và sử dụng các mô hình khác nhau để ước tính các quyết định của nhà quản lý

về các khoản dồn tích tại thời điểm phát hành cổ phiếu

Lợi nhuận là một trong những tiêu chí góp phần vào sự lựa chọn danh mục đầu tư của các nhà đầu tư Do đó, nhà quản trị thường có xu hướng tăng lợi nhuận tối

đa có thể (trong khuôn khổ cho phép của chuẩn mực và chế độ kế toán) để làm “đẹp” nhằm thu hút nhà đầu tư và tăng giá trị thị trường của cổ phiếu

Trang 27

2.1.2.2.4 Giao dịch nội gián

Tương tự như huy động vốn, giao dịch nội gián là một động cơ để nhà quản lý làm gia tăng lợi nhuận Beneish (1999) phát biểu rằng “nhà quản lý những doanh nghiệp có lợi nhuận bị khai khống, vi phạm GAAP có nhiều khả năng bán cổ phần

mà họ nắm giữ và mua lại quyền tăng giá cổ phiếu trong giai đoạn lợi nhuận bị khai khống hơn quản lý những doanh nghiệp khác Tôi cũng nhận thấy giá cổ phiếu giảm trung bình 20% khi việc khai khống bị phát hiện và chi phí kiện tụng trung bình là 9% của giá trị thị trường trước khi bị phát hiện Điều này gợi ý rằng những giao dịch

cổ phiếu của nhà quản lý trong giai đoạn lợi nhuận bị khai khống xảy ra ở những mức giá bị thổi phồng do ảnh hưởng của lợi nhuận bị khai khống” (trang 426) Như vậy,

để bán đi số cổ phiếu đang nắm giữ và thu được mức cao, nhà quản lý có thể điều chỉnh tăng lợi nhuận để tác động đến giá cổ phiếu để thu lợi

2.1.2.2.5 Một số động cơ khác

Bên cạnh những động cơ nói trên, nhà quản trị có thể quản trị lợi nhuận nhằm

ổn định lợi nhuận qua các kỳ kế toán để đảm bảo xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn Lợi nhuận biến động lớn giữa các kỳ kế toán đồng nghĩa với việc rủi ro cao khi đầu tư, giá cổ phiếu có nguy cơ rớt giá mạnh hơn so với cổ phiếu của các công ty

có lợi nhuận ổn định Do đó, các doanh nghiệp niêm yết có khuynh hướng san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán nhằm giữ giá cổ phiếu được ổn định và làm tăng giá trị thị trường của cổ phiếu

Nhà quản trị cũng chịu một số áp lực trong việc đáp ứng kỳ vọng của giới phân tích thị trường chứng khoán Nhìn chung, các nhà phân tích trên thị trường chứng khoán thường quan tâm đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua hai chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh

Do đó, nhà quản lý có xu hướng điều chỉnh để đạt được lợi nhuận như kỳ vọng

Việc thay đổi nhân sự cũng là một trong những động cơ thúc đẩy hành vi quản trị lợi nhuận Nhà quản trị mới có xu hướng tìm cách gia tăng lợi nhuận để thể hiện

Trang 28

năng lực làm trong thời điểm mới tiếp nhận bàn giao vì nó ảnh hưởng đến các cam kết về hợp đồng lao động, về lương, thưởng

Bên cạnh đó, các chính sách về ưu đãi thuế (chẳng hạn DN muốn báo cáo lợi nhuận giảm bớt trong năm 2013, dịch chuyển phần lợi nhuận này qua năm 2014 để tiết kiệm thuế thu nhập vì thuế suất thu nhập doanh nghiệp từ năm 2014 giảm 3% so với trước đó), các nghi ngờ về độc quyền cũng có khả năng tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý

2.1.2.3 Cách thức tiến hành quản trị lợi nhuận

Các đánh giá của nhà quản lý được thể hiện cụ thể trong việc lựa chọn các chính sách kế toán và thực hiện các ước tính kế toán trong quá trình thực hiện công tác kế toán, lập và công bố BCTC của doanh nghiệp Họ thường sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong việc thực hiện các ước tính về các sự kiện kinh tế tương lai được phản ánh trong BCTC của doanh nghiệp, chẳng hạn ước tính về thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cố định, tổn thất có thể của các khoản phải thu không thu hồi được, hoặc tổn thất từ việc giảm giá của hàng tồn kho Cùng với việc thực hiện nhiều ước tính, nhà quản lý cũng phải sử dụng đánh giá chủ quan của mình để quyết định việc lựa chọn các chính sách kế toán Cùng xử lý một vấn đề của một đối tượng kế toán, họ có thể nhiều lựa chọn khác nhau, chẳng hạn, việc lựa chọn giữa phương pháp khấu hao bình quân hay khấu hao nhanh, giữa phương pháp nhập trước - xuất trước hay phương pháp nhập sau - xuất trước hay phương pháp bình quân gia quyền trong tính giá xuất kho hàng tồn kho

Một trong những phương pháp mà nhà quản trị thường sử dụng đó là lợi dụng nguyên tắc cơ sở kế toán dồn tích Cơ sở kế toán dồn tích là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp Theo đó, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (Chuẩn mực kế toán số 01, 2002) Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo

Trang 29

lợi nhuận của doanh nghiệp trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của doanh nghiệp Từ đó, BCTC nói chung và báo cáo kết quả kinh doanh nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ các giao dịch kinh tế trong kỳ và từ đó, tình trạng tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp được phản ánh một cách đầy đủ, hợp lý Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau như: nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng…

Tiến sĩ Nguyễn Công Phương (2010) trên một bài viết đăng trên tạp chí kế toán đã tổng hợp một số phương án có thể được nhà quản trị vận dụng để điều chỉnh thông tin lợi nhuận như sau:

(1) Lựa chọn phương pháp kế toán:

Lựa chọn phương pháp kế toán có ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí (và kết quả là ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận lợi nhuận) Lựa chọn một (hoặc một số) phương pháp kế toán cho phép ghi nhận doanh thu sớm hơn và chuyển dịch ghi nhận chi phí về sau sẽ làm tăng lợi nhuận báo cáo trong kỳ và ngược lại Trong chế độ kế toán doanh nghiệp, tồn tại một số phương pháp có thể được vận dụng để ghi nhận doanh thu, chi phí Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể vận dụng phương pháp phần trăm hoàn thành để ghi nhận doanh thu và chi phí trong hoạt động cung cấp dịch vụ và hợp đồng xây dựng Phương pháp này cho phép doanh nghiệp ghi nhận mức doanh thu lớn hơn hoặc nhỏ hơn thực tế theo tỷ lệ ước tính tiến độ thực hiện hợp đồng; Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho (bình quân, nhập trước - xuất trước, nhập sau - xuất trước, đích danh) ảnh hưởng đến ghi nhận giá vốn hàng bán trong kỳ, và từ đó, ảnh hưởng đến lợi nhuận báo cáo trong kỳ; lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định Mỗi một phương pháp khấu hao (đường thẳng, tỷ lệ

sử dụng, số dư giảm dần có điều chỉnh) cho chi phí khấu hao khác nhau Cần lưu ý rằng, phạm vi của lựa chọn này khá hạn chế

Trang 30

(2) Vận dụng các phương pháp kế toán:

Chế độ kế toán cũng cho phép doanh nghiệp được phép vận dụng các phương pháp kế toán thông qua việc lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí Nhà quản trị quyết định chuyển dịch về sau (hoặc ghi nhận sớm hơn) một số loại chi phí sẽ làm giảm (hoặc tăng) chi phí của niên độ hiện hành Các loại chi phí có thể chuyển dịch thời điểm ghi nhận bao gồm: Chi phí bảo hiểm hỏa hoạn, giá trị công cụ, dụng cụ phân bổ nhiều kỳ, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, chi phí quảng cáo, chi phí bảo hành sản phẩm Những loại chi phí này có thể được ghi nhận vào niên độ phát sinh hoặc phân bổ cho một số kỳ (dựa vào nguyên tắc phù hợp)

(3) Lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và các ước tính các khoản chi phí, doanh thu:

