1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) đo lường tác động của các nhân tố vĩ mô đến biến động giá vàng tại việt nam

127 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ cuối tháng 05/2013 trở lại đây, giá vàng trong nước đã giảm mạnh và khoảng cách quy đổi so với giá thế giới cũng dần được thu hẹp nhưng vẫn chưa sát với giá thế giới, sự bất ổn giá và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRẦN THỊ MỘNG TUYẾT

ĐO LƯỜNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ ĐẾN BIẾN ĐỘNG GIÁ VÀNG TẠI VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Đo lường tác động của các nhân tố vĩ mô đến biến động giá vàng tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng

tôi dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thị Mộng Tuyết

Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi sẽ chịu trách nhiệm về nội dung tôi trình bày trong luận văn này

Thành phố Hồ Chí Minh, 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Tú Linh

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu: 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Kết cấu của luận văn 5

1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG GIÁ VÀNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 7

2.1 Nền tảng lý thuyết về vấn đề nghiên cứu 7

2.1.1 Khái niệm, đặc tính cơ bản và chức năng của vàng 7

2.1.1.1 Khái niệm 7

2.1.1.2 Đặc tính cơ bản 7

2.1.1.3 Chức năng trao đổi tiền tệ 8

2.1.1.4 Vàng là công cụ đầu tư tài chính 8

2.1.2 Khái quát về thị trường vàng 9

2.1.2.1 Khái niệm 9

2.1.2.2 Đặc điểm của thị trường vàng 10

2.1.2.3 Các chủ thể tham gia thị trường vàng 10

2.1.3 Cơ sở lý thuyết về giá vàng và các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng 11

2.1.3.1 Cơ sở lý thuyết về giá vàng 11

2.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng 13

Trang 5

2.2 Ý nghĩa của việc bình ổn thị trường vàng Việt Nam 16

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tác động của các yếu tố vĩ mô đến biến động giá vàng 17

2.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 17

2.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 19

2.4 Lý luận các nhân tố tác động đến giá vàng 21

2.4.1 Tỷ giá hối đoái và giá vàng 21

2.4.2 Chỉ số giá tiêu dùng và giá vàng 23

2.4.3 Lãi suất và giá vàng 24

2.4.4 Giá vàng thế giới và giá vàng trong nước 26

2.4.5 Giá vàng và giá dầu 27

2.5 Đề xuất hướng nghiên cứu của luận văn 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 28

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG GIÁ VÀNG VIỆT NAM 29

3.1 Đặc điểm thị trường vàng Việt Nam 29

3.2 Diễn biến của giá vàng Việt Nam và các yếu tố vĩ mô giai đoạn 1996-2015 33

3.2.1 Diễn biến giá vàng Việt Nam giai đoạn 1996-2015 33

3.2.2 Diễn biến giá vàng thế giới 36

3.2.3 Diễn biến giá dầu thế giới 38

3.2.4 Diễn biến lãi suất trong nước 42

3.2.5 Diễn biến chỉ số lạm phát 45

3.2.5.1 Diễn biến chỉ số lạm phát Việt Nam 45

3.2.5.2 Diễn biến chỉ số lạm phát Mỹ 47

3.2.6 Diễn biến tỷ giá USD/ VND 49

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 54

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ ĐẾN BIẾN ĐỘNG GIÁ VÀNG Ở VIỆT NAM 55

4.1 Khung phân tích 55

4.1.1 Khung phân tích về mô hình ARDL 55

4.1.1.1 Khái quát về mô hình ARDL 55

Trang 6

4.1.1.2 Lý thuyết ước lượng mô hình ARDL 56

4.1.1.3 Diễn giải chi tiết 8 bước ước lượng mô hình ARDL 58

4.1.2 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 60

4.1.2.1 Thu thập dữ liệu 61

4.1.2.3 Đề xuất mô hình nghiên cứu trên của khung phân tích về ARDL 64

4.1.2.4 Kiểm định đường bao 65

4.1.2.5 Lựa chọn mô hình ARDL phù hợp nhất 67

4.1.2.6 Kiểm định độ tin cậy của mô hình 68

4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 70

4.2.1 Kết quả tính toán mô hình ARDL 70

4.2.2 Kết quả tính toán tác động dài hạn: 71

4.2.3 Kết quả tính toán mô hình ECM dựa trên cách tiếp cận ARDL 72

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 76

5.1 Tóm tắt các kết quả chính của mô hình 76

5.1.1 Tác động trong dài hạn 76

5.1.2 Tác động trong ngắn hạn 76

5.2 Kết luận và dự báo giá vàng trong nước cho giai đoạn sắp tới (Qúy 4/2016 – Qúy 1/2017) 77

5.3 Giải pháp và kiến nghị để góp phần bình ổn thị trường vàng Việt Nam 81

5.4 Những điểm hạn chế của luận văn 85

5.5 Những gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo 86

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 86

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ARCH AutoRegressive Conditional Heteroskedasticity ARDL Autoregressive Distributed Lag

ARIMA Autoregressive integrated moving average

ECM Error components model

FEVD Forecast error variance decomposition

IMF International Monetary Fund - Qũy tiền tệ quốc tế IRF Impulse Response Function

QE3 Quantitative Easing

VAR Vector autoregression,

VECM Vector error correction model

CPI Consumer Price Index – Chỉ số giá tiêu dùng

FED Cục dự trữ liên bang Mỹ

Trang 8

HKD Đô la Hồng Công

OPEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa

OTC Thị trường phi tập trung

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình lãi suất cho vay qua các năm 2001-2004 43

Bảng 4.1: Thống kê mô tả cho các biến 62

Bảng 4.2: Kết quả tính dừng của 7 biến theo kiểm định Dickey-Fuller 64

Bảng 4.3: Bảng kết quả kiểm định đường bao (bound test) 67

Bảng 4.4: Bảng kết quả kiểm định tự tương quan 68

Bảng 4.5: Bảng kết quả kiểm định dạng hàm 69

Bảng 4.6: Bảng kết quả kiểm định ý nghĩa của các hệ số hồi quy 70

Bảng 4.7: Kết quả tính toán mô hình ARDL 70

Bảng 4.8: Kết quả tính toán tác động dài hạn 71

Bảng 4.9: Kết quả tính toán tác động ngắn hạn bằng mô hình ECM dựa trên cách tiếp cận ARDL 73

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến cung – cầu vàng thế giới 14

Hình 2.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến cung – cầu vàng Việt Nam 15

Hình 3.1: Chính sách quản lý thị trường vàng từ sau Nghị định 24/2012/NĐ-CP 32

Hình 3.2: Diễn biến giá vàng Việt Nam giai đoạn 1996 – 2006 33

Hình 3.3: Diễn biến giá vàng Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011 34

Hình 3.4: Diễn biến giá vàng Việt Nam giai đoạn 2012 - 2015 35

Hình 3.5: Diễn biến giá vàng Việt Nam và thế giới giai đoạn 1996 – 2006 36

Hình 3.6: Diễn biến giá vàng Việt Nam và thế giới giai đoạn 2007 - 2011 38

Hình 3.7: Diễn biến giá vàng Việt Nam và thế giới giai đoạn 2012 – 2015 38

Hình 3.8: Diễn biến giá dầu thế giới và giá vàng Việt Nam giai đoạn 1996 - 2007 40

Hình 3.9: Diễn biến giá dầu thế giới và giá vàng Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015 41

Hình 3.10: Diễn biến lãi suất huy động – cho vay Việt Nam và giá vàng Việt Nam giai đoạn 1996 – 2005 43

Hình 3.11: Diễn biến lãi suất huy động – cho vay Việt Nam và giá vàng Việt Nam giai đoạn 2006 – 2015 45

