HỒ CHÍ MINH ĐỖ THỊ HẰNG KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐƯỢC KIỂM TOÁN - NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI
Trang 1ĐỖ THỊ HẰNG
KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐƢỢC KIỂM TOÁN -
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
ĐỖ THỊ HẰNG
KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐƯỢC KIỂM TOÁN -
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Trang 3nhiệm của KTV và tính hữu ích của thông tin trên báo cáo tài chính được kiểm toán – nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của tôi với sự
hướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Giang Tân Luận văn này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tất cả các nguồn tham khảo đã được công bố đầy đủ
TP.HCM, ngày 17 tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hằng
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU: 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Câu hỏi nghiên cứu 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1. Các nghiên cứu nước ngoài 5
1.1.1 Nghiên cứu về sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 5
1.1.2 Nghiên cứu về các nhân tố cấu thành của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 7
1.2. Các nghiên cứu trong nước 14
1.3. Nhận xét về các nghiên cứu trước và xác định vấn đề cần nghiên cứu 16
1.3.1 Đối với các nghiên cứu nước ngoài 16
1.3.2 Đối với các nghiên cứu trong nước 17
1.3.3 Vấn đề cần nghiên cứu 17
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 20
Trang 5toán trong kiểm toán BCTC 21
2.3. Các quy định có liên quan về trách nhiệm của kiểm toán viên 24
2.3.1 Chuẩn mực kiểm toán VSA 200 - Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 24
2.3.2 Chuẩn mực kiểm toán VSA 240 - Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính 26
2.3.3 Chuẩn mực kiểm toán VSA 260 - Trao đổi các vấn đề với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán 27
2.3.4 Chuẩn mực kiểm toán VSA 315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị 28
2.3.5 Chuẩn mực kiểm toán VSA 330 - Biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối với rủi ro đã đánh giá 29
2.4. Thông tin hữu ích trên báo cáo tài chính được kiểm toán 30
2.5. Lý thuyết nền tảng 32
2.5.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 32
2.5.2 Lý thuyết niềm tin cảm tính (Inspired Confidence Theory) 33
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1. Quy trình nghiên cứu 36
3.2. Thiết kế nghiên cứu 37
3.2.1 Các giả thuyết nghiên cứu 37
3.2.2 Thiết kế thang đo 38
3.2.3 Xây dựng bảng câu hỏi 39
Trang 6CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1. Kết quả khảo sát khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm của KTV và tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán 45
4.1.1 Kết quả thống kê mô tả 45
4.1.2 Kết quả kiểm định giả thuyết 46
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.1.1 Điểm thống nhất 60
5.1.2 Những khác biệt trong quan điểm tạo nên khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Việt Nam 61
5.2. Giải pháp thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 62
5.2.1 Những giải pháp nhằm giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán do năng lực KTV và kết quả kiểm toán 62
5.2.2 Những giải pháp nhằm giảm thiểu khoảng cách từ những mong đợi chưa hợp lý từ người sử dụng BCTC 64
5.2.3 Hoàn thiện Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam nhằm giảm thiểu khoảng cách chuẩn mực 65
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 66
5.3.1 Hạn chế của đề tài 66
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 66
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 72 BCKiT Báo cáo kiểm toán
3 BCTC Báo cáo tài chính
4 BGĐ Ban giám đốc
5 BQT Ban quản trị
6 CMKiT Chuẩn mực kiểm toán
7 DNKT Doanh nghiệp kiểm toán
8 ĐVĐKT Đơn vị được kiểm toán
9 GTTB Giá trị trung bình
10 KTV Kiểm toán viên
11 NQL Nhà quản lý
12 VACPA Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
13 VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
14 VSA Chuẩn mực kiểm toán việt nam
Trang 8Bảng 3.1: Cấu trúc bảng câu hỏi và thang đo
Bảng 4.1: Thống kê theo đối tượng khảo sát
Bảng 4.2: Thống kê theo kinh nghiệm làm việc
Bảng 4.3: Thống kê theo nhóm đối tượng về trách nhiệm KTV
Bảng 4.4: Kiểm định Independent Samples T-Test theo nhóm đối tượng về trách nhiệm KTV
Bảng 4.5: Thống kê theo nhóm đối tượng về tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán
Bảng 4.6: Kiểm định Independent Samples T- Test theo nhóm đối tượng về tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Mô hình về khoảng cách mong đợi kiểm toán (Porter, 2012)
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU:
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế được mở rộng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước Trong điều kiện nền kinh tế như vậy, BCTC của doanh nghiệp không chỉ để báo cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước nhằm kiểm tra và xét duyệt, các thông tin này cần cho nhiều người, được nhiều đối tượng quan tâm, khai thác sử dụng cho các quyết định kinh
tế
Dù ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả các đối tượng này đều có cùng kỳ vọng là có được các thông tin từ BCTC với độ tin cậy, trung thực và hợp lý Đáp ứng yêu cầu đó, hoạt động kiểm toán độc lập ra đời, trở thành bộ phận cần thiết, đáng tin cậy và không thể thiếu trong đời sống các hoạt động kinh tế Kiểm toán độc lập cung cấp cho những người sử dụng kết quả kiểm toán sự hiểu biết về những thông tin tài chính được lập trên cơ sở các nguyên tắc, chuẩn mực theo quy định pháp luật, và các thông tin đó có trung thực, hợp lý hay không?
Tuy nhiên, hiện nay niềm tin vào các BCTC đã bị giảm bởi chất lượng hoạt động kiểm toán BCTC chưa đáp ứng được mong đợi của người sử dụng Thuật ngữ khoảng cách kỳ vọng (AEG) bắt đầu xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ 20 sau các thất bại nghề nghiệp kiểm toán, do sự khác biệt trong kỳ vọng của người sử dụng với thực tiễn của nghề nghiệp kiểm toán AEG lần đầu tiên xuất hiện ở Hoa
Kỳ, sau đó lan rộng sang các quốc gia khác như Canada, Anh, Úc Dù đây không phải là chủ đề mới, tuy nhiên từ khi ra đời đến nay vẫn luôn nhận được quan tâm bởi các tổ chức nghề nghiệp, của giới học thuật, là một trong những cơ sở giúp hoàn thiện chuẩn mực kiểm toán
Tại Việt Nam, nghiên cứu “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” chưa nhiều, phần lớn chỉ tập trung vào nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm của KTV (Nguyễn Quốc Kịp, 2015), giải pháp thu hẹp khoảng cách kỳ vọng giữa kiểm toán viên và nhà quản lý trong việc kiểm toán báo cáo tài chính (Ngô Thị Thúy Quỳnh,
Trang 102015), đo lường khoảng cách kỳ vọng giữa nhà đầu tư và chất lượng công ty kiểm toán (Nhóm nghiên cứu Đại học Kinh tế- Luật, 2015) Hầu hết những nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến khoảng cách về trách nhiệm của KTV chưa chú trọng đến việc kết hợp giữa trách nhiệm KTV và tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán, với mục đích cải thiện hình ảnh của KTV nhờ việc chỉ ra những yêu cầu thực tế mà xã hội đòi hỏi đối với ngành kiểm toán, đòi hỏi KTV phải nhận thức được nghĩa vụ và trách nhiệm bản thân trong công việc Mặt khác, cũng chỉ ra người sử dụng BCTC được kiểm toán cần phải có những nhận thức thực tế hơn về trách nhiệm, nghĩa vụ và hoạt động của KTV, đồng thời giúp người sử dụng đưa ra quyết định đầu tư của mình
Vì vậy, tác giả lựa chọn chủ đề này để làm LVThS: “Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán về trách nhiệm kiểm toán viên và tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán _Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” nhằm xem xét
liệu có tồn tại khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm của kiểm toán viên, về tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán tại Việt nam để từ đó đưa ra một số biện pháp thiết thực giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chung là: Xem xét sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng về
trách nhiệm kiểm toán viên và tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán tại Việt Nam
Mục tiêu cụ thể:
- Điều tra để chứng tỏ có tồn tại hay không tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
về trách nhiệm của KTV tại Việt Nam
- Điều tra để chứng tỏ có tồn tại hay không tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
về tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán tại Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và các kiến nghị nhằm tăng niềm tin của người sử dụng BCTC đối với hoạt động kiểm toán độc lập
Trang 113 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi thứ 1: Có tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và người sử
dụng về trách nhiệm KTV không?