Nhà quản trị doanh nghiệp có thể lựa chọn thời điểm và cách thức ghi nhận các sự kiện có liên quan đến chỉ tiêu lợi nhuận trong kỳ Chẳng hạn, thời điểm và mức dự phòng cần lập của hàng tồn kho, chứng khoán và phải thu khó đòi; thời điểm các khoản dự phòng này được hoàn nhập hay xóa sổ và mức hoàn nhập Doanh nghiệp cũng có thể ước tính (trích trước) một số chi phí như chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí bảo hành công trình xây lắp, ước tính tỷ lệ hoàn thành hợp đồng xây lắp và cung cấp dịch vụ để ghi nhận doanh thu và chi phí Ước tính thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định cũng có thể được thực hiện để điều chỉnh chi phí khấu hao (mặc dù phạm vi không lớn)

(4) Lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý tài sản cố định:

Lựa chọn thời điểm mua hay thanh lý, nhượng bán tài sản cố định cũng có ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán Nhà quản trị có thể quyết định khi nào và mức độ các chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa, nâng cấp cải tạo tài sản cố định được chi ra Nhà quản trị cũng có thể quyết định thời điểm thanh lý, nhượng bán tài sản cố định để đẩy nhanh hoặc làm chậm lại việc ghi nhận lợi nhuận hay thua lỗ hoạt động khác Đẩy nhanh hay làm chậm lại việc gửi hàng cho khách hàng vào thời điểm gần cuối niên

độ cũng có ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận báo cáo trong kỳ

Trang 31

(5) Tăng doanh thu thông qua các chính sách giá và tín dụng:

Một biện pháp các doanh nghiệp thường sử dụng để tăng lợi nhuận khi thấy

có nguy cơ không đạt kế hoạch đặt ra là giảm giá bán hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng nhằm tăng lượng hàng bán ra trong những tháng cuối năm tài chính Và tăng giá bán sản phẩm vào đầu năm sau

(6) Cắt giảm chi phí hữu ích:

Cắt giảm chi phí hữu ích như chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí quảng cáo, chi phí duy tu, bảo dưỡng thiết bị cũng là cũng là một cách có thể làm tăng lợi nhuận Tuy nhiên, vì các chi phí này có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của công ty về lâu dài, nên sử dụng giải pháp này cũng đồng nghĩa với việc

hy sinh các khoản lợi nhuận tiềm năng trong tương lai

(7) Bán các khoản đầu tư hiệu quả

Ngoài trì hoãn thanh lý các khoản đầu tư không hiệu quả, công ty có thể bán các khoản đầu tư sinh lời nhằm tăng thêm lợi nhuận cho năm hiện tại Việc áp dụng biện pháp trên có nghĩa là công ty tự nguyện bỏ qua tiềm năng sinh lời lớn từ các khoản đầu tư này trong những năm tiếp theo để tăng lợi nhuận trong năm hiện tại

Các phương án trên có thể được phân chia thành hai loại dựa trên thủ thuật mà nhà quản trị sử dụng Thứ nhất là việc điều chỉnh dựa trên các khoản dồn tích (accrual earnings management) bao gồm: Ghi nhận doanh thu khi chưa đủ các điều kiện ghi nhận, ghi khống doanh thu, các biện pháp nhằm điều chỉnh các khoản khấu hao, các khoản dự phòng giảm giá tài sản, hay vốn hóa các khoản chi phí không đủ điều kiện, trích trước các khoản chi phí không phù hợp… Thứ hai là quản trị lợi nhuận dựa trên các giao dịch thực (real earnings management) bao gồm các biện pháp như: Tăng doanh thu thông qua chính sách giá và tín dụng, cắt giảm các chi phí hữu ích hay lựa chọn thời điểm đầu tư hoặc thanh lý tài sản cố định…Cả hai phương pháp này thường được các nhà quản trị vận dụng tổng hợp để quản trị lợi nhuận mục tiêu của một hoặc một vài kỳ kế toán Mức biến động lợi nhuận phụ thuộc vào giới hạn cho phép (hay

Trang 32

mức linh hoạt) của các phương pháp kế toán Mặt khác, hướng điều chỉnh (tăng, giảm) lợi nhuận không thể không có giới hạn vì việc điều chỉnh tăng doanh thu và giảm chi phí trong một (hoặc một số kỳ) kỳ này sẽ làm giảm doanh thu và tăng chi phí trong một vài kỳ kế tiếp sau đó (từ đó, số trung bình của toàn bộ số lợi nhuận điều chỉnh trong một khoảng thời gian hữu hạn, thường là vài ba năm, phải bằng 0)

