1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO

37 1,2K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả nghiên cứu và bàn luận về công ty Traphaco
Trường học Trường Đại Học Dược Hà Nội
Chuyên ngành Dược
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 162 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ năm 1994, khi mà hầu hết các công ty, xí nghiệp dược phẩm trong nước đều gặp khó khăn do còn bỡ ngỡ với cơ chế hoạt động mới, phải đương đầu cạnh tranh với các hãng dược phẩm nướ

Trang 1

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG

TY TRAPHACO

3.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần Traphaco

Bắt đầu từ ngày 01/01/2000, Công ty cổ phần Dược và thiết bị vật tư Y

tế Traphaco chính thức hoạt động theo mô hình mới với 45% vốn Nhà nước Qua khảo sát về tổ chức bộ máy của Công ty, chúng tôi thu được kết quả như

sơ đồ hình 3.1

Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến - chức năng do đó vừa phát huy năng lực chuyên môn của các bộ phận vừa đảm bảo quyền chỉ huy của hệ thống trực tuyến

Về mặt tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, nhân lực công ty Traphaco có thể được chia thành 2 khối: khối sản xuất và khối gián tiếp

Traphaco là một công ty mới phát triển nên chưa có bộ phận Marketing hoạt động độc lập mà còn lồng ghép vào các phòng khác như Phòng Nghiên cứu và phát triển (nghiên cứu sản phẩm mới, nghiên cứu thị trường, nghiên cứu mẫu mã bao bì, quảng cáo), Phòng Kinh doanh (đảm bảo tiêu thụ sản phẩm và tiếp thị)

3.2 Khảo sát các chính sách Marketing m ix được vận dụng tại Công ty 3.2.1 Chính sách sản phẩm

Đối với một công ty sản xuất kinh doanh, chiến lược về sản phẩm là chiến lược đầu tiên và hết sức quan trọng, là bước khởi đầu để định ra các chiến lược tiếp theo

Ngay từ năm 1994, khi mà hầu hết các công ty, xí nghiệp dược phẩm trong nước đều gặp khó khăn do còn bỡ ngỡ với cơ chế hoạt động mới, phải đương đầu cạnh tranh với các hãng dược phẩm nước ngoài có kinh nghiệm lâu đời về hoạt động kinh doanh dược phẩm… thì Traphaco đã đi theo chiến

Trang 2

lược Marketing khác biệt hoá sản phẩm: sản xuất các thuốc có nguồn gốc

dược liệu theo công nghệ mới

Trang 3

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

GI M Á ĐỐC ĐIỀU H NH À

BAN KIỂM SOÁT

PGĐ HC-TH Công ty TraphacoSapa PGĐ SX-CL Phòng TCHC

Phòng TCKT

Phòng NC&PT Phòng

Kế hoạch

Phòng ĐBCL + Cơ điện

Phòng KTCL

Phân xưởng Viên nén, viên nang

Phân xưởng đóng gói Phân xưởng Thuốc nước

Phân xưởng Thuốc mỡ, Cream

Phân xưởng Nang mềm

Chi nhánh TPHCM Phòng Kinh doanh

Nh máy à đông dược GMP - Văn Lâm

Nh máy s à ản xuất GMP - Ho ng Li à ệt

Phân xưởng Viên ho n à

Phân xưởng Sơ chế, chiết xuất Phân xưởng Thuốc ống

Phân xưởng Viên nén Đông dược

Tổ xử lý NPL bao bì

Trang 4

Chú thích:

: Trực tuyến : Chức năng : Kiểm soát

Hình 3.1: Sơ đồ Cơ cấu tổ chức Công ty cổ phần Traphaco

Trang 5

Là một doanh nghiệp dược năng động, Traphaco đã nhận thức rõ những thời cơ và thuận lợi khi đi theo hướng này:

Thứ nhất, Traphaco hiểu rõ lợi thế của đất nước với nguồn nguyên liệu

dược liệu dồi dào, vốn kiến thức và kinh nghiệm dân gian phong phú từ ngàn đời xưa để lại