Hình 3.12: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam giai đoạn 1996 – 2015 47

Hình 3.13: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam và giá vàng Việt Nam giai đoạn 1996 – 2015 47

Hình 3.14: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng Mỹ giai đoạn 1996 – 2015 48

Hình 3.15: Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng Mỹ và giá vàng Việt Nam giai đoạn 1996 – 2015 48

Hình 3.16: Diễn biến tỷ giá VND/USD và giá vàng VN giai đoạn 1996 – 2015 51

Hình 4.1: Tiêu chuẩn Akaike’s information criterion (AIC) 67

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu

Nhìn lại nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây chúng ta có thể thấy rằng mặc dù nền kinh tế đã có xu hướng phục hồi sau giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009, tuy nhiên nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi những khó khăn Từ trước đến nay, mỗi khi nền kinh tế có những biến động xấu gây ra

sự mất giá của đồng tiền, các nhà đầu tư có xu hướng chuyển từ nắm giữ tiền, cổ phiếu… sang nắm giữ các dạng kim loại quý, đặc biệt là vàng

Trong những năm gần đây, giá vàng có xu hướng tăng nhanh Năm 2010, thị trường vàng (TTV) biến động bất thường với những mức giá kỷ lục liên tiếp được thiết lập Tháng 11/2010 người dân đã chứng kiến giá vàng trong nước đạt mức giá 38 triệu đồng/lượng Từ cuối năm 2009 đến ngày 21/12/2010 giá vàng quốc tế tăng 26%, giá vàng trong nước tăng 46%

Tại Việt Nam, việc giữ vàng là hiện tượng rất phổ biến trong dân do truyền thống giữ vàng để làm của, thừa kế, hồi môn Bên cạnh đó, lạm phát Việt Nam ở mức cao trong khu vực và trên thế giới Các sản phẩm tài chính khác như chứng khoán, công cụ phái sinh thì chưa phát triển, thị trường đầu tư tài chính còn thiếu minh bạch, người dân chưa đủ kiến thức để tiếp cận kênh đầu tư hiện đại

2012 được xem là một năm với nhiều xáo trộn của thị trường vàng, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới có lúc đạt 6.5 triệu đồng/lượng Trước thực trạng trên, để lặp lại trật tự trên thị trường vàng trong nước nên Chính phủ đã ban hành quyết định số 16/2013/QĐ-TTg ngày 04/03/2013 của Thủ tướng Chính phủ về “Quy định việc mua bán vàng miếng trên thị trường trong nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”, bên cạnh đó Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành ban hành Thông tư số 06/2013/TT-NHNN nhằm hướng dẫn hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước ngày 12 tháng 03 năm 2013 và Quyết định số 563/QĐ-NHNN ngày 18 tháng 03 năm

2013 với mục tiêu lớn nhất là để bình ổn thị trường vàng

Cho đến thời điểm cuối năm 2013, chính sách này đã đi vào thực hiện được hơn 9 tháng Tuy nhiên, hiệu quả mà chính sách này mang lại vẫn chưa thực sự rõ ràng Trong khoảng hơn 20 phiên đấu thầu đầu tiên, giá vàng trong nước tương đối ổn định nhưng

Trang 12

mức chênh lệch giá vàng trong nước với giá vàng thế giới vẫn không giảm mà có thời điểm khoảng cách còn lên 6,5 triệu/lượng (ngày 17/05/2013)

Từ cuối tháng 05/2013 trở lại đây, giá vàng trong nước đã giảm mạnh và khoảng cách quy đổi so với giá thế giới cũng dần được thu hẹp nhưng vẫn chưa sát với giá thế giới, sự bất ổn giá vàng trong thời gian qua do tác động của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó không thể không kể đến tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô như giá USD, lạm phát, giá dầu thế giới, cung cầu vàng và nền chính trị bất ổn…

Vấn đề này cũng có khá nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó nổi bật nhất

là nghiên cứu của Thái Thị Hạnh Nhi (2011): Nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra rằng biến động của giá vàng trong nước không chỉ được giải thích bởi giá vàng thế giới, tỷ giá mà còn được giải thích thông qua các biến trễ của chính nó và biến trễ của sai số Tác giả

sử dụng mô hình TGARCH để xem xét tính chất bất cân xứng giữa các tin tức tốt và các tin tức xấu đối với giá vàng Kết quả cho rằng sự ảnh hưởng của tin tức đối với giá vàng

có tính chất đối xứng, nghĩa là không có sự khác biệt giữa sự tác động của tin tốt và tin xấu đối với giá vàng

Hay nghiên cứu của Bùi Kim Yến, Nguyễn Khánh Hoàng (2014) “Quản lý giá vàng từ góc độ kinh tế vĩ mô”: Bài nghiên cứu được đặt dưới góc nhìn của nhà quản lý đối với thị trường vàng trong nước Thông qua việc xác nhận các nhân tố tác động đến giá vàng trong nước sẽ giúp đưa ra được các giải pháp quản lý sự biến động của giá vàng

và đưa thị trường vàng đi vào hoạt động ổn định góp phần vào sự phát triển ổn định của thị trường tài chính Việt Nam Từ kết quả chạy ra của mô hình với phạm vi dữ liệu 10 năm (từ 08/2003 đến 07/2013) bài báo chỉ ra rằng giá vàng không phản ánh đầy đủ ảnh hưởng của các biến kinh tế như lãi suất, tỷ giá, CPI Tác động của các biến này đến giá vàng là rất yếu Các biến động xảy ra đối với các biến trên tác động đến giá vàng tức thì nhưng thời gian kéo dài chỉ từ 2-3 tháng, trong khi đó tác động của biến động giá vàng trong nước lên các biến này lại khá mạnh và thường kéo dài có khi đến 8 tháng

Một nghiên cứu khác liên quan đến kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và giá vàng của Thân Thị Thu Thủy và các cộng sự (2014) Tác giả đưa ra kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger giữa giá vàng và lạm phát cho thấy giá vàng và lạm phát có tác động qua lại, lạm phát tăng làm giá vàng tăng, hay giá vàng tăng cũng sẽ làm cho lạm phát tăng với độ tin cậy 95%

Trang 13

Nhìn chung các nghiên cứu về giá vàng và thị trường vàng dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên các nghiên cứu trên chủ yếu kiểm định mối quan hệ của các nhân tố riêng lẻ và chưa có nghiên cứu nào phân tích, đo lường và kiểm định tác động ngắn hạn

và dài hạn của các nhân tố vĩ mô đến giá vàng trong giai đoạn 1996 – 2015

Xuất phát từ nhu cầu thực tế cũng như lổ hổng trong nghiên cứu về vấn đề này tác giả quyết định chọn đề tài “Đo lường tác động của các nhân tố vĩ mô đến biến động giá vàng tại Việt Nam” để làm luận văn cao học

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đo lường tác động của các nhân tố vĩ mô: giá USD, giá dầu, cung cầu vàng, lạm phát,… đến biến động giá vàng tại Việt Nam

 Dựa vào kết quả về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến biến động giá vàng trong nước và phương pháp phân tích, dự đoán xu hướng giá vàng trong thời gian tới nhằm cung cấp cơ sở cho các nhà đầu tư Việt Nam, tổ chức kinh doanh vàng và ngân hàng Thương mại Việt Nam có biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro biến động giá vàng trong hoạt động đầu tư vàng miếng

1.3 Câu hỏi nghiên cứu:

 Thứ nhất, có những nhân tố vĩ mô nào ảnh hưởng đáng kể đến biến động giá

vàng Việt Nam?

 Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến biến động giá vàng như

thế nào?