Vì vậy nhằm đảm bảo thông tin về lợi nhuận trong kỳ đáng tin cậy và có thể

sử dụng được, vai trò của kiểm toán viên ở đây là phải phát hiện và điều chỉnh tối thiểu hóa các khoản điều chỉnh này (bao gồm các khoản doanh thu chưa đủ điều kiện ghi nhận, các khoản dự phòng không hợp lý, các khoản chi phí không đủ điều kiện vốn hóa….) trong quá trình kiểm toán của mình Khi các kiểm toán viên để cho các khoản điều chỉnh mang nặng tính chủ quan của nhà quản trị quá cao thì thông tin lợi nhuận không còn giá trị sử dụng, do đó chất lượng kiểm toán không được đảm bảo

2.1.2.4 Định lượng hành vi quản trị lợi nhuận

2.1.2.4.1 Biến kế toán dồn tích (Accrual)

Để hiểu hành vi quản trị lợi nhuận được định lượng như thế nào, ta làm quen với khái niệm biến kế toán dồn tích như sau:

Theo chuẩn mực kế toán số 01 – Chuẩn mực chung, nguyên tắc cơ sở dồn tích được định nghĩa như sau: “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi

sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực

tế chi tiền hoặc tương đương tiền BCTC lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai”

Kế toán doanh nghiệp dựa trên cơ sở dồn tích nên lợi nhuận trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là lợi nhuận dồn tích Trong khi đó, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo cơ sở tiền – nghĩa là nhà quản trị chỉ được ghi nhận khi có số tiền thực thu và thực chi, không thể điều chỉnh thời điểm ghi nhận giao dịch Chính vì vậy, hai biến này có độ chênh lệch Độ lệch này chính là

Trang 33

biến kế toán dồn tích Hay nói cách khác biến kế toán dồn tích là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong BCTC

2.1.2.4.1 Các mô hình định lượng hành vi quản trị lợi nhuận

Để định lượng hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản trị có thể có nhiều phương pháp khác nhau:

Trực tiếp kiểm tra đối chiếu giữa BCTC với chứng từ sổ sách có liên quan Tuy nhiên, phương pháp này chỉ có thể thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền

Dựa vào cơ sở kế toán được vận dụng để lập BCTC Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được lập trên cơ sở dồn tích Theo cơ sở này, lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp có thể được chia làm hai loại là “lợi nhuận bằng tiền” và “lợi nhuận dồn tích” Lợi nhuận bằng tiền được hình thành từ các khoản doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp đã thực thu, thực chi trong kỳ Lợi nhuận dồn tích đến từ các khoản doanh thu chưa thu được bằng tiền (doanh thu bán chịu trong kỳ) và các khoản chi phí không phải chi bằng tiền trong kỳ (chi phí phải trả, chi phí trả trước, khấu hao tài sản cố định, các khoản dự phòng )

Trong khi đó, báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở tiền Theo cơ sở này, nhà quản lý không thể điều chỉnh thời điểm ghi nhận các giao dịch Từ đó, chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ tạo ra những biến kế toán được gọi là các khoản dồn tích Hay nói cách khác các khoản dồn tích là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong kết quả hoạt động kinh doanh

Tổng các khoản dồn tích (Total accruals_TA) = Lợi nhuận sau thuế - Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất, kinh doanh (2.1)

Do dòng tiền từ hoạt động kinh doanh không thể điều chỉnh, để quản trị lợi nhuận các nhà quản lý phải nhận diện được các biến kế toán và điều chỉnh các biến này Tuy nhiên không phải toàn bộ các khoản dồn tích đều là kết quả đến từ hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý Chẳng hạn như chi phí phải trả tăng có thể do các