- Câu hỏi thứ 2: Có tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và người sử
dụng về tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán không?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm của KTV và tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về 2 nội dung chính: khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm của KTV và tính hữu ích của thông tin trên BCTC
được kiểm toán
- Chỉ nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng của kiểm toán độc lập, không nghiên cứu
về kiểm toán nhà nước và kiểm toán nội bộ
- Phạm vi về thời gian: thời gian thực hiện nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 06/2016 đến tháng 10/2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để nghiên cứu
Nhóm thứ 1 là nhóm các kiểm toán viên chính, chuyên viên kiểm toán và trợ
lý kiểm toán viên đang làm việc tại các doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam
Nhóm thứ 2 là những người sử dụng báo cáo tài chính: đây là nhóm có lợi
ích trực tiếp liên quan đến cuộc kiểm toán với mục đích đánh giá thông tin tài chính để ra quyết định cho vay hoặc đánh giá tình hình hoạt động để đầu tư hay
Trang 12đánh giá khả năng đóng góp cho Nhà nước thông qua đóng góp cho các loại thuế…; nhóm này được khảo sát bao gồm: nhân viên ngân hàng, các nhân viên làm việc ở các công ty chứng khoán, các nhà đầu tư, các nhân viên làm việc tại các cơ quan thuế…
- Chọn mẫu khảo sát: lựa chọn theo phương pháp thuận tiện phi xác suất
Kích thước mẫu dự kiến 200 gồm kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo thông qua bảng câu hỏi
Để đảm bảo việc thu thập dữ liệu đầy đủ và nhanh chóng, tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận khảo sát qua mail và một số phương tiện liên lạc khác đánh
giá trực tiếp trên ứng dụng của www.docs.google.com.vn
Dữ liệu thứ cấp
Các bài báo, tạp chí, luận văn và nghiên cứu cả trong và ngoài nước về khoảng
cách kỳ vọng kiểm toán
Công cụ phân tích dữ liệu
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS, sau khi được sàng lọc và làm sạch,
dữ liệu được sử dụng để thực hiện các phân tích sau: thống kê mô tả, kiểm định Independent Sample T-Test
6 Kết cấu của đề tài
Kết cấu của luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
1.1.1 Nghiên cứu về sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Khá nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng, dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu:
(1) Nghiên cứu của Lee (1970) là nghiên cứu đầu tiên được thực hiện tại Anh
Ông đã khảo sát và gửi bảng câu hỏi đến các kiểm toán viên, đơn vị được kiểm toán
và bên thứ ba Kết quả là hơn 80% số người được khảo sát cho rằng trách nhiệm của KTV là phát hiện các gian lận và sai sót, đảm bảo các công ty đã tuân thủ tất cả các yêu cầu của pháp luật quy định, xác minh tính chính xác của sổ sách, hồ sơ và chứng từ kế toán, đồng thời đưa ra ý kiến kiểm toán về sự trung thực, hợp lý của BCTC của đơn vị được kiểm toán Trái với kỳ vọng của Lee, sự hiểu biết của KTV
về mục tiêu kiểm toán có khác biệt so với đơn vị được kiểm toán và bên thứ ba Ông thừa nhận rằng có sự tồn tại về khoảng cách kỳ vọng giữa các bên và nếu các bên không cùng chung nhận thức về mục tiêu kiểm toán thì các lợi ích từ cuộc kiểm toán sẽ không được đánh giá cao và đáng tin cậy
(2) Ở Mỹ, Baron và các cộng sự (1977) đã điều tra khác biệt về nhận thức giữa các nhóm người khác nhau liên quan đến trách nhiệm của KTV trong phát hiện các sai sót trọng yếu, gian lận và các hành vi bất hợp pháp Kết quả nghiên cứu cho thấy kiểm toán viên và những người sử dụng BCTC có niềm tin khác nhau về việc phát hiện và trình bày các sai phạm và các hành vi bất hợp pháp Đặc biệt, những người
sử dụng BCTC yêu cầu kiểm toán viên có trách nhiệm nhiều hơn trong việc phát hiện và báo cáo gian lận và các hành vi không tuân thủ pháp luật hơn là những gì
mà kiểm toán viên cho rằng mình phải làm
(3) Low (1980) đã điều tra khoảng cách kỳ vọng trên tại Úc về mức độ phát hiện
và trách nhiệm công bố sai sót, gian lận và các hành vi không tuân thủ pháp luật giữa kiểm toán viên và những người sử dụng BCTC Kết quả là cả hai nhóm có nhận thức hoàn toàn khác nhau Nghiên cứu này cũng nhất quán với nghiên cứu của
Trang 14Lee (1970) và Lee cho rằng những bên liên quan có kỳ vọng cao hơn về hoạt động kiểm toán hơn là những gì mà kiểm toán viên đang thực hiện
(4) Low và các cộng sự (1988) đã điều tra khoảng cách kỳ vọng giữa kiểm toán viên và các nhà phân tích tài chính về mục tiêu kiểm toán tại Singapore Những đối tượng khảo sát được cung cấp danh sách 13 mục tiêu của cuộc kiểm toán Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mục tiêu cơ bản của cuộc kiểm toán là đưa ra ý kiến của KTV về BCTC Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng cuộc kiểm toán cần được xem như là sự bảo đảm về tính chính xác về BCTC của một đơn vị Nhìn chung mong đợi của các nhà phân tích tài chính về trách nhiệm KTV trong việc ngăn chặn
và phát hiện sai phạm trọng yếu từ phía kiểm toán viên cao hơn là những gì mà kiểm toán viên có thể thực hiện
(5) Humphrey và các cộng sự (1993) thực hiện cuộc điều tra để thu thập bằng chứng về ý kiến và nhận thức về kiểm toán từ nhiều nhóm người khác nhau Kết quả chỉ ra không có sự khác biệt đáng kể liên quan nhận thức về việc lập BCTC là phải tuân thủ theo luật định và chuẩn mực, nhưng có sự khác biệt đáng kể về vai trò của kiểm toán viên Nói chung, kiểm toán viên cho rằng họ có trách nhiệm và vai trò ít hơn so với những người sử dụng BCTC kỳ vọng về họ Một điều thú vị là 71% kiểm toán viên không cho rằng Bảng cân đối kế toán trình bày trung thực về tình hình tài chính, trong khi đó 51% Giám đốc tài chính và 81% những người sử dụng kết quả kiểm toán lại có ý kiến ngược lại
(6) Porter (2012) nghiên cứu được tiến hành tại New Zeland và Anh trong năm
2009 để điều tra khác biệt về quan điểm liên quan trách nhiệm KTV và thông điệp trên BCKiT Nghiên cứu này được mở rộng từ nghiên cứu của tác giả Porter (1999), thực hiện tại New Zeland và Anh để nhằm kiểm tra sự thay đổi về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa năm 1999 và 2008 Kết quả nghiên cứu cho thấy các đối tượng chưa nhận thức đúng về trách nhiệm KTV, không những vậy họ còn kỳ vọng nhiều hơn ở KTV về những trách nhiệm mà chuẩn mực kiểm toán chưa quy định Điều này cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở New Zeland và Anh; khoảng cách này ở New Zeland lớn hơn ở Anh So với kết quả năm 1999 thì nghiên
Trang 15cứu này đã cho thấy khoảng cách kỳ vọng này ở Anh đã thu hẹp hơn, trong khi đó ở New Zeland thì ngược lại Sự thay đổi về khoảng cách này là do việc giám sát hoạt động kiểm toán và việc công khai minh bạch BCTC đã được kiểm toán ở Anh tốt hơn Kết quả nghiên cứu còn cho thấy người sử dụng BCTC chưa hiểu đúng và sử dụng hết các thông điệp trên báo cáo kiểm toán để đưa ra quyết định đầu tư của mình
1.1.2 Nghiên cứu về các nhân tố cấu thành của khoảng cách kỳ vọng
kiểm toán
(1) Nghiên cứu của Hiệp hội kế toán (ICAI) Ireland vào 1990 Nghiên cứu này tiến hành khi xuất hiện những lời phê bình, chỉ trích đối với các báo cáo tài chính được kiểm toán, đặc biệt đối với báo cáo tài chính của những công ty lâm vào tình trạng phá sản Hiệp hội này muốn điều tra xem liệu có hay không “khoảng cách kỳ vọng giữa người sử dụng báo cáo tài chính, đơn vị được kiểm toán và kiểm toán viên _ ICAI, 1992” Để xác đinh các nhân tố cấu thành khoảng cách kỳ vọng, Ủy ban điều tra về kỳ vọng của người sử dụng BCTC (CIEUFS) ra đời dưới sự chỉ đạo của tiến sĩ Louden Ryan Nghiên cứu của CIEUFS (1992) đã kiểm tra khoảng cách kiểm toán kỳ vọng ở Ireland CIEUFS kết luận rằng khoảng cách mong đợi kiểm toán cấu thành từ những yếu tố: Tính chính xác của BCTC , nguyên tắc hoạt động liên tục/ khả năng thanh toán, cảnh báo về sự phá sản sắp xảy ra, gian lận, mức độ tuân thủ chuẩn mực kiểm toán và tính độc lập của kiểm toán viên