 Thứ ba, sau khi đã có kết quả nghiên cứu, dự đoán xu hướng giá vàng trong

tương lai tăng, giảm hay bình ổn? Mức độ như thế nào?

 Thứ tư, với những kết luận về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến

giá vàng và xu hướng giá vàng trong tương lai, các tổ chức kinh doanh và nhà đầu tư vàng nên có những biện pháp như thế nào để phòng chống rủi ro?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố vĩ mô tác động đến biến động giá vàng Việt Nam

Trang 14

 Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi Việt Nam

- Thời gian nghiên cứu: trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2015

1.5 Phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Phương pháp phân tích định tính

Tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu trên cơ sở dữ liệu thu thập

về biến động giá vàng trong giai đoạn tháng 01 năm 1996 đến tháng 12 năm 2015 cụ thể như sau:

 Giá vàng trong nước tác giả thu thập từ giá vàng bình quân tháng của công ty vàng bạc SJC với cỡ mẫu từ tháng 01 năm 1996 đến tháng 12 năm 2015

 Các chỉ số đại diện cho các biến giải thích như: giá vàng thế giới, tỷ giá, giá dầu, lãi suất cho vay, chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ được cung cấp bởi thư viện dữ liệu của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) Dữ liệu cung cấp được tính trung bình theo tháng với cỡ mẫu từ tháng 01 năm 1996 đến tháng 12 năm 2015

1.5.2 Phương pháp phân tích định lượng

Dựa trên khung phân tích về mô hình VAR và đồng tích hợp tác giả sẽ tiến hành

xây dựng mô hình thực nghiệm theo các bước sau:

 Bước 1: Thu thập dữ liệu

 Bước 2: Kiểm tra tính dừng của các biến trong mô hình bằng việc kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp Dickey-Fuller (1979) Sau khi kiểm định tính dừng ta xét hai trường hợp:

Dừng cùng bậc sai phân

 Bước 3: Xác định độ trễ tối ưu

 Bước 4: Nếu các biến dừng ở cùng bậc sai phân có mối quan hệ đồng liên kết (kiểm định số quan hệ đồng tích hợp theo phương pháp ước lượng ML của Jonhansen (1991) bằng kiểm định Trace) ta sẽ xây dựng mô hình thực nghiệm theo phương pháp VECM, nếu không, sử dụng phương pháp VAR

Trang 15

 Bước 5: Kiểm định độ tin cậy của mô hình thông qua các kiểm định: tính ổn định,

độ tin cậy của mô hình, kiểm định hiện tượng tự tương quan, mối quan hệ nhân quả

 Bước 6: Thảo luận kết quả nghiên cứu và dự báo bằng phương pháp hàm phản ứng đẩy (IRF), phân tích phân rả phương sai (FEVD)

Dừng không cùng bậc sai phân

 Bước 3: Nếu các biến dừng ở khác bậc sai phân có mối quan hệ đồng liên kết (kiểm định đường bao Bound Test) ta sẽ xây dựng mô hình thực nghiệm theo phương pháp ARDL, nếu không, sử dụng phương pháp VAR Nếu sử dụng mô hình VAR, phân tích tương tự mô hình VECM Nếu sử dụng mô hình ARDL ta tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo

 Bước 4: Chọn mô hình ARDL phù hợp nhất

 Bước 5: Kiểm định độ tin cậy của mô hình thông qua các kiểm định: Kiểm định tự tương quan phần dư; kiểm định dạng hàm, kiểm định độ tin cậy của mô hình

 Bước 6: Thảo luận kết quả nghiên cứu

1.6 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn sẽ bao gồm năm chương với cấu trúc như sau:

 Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu

 Chương 2: Tổng quan lý luận về các nhân tố vĩ mô tác động đến biến động giá vàng trong nền kinh tế thị trường

 Chương 3: Thực trạng tác động của các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến biến động giá vàng Việt Nam

 Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu về tác động của các nhân tố

vĩ mô đến biến động giá vàng ở Việt Nam

 Chương 5: Kết luận, giải pháp và kiến nghị

Trang 16

1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Thứ nhất, từ kết quả phân tích tác động trong ngắn hạn và dài hạn của các nhân tố

vĩ mô bao gồm giá vàng thế giới, giá dầu, chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ, lãi suất cho vay và tỷ giá VND/USD đến biến động giá vàng Việt Nam, tác giả đã tiến hành dự báo xu hướng biến động giá vàng trong giai đoạn Quý 4/2016 và Quý 1/2017 Điều này nhằm bổ sung lổ hổng của giai đoạn trước về vấn đề nghiên cứu

Thứ hai, từ những kết quả đạt được của mô hình nghiên cứu tác động của các nhân

tố vĩ mô đến biến động giá vàng Việt Nam, tác giả đã có đề xuất một số kiến nghị và giải pháp liên quan nhằm kiểm soát các nhân tố có ảnh hưởng đến giá vàng và bình ổn thị trường vàng Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, sau khi nêu sơ lược tổng quan về tình hình biến động giá vàng và các nghiên cứu trước đây liên quan đến giá vàng Việt Nam, tác giả đã đề xuất đề tài “Đo lường tác động của các nhân tố vĩ mô đến biến động giá vàng tại Việt Nam” để tiến hành nghiên cứu, từ đó đem lại ý nghĩa thực tiễn và khoa học của bài luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm góp phần bình ổn giá vàng và thị trường vàng Việt Nam trên cơ sở kết quả phân tích từ mô hình nghiên cứu trên

Trang 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG GIÁ VÀNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 2.1 Nền tảng lý thuyết về vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Khái niệm, đặc tính cơ bản và chức năng của vàng

2.1.1.1 Khái niệm

Vàng là một nguyên tố hóa học với ký hiệu Au (tiếng Latinh là aurum nghĩa là mặt trời, tỏa sáng) Vàng là một kim loại khá mềm, dễ uốn dát nhất được biết cho tới hiện tại Thực tế, 1 gram vàng có thể được dập thành tấm 1 m², hoặc 1 ounce1 vàng thành

300 feet2

2.1.1.2 Đặc tính cơ bản

Là một kim loại mềm nên vàng thường tạo hợp kim với các kim loại khác để làm cho nó cứng thêm để đạt được những tiện ích khác khi sử dụng Khi ở dạng khối thì vàng là nguyên tố kim loại có màu vàng và có thể tạo hợp kim với nhiều kim loại khác, mỗi hợp kim cho một màu khác nhau; hợp kim với đồng cho màu đỏ hơn, hợp kim với sắt màu xanh lá, hợp kim với nhôm cho màu tía, với bạch kim cho màu trắng, bismuth

tự nhiên với hợp kim bạc cho màu đen Màu của vàng rắn cũng như của dung dịch keo

từ vàng (có màu đậm, thường tía) được tạo ra bởi tần số plasmon của nguyên tố này nằm trong khoảng thấy được, tạo ra ánh sáng vàng và đỏ khi phản xạ và ánh sáng xanh khi hấp thụ Vàng nguyên thuỷ có chứa khoảng 8 đến 10% bạc, nhưng thường nhiều hơn thế Hợp kim tự nhiên với thành phần bạc cao (hơn 20%) được gọi là electrum Khi lượng bạc tăng, màu trở nên trắng hơn và trọng lượng riêng giảm

Vàng có tính dẫn nhiệt và điện tốt, không bị tác động bởi không khí và phần lớn hoá chất (chỉ có bạc và đồng là những chất dẫn điện tốt hơn) Vàng không bị ảnh hưởng

về mặt hoá học bởi nhiệt, độ ẩm, ôxy và hầu hết chất ăn mòn; vì vậy nó thích hợp để tạo tiền kim loại và trang sức Các halogen có tác dụng hoá học với vàng, còn nước cường toan thì hoà tan nó Vàng không phản ứng với hầu hết hóa chất