Thứ hai, với các sản phẩm từ dược liệu, Công ty sẽ tránh được phần

nào sự đối đầu với các Công ty nước ngoài, đặc biệt là các hãng Dược phẩm nổi tiếng của phương Tây

Thứ ba, Công ty đã nắm bắt được xu hướng của người tiêu dùng thích

quay trở lại với các thuốc có nguồn gốc dược liệu

Ngoài ra, định hướng này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng coi trọng phát triển y học dân tộc, tích cực kế thừa, áp dụng những thành tựu và kinh nghiệm của y học cổ truyền

Tận dụng được những cơ hội trên, Traphaco đã trở nên nổi tiếng nhờ các sản phẩm sản xuất từ dược liệu Sau này, nhiều công ty Dược trong nước cũng đi theo hướng đó như CTCP Dược Nam Hà, Công ty TNHH Phúc Hưng, Công ty TNHH Thiên Thảo,…

Với khẩu hiệu “Công nghệ mới và bản sắc cổ truyền”, Công ty đã cho

ra đời một loạt sản phẩm mà sau này đã trở nên khá quen thuộc với người dân Việt Nam như: Sáng mắt (sản xuất theo công nghệ mới vào năm 1994), Nhân sâm tam thất (ra đời năm 1996)… Trong những năm gần đây, Công ty vẫn rất chú trọng tới việc nghiên cứu, thử nghiệm những công nghệ mới trong sản xuất các sản phẩm có nguồn gốc dược liệu với hiệu quả điều trị cao từ các kinh nghiệm dân gian theo dạng bào chế hiện đại dễ sử dụng, an toàn hơn, bảo quản thuận lợi hơn Đặc biệt, các sản phẩm của Traphaco có đặc tính là các nguyên liệu đầu vào đều được chuẩn hoá, có chất lượng cao, dược liệu đạt tiêu chuẩn “sạch” an toàn Một loạt sản phẩm mới đã ra đời và nhanh chóng

được người tiêu dùng chấp nhận như: Ích mẫu (2000), Ampelop (2001), Cadef, Slaska, Celgar (2002), Lục vị ẩm, Livbilnic (2003) Hiện nay, trong

Trang 6

tổng số 95 mặt hàng của Công ty thì tỷ lệ thuốc Đông dược chiếm 44,2% với

41 sản phẩm, chiếm 75% doanh thu của Công ty - đây là một tỷ lệ khá cao

so với các công ty Dược trong nước

Nhằm nâng cao sự an toàn trong kinh doanh và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, bên cạnh những sản phẩm có nguồn gốc Dược liệu,

Công ty còn phát triển sản phẩm theo chiều rộng với một danh mục sản

phẩm khá phong phú, bao gồm 22 nhóm chủng loại tương ứng với 95 sản phẩm

Bảng 3.1: Danh mục sản phẩm của CTCP Traphaco năm 2003

ST

T Nhóm chủng loại lượng Số STT Nhóm chủng loại lượng Số

2 Acid amin - Vitamin và Chất khoáng 9 13 Thuốc bảo vệ gan, lợi mật, bài sỏi 3

3 Thuốc hướng thần kinh 4 14 Thuốc trị viêm loét dạ dày, hành tá tràng 2

4 Thuốc an thần 3 15 Thuốc trị viêm đại tràng, táo bón, trĩ 3

7 Thuốc lợi tiêu hoá 5 18 Thuốc kháng virus - ký sinh trùng 4

8 Thuốc xương khớp, giảm đau, chống viêm 7 19 Thuốc kháng nấm 3

11 Thuốc chống ung thư, tăng cường miễn dịch 2 22 Thuốc phụ khoa 3

Trang 7

Traphaco là một công ty Dược trong nước đi đầu trong lĩnh vực xây dựng và quảng bá thương hiệu Hiện nay, Công ty đang nắm giữ 1 giải pháp

hữu ích, 8 kiểu dáng công nghệ, 84 nhãn hiệu hàng hoá từ dược liệu Công ty cũng đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Traphaco tại 34 nước và được cấp phép tại