Tính chính xác
Nghiên cứu cho thấy rằng, đa số người sử dụng luôn có niềm tin đối với báo cáo kiểm toán, họ cho rằng ý kiến trên báo cáo kiểm toán là chấp nhận toàn phần thì BCTC là chính xác tuyệt đối Ủy ban này cho rằng “khoảng cách tồn tại giữa kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính về mức độ chính xác trên báo cáo tài chính chỉ có thể thu hẹp được bằng cách làm cho những người sử dụng báo cáo tài chính hiểu rằng trên báo cáo tài chính thì còn khá nhiều khoản ước tính, do vậy việc xét đoán là không thể tránh khỏi”
Nguyên tắc hoạt động liên tục/ khả năng thanh toán
Trang 16Báo cáo tài chính thường được lập dựa trên giả định hoạt động liên tục nếu ngược lại, báo cáo tài chính phải được lập dựa trên giả định khác và cần phải thuyết minh rõ trên báo cáo tài chính Trách nhiệm của BGĐ xét đoán xem liệu giả định này có được tôn trọng hay không khi lập BCTC Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy, BGĐ không cho rằng đó là trách nhiệm của mình phải công bố trên báo cáo tài chính hay báo cáo thường niên của Công ty về giả định này Chính vì vậy, khi công
ty bị phá sản thì khoảng cách giữa người sử dụng báo cáo tài chính đối với đơn vị được kiểm toán hay với kiểm toán viên lại càng có sự chênh lệch lớn khi lợi ích của người sử dụng BCTC bị ảnh hưởng
Cảnh báo về sự phá sản sắp xảy ra
Nghiên cứu cho thấy rằng cả kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính đều cho rằng kiểm toán viên có trách nhiệm phát hiện và cảnh báo về sự phá sản sắp xảy ra đối với đơn vị được kiểm toán, cung cấp cho người sử dụng thông tin
và lý do đối với trường hợp sắp phá sản của đơn vị được kiểm toán Nghiên cứu cũng cho thấy rằng nếu kiểm toán viên xác định những rủi ro đó là đáng kể và trọng yếu thì nên báo cáo cho Ủy ban Chứng khoán hoặc trao đổi với ban Giám đốc
Gian lận
Nghiên cứu đã khảo sát và đưa ra kết luận là phần lớn người sử dụng BCTC không chấp nhận rằng mặc dù kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm toán được thiết lập một cách chuyên nghiệp nhưng kiểm toán viên không thể phát hiện ra gian lận, đặc biệt là những đơn vị có sự thông đồng giữa các thành viên trong công ty Vì vậy đối với hành vi trái pháp luật đã có một sự đồng thuận rằng nếu hành vi đó có ảnh hưởng đến lợi ích người sử dụng thì KTV nên báo cáo cho các cơ quan quản lý có liên quan
Mức độ tuân thủ chuẩn mực kiểm toán và tính độc lập của kiểm toán
Trang 17được thực hiện để tăng cường tính độc lập của kiểm toán viên Cần có sự quan tâm đặc biệt đối với các dịch vụ phi kiểm toán và sự phụ thuộc quá mức của kiểm toán đối với khách hàng
(2) Nghiên cứu của Ủy ban Macdonal (1988), Ủy ban này do Viện Kế toán Công chứng Canada (CICA) thành lập để nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng của người
sử dụng báo cáo tài chính Ủy ban này đã tiến hành thu thập thông tin từ nhiều
nguồn như khảo sát qua điện thoại một cách ngẫu nhiên, phỏng vấn và gửi bảng câu hỏi cho nhóm người có am hiểu về BCTC, những người có đầy đủ thông tin và BCTC được kiểm toán Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy không nhiều đối tượng được điều tra có sự hiểu biết đẩy đủ về trách nhiệm của KTV Cụ thể chỉ có 41% số người được khảo sát xác định trách nhiệm của KTV là đưa ra ý kiến kiểm toán về tính trung thực, hợp lý của BCTC; 24% cho rằng báo cáo kiểm toán là báo cáo về tính hữu hiệu của quá trình quản lý của đơn vị được kiểm toán; 25% cho rằng đó là kết quả kiểm toán sẽ cho thấy sự bảo đảm về tình hình tài chính của công ty; 10% còn lại cho rằng họ không biết thực sự về công việc của KTV Ngoài ra, Ủy ban này cũng nhận thấy rằng có một sự nhầm lẫn về thông tin được truyền tải trên báo cáo kiểm toán, đây là nguyên nhân vì sao khi một công ty bị phá sản, người sử dụng BCTC đều cho rằng đó là lỗi của KTV
(3) Gloeck và De Jager (1993) đo lường khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Cộng hòa Nam Phi Kết quả chỉ ra rằng có khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và có 3 nhân tố chính cấu thành nên là (i) tính độc lập của kiểm toán viên; (ii) trách nhiệm của kiểm toán viên, đặc biệt liên quan đến gian lận và tính liên tục hoạt động; (iii)
sự không thỏa mãn về kiểm toán bắt buộc đối với các công ty có quy mô nhỏ Hơn 60% người trả lời cho rằng kiểm toán viên bị ảnh hưởng đáng kể từ phía các nhà quản lý của công ty khách hàng
(4) Porter (1993) đã nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại New Zealand, kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng cách kỳ vọng gồm hai thành phần cấu thành bởi: Khoảng cách về kết quả và khoảng cách hợp lý Khoảng cách về kết quả
là khoảng cách do dịch vụ chưa hoàn hảo Khoảng cách hợp lý là khoảng cách do
Trang 18yêu cầu quá cao của xã hội đối với nghề kiểm toán Nghiên cứu được thực hiện thông qua khảo sát hai nhóm đối tượng bị ảnh hưởng bởi hoạt động kiểm toán: (1)
là nhóm tài chính bao gồm các KTV, nhân viên các công ty, các nhà phân tích tài chính, sinh viên kiểm toán và (2) là nhóm công chúng bao gồm luật sư, phóng viên tài chính và các thành viên của công chúng nói chung Từ kết quả nghiên cứu của mình, Porter đã xác định có hơn 20% công chúng nhận thức KTV phải thực hiện 10 nhiệm vụ trong khi nhóm cộng đồng tài chính cho rằng đó là điều không hiệu quả
và kinh tế khi thực hiện Nghiên cứu thực nghiệm này đã giúp các nhà nghiên cứu xác định các thành phần khác nhau của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán bao gồm khoảng cách hợp lý (41%), khoảng cách chuẩn mực (53%) và khoảng cách năng lực (6%)
(5) Epstein và Geiger (1995) nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa các nhà đầu tư và kiểm toán viên, một cuộc điều tra các nhà đầu tư đã thực hiện để thu thập thông tin về quan điểm của họ đối với các khía cạnh khác nhau của báo cáo tài chính Những người tham gia là các nhà đầu tư hơn 100 cổ phiếu được niêm yết trên thị trường chứng khoán New York Khảo sát nhận được 246 phản hồi và kết luận rằng (i) các nhà đầu tư kỳ vọng nhiều hơn về mức độ bảo đảm liên quan đến gian lận và sai sót; (ii) thiếu sự hiểu biết liên quan đến sự khác biệt về khả năng của kiểm toán viên phát hiện sai phạm do gian lận và sai sót gây ra; (iii) các nhà đầu tư không hiểu được sự khó khăn trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu do gian lận và sai sót như kiểm toán báo cáo tài chính Dựa trên các phát hiện này, Epstein
và Geiger cho rằng kiểm toán viên cần thông báo cho công chúng về những khó khăn trong việc phát hiện gian lận và kiểm toán viên cần tăng cả về chất lượng và số lượng các dịch vụ kiểm toán để cung cấp cho các nhà đầu tư mức độ bảo đảm cao hơn
(6) Peter J Best Sherrena Buckby Clarice Tan (2001) nghiên cứu về các nhân tố cấu thành của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Singapore vào những năm 1990 và
so sánh với các kết quả nghiên cứu này với Schelluch (1996) tại Úc Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về nhận thức khác biệt giữa KTV và người sử dụng báo
Trang 19cáo kiểm toán (nhân viên ngân hàng và nhà đầu tư) về 3 nhân tố là trách nhiệm kiểm toán, độ tin cậy và tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán Tác giả khảo sát trên 300 mẫu và kết quả thu được chỉ nhận được 97 người trả lời (đạt 32,2%) Các kết quả từ nghiên cứu này tìm thấy bằng chứng của một khoảng cách