Vàng được dùng làm một tiêu chuẩn tiền tệ ở nhiều nước và cũng được sử dụng trong các ngành trang sức, nha khoa, điện tử Mã tiền tệ ISO của vàng là XAU (ISO

Trang 18

4217 là tiêu chuẩn quốc tế gồm những mã ba ký tự hay còn gọi là mã tiền tệ để định nghĩa cho tên tiền tệ và kim loại quý bằng cách định nghĩa theo một troy ounce Tất cả những mã cho tên của kim loại quý đề bắt đầu với ký tự “X” cộng với ký hiệu hóa học của kim loại đó – trong trường hợp của vàng sẽ là XAU)

2.1.1.3 Chức năng trao đổi tiền tệ

Vàng đã được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới như một phương tiện chuyển đổi tiền tệ, hoặc bằng cách phát hành và công nhận các đồng xu vàng hay các số lượng kim loại khác, hay thông qua các công cụ tiền giấy có thể quy đổi thành vàng bằng cách lập

ra bản vị vàng theo đó tổng giá trị tiền được phát hành được đại diện bởi một lượng vàng

dự trữ

Tuy nhiên, số lượng vàng trên thế giới là hữu hạn và việc sản xuất không gia tăng

so với nền kinh tế thế giới Ngày nay, sản lượng khai thác vàng đang sụt giảm3 Với sự tăng trưởng mạnh của các nền kinh tế trong thế kỷ 20, và sự gia tăng trao đổi quốc tế,

dự trữ vàng thế giới và thị trường của nó đã trở thành một nhánh nhỏ của toàn bộ các thị trường và các tỷ lệ trao đổi tiền tệ cố định với vàng đã trở nên không thể duy trì Ở đầu Thế chiến I các quốc gia tham gia chiến tranh đã chuyển sang một bản vị vàng nhỏ, gây lạm phát cho đồng tiền tệ của mình để có tiền phục vụ chiến tranh Sau Thế chiến II vàng bị thay thế bởi một hệ thống tiền tệ có thể chuyển đổi theo hệ thống Bretton Woods Bản vị vàng và tính chuyển đổi trực tiếp của các đồng tiền sang vàng đã bị các chính phủ trên thế giới huỷ bỏ, bị thay thế bằng tiền giấy Thụy Sĩ là quốc gia cuối cùng gắn đồng tiền của mình với vàng; vàng hỗ trợ 40% giá trị của tiền cho tới khi Thụy Sĩ gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế năm 19994 Hàm lượng vàng trong hợp kim được xác định bằng kara (k) Vàng nguyên chất được định danh là 24k Các đồng xu vàng được đưa vào lưu thông từ năm 1526 tới thập niên 1930 đều là hợp chất vàng tiêu chuẩn 22k được gọi là vàng hoàng gia, vì độ cứng

2.1.1.4 Vàng là công cụ đầu tư tài chính

Các công cụ đầu tư ngày càng tăng mạnh cùng với sự bùng phát của thị trường tài chính, thị trường hàng hóa cả về quy mô và tốc độ luân chuyển Một mặt tiền dấu hiệu

năm 2009

4 năm 2009

Trang 19

thiếu cơ sở ổn định vững chắc và thực tế luôn chịu áp lực giảm giá do thâm hụt ngân sách của các Chính phủ và các vấn đề chính trị, xã hội tiêu cực Mặt khác tốc độ lưu chuyển tiền tệ ngoài ngân hàng nhanh, cộng với sự tinh vi, phức tạp của các sản phẩm đầu tư đi kèm với các rủi ro tiềm ẩn, khó lường Do đó trong bối cảnh khủng hoảng, vai trò của vàng với tư cách một công cụ đầu tư đã phát triển mạnh mẽ, thay thế các kênh đầu tư khác

Ngoài ra vàng còn được ứng dụng trong sản xuất công nghiệp để sản xuất mạch tích hợp, vi xử lý, tráng mạ trong các ngành công nghiệp công nghệ cao Trong y tế vàng được sử dụng trong nghiên cứu y khoa, sinh học và khoa học vật liệu Với đặc tính không

ăn mòn, có màu sắc đẹp, dễ gia công thành đồ trang sức nên nữ trang bằng vàng từ lâu

đã rất được ưa chuộng nhờ tính thẩm mỹ, sang trọng và độ bền của nó Bên cạnh đó vàng được thừa nhận giá trị và có giá trị tương đối ổn định so với các hàng hóa khác nên

nó rất được ưa chuộng làm phương tiện cất giữ của cải và tiết kiệm

2.1.2 Khái quát về thị trường vàng

Trang 20

buôn OTC đều được thanh toán qua London Khối lượng vàng trung bình trong ngày được thanh toán thông qua Hiệp hội thị trường vàng London vào 12/2004 là 15.4 triệu ounce (tương đương với 480,000 kg, trị giá 6.8 tỷ USD)

2.1.2.2 Đặc điểm của thị trường vàng

Thị trường vàng được gọi là thị trường không ngủ bởi đặc điểm giao dịch 24/24h,

từ 6h sáng thứ 2 đến 3h sáng thứ 7 Do sự chênh lệch múi giờ giữa các thị trường nên hoạt động giao dịch diễn ra liên tục, bắt đầu ở thị trường châu Á, đến thị trường châu

Âu và châu Mỹ…

Thị trường vàng có tính thanh khoản cao và hệ thống công nghệ thông tin hiện đại Người tham gia vào thị trường này có thể thực hiện giao dịch dễ dàng qua điện thoại hay internet một cách trực tiếp mà không cần thông qua trung gian Ngoài ra, người dùng có thể thiết lập chế độ tự động cho giao dịch: take profit hay stop loss5

Thị trường vàng tồn tại hình thức kinh doanh hai chiều Người kinh doanh đầu tư vàng để kiếm lợi thường mua vào với giá thấp và bán ra với giá cao Khi giá hiện tại đang tăng cao, người kinh doanh có thể bán khống, đợi khi giá giảm sẽ mua trả và thu lợi nhuận từ khoản chênh lệch này

2.1.2.3 Các chủ thể tham gia thị trường vàng

Ngân hàng trung ương là một thành viên lớn nhất của thị trường vàng thực hiện giao dịch nhằm quản lý danh mục Dự trữ ngoại hối Vàng có vai trò quan trọng trong

Dự trữ ngoại hối quốc gia, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đồng thời giám sát hoạt động của thị trường và thu lợi nhuận

Ngân hàng thương mại: Các ngân hàng thương mại sử dụng hiệu quả nguồn vốn

dự trữ vàng từ người dân, đồng thời cung cấp các dịch vụ và tự doanh kiếm lời thông qua mua bán chênh lệch giá

Nhà đầu tư tổ chức và cá nhân: Nhà đầu tư trên thị trường vàng có thể là các công

ty khai thác, chế tác vàng hoặc những nhà đầu tư nhỏ lẻ Họ tham gia vào thị trường

công cụ này giúp nhà đầu tư có thể thực hiện chốt lời và giới hạn thua lỗ Các công cụ này sẽ được duy trì trên server cho tới khi lệnh được thanh khoản hoặc do Quý NĐT cancel

Trang 21

nhằm mục đích kiếm lời dựa trên việc đầu cơ, ăn chênh lệch giá hoặc phòng vệ dựa vào các công cụ phái sinh

2.1.3 Cơ sở lý thuyết về giá vàng và các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng

2.1.3.1 Cơ sở lý thuyết về giá vàng

Theo học thuyết K.MARX, bản chất kinh tế của phạm trù giá cả như sau:

 Giá cả và giá trị hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Giá trị là lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Giá trị là bản chất của giá cả, giá cả là hình thức biểu hiện của giá trị Trong nền kinh tế thị trường, cung và cầu là những lực lượng hoạt động trên thị trường Cung và cầu không chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn ảnh hưởng tới giá trị của thị trường Khi cung lớn hơn cầu thì giá của thị trường thấp hơn giá trị, còn khi cung nhỏ hơn cầu thì giá thị trường cao hơn giá trị Như vậy, cung và cầu thay đổi, dẫn đến thay đổi giá cả thị trường của hàng hóa

Trên thị trường, giá cả thị trường chịu tác động của các quy luật kinh tế của thị trường (quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu) nên mức giá của từng hàng hóa lên hoặc xuống theo quan hệ cung - cầu, tức là giá cả tách rời giá trị của nó

 Giá cả và tiền tệ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau

Tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật ngang giá cho tất cả hàng hóa đem trao đổi, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa Do đó giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa và do các yếu tố sau quyết định: giá trị hàng hóa, giá trị của tiền

và ảnh hưởng của quan hệ cung cầu hàng hóa

Giá cả thị trường tỷ lệ thuận với giá trị thị trường của hàng hóa và tỷ lệ nghịch với giá trị của tiền Bởi vậy ngay cả khi giá trị thị trường của hàng hóa không đổi thì giá cả hàng hóa vẫn có thể biến đổi do giá trị của tiền tăng lên hay giảm xuống Giá cả quyết định sức mua của tiền tệ và ngược lại tiền tệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến giá cả thị trường Giá cả là yếu tố quyết định lượng tiền tệ trong lưu thông và ảnh hưởng tới tốc độ lưu thông tiền tệ Ở mỗi thời kì nhất định, lưu thông hàng hóa bao giờ cũng đòi hỏi một lượng tiền cần thiết cho sự lưu thông

Trang 22

 Giá cả có mối quan hệ khăng khít với giá trị sử dụng

Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau, nhưng hàng hóa đều có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Hai thuộc tính này thống nhất với nhau, nhưng là sự thống nhất của hai mặt đối lập

Đối với người sản xuất hàng hóa, họ tạo ra giá trị sử dụng nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, họ quan tâm đến giá trị sử dụng là để đạt được mục đích giá trị mà thôi Ngược lại, đối với giới tiêu dùng (người mua), cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình, nhưng muốn có giá trị

sử dụng thì phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Như vậy, trước khi thực hiện giá trị

sử dụng, phải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng

Giá cả không những biểu hiện bằng tiền của giá trị, mà còn phản ảnh giá trị sử dụng của hàng hóa Giá trị sử dụng được biểu hiện ra là: Chất lượng hàng hóa, chi phí

sử dụng và tính thay thế lẫn nhau của hàng hóa trong sản xuất và tiêu dùng

 Giá cả và các quan hệ kinh tế - xã hội

Giá cả thị trường chịu tác động của các quy luật kinh tế của thị trường như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu Các quy luật này tồn tại khách quan Nhà nước cần vận dụng các quy luật để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Điều này có nghĩa là Nhà nước phải sử dụng công cụ giá cả để giải quyết các quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước, làm cho nền kinh tế phát triển hài hòa, ổn định chính trị và xây dựng công bằng trong xã hội

Giá cả phản ảnh tổng hợp và đồng bộ các quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cần đảm bảo sự ổn định chính trị - kinh tế - xã hội và thiết lập khuôn khổ luật pháp để tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế Kinh tế phát triển, hàng hóa sản xuất ra nhiều hơn, đáp ứng nhu cầu tốt hơn, giá cả sẽ ổn định hơn

Ngược lại, giá cả cũng tác động trở lại các quan hệ chính trị - kinh tế - xã hội Khi giá cả thị trường ổn định, sức mua của đồng tiền được giữ vững, thu nhập của người lao động ổn định và dần dần tăng lên, thì các quan hệ chính trị - kinh tế - xã hội cũng được

ổn định

Trang 23

 Sự hình thành giá trong các hình thái thị trường

Chính sách giá cả của người bán phụ thuộc vào hình thái thị trường Theo các nhà kinh tế thì có bốn kiểu hình thái thị trường, mỗi hình thái hình thành giá cả theo cách riêng của nó

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo bao gồm nhiều người mua Người bán cùng một loại sản phẩm giống nhau Trong loại thị trường này, doanh nghiệp là người chấp nhận giá và các doanh nghiệp đều phải hoạt động theo sự dẫn dắt của bàn tay vô hình của thị trường Không một người mua hay người bán nào có ảnh hưởng lớn đến mức giá thị trường hiện hành của hàng hóa

Thị trường cạnh tranh độc quyền gồm rất nhiều người mua và người bán không tuân theo giá thị trường thống nhất mà dao động trong khoảng rộng Người mua có thể thấy sự chênh lệch về giá chào bán và sẵn sàng mua ở các giá khác nhau Chính sách giá trong thị trường này đặc biệt phát huy tác dụng, ngoài ra doanh nghiệp có thể sử dụng các biện pháp yểm trợ bán hàng khác

Thị trường độc quyền tập đoàn là thị trường bao gồm một số ít người bán rất nhạy cảm với chính sách hình thành giá cả và chiến lược tiêu thụ của nhau, hàng hóa có xu hướng giống hoặc không giống nhau Trong thị trường này, các doanh nghiệp đều có xu hướng chấp nhận mức giá của ngành và của các tập đoàn thường có xu hướng liên kết

để xác định mức giá phù hợp cho sự phát triển của toàn ngành

Thị trường độc quyền tuyệt đối là thị trường chỉ có một người bán một loại sản phẩm Sự hình thành giá cả ở từng trường hợp diễn ra rất khác nhau Tổ chức độc quyền nhà nước có thể dùng chính sách giá cả để đạt được những mục tiêu nhất định Trong các tổ chức độc quyền tư nhân, doanh nghiệp thường tự xác định giá để thu lợi nhuận phù hợp

2.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng

 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới, trong đó có những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp như giá dầu mỏ, giá USD, nguồn cung – cầu trên thị trường vàng, tâm

lý của nhà đầu tư, ngoài ra còn có các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp lên giá vàng thông qua việc ảnh hưởng trực tiếp lên các yếu tố trên

Trang 24

Yếu tố cung cầu là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp lên bất kỳ hàng hóa nào trong đó có giá vàng Xu hướng vàng trên thế giới tăng kể từ khi ra đời đến nay cho thấy nguồn cung vàng ngày càng giảm đi trong đó nhu cầu vàng lại tăng lên Nguồn cung phụ thuộc vào sản lượng khai thác, vàng phế liệu và lượng vàng bán của các tổ chức, ngân hàng trung ương Nguồn cầu phụ thuộc vào nhu cầu về vàng trang sức, vàng trong công nghiệp, nha khoa, đầu tư

Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến cung – cầu vàng thế giới

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

Biến động của USD tác động lên giá vàng: do USD là đồng tiền mạnh, các nước hầu hết đều dự trữ USD để giao dịch xuất nhập khẩu và giá vàng thường tính bằng USD Khi nền kinh tế Mỹ không ổn định, đồng USD mất giá, thế giới mua vàng để bảo toàn vốn của mình (lấy USD mua vàng, đợi đến khi vàng tăng giá, bán ra để thu lại USD),

do đó nhu cầu vàng tăng và vàng tăng giá

Lãi suất tiền gửi USD: khi yếu tố này tăng, nhà đầu tư sẽ gửi USD để hưởng lãi suất tiết kiệm thay vì dùng USD để mua vàng do đó nhu cầu vàng giảm, giá vàng giảm Ngược lại, nhà đầu tư sẽ dùng USD để đầu tư vào các kênh sinh lợi khác (trong đó có đầu tư vàng) thay vì gửi USD để hưởng lãi suất tiết kiệm, nhu cầu vàng theo đó tăng lên

và vàng tăng giá

Giá dầu: dầu mỏ là một loại hàng hóa thiết yếu, là tác nhân chính của phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến các ngành dịch vụ, công nghiệp… Khi giá dầu tăng do ảnh hưởng của thiên tai, tình hình bất ổn của kinh tế chính trị, lạm phát tăng cao, chính phủ sẽ đưa

ra các chính sách nhằm kiềm chế lạm phát, tăng lượng dự trữ vàng nhằm dùng vàng

Cung vàng thế

Trang 25

thanh toán các khoản nợ quốc gia thay vì dùng USD, nhằm đảm bảo giá trị cho đồng tiền quốc gia, từ đó nguồn cung vàng giảm kéo theo giá vàng tăng