Trang 34

khoản trích trước về tiền thưởng, việc này nằm trong ý muốn chủ quan của nhà quản

lý và nó có thể được điều chỉnh Tuy nhiên việc tăng các khoản chi phí phải trả có thể

là do các khoản chi phí chưa có hóa đơn, chi phí lãi vay chưa đến kỳ trả , các khoản này không thể điều chỉnh bởi ý chí chủ quan của nhà quản lý Như vậy, biến kế toán dồn tích (TA) gồm có hai phần: các khoản dồn tích không tự định (Non-discretionary accruals_NDA) và các khoản dồn tích tự định (Discretionay accruals_DA) hay còn gọi là các khoản dồn tích bất thường (abnormal accruals)

TA = DA + NDA (2.2)

DA mới chính là thước đo phù hợp để đánh giá các nhà quản trị có điều chỉnh thông tin lợi nhuận hay không Theo nguyên tắc chung là khi DA mang giá trị dương quá cao (nguy cơ nhà quản trị thổi phồng lợi nhuận) hay âm quá thấp (nguy cơ nhà quản trị che giấu lợi nhuận) đều cho thấy có sự điều chỉnh chủ quan từ nhà quản lý

Để ước tính giá trị của DA trong TA, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa

ra nhiều mô hình khác nhau, trong đó năm mô hình nổi tiếng nhất là Healy model (1985), De Angelo model (1986), Jones model (1991), Modified Jones model (1995), Industry model (1995)

Healy Model (1985)

Healy (1985) cho rằng hành vi điều chỉnh có hệ thống xuất hiện trong mỗi giai đoạn Tác giả phân chia mẫu thành ba nhóm, lợi nhuận được dự đoán đang bị thổi phồng vào một nhóm và lợi nhuận được dự đoán đang bị dấu bớt vào hai nhóm còn lại, so sánh giá trị trung bình tổng các khoản dồn tích giữa các nhóm Giá trị trung bình của tổng các khoản dồn tích trong giai đoạn ước tính là giá trị các khoản dồn tích không tự định (NDA) Mô hình để tính NDA như sau:

Trang 35

TA : Tổng các khoản dồn tích tính theo tổng tài sản

t : 1,2, ,T chỉ các năm trong giai đoạn ước tính

𝜏 : năm ước tính các khoản dồn tích không tục định

De Angelo Model (1986)

De Angelo (1986) đo lường hành vi quản trị lợi nhuận bằng cách tính những khác biệt đầu tiên trong tổng các khoản dồn tích và giả định rằng những khác biệt ban đầu có giá trị mong đợi là bằng 0 theo giả thiết không của việc không có hành vi quản trị lợi nhuận Mô hình này sử dụng tổng các khoản dồn tích của năm trước liền kề để tính NDA Mô hình như sau:

Và nếu doanh nghiệp đang ở thời kì tăng trưởng thì NDA sẽ có sự biến động từ năm này sang năm khác Ví dụ doanh nghiệp đang ở thời kì tăng trưởng nên nhiều máy móc thiết bị cần được đầu tư, mở rộng qui mô kinh doanh, trong nhiều năm, mà ứng với mỗi loại TSCĐ sẽ có mức khấu hao khác nhau điều này sẽ dẫn đến phần NDA biến động, khi này NDA không chính xác

Trang 36

Jone Model (1991)

Jone (1991) đưa ra một mô hình làm suy yếu đi giả định rằng các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) là các bất biến Mô hình này nỗ lực để kiểm soát tác động của những thay đổi trong bối cảnh kinh tế của một doanh nghiệp lên các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) Mô hình được thể hiện như sau:

NDAt = α1(1/At-1 ) + α2(ΔREVt) + α3(PPEt) (2.4)

Với:

NDAt: Tổng các khoản dồn tích không tự định năm t

At-1: Tổng tài sản tại năm t-1

REVt : Chênh lệch trong doanh thu năm t so với năm t-1

PPEt: Tổng giá trị còn lại của tài sản cố định tại năm t

Các hệ số α1, α2, α3 được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) từ phương trình hồi quy sau:

TAt = α1(1/At-1 ) + α2(ΔREVt) + α3(PPEt) + 𝜀t (2.5)

Modified Jones Model (Dechow và các cộng sự, 1995)