kỳ vọng kiểm toán rất lớn ở Singapore, đặc biệt là trách nhiệm của KTV đối với việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận, cụ thể:
+ KTV có trách nhiệm phát hiện tất cả các gian lận
+ KTV chịu trách nhiệm duy trì sổ sách kế toán
+ KTV chịu trách nhiệm trong việc ngăn ngừa hành vi gian lận
+ BCTC đã được kiểm toán phản ánh trung thực và hợp lý
+ BCTC đã được kiểm toán là hữu ích trong việc giám sát hoạt động của đơn vị…
Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố cấu thành nên khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và người sử dụng báo cáo kiểm toán là sự khác biệt trong nhận thức của mỗi nhóm, khác nhau về trách nhiệm KTV, vai trò và chức năng của kiểm toán Ngoài ra kết quả từ nghiên cứu này đã đưa ra được giải pháp cho các chuyên gia để giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và cải thiện việc ra quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính
(7) Mohamed Nazri Fadzly Zauwiyah Ahmad (2004) nghiên cứu này dựa trên các nghiên cứu của Schelluch (1996) và Best và cộng sự (2001) nhằm mục đích điều tra về sự tồn tại và các nhân tố cấu thành của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Malaysia Động lực của nghiên cứu này là từ sự thất bại của Enron và Andersen, bên cạnh đó môi trường kế toán của Malaysia đã được cải thiện đáng kể sau các cuộc cải cách kế toán và kiểm toán vào những năm 1998 về luật BCTC và việc thành lập ban Chuẩn mực kế toán Malaysia Phương pháp thực hiện là sử dụng bảng khảo sát gồm 2 phần: phần 1 liên quan về nhân khẩu học của người trả lời, phần 2 gồm 17 câu hỏi liên quan về sự khác biệt về nhận thức giữa KTV và người sử dụng báo cáo kiểm toán dựa vào 2 yếu tố cấu thành: trách nhiệm KTV, độ tin cậy và tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán Tác giả đã khảo sát 1.300 người
Trang 20và thu về được 398 phiếu khảo sát Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Malaysia cũng tồn tại nhưng nó hẹp hơn so với nghiên cứu của Best và cộng sự (2001) tại Singapore, đồng thời nhận thức của người sử dụng BCTC về trách nhiệm KTV hay các thông tin được truyền tải trên BCTC đúng đắn hơn Tuy nhiên nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng người sử dụng đặt trọng trách khá nặng đối với KTV về trách nhiệm của họ trong việc phát hiện và ngăn chặn gian lận
và sự lo ngại của các nhà đầu tư về báo cáo kiểm toán liệu có đủ tin tưởng để đưa ra các quyết định đầu tư hay không
(8) R Dixon A.D Woodhead M Sohliman, (2006), nghiên cứu này dựa trên các nghiên cứu của Schelluch (1996), Best và cộng sự (2001) và Mohamed Nazri Fadzly Zauwiyah Ahmad (2004) nhằm mục đích điều tra về sự tồn tại và các nhân
tố cấu thành của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Ai Cập Cách thức tiến hành nghiên cứu tương tự như hai nghiên cứu được thực hiện tại Singapore của Best và cộng sự và tại Malaysia của Fadzly và Ahmad Nghiên cứu đã khảo sát để lấy ý kiến
từ 300 người thuộc 3 nhóm KTV, nhân viên ngân hàng và nhà đầu tư Phiếu khảo sát thu về được 112 phiếu (45 phiếu là của KTV, 34 phiếu là của nhân viên ngân hàng và 33 phiếu là của nhà đầu tư) Kết quả nghiên cứu chỉ ra các nhân tố cấu thành của khoảng cách kỳ vọng liên quan đến trách nhiệm kiểm toán viên về việc phát hiện và ngăn ngừa gian lận đặc biệt trách nhiệm KTV trong việc đánh giá lựa chọn thủ tục kiểm toán, trách nhiệm về tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống KSNB, đồng thời nhân tố về mức độ tin cậy của BCTC được kiểm toán và tính hữu dụng mà BCTC được kiểm toán mang lại để các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đầu tư của mình cũng rất được quan tâm
(9) Omid Pourheydari Mina Abousaiedi (2011), nghiên cứu điều tra xem liệu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và người sử dụng BCTC tại Iran được cấu thành từ những yếu tố nào Nghiên cứu sử dụng công cụ khảo sát thông qua 17 câu hỏi về trách nhiệm kiểm toán viên, mức độ tin cậy và tính hữu ích của báo cáo kiểm toán đối với người sử dụng tại Iran Phương pháp nghiên cứu tương tự như các nghiên cứu của Schelluch; Best và các cộng sự; Fadzly và Ahmad; Dixon và các
Trang 21cộng sự Cũng như các nghiên cứu trước, kết quả tìm thấy là khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Iran được cấu thành từ ba yếu tố chính là mức độ tin cậy của BCTC được kiểm toán và thông tin hữu ích mà BCTC được kiểm toán mang lại cho người
sử dụng, đặc biệt là trách nhiệm KTV đối với việc phát hiện gian lận, tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và trách nhiệm chuẩn bị BCTC
(10) Amirhossein Taebi Noghondari Soon-Yau Foong (2013), nghiên cứu này được thực hiện riêng đối với lĩnh vực ngân hàng về những nội dung chính như là: tiền đề và hậu quả của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Malaysia, trách nhiệm kiểm toán và độ tin cậy của BCTC được kiểm toán đối với việc cho vay của các ngân hàng tại Malaysia Kết quả nghiên cứu cho thấy một khoảng cách khá lớn giữa cán bộ tín dụng ngân hàng (kể cả với cán bộ tín dụng có kinh nghiệm lâu năm) và các kiểm toán viên về trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của BCTC được kiểm toán mang lại Điều này ảnh hưởng đến chất lượng quyết định cho vay của ngân hàng Nghiên cứu này cũng đề xuất rằng để thu hẹp khoảng cách này, các ngân hàng cần có chính sách tuyển dụng và đào tạo để nâng cao sự hiểu biết về kiến thức
kế toán, trách nhiệm kiểm toán viên và mức độ đảm bảo được cung cấp bởi các chức năng kiểm toán để tránh việc quá phụ thuộc vào các thông tin trên báo cáo kiểm toán khi đánh giá đơn xin vay vốn
(11) Anila Devi (2014), mục đích của nghiên cứu này là xác định các biến cấu thành nên khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính bao gồm các ngân hàng và nhà đầu tư Các biến được sử dụng là
độ tin cậy của thông tin trên BCTC được kiểm toán, trách nhiệm kiểm toán viên và tính hữu ích của BCTC được kiểm toán Các dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi với kích thước mẫu n = 300 ngẫu nhiên gồm 100 đối tượng từ mỗi nhóm và
259 mẫu được nhận lại Bảng câu hỏi bao gồm hai phần, phần đầu tiên thu thập dữ liệu nhân khẩu học và phần 2 gồm 16 câu hỏi liên quan đến các biến Nghiên cứu này cho thấy rằng khoảng cách này đang tồn tại giữa các kiểm toán viên và nhà đầu
tư trong hai biến đó là mức độ tin cậy và tính hữu ích của BCTC được kiểm toán Nguyên nhân đưa đến khoảng cách là từ sự thiếu kiến thức và hiểu biết về chuẩn
Trang 22mực kiểm toán và thực hành kiểm toán, vì vậy để khoảng cách này được giảm thiểu bằng cách đưa ra nâng cao nhận thức và hiểu biết về kiểm toán cho người sửdụng báo cáo tài chính
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” được thực hiện trên thế giới, thời gian gần đây các nước Đông Nam Á như Malaysia, Singapore cũng đã nghiên cứu nhiều về lĩnh vực này Tuy nhiên, đối với Việt Nam nghiên cứu về “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” còn khá mới mẻ chưa được quan tâm Có những nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này tại Việt Nam:
(1) Nguyễn Quốc Kịp, 2015, Khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm
toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính – nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam,
luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc hiểu biết của các nhóm khảo sát về trách nhiệm hiện tại của KTV, sự đánh giá mà công việc KTV đã thực hiện trong cuộc kiểm toán BCTC cũng như sự kỳ vọng hợp lý và chưa hợp lý của xã hội về trách nhiệm KTV Bảng câu hỏi khảo sát được gửi cho 210 mẫu khảo sát gồm 3 nhóm đối tượng (KTV: 70; NQL và kế toán: 70; nhân viên ngân hàng và chứng khoán: 70); kết quả phản hồi là