Lạm phát Mỹ: khi chỉ số lạm phát của Mỹ tăng, đồng USD mất giá, như phân tích trên, nhu cầu vàng sẽ tăng kéo theo vàng tăng giá

Chỉ số nền kinh tế Mỹ: Chỉ số không tốt, đồng USD mất giá, giá vàng tăng Ngoài ra, còn có các yếu tố khác cũng tác động gián tiếp đến giá vàng thế giới như: chỉ số Dini chỉ sức mạnh của đồng USD (tỷ lệ nghịch với giá vàng), giá EUR và giá dầu

tỷ lệ thuận với giá vàng và tỷ lệ nghịch với giá USD

 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng Việt Nam

Theo quy ước trên thị trường vàng thế giới, đơn vị yết giá thông thường là USD/ounce, 1 ounce = 1 troy ounce = 0.833 lượng vàng, 1 lượng vàng = 1.20556 ounce Thị trường vàng trong nước, đơn vị yết giá thông thường là VND/lượng, với công thức quy đổi từ giá vàng thế giới như sau:

Giá vàng quy đổi (VND/lượng) = Giá vàng thế giới (USD/ounce) * 1.20556* Tỷ giá VND/USD

Từ công thức trên, có thể thấy, giá vàng Việt Nam phụ thuộc trực tiếp vào giá vàng thế giới, tỷ giá VND/USD, ngoài ra còn phụ thuộc cung cầu tại thị trường vàng Việt Nam, ảnh hưởng bởi thị trường chứng khoán và các yếu tố kinh tế vĩ mô trong nước như: lãi suất cho vay, chỉ số giá tiêu dùng, tỷ giá hối đoái…

Hình 2.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến cung-cầu vàng Việt Nam

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

Cung vàng Việt

Trang 26

Cung vàng Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào chính sách của Chính phủ, nếu lượng nhập khẩu bị hạn chế dẫn đến nguồn cung giảm, giá vàng trong nước sẽ tăng và ngược lại Chính sách của Chính phủ cũng ảnh hưởng đến giá vàng bằng việc đưa ra các chính sách về hoạt động kinh doanh vàng

2.2 Ý nghĩa của việc bình ổn thị trường vàng Việt Nam

Để xem xét ý nghĩa của việc bình ổn thị trường vàng Việt Nam đến toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, chúng ta trước hết phân tích những tác động của thị trường vàng tới nền kinh tế

Giá vàng trên thị trường tăng mạnh trong thời gian qua gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô trong trung hạn Xét từ quan hệ trực tiếp đến gián tiếp có thể thấy tác động của giá vàng đến nền kinh tế là rất lớn Thứ nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động nguồn vốn của khu vực tài chính: Khi giá vàng tăng người dân rút tiết kiệm để đầu tư vàng thay vì gửi tiết kiệm tại ngân hàng Đồng thời vốn rút ra lại loanh quanh ở thị trường vốn và ngoại tệ dẫn đến khả năng huy động vốn của các NHTM bị giảm sút, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung

Thứ hai, thị trường ngoại tệ tự do bành trướng: Tình trạng đô la hóa ở Việt Nam không chỉ biểu hiện bằng tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng

mà còn là khối lượng ngoại tệ lưu hành ngoài hệ thống tài chính Khi giá vàng tăng làm cho nhu cầu mua USD trên thị trường tự do để nhập khẩu vàng lậu lớn dẫn đến tỷ giá USD tăng, khó kiểm soát

Thứ ba, nguy cơ lạm phát: Tuy chưa thống kê được quy luật cụ thể cho mối liên quan chặt chẽ giữa vàng và lạm phát Tuy nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế đến hiện tượng dùng vàng để định giá các tài sản lớn, điển hình là giá bất động sản Khi vàng trở thành thước đo giá trị, việc vàng tăng giá kéo giá bất động sản và các loại hàng hóa khác tăng theo, gây nguy cơ lạm phát

Thứ tư, thâm hụt cán cân thương mại: Khi giá vàng tăng thì nhập khẩu vàng tăng

và nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu càng lớn Với khối lượng vàng cất trữ rất lớn và gia tăng nhanh chóng những năm gần đây giải thích vì sao thâm hụt cán cân thương mại

Trang 27

Thứ năm, ảnh hưởng đến điều hành chính sách tiền tệ: Tỉ trọng vàng trên GDP ở Việt Nam rất lớn Điều này ảnh hưởng khá lớn đến điều hành chính sách tiền tệ Đơn

cử, với tổng phương tiện thanh toán không kể vàng (M2) thì hệ số nhân tiền theo tính toán của các chuyên gia khoảng 4,8 Nhưng nếu tính gộp M2 + vàng thì hệ số này chỉ còn 2,0 Rõ ràng rằng có rất nhiều vấn đề đối với hệ thống tiền tệ đang bị chi phối bởi khối lượng vàng và TTV đang bành trướng hiện nay Như vậy, vàng không còn là vấn

đề nhỏ của các nhà kinh doanh, mà đang thực sự trở thành một lực lượng thị trường có khả năng chi phối cả tiết kiệm, đầu tư, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại tệ và hiệu quả

sử dụng vốn của nền kinh tế

Từ việc phân tích tác động tiêu cực của sự biến động thị trường vàng đến nền kinh

tế cho thấy ý nghĩa của việc bình ổn thị trường vàng Khi thị trường vàng ổn định, thể hiện qua việc giá vàng diễn biến với biên độ thấp, sẽ góp phần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho hệ thống ngân hàng thương mại trong hoạt động huy động vốn, tỷ giá ngoại tệ biến động với biên độ phù hợp, giảm nguy cơ lạm phát, hoạt động điều hành chính sách tiền tệ của Chính phủ hiệu quả, dự trữ ngoại tệ và cán cân thương mại được khôi phục

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tác động của các yếu tố vĩ mô đến biến động giá vàng

2.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Dooley, Isard và Taylor (1995): tác giả đã tiến hành một loạt

các kiểm tra thực nghiệm để xem liệu giá vàng có được giải thích bởi sự biến động tỷ giá, các yếu tố tiền tệ và các biến khác trong mô hình tỷ giá hối đoái chuẩn hay không Các tác giả đã dùng mô hình hồi quy vector bộ và kỹ thuật đồng liên kết với dữ liệu từ năm 1976 đến 1990 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi của giá vàng phải được giải thích bởi sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, và bất kì cú sốc nào làm giảm sự hấp dẫn của tài sản A khi các yếu tố khác không đổi sẽ làm tăng nhu cầu đối với các tài sản như vàng hoặc tài sản B Điều này dẫn đến những thay đổi trong mức giá cân bằng