7 nước là: Mỹ, Nhật, Campuchia, Lào, Thái Lan, Xingapo và Úc Nhờ có nhận thức đúng đắn về vấn đề xây dựng và quảng bá thương hiệu nên Traphaco với các sản phẩm nguồn gốc dược liệu đã trở nên quen thuộc đối với người tiêu dùng cả nước Đây là giá trị vô hình được toàn thể CBCNV Công ty trân trọng, gìn giữ và phát triển không ngừng

3.2.2 Chính sách giá

Đây là chính sách quan trọng trong hệ thống Marketing không chỉ bởi

nó là một công cụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà nó còn

hỗ trợ cho các chính sách khác của Marketing

Trong giai đoạn 1994 - 1999, là một doanh nghiệp nhỏ với số vốn ít nên mạng lưới phân phối của Công ty hẹp Tính đến năm 1999, Công ty chỉ

có 3 cửa hàng bán buôn, 5 cửa hàng bán lẻ tại Hà Nội và 8 đại lý tại các tỉnh

Vì vậy nên vấn đề quản lý giá chưa được tốt

Nhưng từ năm 2000 đến nay, Công ty đã tập trung mở rộng mạng lưới

phân phối và áp dụng chiến lược một giá trên toàn quốc đối với toàn bộ sản

phẩm của Công ty, cụ thể là các sản phẩm của công ty đưa ra tiêu thụ đều được thống nhất với hai loại giá:

Giá bán lẻ: Giá bán thống nhất đến tay người tiêu dùng tại các Hiệu

thuốc bán lẻ của Công ty Giá bán lẻ thường bằng giá bán buôn cộng thêm 10%

Giá bán buôn: Là mức giá thống nhất được quy định làm chuẩn cho

các thành viên kênh khi lưu thông sản phẩm trên cả nước

Điều này cũng phù hợp với yêu cầu của thuốc là phải được bán đúng giá Với chiến lược này, Công ty còn tạo được uy tín với khách hàng và thuận lợi trong việc định giá, quản lý giá

Trang 8

Tuy vậy, tuỳ từng thời điểm khác nhau và với khối lượng hàng khác nhau, Công ty còn sử dụng các hình thức chiết khấu, khuyến mại nhằm hỗ trợ cho việc tiêu thụ sản phẩm Hiện nay, Công ty đang thực hiện chiết khấu 3% giá bán đối với tất cả các khách hàng mua buôn, tỷ lệ chiết khấu là 4% đối với khối lượng hàng ≥ 20 triệu đồng, và 5% khi khách hàng mua ≥ 20 triệu đồng

và thanh toán trong tháng Các hình thức khuyến mại của Công ty cũng được

áp dụng thống nhất trên toàn quốc, ví dụ trong tháng 4/2003, khi khách hàng mua sản phẩm Livbinic sẽ được giảm 5% giá và khi mua 5 hộp sẽ được tặng thêm một hộp

Một chiến lược về giá được Công ty chú trọng là định giá an toàn, hợp lý và ổn định cho sản phẩm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc

Công ty cho biết: Giá thuốc của Công ty thường ổn định trong vòng 10 năm Thực tế giá của một số thuốc như sau:

Bảng 3.2: Giá ổn định của một số mặt hàng của CTCP Traphaco

STT Tên thuốc Đơn vị Quy cách (đồng) Giá Năm bắt đầu áp dụng giá

1 Hoạt huyết dưỡng não

Trang 9

Đặc biệt, trong đợt biến động giá thuốc năm 2003 vừa qua, mặc dù giá nguyên liệu tăng cao nhưng Traphaco đã giữ được giá ổn định của gần 100 sản phẩm Điều đó một lần nữa chứng tỏ sự thống nhất trong quản lý của

Công ty theo tôn chỉ "Kinh doanh thành tín", góp phần xây dựng hình ảnh

Công ty trong tâm trí bạn hàng và người tiêu dùng

3.2.3 Chính sách phân phối

Nhận thức được vai trò quan trọng của hệ thống kênh phân phối, đặc biệt là đối với sản phẩm thuốc, Traphaco đã không ngừng đầu tư và thiết lập được một mạng lưới kênh phân phối trên cả nước, bao gồm chủ yếu là: Kênh cấp không, kênh cấp một, kênh cấp hai (Sơ đồ hình 3.2)

- Kênh phân phối cấp không: tức là hàng hoá của Công ty được phân

phối trực tiếp tới tay khách hàng thông qua hệ thống các Hiệu thuốc phục vụ kiểu mẫu.