176 mẫu, đạt 84% ((KTV: 52; NQL và kế toán: 68; nhân viên ngân hàng và chứng khoán: 56) Thông qua kết quả khảo sát cho thấy, nhóm NQL, kế toán và ngân hàng chưa hiểu đúng về trách nhiệm KTV hiện tại, yêu cầu KTV thực hiện những trách nhiệm nằm ngoài những quy định của chuẩn mực và các luật liên quan Trong khi
đa số các KTV nắm rõ các trách nhiệm của mình và thực hiện theo đúng quy định của chuẩn mực Sự khác biệt về nhận thức này tạo nên một khoảng cách mong đợi kiểm toán tại Việt Nam Như vậy, Việt Nam có tồn tại khoảng cách mong đợi kiểm toán và nguyên nhân chủ yếu là do sự mong đợi chưa hợp lý từ xã hội, do chuẩn
mực chưa đầy đủ và sự thiếu năng lực của KTV
(2) Ngô Thị Thúy Quỳnh, 2015,Giải pháp thu hẹp khoảng cách kỳ vọng giữa
kiểm toán viên và nhà quản lý trong việc kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam,
luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu đã chỉ ra
Trang 23rằng có tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và NQL tại Việt Nam liên quan đến trách nhiệm KTV NQL đặt kỳ vọng vào cuộc kiểm toán nhiều hơn so với nhận thức của KTV, đặc biệt là các trách nhiệm liên quan đến vai trò phát hiện và ngăn chặn sai sót, gian lận, các hành vi không tuân thủ và các dịch vụ phi kiểm toán khác Thêm vào đó, thông qua khảo sát các thuộc tính của NQL có thể ảnh hưởng đến kỳ vọng của họ vào hoạt động kiểm toán thì thấy rằng các NQL không có kiến thức kiểm toán và ít kinh nghiệm làm việc thường kỳ vọng cao hơn các nhóm NQL
có kiến thức và kinh nghiệm làm việc làm việc lâu hơn do họ nhận thức được mục tiêu truyền thống và những hạn chế tiềm tàng của cuộc kiểm toán Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mặc dù không thể xóa bỏ khoảng cách kỳ vọng kiểm toán nhưng
có thể giảm thiểu chúng một cách hiệu quả nhất thông qua giáo dục kiến thức, nâng cao hiểu biết về bản chất và chức năng của kiểm toán không chỉ với NQL mà còn với các đối tượng người sử dụng khác nhau Điều này không những tạo điều kiện thuận lợi cho KTV làm việc mà còn nâng cao uy tín nghề nghiệp kiểm toán trong xã hội
(3) Nhóm nghiên cứu Đại học Kinh tế - luật, 2015, Đo lường khoảng cách kỳ
vọng giữa nhà đầu tư và chất lượng công ty kiểm toán, ĐHQG.HCM Việc gửi bảng
hỏi khảo sát dành cho các đối tượng: kiểm toán viên, kế toán trưởng, nhà đầu tư, nhóm nghiên cứu đã có những cái nhìn cụ thể về quan điểm của kiểm toán viên đối với trách nhiệm của mình, đánh giá của kế toán trưởng về công việc của kiểm toán viên, cũng như hiểu biết của nhà đầu tư về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán Thông qua kết quả khảo sát cùng với việc tham chiếu trên thang đo tương ứng nhóm nghiên cứu cho rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến khoảng cách kỳ vọng Xuất phát từ phía kiểm toán viên và công ty kiểm toán là chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu người sử dụng báo cáo tài chính mà nguyên nhân sâu xa từ phía năng lực chuyên môn của kiểm toán viên, việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cũng như đặc thù của công việc Từ phía người sử dụng báo cáo tài chính, những quan điểm chưa đúng đắn về công việc của kiểm toán viên cũng như những hiểu biết chưa đầy đủ về báo cáo tài chính cũng là nguyên nhân dẫn đến khoảng cách kỳ
Trang 24vọng Đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm giảm thiểu khoảng cách này Kiểm toán viên cần tuân chủ chuẩn mực chuyên môn và đạo đức trong hành nghề, thông báo đầy đủ và chi tiết về bản chất cuộc kiểm toán báo cáo tài chính Về phía nhà đầu tư, các lớp tập huấn những hiểu biết về công việc kiểm toán cũng như các chương trình về kế toán, phân tích báo cáo tài chính cần được mở thường xuyên để
trang bị những kiến thức đầu tư đầy đủ hơn
1.3 Nhận xét về các nghiên cứu trước và xác định vấn đề cần nghiên
cứu
Sau quá trình tổng quan các nghiên cứu nước ngoài và nghiên cứu trong nước
về vấn đề liên quan đến “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán”, tác giả nhận định được những mặt đã giải quyết được và những mặt hạn chế còn thiếu sót tồn tại của các nghiên cứu kể trên như sau:
1.3.1 Đối với các nghiên cứu nước ngoài
Thông qua tìm hiểu về các nghiên cứu nước ngoài ở phần trên đã cho thấy, theo thời gian các nghiên cứu trên thế giới nhờ kế thừa các nghiên cứu trước nên ngày càng hoàn thiện hơn cả về mặt nội dung và ý nghĩa đưa ra những kết luận có cơ sở
và ứng dụng thực tiễn hơn Các nghiên cứu trước và sau trên thế giới đều có những điểm tương đồng như sau:
- Các nghiên cứu đều gắn liền với nền kinh tế tại mỗi thời điểm, tiếp cận theo hướng gắn kết với sự phát triển của nghề của kiểm toán, với nhu cầu của người sử dụng báo cáo kiểm toán Mục đích để nghề kiểm toán ngày càng hoàn thiện hơn và
có ý nghĩa hơn
- Đa số các nghiên cứu trước là những nghiên cứu chung chung về vấn đề có tồn tại hay không khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, chưa đưa ra các nhóm riêng lẻ về các nhân tố cấu thành nên khoảng cách đó Càng về sau, các nghiên cứu đã được xem xét đến các yếu tố cấu thành nên khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và có hướng giải pháp thu hẹp cho từng yếu tố
Trang 25- Các nghiên cứu sau kế thừa kết quả các nghiên cứu trước, những nghiên cứu sau có tính mới hơn đưa ra những bằng chứng có tính thuyết phục cao hơn, khắc phục dần những hạn chế của những nghiên cứu trước
1.3.2 Đối với các nghiên cứu trong nước
Đối với các công trình nghiên cứu trong nước nghiên cứu về “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” có thể cho thấy rằng:
- Các tác giả chú trọng vào việc nghiên cứu về mong đợi thực tế của xã hội về trách nhiệm KTV, các trách nhiệm đó đã được các KTV thực hiện như thế nào, bản thân KTV nhìn nhận ra sao, ĐVĐKT và người sử dụng báo cáo kiểm toán nghĩ gì
về trách nhiệm của KTV trong cuộc kiểm toán BCTC
- Các nghiên cứu này cũng đã đưa ra được những bằng chứng thực nghiệm về việc tồn tại khoảng kỳ vọng kiểm toán tại Việt Nam về sự mong đợi của xã hội đối với trách nhiệm KTV trong kiểm toán BCTC tại Việt Nam hiện nay, đánh giá kết quả thực hiện trách nhiệm của KTV hiện nay như thế nào theo quan điểm của người
sử dụng báo cáo kiểm toán và từ đó đưa ra các biện pháp nhằm thu hẹp khoảng cách đối với trách nhiệm KTV trong kiểm toán BCTC tại Việt Nam
1.3.3 Vấn đề cần nghiên cứu
Nghiên cứu về “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” là một đề tài được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm với nhiều quan điểm, nhiều cách tiếp cận khác nhau Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu thực hiện, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu tại Việt Nam chỉ tập trung nghiên cứu về trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện các gian lận và sai sót trên BCTC của ĐVĐKT và chưa có nghiên cứu nào kết hợp giữa trách nhiệm KTV, tính hữu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán Thêm vào đó, các nghiên cứu này đã được thực hiện ở các nước có nền kinh tế phát triển, điển hình như Schelluch (1996), Peter, J Best, Sherrena Buckby, Clarice Tan (2001) tại singapore, Mohamed Nazri Fadzly Zauwiyah Ahmad (2004) tại Malaysia, R Dixon A.D Woodhead M Sohliman (2006) tại Egypt, Soon-Yau Foong (2013), Anila Devi (2014) tại Iran…trong khi đó, tại một nước đang phát triển ở Đông Nam Á như Việt Nam thì một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến nghề
Trang 26nghiệp kiểm toán chưa được nghiên cứu rộng rãi Do vậy, tác giả chọn vấn đề này