Nghiên cứu Christie – David et al (2000): Nghiên cứu đã theo dõi các báo cáo

tin tức trong 23 tháng từ năm 1992 đến năm 1995 để xem xét sự ảnh hưởng của các thông tin kinh tế vĩ mô đến giá vàng Trong nghiên cứu này, các biến được sử dụng bao gồm các biến kinh tế vĩ mô khác nhau, độ trễ của trái phiếu chính quyền địa phương, giá

Trang 28

vàng và bạc trong tương lai Kết quả của nghiên cứu là giá vàng bị ảnh hưởng bởi những tin tức về chỉ số sản xuất, chỉ số giá tiêu dùng, GDP và tỷ lệ thất nghiệp Tuy nhiên, tin tức về thâm hụt ngân sách không có ảnh hưởng đáng kể lên giá vàng

Nghiên cứu của Pravit Khaemasunun (2009): Tác giả đã tiến hành nghiên cứu

dự báo giá vàng Thái Lan Mô hình nghiên cứu có một biến phụ thuộc và mười bốn biến độc lập Biến phụ thuộc là giá vàng Thái Lan, các biến phụ thuộc là giá dầu, chỉ số giá SET, lãi suất, giá vàng phái sinh tương lai, dịp tết Âm lịch (biến giả), tỷ giá USD/THB,

tỷ giá AUD/THB, tỷ giá CAD/THB, tỷ giá PEN/THB, tỷ giá HKD/TBH, tỷ giá JPY/THB, tỷ giá EU ponds (Đức và Ý)/THB, tỷ giá SGD/THB, tỷ giá COP/THB Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập lên biến phụ thuộc như sau: tỷ giá AUD/THB, tỷ giá JPY/THB, tỷ giá CAD/THB, tỷ giá EU ponds/THB giá vàng phái sinh tương lai, giá dầu tương quan thuận với giá vàng, Trong khi đó, tỷ giá USD/THB tương quan nghịch với giá vàng Thái Lan

Nghiên cứu của Dirk G Baur, Brian M Lucey (2009): Bài viết đề cập đến câu

hỏi: “Vàng là một hàng rào chống lại sự thay đổi đột ngột trong lợi nhuận chứng khoán

và trái phiếu hay một tài sản tinh tế - công cụ dự trữ an toàn? “Tác giả nghiên cứu các mối quan hệ liên tục và thời gian khác nhau giữa cổ phiếu, trái phiếu và vàng để điều tra

sự tồn tại của một hàng rào và một công cụ dự trữ an toàn Thông qua các phân tích thực nghiệm tại Mỹ, Anh và Đức tác giả nhận thấy vàng là một hàng rào chống lại cổ phiếu

và là một công cụ dữ trữ an toàn trong điều kiện thị trường chứng khoán cùng cực Điều này giúp tăng cường sự ổn định và khả năng phục hồi của thị trường tài chính vì nó làm giảm thiệt hại của nhà đầu tư tại thời điểm cần thiết nhất

Nghiên cứu của Melike Bildirici (2012): Dầu và vàng là hai mặt hàng chiến lược,

nhận được nhiều sự chú ý và quan tâm Bài viết nhằm mục tiêu phân tích tác động của các cú sốc giá dầu và giá vàng qua các chu kỳ kinh doanh của một số nước phát triển:

Mỹ, Anh, Đức, Canada, Úc và Ý Mô hình MS-VAR được mở rộng, trong đó, giá dầu, giá vàng như là các biến ngoại sinh cải thiện khả năng của từng đặc điểm kỹ thuật và xác định các giai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh doanh cho mỗi quốc gia Ngoài ra, bài nghiên cứu còn ứng dụng và sử dụng mô hình MS-ARX Bài nghiên cứu đưa ra hai kết quả kinh tế: kết quả cho biến động của giá dầu và vàng và kết quả cho nghiên cứu

Trang 29

chính sách kinh tế vĩ mô của các nước được chọn để nghiên cứu Các kết quả đã nêu bật tầm quan trọng của chính sách tăng trưởng và phát triển kinh tế, gia tăng phúc lợi

Nghiên cứu của Sindhu (2013): tác giả đã nghiên cứu về sự tác động của các yếu

tố được lựa chọn lên giá vàng Ấn Độ Các biến độc lập được lựa chọn là tỷ giá USD/IRN, giá dầu, tỷ lệ Repo, tỷ lệ lạm phát Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy giá vàng và tỷ giá USD/IRN tương quan thuận, giá vàng và giá dầu tương quan nghịch, giá vàng và tỷ

lệ Repo tương quan thuận trong thời gian 11/2006 – 08/2008, 03/2010 – 10/2011 và tương quan nghịch 09/2008 – 02/2010, giá vàng và tỷ lệ lạm phát Ấn Độ tương quan thuận

2.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng, chính sách điều tiết cũng như các giải pháp phát triển thị trường vàng ở Việt Nam Tuy nhiên,

do thiếu số liệu hoặc do chủ ý của tác giả mà phần lớn các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số nhân tố nhất định như giá vàng thế giới, lạm phát, tỷ giá hối đoái cụ thể như sau:

Nghiên cứu của Thái Thị Hạnh Nhi (2011): tác giả đã xác định được mô hình dự

báo phù hợp để dự báo giá vàng trong nước bằng việc sử dụng các mô hình hồi quy bội,

mô hình ARIMA, ARCH, GARCH và TGARCH Dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian 1/2008 đến 7/2011 Nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra rằng biến động của giá vàng trong nước không chỉ được giải thích bởi giá vàng thế giới, tỷ giá mà còn được giải thích thông qua các biến trễ của chính nó và biến trễ của sai số Tác giả sử dụng mô hình TGARCH để xem xét tính chất bất cân xứng giữa các tin tức tốt và các tin tức xấu đối với giá vàng Kết quả cho rằng sự ảnh hưởng của tin tức đối với giá vàng có tính chất đối xứng, nghĩa là không có sự khác biệt giữa sự tác động của tin tốt và tin xấu đối với giá vàng

Nghiên cứu của Bùi Kim Yến, Nguyễn Khánh Hoàng (2014) “Quản lý giá vàng

từ góc độ kinh tế vĩ mô”: Bài nghiên cứu được đặt dưới góc nhìn của nhà quản lý đối

với thị trường vàng trong nước Thông qua việc xác nhận các nhân tố tác động đến giá vàng trong nước sẽ giúp đưa ra được các giải pháp quản lý sự biến động của giá vàng

và đưa thị trường vàng đi vào hoạt động ổn định góp phần vào sự phát triển ổn định của thị trường tài chính Việt Nam Bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp định tính, định

Trang 30

lượng, thống kê so sánh Đồng thời ứng dụng và sử dụng mô hình VAR để kiểm định tác động của các nhân tố đến giá vàng qua các bước: (i) Kiểm tra tính dừng của các biến trong mô hình bằng việc kiểm định nghiệm đơn vị, qua đó xác định độ trễ thích hợp của

mô hình; (ii) Kiểm tra tự tương quan trong phần dư của mô hình; (iii) Kiểm định quan

hệ nhân quả giữa các biến; (iv) Phân tích phân rã phương sai Để phân tích tác động của các nhân tố lên giá vàng tác giả sử dụng mô hình thực nghiệm sau:

𝐺𝐼𝐴𝑉𝐴𝑁𝐺𝑇𝑅𝑂𝑁𝐺𝑁𝑈𝑂𝐶𝑡

= 𝑎1+ ∑ 𝑏𝑙𝑖𝐺𝐼𝐴𝑉𝐴𝑁𝐺𝑇𝑅𝑂𝑁𝐺𝑁𝑈𝑂𝐶𝑡−𝑖

Nghiên cứu của Thân Thị Thu Thủy và các cộng sự (2014) “Kiểm định mối quan hệ giữa giá vàng và lạm phát tại Việt Nam”: Bài nghiên cứu kiểm định mối

quan hệ nhân quả giữa sự biến động giá vàng và lạm phát tại Việt Nam Số liệu sử dụng