Hai trong số các cửa hàng của hệ thống này đã được công nhận là Hiệu thuốc kiểu mẫu của Hà Nội là: Hiệu thuốc 102 Thái Thịnh và Hiệu thuốc 36 Nguyễn Chí Thanh Tại đây, khách hàng sẽ được đội ngũ các bác sĩ, dược sĩ giàu kinh nghiệm, nhiệt tình tư vấn miễn phí về sức khoẻ và hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý an toàn Để phục vụ khách hàng tốt nhất, CBCNV của Công ty đã và đang nỗ lực phấn đấu xây dựng một hệ thống Thực hành tốt nhà thuốc (GPP) Đây là một hướng đi được Công ty rất quan tâm bởi thông qua các cửa hàng này, Công ty có thể nắm bắt nhanh chóng và chính xác nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của khách hàng Ngoài ra, đây cũng là một trong những công cụ nhằm tạo dựng và tăng cường hình ảnh của Công ty

- Kênh phân phối cấp một: tức là sản phẩm của Công ty chỉ qua một

trung gian trước khi tới người tiêu dùng, trung gian đó là bệnh viện (thông qua hình thức bảo hiểm Y tế) hay nhà thuốc Hiện nay, do đặc thù của ngành

và mức độ cạnh tranh gay gắt giữa các công ty nên Công ty phải xây dựng, duy trì và phát triển kênh phân phối này tại hai thành phố là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

- Kênh phân phối cấp hai Do đặc điểm các sản phẩm của Traphaco

Trang 10

đa phần đều không phải là thuốc kê đơn nên Công ty tập trung vào chiến lược phân phối mạnh thông qua trung gian là các Công ty dược của các tỉnh, các

công ty trách nhiệm hữu hạn, các đại lý bán buôn và bán lẻ phân phối tại các tỉnh Đây là một đặc thù riêng của ngành Dược Việt Nam và cũng là hệ thống kênh chủ lực của Công ty mà nhờ đó các sản phẩm của Công ty đã có mặt tại

64 tỉnh thành trong cả nước Ngoài ra, Traphaco còn xây dựng một đội ngũ trình dược viên tại các tỉnh nhằm kiểm soát và thúc đẩy việc bán hàng

Công ty rất chú trọng tới việc mở rộng mạng lưới các đại lý trên toàn quốc Nếu như năm 1999 chỉ có 8 đại lý thì năm 2001, số đại lý là 13, năm

2002 là 35 Cũng trong năm 2002, Công ty đã thành lập chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh Sau đó, vào năm 2003, số đại lý của Công ty đã là 48 Đây

là một hướng đi tích cực của Công ty nhằm mục tiêu tăng thị phần đặc biệt là tại thị trường miền Nam

Bảng 3.3: Mối quan tâm đầu tư mở rộng kênh phân phối của Công ty

Trang 11

CÁC PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT

Kho chính (Ho ng Li à ệt-H N à ội)

NGƯỜI TIÊU D NG Ù

Công ty Dược

VTYT các tỉnh

Kho Thái Thịnh (H N à ội)

Nh thu à ốc tư nhân

Các công ty TNHH

Chi nhánh Th nh ph à ố HCM TDV xúc tiến

Cửa h ng bán buôn c à ủa Công ty

Hiệu thuốc bán lẻ của Công ty

Các Bệnh viện, TTYT, NT, hiệu thuốc TDV

xúc tiến

Phân phối

Nh thu à ốc TN Bệnh viện

Nh thu à ốc Hiệu thuốc Kho Thái Thịnh (H N à ội)