để tìm hiểu liệu có tồn tại khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm KTV, về tính hửu ích của thông tin trên BCTC được kiểm toán, để từ đó có những đề xuất nhằm thu hẹp khoảng cách này tại Việt Nam
Trang 27xã hội hiện nay như thế nào, hợp lý hay không và họ có tin tưởng vào cuộc kiểm toán BCTC để đưa ra quyết định đầu tư của mình không Từ đó hạn chế những mong đợi không hợp lý của các nhóm lợi ích vượt quá khả năng thực tế của KTV nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng này
Trang 28CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán
Trên thế giới, số lượng những vụ kiện tụng về kết quả kiểm toán báo cáo tài chính đối với các kiểm toán viên độc lập trong những năm gần đây đã gia tăng rất nhiều và đặt ra những câu hỏi về khả năng đáp ứng của nghề nghiệp kiểm toán đối với yêu cầu của xã hội Do đó, các nhà nghiên cứu và thực hành đã nghiên cứu đã rất quan tâm đến khái niệm về “Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” và đưa ra rất nhiều quan điểm về khái niệm này:
- Liggio (1974), là người đầu tiên đưa ra khái niệm “Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” Theo ông, khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là sự khác biệt giữa mức độ
kỳ vọng về hiệu quả công việc kiểm toán giữa kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính
- Ủy ban Cohen (1978) mở rộng khái niệm này, cho rằng khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là sự kỳ vọng hoặc yêu cầu của công chúng về những gì KTV có thể và nên thực hiện một cách hợp lý
- Guy và Sullivan (1988), có sự khác biệt giữa những gì mà công chúng và nhữngngười sử dụng BCTC tin tưởng KTV chịu trách nhiệm và những gì mà KTV tin tưởng họ chịu trách nhiệm
- Godsel (1992) mô tả khoảng cách kỳ vọng là khoảng cách mà công chúng tin tưởng vềtrách nhiệm của KTV và kết quả thể hiện trong Báo cáo kiểm toán
- Porter (1993) cho rằngkhoảng cách kỳ vọng là khoảng cách giữa sự kỳ vọng của xã hội đối với kiểm toán viên và hoạt động kiểm toán
- Monroe và Woodliff (1993) cho rằng khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là sự khác biệt về niềm tin giữa KTV và công chúng về nhiệm vụ và trách nhiệm mà KTV đảm nhận và thông điệp trình bày trong báo cáo kiểm toán
- Theo Viện Kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ (1993), khoảng cách kỳ vọng
đề cập đến sự khác biệt giữa những gì mà công chúng và người sử dụng BCTC tin rằng trách nhiệm của KTV phải làm và những gì mà KTV tin rằng trách nhiệm họ phải làm
Trang 29- Viện Kế toán viên Công chúng Úc (1994), cho rằng khoảng cách kỳ vọng là
sự khác biệt về kỳ vọng của người sử dụng BCTC và chất lượng lập BCTC, chất lượng dịch vụ kiểm toán
Như vậy, có thể nhận thấy rằng mặc dù các khái niệm với các từ ngữ khác nhau nhưng các khái niệm trên đều đề cập đến khoảng cách về sự nhận thức hoạt động thực tế của KTV và kỳ vọng mà KTV phải thực hiện; và tồn tại sự khác biệt
về nhận thức giữa KTV, người sử dụng BCTC và xã hội
Trên thực tế, lúc nào cũng có sự khác biệt về nhận thức giữa KTV và công ty kiểm toán thực hiện hoạt động kiểm toán, với sự nhận thức của những người sử dụng BCTC và xã hội đối với hoạt động kiểm toán Tuy nhiên, khi hoạt động kiểm toán ngày càng trở nên phổ biến thì khoảng cách này lại có xu hướng thu hẹp qua thời gian Chính do xuất hiện khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán mà sự mâu thuẫn và hiểu lầm giữa KTV và Công ty kiểm toán, với những người sử dụng BCTC thường xuyên xảy ra Sự xuất hiện khoảng cách kỳ vọng kiểm toán này, xét một cách khách quan, được hình thành từ cả phía KTV và Công ty kiểm toán; và chính từ phía những người sử dụng BCTC
2.2 Mô hình nghiên cứu về nguyên nhân hình thành khoảng cách kỳ
vọng kiểm toán trong kiểm toán BCTC
Qua phần tổng quan các nghiên cứu trước cho thấy, luôn tồn tại khoảng cách giữa KTV và những người sử dụng kết quả kiểm toán về kỳ vọng của những đối tượng này với phạm vi trách nhiệm của KTV Các kỳ vọng này đã vượt quá trách nhiệm và khả năng của kiểm toán viên
Nghiên cứu nổi bật để tìm ra nguyên nhân xuất hiện của khoảng cách kỳ vọng này là nghiên cứu của Porter, nghiên cứu của bà đã mang lại cái nhìn hoàn thiện hơn về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán Theo Porter, khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán gồm 2 thành phần chính, đó là khoảng cách về tính hợp lý và khoảng cách về kết quả
Trang 30Hình 2.1: Mô hình về khoảng cách mong đợi kiểm toán (Porter, 2012)
Từ mô hình khoảng cách kỳ vọng kiểm toán của Porter (2012), có thể thấy các nguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành khoảng cách kỳ vọng kiểm toán như sau:
Khoảng cách về tính hợp lý: Mong đợi chưa hợp lý từ phía xã hội
Vẫn còn nhiều quan niệm cho rằng trách nhiệm của KTV là bảo đảm BCTC được kiểm toán là chính xác tuyệt đối và không có bất cứ sai sót nào tồn tại và KTV cần phải kiểm tra 100% các nghiệp vụ kinh tế và phát hiện tất cả các sai sót và gian lận qua đó cảnh báo tất cả các rủi ro có thể xảy ra đến doanh nghiệp; BCTC phải trình bày tất cả các thông tin có liên quan đến mọi hoạt động của doanh nghiệp Nhiều người sử dụng BCTC cho rằng BCTC đã được kiểm toán là sự bảo đảm tuyệt đối các thông tin phản ánh trên BCTC của doanh nghiệp Nhiều người sử dụng BCTC đã được kiểm toán cũng kỳ vọng rằng số liệu mà KTV xác nhận trên BCTC phải giống như số liệu mà các cơ quan khác thanh quyết toán BCTC của đơn vị như
số liệu về thuế phải nộp, chi phí hợp lý hợp lệ, đơn vị được kiểm toán sẽ không bị
Khoảng cách về Khoảng cách về kết quả tính hợp lý
Kết quả Chuẩn mực Mong đợi
đạt được chưa đạt bất hợp lý
Trách nhiệm hiện tại của kiểm toán viên
Trách nhiệm của kiểm toán viên theo mong đợi hợp lý
và kết quả kiểm toán
Mong đợi của
xã hội về kiểm toán viên
Trang 31phá sản, không còn gian lận tại đơn vị hay đơn vị đã được quản lý tốt Do vậy, họ không quan tâm nhiều đến ý kiến KTV và khi quyết định kinh tế của họ có sai lầm thì dẫn đến mâu thuẫn và tranh chấp kiện tụng với KTV và công ty kiểm toán
Sở dĩ, một cuộc kiểm toán thường không thể đáp ứng được những yêu cầu trên
do hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán và sâu xa hơn là do khía cạnh kinh tế của vấn
đề Vì một cuộc kiểm toán nếu muốn đạt được những yêu cầu nêu trên, giả sử thực hiện được, sẽ dẫn đến chi phí rất cao và không tương xứng với mục đích sử dụng của BCTC
Bởi lẽ, căn cứ vào những thông tin trên BCTC, người sử dụng sẽ đưa ra các quyết định kinh tế Những quyết định này được đưa ra chủ yếu là dựa trên một sự hiểu biết về tổng thể của BCTC hơn là chi tiết, vì thế người sử dụng chỉ cần được cung cấp một sự đánh giá về mức độ trung thực và hợp lee của BCTC hơn là đi sâu vào những khía cạnh khác như việc tuân thủ tất cả quy định của pháp luật hay phát hiện mọi gian lận và nhầm lẫn… Còn những vấn đề nào thuộc về trách nhiệm của người quản lý thì đã được hoặc cần được quy định bởi pháp luật
Khoảng cách về kết quả: Khoảng cách do dịch vụ chưa hoàn hảo
Cụ thể, các dịch vụ kiểm toán do KTV và công ty kiểm toán cung cấp chưa thực sự hoàn hảo và chưa thỏa mãn nhu cầu và kỳ vọng của những người sử dụng BCTC Dịch vụ kiểm toán chưa hoàn hảo có thể do:
chưa phát hiện được các sai phạm trọng yếu vẫn còn tồn tại trong BCTC đã được kiểm toán;
xã hội và quan hệ kinh tế với đơn vị được kiểm toán và chưa độc lập trong việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán;
- Không phải lúc nào KTV cũng kiểm tra 100% các nghiệp vụ kinh tế phát sinh cho nên hoạt động kiểm toán lúc nào cũng tồn tại rủi ro;