Trong mô hình nguyên gốc, Jones Model (1991) đưa vào phương trình hồi quy hai biến là REV và PPE Theo diễn giải của bà, giá trị REV thể hiện sự biến động doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ kế toán, nó phản ánh tình hình và môi trường hoạt động kinh doanh và là khoản mục mang tính khách quan không bị nhà quản trị lợi dụng để quản trị lợi nhuận trong kỳ Tuy nhiên, ở mục chú giải số 31 tại trang 212 trong nghiên cứu của mình, tác giả cũng có đề cập tới những hạn chế trong diễn giải của mình khi chọn ΔREV làm biến nghiên cứu Bà cho rằng, doanh thu thuần cũng có thể bị tác động thông qua các khoản doanh thu bị ghi nhận không đúng niên độ và các khoản này có thể là doanh thu khống của doanh nghiệp Xuất phát từ

Trang 37

hạn chế kể trên của mô hình gốc, các nhà nghiên cứu sau này đưa thêm biến ΔREC nhằm loại bỏ ảnh hưởng của các khoản doanh thu dồn tích do sự tăng lên của khoản mục phải thu khách hàng trong kỳ, qua đó giá trị doanh thu thuần tăng thêm phản ánh chính xác hơn môi trường kinh doanh của doanh nghiệp trong năm đó

NDAt = α1(1/At-1 ) + α2(ΔREVt – ΔRECt) + α3(PPEt) + ε Với : ΔRECt: Chênh lệch trong khoản mục phải thu khách hàng năm t so với năm t-

1

Industry Model (1995)

Tương tự như mô hình Jone Model, mô hình Industry Model cúng là suy yếu giả định các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) là bất biến theo thời gian Tuy nhiên, thay vì nỗ lực để mô hình hóa một cách trực tiếp các yếu tố quyết định của các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA), mô hình Industry Model giả định rằng mức độ thay đổi trong các yếu tố quyết định của các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) là giống nhau giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành

Mô hình được trình bày như sau:

NDAt = γ1 + γ2medianI(TAt) (2.7)

Mô hình chéo (mô hình chạy dữ liệu chéo) (1994)

Hai mô hình chéo mà nghiên cứu này đề cập là mô hình chéo của Jones và mô hình chéo của Jones đã điều chỉnh “Hai mô hình này tương tự như các mô hình Jones

và mô hình của Jones đã điều chỉnh, một cách tương ứng, ngoại trừ các thông số của

Trang 38

mô hình được tính bằng cách sử dụng dữ liệu chéo, chứ không phải dữ liệu theo chuỗi thời gian

Trong nghiên cứu của mình về mô hình này, Bartov, A Gul & Tsui (2000) cũng lưu ý rằng, mỗi loại mô hình dựa trên sự thiết lập các giả định khác nhau mà giả định đó không có khả năng thiết lập cho tất cả các doanh nghiệp Việc lựa chọn giữa bản theo chuỗi thời gian và bản chéo trong mô hình của Jones do đó đại diện cho sự cân bằng, và nó là một câu hỏi thực nghiệm mà sự lựa chọn sẽ dựa trên sự xem xét

mô hình nào thích hợp hơn Ví dụ, trong khi giả định cơ bản của mô hình theo chuỗi thời gian là độ dài của chu kỳ kinh doanh của một công ty không đổi theo thời gian lập dự toán và năm sự kiện, thì cơ sở cho mô hình chéo theo không gian là giả định rằng tất cả các công ty trong cùng một ngành có một chu kỳ hoạt động tương tự Như phân tích ở trên, trong thực tế cả hai giả định không có khả năng để sử dụng cho mọi doanh nghiệp

Mô hình Jones điều chỉnh với tỷ lệ giá sổ sách trên giá thị trường và dòng lưu chuyển tiền thuần

Larcker và Richardson (2004) đã thêm tỷ lệ giá sổ sách trên giá thị trường của vốn chủ sở hữu và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh vào mô hình Johns điều chỉnh

TAit = α1 + α2(∆REVit - ∆RECit) + α3PPEit + α4BMit + α5CFOit + ε Trong đó:

BMit: Tỷ lệ giá sổ sách trên giá thị trường của vốn chủ sở hữu của công ty i trong năm t