Trang 12

Hình 3.2: Sơ đồ Hệ thống phân phối sản phẩm của Công ty cổ phần Traphaco

Trang 13

3.2.4 Chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh

Ý thức được vai trò quan trọng của chính sách này, Công ty đã đầu tư khoảng 5-7% doanh thu/năm cho các hoạt động Xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh, bao gồm một số nội dung chính là: Quảng cáo, hội chợ triển lãm, hoạt động PR, hội thảo - seminar, thử nghiệm lâm sàng

Xem xét ngân sách tổng chi phí Marketing dành cho các công cụ xúc tiến và

hỗ trợ kinh doanh thì quảng cáo bao giờ cũng chiếm tỷ trọng cao nhất Điều này phù hợp với đặc điểm của các sản phẩm của Công ty như đã nói ở trên đồng thời thể hiện phần nào chiến lược của Công ty nhằm xây dựng và quảng bá hình ảnh của mình

Bảng 3.4: Phân bổ chi phí Marketing của Traphaco qua các năm

Trang 14

Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ phân bổ chi phí Marketing của CTCP Traphaco

Đối với những sản phẩm đã chiếm lĩnh được thị trường thì Công ty áp dụng

“chiến lược quảng cáo duy trì“ thông qua hình thức quảng cáo trên báo chí

chuyên ngành (như Tạp chí Dược lâm sàng, Tạp chí Dược học, Tạp chí Thuốc và sức khỏe,…) và không chuyên ngành (Báo Người cao tuổi, Báo Gia đình xã hội,

…) hoặc quảng cáo thông qua việc viết bài tư vấn cho người bệnh

Bên cạnh quảng cáo, Công ty còn chú trọng tới việc tuyên truyền nhằm

quảng bá thương hiệu và giới thiệu sản phẩm của công ty như:

- Tham gia hội chợ, triển lãm trong nước cũng như quốc tế: Hội chợ Hàng

Việt Nam chất lượng cao do báo Sài Gòn tiếp thị tổ chức, Hội chợ Campuchia và Myanma,…

- Tài trợ cho các hội thảo, hội nghị khoa học nhằm cung cấp thông tin về

thuốc với giới chuyên môn Khác với các hãng nước ngoài với đa số là các thuốc chuyên khoa, công ty Traphaco chỉ thực hiện hình thức này đối với một số thuốc như Ampelop, Cadef,…

- Tham gia các hoạt động mang tính xã hội như: tài trợ chương trình chào

mừng ngày Quốc tế thiếu nhi, các hoạt động tư vấn và chăm sóc sức khoẻ cho

Trang 15

người cao tuổi Đây là những hoạt động được công ty ngày càng đi sâu từ năm

2002 nhằm xây dựng và quảng bá thương hiệu của sản phẩm cũng như của Công ty

Traphaco, góp phần xây dựng “Văn hoá Traphaco” Tuy nhiên hiện nay hoạt động

quan hệ công chúng mới dừng ở địa bàn một vài thành phố lớn do kinh phí còn hạn hẹp

Cũng như các hãng nước ngoài, hiện nay Traphaco đã và đang xây dựng đội ngũ trình dược viên tại Hà Nội và các tỉnh (phụ trách hiệu thuốc và bệnh viện)

nhằm tăng hiệu suất của nhân viên bán hàng

Tóm lại, các chính sách Marketing - mix đã được Traphaco sử dụng khá nhuần nhuyễn và khá đặc trưng cho các Công ty Dược trong nước Điều này đã tạo

ra sự tăng trưởng vượt bậc của Traphaco trong những năm gần đây và để có thể hiểu rõ hơn thì cần phải phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động Marketing của Công ty

3.3 Phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động Marketing của CTCP Traphaco giai đoạn 1999 – 2003

Trong quá trình thực hiện kế hoạch Marketing, Công ty cần phải kiểm tra kế hoạch Marketing thực hiện như thế nào, có hiệu quả hay không, cần điều chỉnh gì cho phù hợp Việc đánh giá hiệu quả Marketing được thể hiện qua 4 nội dung là:

- Kiểm tra kế hoạch năm

- Phân tích khả năng sinh lời

- Phân tích hiệu suất

- Phân tích chiến lược

3.3.1 Kiểm tra kế hoạch năm

Kế hoạch năm của Công ty gồm những chỉ tiêu chủ yếu phản ánh hiệu quả hoạt động của Công ty, thường được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:

- Doanh thu

- Lợi nhuận

Trang 16

- Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời.