Trang 32Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các cuộc kiểm toán bao gồm cả cuộc kiểm toán BCTC, các KTV và Công ty kiểm toán chưa thông báo và giải thích hoặc có thông báo và giải thích không đầy đủ cho những người sử dụng BCTC như Ban Giám đốc công ty khách hàng và các bộ phận có liên quan trong đơn vị được kiểm toán như phòng Kế toán về bản chất của cuộc kiểm toán Cụ thể, người sử dụng BCTC vẫn chưa hiểu thấu đáo cơ sở tiến hành kiểm toán; đối tượng kiểm toán; phạm vi kiểm toán; ý kiến kiểm toán, mức trọng yếu, các loại rủi ro có liên quan.Hơn nữa, ý kiến chấp nhận từng phần có ngoại trừ bị lạm dụng và được nhiều KTV và công ty kiểm toán đưa ra Mục đích của việc đưa ra ý kiến này là để giảm thiểu trách nhiệm của KTV về BCTC đã được kiểm toán Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 và 705, ý kiến chấp nhận từng phần được được áp dụng trong trường hợp KTV kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC; hoặc KTV không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng KTV kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC
2.3 Các quy định có liên quan về trách nhiệm của kiểm toán viên
2.3.1 Chuẩn mực kiểm toán VSA 200 - Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Chuẩn mực kiểm toán VSA 200 được ban hành theo thông tư BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV và DNKT khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Theo đoạn 11, của chuẩn mực này quy định: Mục tiêu tổng thể của KTV và DNKT khi thực hiện một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính là “Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp KTV đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập phù hợp với
Trang 33214/2012/TT-khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không”
Mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với báo cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không
Ngoài ra, Chuẩn mực này cũng quy định và hướng dẫn phạm vi áp dụng, kết cấu của các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, bao gồm các yêu cầu về trách nhiệm của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán trong tất cả các cuộc kiểm toán, kể
cả trách nhiệm phải tuân thủ chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Theo đoạn 05 của chuẩn mực này có nêu rõ: “Để kiểm toán viên có cơ sở để đưa ra ý kiến kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam yêu cầu kiểm toán viên phải đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn hay không Sự đảm bảo hợp lý là sự đảm bảo ở mức độ cao và chỉ đạt được khi kiểm toán viên đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán (là rủi ro do kiểm toán viên đưa ra ý kiến không phù hợp khi báo cáo tài chính còn có những sai sót trọng yếu) tới một mức độ thấp có thể chấp nhận được Tuy nhiên, sự đảm bảo hợp lý không phải là đảm bảo tuyệt đối, do luôn tồn tại những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán làm cho hầu hết bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên dựa vào để đưa ra kết luận và ý kiến kiểm toán đều mang tính thuyết phục hơn là khẳng định”
Theo đoạn 07: “Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam yêu cầu kiểm toán viên phải thực hiện xét đoán chuyên môn và luôn duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt quá trình lập kế hoạch cũng như thực hiện kiểm toán, trong đó có các công việc:
- Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn, dựa trên sự hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, kể cả kiểm soát nội bộ của đơn vị
Trang 34- Thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về việc liệu các sai sót trọng yếu có tồn tại hay không, thông qua việc thiết kế và thực hiện các biện pháp
xử lý phù hợp đối với rủi ro đã đánh giá;
- Hình thành ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính dựa trên kết luận về các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được
Đoạn 09: “Theo quy định của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hoặc pháp luật
và các quy định khác có liên quan, kiểm toán viên cũng có thể có trách nhiệm trao đổi thông tin và báo cáo về một số vấn đề phát sinh từ cuộc kiểm toán với người sử dụng báo cáo tài chính, Ban Giám đốc, Ban quản trị hoặc các đối tượng khác ngoài đơn vị được kiểm toán”
2.3.2 Chuẩn mực kiểm toán VSA 240 - Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính
Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban quản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán:
- BGĐ đơn vị có trách nhiệm ngăn ngừa (đặc biệt là giảm bớt các cơ hội và thực hiện hành vi gian lận) và phát hiện gian lận, kể cả cam kết tạo ra văn hóa trung thực và hành vi có đạo đức trong đơn vị
- BQT đơn vị có trách nhiệm giám sát hoạt động của BGĐ và phải xem xét khả năng xảy ra hành vi khống chế kiểm soát hoặc hành động gây ảnh hưởng không thích hợp đến quy trình lập và trình bày BCTC, ví dụ việc BGĐ cố gắng điều chỉnh kết quả kinh doanh để các nhà phân tích hiểu không đúng về hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị được kiểm toán
Ngoài trách nhiệm của Ban quản trị và Ban Giám đốc, thì trách nhiệm của KTV và DNKT cũng được quy định trong chuẩn mực này tại đoạn 05 – 08: Khi thực hiện kiểm toán, KTV chịu trách nhiệm đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không Do những hạn chế vốn có của kiểm toán nên có rủi ro khó
Trang 35tránh khỏi là kể cả khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch và thực hiện theo quy định của CMKiT thì KTV vẫn có thể không phát hiện được một số sai sót có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, đặc biệt là các sai sót do gian lận Rủi ro có sai sót trọngyếu do gian lận cao hơn rủi ro có sai sót trọng yếu do nhầm lẫn, vì gian lận có thể được thực hiện một cách tinh vi, được tổ chức chặt chẽ, có hành động che dấu,
có sự thông đồng của nhiều người, nhiều cấp
Để hoàn thành và thực hiện tốt trách nhiệm của KTV và DNKT, thì yêu cầu đối với KTV và DNKT (Đoạn 12-43, A7-A67):
- Thái độ hoài nghi nghề nghiệp
- Thảo luận nhóm kiểm toán
- Thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan
- Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận
- Biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá:
+ Biện pháp xử lý tổng thể - áp dụng đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá ở cấp độ BCTC:
+ Thủ tục kiểm toán – áp dụng đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở
cấp độ cơ sở dẫn liệu đã được đánh giá
- Đánh giá bằng chứng kiểm toán
- Trao đổi với BGĐ/BQT đơn vị được kiểm toán và cơ quan quản lý, cơ quan pháp luật có liên quan
2.3.3 Chuẩn mực kiểm toán VSA 260 - Trao đổi các vấn đề với Ban quản trị đơn vị đƣợc kiểm toán
Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán trong việc trao đổi các vấn đề liên quan đến cuộc kiểm toán báo cáo tài chính với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán Theo đoạn 05-
07 quy định trách nhiệm của kiểm toán viên:
- KTV có trách nhiệm trao đổi với BQT đơn vị được kiểm toán về các vấn đề
quan trọng theo quy định của CMKiT, ngoài ra, CMKiT không yêu cầu KTV phải
Trang 36thực hiện các thủ tục cụ thể nhằm phát hiện các vấn đề khác để trao đổi với BQT CMKiT cũng không hạn chế các vấn đề mà KTV có thể trao đổi với BQT đơn vị Tuy nhiên, cần lưu ý là pháp luật và các quy định có liên quan có thể hạn chế việc KTV trao đổi một số vấn đề nhất định với BQT đơn vị được kiểm toán
-17, A9-A23):
Trách nhiệm của KTV trong cuộc kiểm toán BCTC (KTV có trách nhiệm
đưa ra ý kiến về BCTC do BGĐ đơn vị chịu trách nhiệm lập và trình bày dưới sự giám sát của BQT đơn vị Việc thực hiện kiểm toán BCTC không làm giảm trách nhiệm của BGĐ hoặc BQT đơn vị được kiểm toán)