CFOit: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i trong năm t

Mô hình Jones điều chỉnh với ROA

Beneish (1997) không ủng hộ mô hình Jones (1991) và của Jones đã qua điều chỉnh (1995) bởi vì chúng không bao gồm các chỉ số hoạt động Trong trường hợp

đó, các mô hình này không thể được sử dụng cho các công ty với một hiệu suất không ngẫu nhiên (Young, 1998) Chính vì vậy, Barth et al (2001) đề nghị mô hình để ước

Trang 39

tính dồn tích có thể điều chỉnh mà sẽ xem xét hiệu quả kinh tế hiện tại và quá khứ của công ty Tiếp đó, Kothari et al (2005) phát triển một mô hình xác định dồn tích

có thể điều chỉnh phản ánh hạn chế này Họ đề xuất một mô hình mà biến kế toán dồn tích có liên quan tới hoạt động quá khứ và hiện tại của công ty được đo lường thông qua lợi nhuận trên tài sản (ROA).Và ở đây hiệu quả hoạt động của công ty được xem như một biến độc lập trong việc ước tính biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh

Mô hình của Kothari et al (2005) như sau:

TAt= α1+ α2(∆REVit - ∆RECit) + α3PPEit + α4ROAit-1 + εit

Trong đó:

ROAit – 1: Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản của công ty i trong năm t-1

Mô hình của Raman & Shahrur (2008)

McNichols (2000) không đồng ý với tất cả các mô hình nêu trên, vì theo ông, chúng bỏ qua các cơ hội phát triển của công ty Ngoài lợi nhuận trên tài sản theo mô hình của Kothari et al (2005), Raman & Shahrur (2008) đề xuất một mô hình xác định các biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh mà sẽ xem xét các cơ hội phát triển của công ty Raman & Shahrur đề xuất sử dụng các tỷ lệ giá trị sổ sách trên thị trường như một cách đo lường của các cơ hội phát triển Mô hình này được ước lượng như sau:

TAit = α1 + α2(∆REVit - ∆RECit )+ α3PPEit + α4ROAit – 1 + α5BMKit +ε

Trong đó:

BMKt: Tỉ lệ giá trị sổ sách trên thị trường được xác định bởi tỷ lệ của tổng tài sản trên tổng tài sản trừ đi giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu cộng với giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác cũng đo lường hành vi quản trị lợi nhuận theo mô hình của Dechow & Dichev (2002), theo mô hình này chất lượng lợi nhuận

Trang 40

dựa trên cơ sở tính chính xác của dồn tích tiên đoán dòng tiền hoạt động trong tương lai

Mô hình của Dechow & Dichev (2002)

Từ quan điểm khác với các tác giả trên, Dechow & Dichev (2002) cho rằng chức năng phù hợp của biến kế toán dồn tích đến dòng lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh là quan trọng chính yếu và do đó, biến kế toán dồn tích đoán được khoản thu được cũng như khoản phải trả dòng tiền trong tương lai và ngược lại, khi tiền kỳ trước được ghi nhận trong biến kế toán dồn tích và nhận được hoặc phải trả trong kỳ này Dựa trên lý luận này, họ đã xây dựng mô hình như sau:

TCAit = φ0 + φ1 CFOit-1 + φ2 CFOit + φ3 CFOit+1 + ν TCA: Tổng dồn tích, và TCA = ΔCA – ΔCL – ΔCash + ΔSTDEBT

ΔCA: Thay đổi trong tài sản lưu động trong năm;

ΔCL: Thay đổi nợ ngắn hạn trong năm;

ΔCash: Thay đổi trong khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền trong năm;

ΔSTDEBT: Thay đổi trong nợ vay được bao gồm trong nợ ngắn hạn trong năm;

CFO: Dòng tiền lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh

Mô hình của McNichols (2002) và của Francis và các cộng sự (2005)

TCAit = φ0 + φ1 CFOit-1 + φ2 CFOit + φ3 CFOit+1 + φ4 ΔREVit + φ5

PPEit + ν TCA: Tổng dồn tích, và TCA = ΔCA – ΔCL – ΔCash + ΔSTDEBT

ΔCA: Thay đổi trong tài sản lưu động trong năm;

ΔCL: Thay đổi nợ ngắn hạn trong năm;

Ngày đăng: 30/12/2020, 18:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w