Bảng 3.5: Tình hình thực hiện kế hoạch Doanh thu của CTCP Traphaco

STT Chỉ tiêu

Năm

Doanh thu kế hoạch (tr.đ)

Doanh thu thực hiện (tr.đ)

Thực hiện/Kế hoạch (%)

Nhận xét: Qua bảng phân tích trên ta thấy, Công ty luôn hoàn thành kế

hoạch đề ra với mức thực hiện đạt khoảng 100% so với kế hoạch Điều đó chứng tỏ việc lập kế hoạch của Công ty rất phù hợp, Công ty đã “biết mình biết người”, nắm bắt rõ mức tiêu thụ của thị trường cũng như khả năng sản xuất của doanh nghiệp

Bảng 3.6: Doanh thu của CTCP Traphaco, CTCP Dược Nam Hà và CTCP

Dược Hà Tây qua các năm

Trang 17

Hình 3.6: Biểu đồ doanh thu và tỷ lệ tăng trưởng doanh thu liên hoàn của Công

ty Traphaco giai đoạn 1999-2003.

Nhận xét: Qua bảng và biểu đồ cho thấy, liên tục từ sau khi cổ phần hoá,

mức tăng trưởng doanh thu của Công ty Traphaco tăng khá cao và đều đặn: năm

2000 tăng 29% so với năm 1999 và trong 2 năm tiếp theo đều tăng 38%, 39%; năm

2003 tăng 31% so với năm 2002 Đây là một tỷ lệ tăng trưởng đáng khích lệ khi so sánh với CTCP Dược Nam Hà và CTCP Dược Hà Tây

Sở dĩ có được kết quả như vậy là do Công ty đã có một chiến lược Marketing-mix phù hợp Công ty đã chú trọng vào công việc nghiên cứu và áp dụng khoa học công nghệ hiện đại để tạo ra các sản phẩm mới từ dược liệu đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường Năm 2001, 2002 đánh dấu sự ra đời của hàng loạt sản phẩm mới của Công ty như: Ampelop, Cadef,… Năm 2003, doanh thu của Công ty đạt 131% so với năm 2002, tức là giảm đi đôi chút so với mức tăng trưởng của 2 năm trước Nguyên nhân là do trong một vài năm gần đây, các sản phẩm của Công ty bị nhái lại rất nhiều (như Nhân sâm tam thất, Hoạt huyết dưỡng não…) Hơn nữa, khi đã đạt tới quy mô sản xuất lớn và ổn định thì tăng trưởng doanh thu sẽ dần đi vào ổn định nhưng xét theo giá trị tuyệt đối thì lại rất đáng kể

3.3.1.2 Lợi nhuận

Lợi nhuận là một trong 3 mục tiêu mà bất kì doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào đều hướng tới, là điều kiện tiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Trang 18

Bảng 3.7: Lợi nhuận của Công ty Traphaco từ năm 1999 – 2003

ST

Hình 3.7: Biểu đồ lợi nhuận của Công ty Traphaco từ năm 1999-2003.

Nhận xét: Từ bảng và biểu đồ ta nhận thấy, lợi nhuận của Công ty Traphaco

có sự tăng đột biến vào năm 2000, bằng 451% so với năm 1999 - năm cổ phần hoá Công ty Có được kết quả như trên là do Công ty được Nhà nước miễn giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm đầu khi mới cổ phần hoá Sự ra đời Ban kiểm soát với mô hình quản lý mới chặt chẽ hơn cũng góp phần giảm thiểu các chi phí không hợp lý, làm gia tăng hiệu quả hoạt động

Trong những năm tiếp theo, lợi nhuận của Công ty tính theo giá trị tuyệt đối thì tăng nhưng tỷ lệ tăng trưởng thì lại giảm do sự gia tăng về chi phí: chi phí về nguyên nhiên vật liệu, chi phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, chi phí Marketing,…