Các nội dung chính về phạm vi và lịch trình thực hiện cuộc kiểm toán theo
kế hoạch
Các phát hiện quan trọng khi thực hiện kiểm toán
Tính độc lập của KTV (đối với trường hợp đơn vị được kiểm toán là tổ chức niêm yết)
2.3.4 Chuẩn mực kiểm toán VSA 315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị
Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu, thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ, từ
đó cung cấp cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với rủi ro
có sai sót trọng yếu đã được đánh giá
KTV phải thu thập hiểu biết về khách hàng và môi trường hoạt động để xác định và hiểu các sự kiện, giao dịch và hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán có ảnh hưởng trọng yếu tới BCTC, qua đó giúp cho việc xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hay nhầm lẫn Vì vậy, KTV phải:
Trang 37- Phỏng vấn BGĐ và các cá nhân khác trong đơn vị mà theo xét đoán của kiểm toán viên có khả năng cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn
- Thực hiện thủ tục phân tích
- Quan sát và điều tra
Để làm tốt những thủ tục trên, KTV phải hiểu rõ về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị
- Các chính sách kế toán mà đơn vị lựa chọn áp dụng và lý do thay đổi (nếu có) Kiểm toán viên phải đánh giá các chính sách kế toán mà đơn vị đang áp dụng
có phù hợp với lĩnh vực hoạt động kinh doanh của đơn vị, có nhất quán với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính và các chính sách kế toán mà các đơn vị trong cùng lĩnh vực hoạt động đang áp dụng hay không Mục tiêu, chiến lược của đơn vị và những rủi ro kinh doanh có liên quan mà có thể dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu Việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị cũng như hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị
2.3.5 Chuẩn mực kiểm toán VSA 330 - Biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối với rủi ro đã đánh giá
Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên trong việ ực hiện các biện pháp xử lý đối với các rủi ro có sai sót trọng yếu mà kiểm toán viên đã xác định và đánh giá khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315
Biện pháp xử lý tổng thể đối với các rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá trong báo cáo tài chính có thể bao gồm:
- Nhấn mạnh với nhóm kiểm toán về sự cần thiết phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp;
- Bổ nhiệm các thành viên nhóm kiểm toán có kinh nghiệm hoặc có kỹ năng chuyên môn đặc biệt, hoặc sử dụng chuyên gia;
- Tăng cường giám sát;
Trang 38- Kết hợp các yếu tố không thể dự đoán trước khi lựa chọn các thủ tục kiểm toán tiếp theo cần thực hiện;
- Thực hiện những thay đổi chung đối với nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán
Đánh giá của kiểm toán viên về các rủi ro phát hiện được ở cấp độ cơ sở dẫn liệu cung cấp cơ sở nhằm lựa chọn phương pháp kiểm toán thích hợp để thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo KTV cần xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo
Việc thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo, mà nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục này được xác định dựa trên cơ sở đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, cung cấp mối liên kết rõ ràng giữa các thủ tục kiểm toán tiếp theo và việc đánh giá rủi ro của kiểm toán viên
2.4 Thông tin hữu ích trên báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán
Tính hữu ích của BCTC được kiểm toán là những lợi ích mà người sử dụng có được thông qua các thông tin mà BCTC được kiểm toán cung cấp giúp cho việc ra các quyết định kinh tế được tốt hơn
Thông tin hữu ích trên BCTC theo quan điểm của chuẩn mực kế toán
Việt Nam
Do bản chất và vai trò của BCTC gắn liền với việc cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng, do đó tính hữu ích của BCTC cũng chính là tính hữu ích của thông tin được trình bày trên BCTC Để BCTC có được tính hữu ích, thì thông tin trên BCTC phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh
- Tính trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh (đoạn 10, VAS 01)
- Tính khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo (đoạn 11, VAS 01)
Trang 39- Tính đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót (đoạn 12, VAS 01)
- Tính kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ (đoạn 13, VAS 01)
- Tính dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin
về những vấn đề phức tạp trong BCTC phải được giải trình trong phần thuyết minh (đoạn 14, VAS 01)
- Tính có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng BCTC có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch (đoạn 15, VAS 01)
Đối tƣợng sử dụng thông tin trên BCTC đƣợc kiểm toán:
Theo luật kế toán Việt Nam số 88/2015/QH13 ban hành ngày 20/11/2015, đối
tượng sử dụng thông tin trên BCTC được đề cập trong luật “đối tượng có nhu cầu
sử dụng thông tin của đơn vị kế toán”, hay theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số
01- Chuẩn mực chung là “ Người sử dụng BCTC” và theo CMKiT Việt Nam số 21- trình bày BCTC “ số đông người sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế”
Như vậy, theo những quy định pháp lý hiện hành áp dụng tại Việt Nam, đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC không được nêu rõ chi tiết, tất cả các bên có nhu cầu sử dụng thông tin đều là đối tượng phục vụ của BCTC
Ngoài ra theo luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 có chỉ ra BCTC được kiểm toán có giá trị sử dụng để:
Trang 40- Cổ đông, nhà đầu tư, bên tham gia liên doanh, liên kết, khách hàng và tổ chức, cá nhân khác có quyền lợi trực tiếp hoặc liên quan đến đơn vị được kiểm toán
xử lý các quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan;
- Cơ quan nhà nước quản lý, điều hành theo chức năng, nhiệm vụ được giao;
- Đơn vị được kiểm toán phát hiện, xử lý và ngăn ngừa kịp thời sai sót, yếu kém trong hoạt động của đơn vị
2.5 Lý thuyết nền tảng
2.5.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Nội dung của lý thuyết
Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, được phát triển bởi Alchial và Demsetz năm 1972 và được phát triển thêm bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976 Lý thuyết này xuất hiện khi nền kinh tế trên thế giới phát triển mạnh mẽ, các công ty đa dạng về loại hình và phát triển về quy mô nên chủ sở hữu không thể trực tiếp điều hành công ty mà phải ủy quyền cho NQL đại diện họ điều hành công ty thông qua hợp đồng ủy nhiệm Lý thuyết đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình thì không chắc chắn rằng NQL sẽ luôn hành động để mang lại lợi ích cao nhất cho chủ
sở hữu Bên cạnh đó, việc giám sát NQL là rất khó khăn và tốn kém đối với chủ sở hữu vì luôn tồn tại thông tin bất cân xứng trong mối quan hệ này NQL thì dễ dàng
có được những thông tin, cơ hội về những hợp đồng nào, đối tác nào sẽ đem lại nguồn lợi và có khả năng tối đa hóa lợi ích cá nhân trên cơ sở nguồn lực của công
ty, đồng thời NQL cũng có khả năng điều hành công ty theo lợi ích riêng của mình hơn là lợi ích của công ty Vì vậy, lý thuyết đại diện nêu ra vấn đề giải quyết làm sao để NQL làm việc vì lợi ích cao nhất cho chủ sở hữu khi họ có lợi thế về thông tin
Vận dụng lý thuyết vào đề tài
Do sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý nên cần có người trung gian kiểm tra lại công việc mà người quản lý (người đại diện) đã thực hiện Vai trò chính của KTV là kiểm tra lại các thông tin dữ liệu mà người đại diện cung cấp để cung