Cụ thể là từ năm 2002, Công ty đã mạnh dạn xây dựng và củng cố thương hiệu của

Ngày đăng: 26/10/2013, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Danh mục sản phẩm của CTCP Traphaco năm 2003 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.1 Danh mục sản phẩm của CTCP Traphaco năm 2003 (Trang 6)
Bảng 3.2: Giá ổn định của một số mặt hàng của CTCP Traphaco - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.2 Giá ổn định của một số mặt hàng của CTCP Traphaco (Trang 8)
Bảng 3.3: Mối quan tâm đầu tư mở rộng kênh phân phối của Công ty - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.3 Mối quan tâm đầu tư mở rộng kênh phân phối của Công ty (Trang 10)
Bảng 3.4: Phân bổ chi phí Marketing của  Traphaco qua các năm - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.4 Phân bổ chi phí Marketing của Traphaco qua các năm (Trang 13)
Bảng 3.6: Doanh thu của CTCP Traphaco, CTCP Dược Nam Hà và CTCP  Dược Hà Tây qua các năm - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.6 Doanh thu của CTCP Traphaco, CTCP Dược Nam Hà và CTCP Dược Hà Tây qua các năm (Trang 16)
Hình 3.6: Biểu đồ doanh thu và tỷ lệ tăng trưởng doanh thu liên hoàn của Công  ty Traphaco giai đoạn 1999-2003. - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Hình 3.6 Biểu đồ doanh thu và tỷ lệ tăng trưởng doanh thu liên hoàn của Công ty Traphaco giai đoạn 1999-2003 (Trang 17)
Bảng 3.7: Lợi nhuận của Công ty Traphaco từ năm 1999 – 2003 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.7 Lợi nhuận của Công ty Traphaco từ năm 1999 – 2003 (Trang 18)
Bảng 3.8: Phân tích tỷ suất lợi nhuận hàng năm của CTCP Traphaco - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.8 Phân tích tỷ suất lợi nhuận hàng năm của CTCP Traphaco (Trang 19)
Bảng 3.9: Bảng phân tích chi phí hỗ trợ kinh doanh của Công ty - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.9 Bảng phân tích chi phí hỗ trợ kinh doanh của Công ty (Trang 20)
Bảng 3.10: Tốc độ luân chuyển và hiệu quả sử dụng VLĐ, VCĐ của Công  ty Traphaco qua các năm. - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.10 Tốc độ luân chuyển và hiệu quả sử dụng VLĐ, VCĐ của Công ty Traphaco qua các năm (Trang 21)
Hình 3.9: Biểu đồ Tỷ lệ % doanh thu của các miền của Công ty Traphaco giai  đoạn 1999 – 2003 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Hình 3.9 Biểu đồ Tỷ lệ % doanh thu của các miền của Công ty Traphaco giai đoạn 1999 – 2003 (Trang 23)
Bảng 3.11: Phân tích khả năng sinh lời của từng khúc thị trường của  CTCP Traphaco giai đoạn 1999-2003 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.11 Phân tích khả năng sinh lời của từng khúc thị trường của CTCP Traphaco giai đoạn 1999-2003 (Trang 23)
Bảng 3.12: Doanh thu của các kênh phân phối của CTCP Traphaco giai  đoạn 1999-2003. - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.12 Doanh thu của các kênh phân phối của CTCP Traphaco giai đoạn 1999-2003 (Trang 24)
Hình 3.10: Biểu đồ doanh thu theo các kênh phân phối của CTCP Traphaco từ  1999-2003. - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Hình 3.10 Biểu đồ doanh thu theo các kênh phân phối của CTCP Traphaco từ 1999-2003 (Trang 25)
Bảng 3.13: Năng suất lao động của lực lượng bán hàng của Công ty  Traphaco qua các năm 1999-2003. - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÔNG TY TRAPHACO
Bảng 3.13 Năng suất lao động của lực lượng bán hàng của Công ty Traphaco qua các năm 1999-2003 (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w