Trang 31

trong nghiên cứu bao gồm chuỗi chỉ số lạm phát và chỉ số giá vàng theo thời gian với tần suất tháng, được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 12 năm 2013 Với mức ý nghĩa α = 5%, kết quả kiểm định quan hệ nhân quả Granger giữa giá vàng và lạm phát cho thấy giá vàng và lạm phát có tác động qua lại, lạm phát tăng làm giá vàng tăng, hay giá vàng tăng cũng sẽ làm cho lạm phát tăng

Nhìn chung các nghiên cứu về giá vàng và thị trường vàng dưới nhiều góc độ khác nhau Những nghiên cứu này có thể được phân loại thành bốn nhóm chính: Phương pháp tiếp cận đầu tiên là tìm ra mô hình biến động giá vàng dưới tác động của các biến kinh

tế vĩ mô, chẳng hạn như tỷ giá, thu nhập thế giới, những cú sốc chính trị… Phương pháp thứ hai tập trung vào vàng như là một kênh đầu cơ Cách tiếp cận này sẽ nghiên cứu tính hợp lí hoặc bất hợp lí của biến động giá vàng Cách tiếp cận thứ ba xem xét việc đầu tư vào vàng nhiều hơn như một cách để tự bảo hiểm rủi ro cho danh mục đầu tư chống lại lạm phát và nhóm cuối cùng là những nghiên cứu để xây dựng mô hình giá vàng

2.4 Lý luận các nhân tố tác động đến giá vàng

Trong luận văn này, tác giả tập trung phân tích nhân tố tác động tới giá vàng tập trung vào các biến kinh tế vĩ mô như tỷ giá hối đoái, chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất cho vay và các nhân tố khác như giá vàng thế giới, giá dầu cụ thể như sau:

2.4.1 Tỷ giá hối đoái và giá vàng

Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhau Đó

là giá trị chuyển đổi một đơn vị tiền tệ của nước này thành những đơn vị tiền tệ của nước khác Hiện nay, USD được xem là đồng tiền mang tính thanh toán toàn cầu, do đó, theo thông lệ, các loại hàng hóa hay ngoại tệ khi giao dịch trên thế giới thường được định giá theo USD và vàng cũng không ngoại lệ Bất cứ tác động nào ảnh hưởng đến giá trị đồng USD cũng tác động trực tiếp đến biến động giá vàng Khi giá trị của đồng USD dao động, giá vàng cũng dao động theo Vì vậy, tỷ giá hối đoái được dùng trong các nghiên cứu thường là tỷ giá giữa đồng tiền của một nước với đồng USD

Khi xem xét giá trị đồng USD, người ta thường đánh giá thông qua nền kinh tế

Mỹ Những yếu tố chính phản ánh sức mạnh hay suy yếu của nền kinh tế Mỹ, đó là tình trạng thị trường nhà ở, thị trường lao động, thị trường tín dụng và thị trường vốn, quyết định về lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ

Trang 32

Các nhà nghiên cứu mối quan hệ giữa giá vàng và tỷ giá hối đoái bao gồm các tác giả như Dooley, Isard và Taylor (1995), Sjaastad và Scacciallani (1996), Tully và Lucey (2007), Siahai Fang, Wei Fan và Tao Lu (2012) và nhiều nghiên cứu khác Nhìn chung các nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến biến động giá vàng Dooley, Isard và Taylor (1995) đã tiến hành một loạt các kiểm tra thực nghiệm để xem liệu giá vàng có được giải thích bởi sự biến động tỷ giá, các yếu tố tiền tệ và các biến khác trong mô hình tỷ giá hối đoái chuẩn hay không Các tác giả đã dùng mô hình hồi quy vector bộ và kĩ thuật đồng liên kết với dữ liệu từ năm 1976 đến 1990 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi của giá vàng phải đước giải thích bởi sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, và bất kì cú sốc nào làm giảm sự hấp dẫn của tài sản A khi các yêu

tố khác không đổi sẽ làm tăng nhu cầu đối với các tài sản như vàng hoặc tài sản B Điều này dẫn đến những thay đổi trong mức giá cân bằng

Sjaastad và Scacciallani (1996) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa giá vàng và thị trường ngoại hối trong giai đoạn 1982-1990 Hai nhà nghiên cứu đã tìm ra sự biến động trong tỷ giá góp phần chính trong sự biến động của giá vàng Việc định giá cao hay thấp của một đồng tiền trong khu vực châu Âu có ảnh hưởng lớn đến giá vàng Theo các tác giả biến động của tỷ giá hối đoái thực giữa các loại tiền tệ mạnh giải thích gần như một nửa sự biến động giá vàng

Tully và Lucey (2007) đã dùng mô hình APGARCH để điều tra ảnh hưởng của một số biến kinh tế vĩ mô đến giá vàng Dữ liệu được thu nhập trong giai đoạn 1984 –

2003, kết quả của nghiên cứu là có mối quan hệ giữa giá hàng ngày và tương lai của vàng và tỷ giá đồng đô la Mỹ (USD)

Siahai Fang, Wei Fan và Tao Lu (2012) sử dụng các dữ liệu từ năm 1982 đến 1990,

đã cho kết quả là tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia châu Âu có tác động đáng kể đến giá vàng Ngoài ra, cập nhật giá vàng từ năm 1991 đến năm 2004, tác giả cũng chỉ ra rằng

tỷ giá hối đoái của USD so với đồng Euro và Yên Nhật (JPY) có tác động đáng kể đến giá vàng

Thêm vào đó, Việt Nam là nước chủ yếu nhập khẩu vàng và được thanh toán bằng USD nên về mặt lý thuyết tỷ giá hối đoái VND/USD tác động cùng chiều lên giá vàng trong nước Khi tỷ giá tăng thì giá nhập khẩu vàng tăng làm giá vàng bán ra cũng tăng Tuy nhiên, trên thực tế tùy thuộc vào việc tỷ giá VND/USD tăng do đồng VND bị mất

Trang 33

giá so với đồng USD ở thị trường Việt Nam hay do đồng USD tăng giá thực trên thị trường thế giới mà khi đó giá vàng trong nước sẽ có những chiều hướng biến động khác nhau Chẳng hạn do VND giảm giá so với USD thì giá vàng trong nước sẽ biến động cùng chiều so với giá vàng thế giới Trường hợp khi đồng USD tăng so với các đồng tiền khác thế giới do tăng lãi suất tiền gửi USD hay các chỉ số sức mạnh của nền kinh tế

Mỹ tăng bền vững và chính trị ổn định… làm cho tỷ giá VND/USD tăng theo, trong khi

đó giá vàng thế giới lại giảm do vàng được định giá bằng USD Lúc này giá vàng trong nước sẽ tăng hay giảm tùy thuộc vào mức độ tăng giảm của tỷ giá và giá vàng thế giới

Tuy còn nhiều nhận định tranh cãi về mối quan hệ giữa giá vàng và tỷ giá, tuy nhiên trong bài nghiên cứu này tác giả kỳ vọng về mối quan hệ đồng biến giữa hai yếu

tố này trong điều kiện các nhân tố khác không đổi

2.4.2 Chỉ số giá tiêu dùng và giá vàng

Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Lạm phát vẫn có thể xảy

ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng

đủ mạnh

Thêm vào đó, lạm phát cũng được hiểu là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn Tuy nhiên lạm phát cũng có hai mặt, nếu lạm phát thấp dưới một con số sẽ thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng trong xã hội, ngược lại khi lạm phát quá cao thì nó lại là một nhân tố kiềm hãm tiêu dùng, khiến giá cả hàng hóa tăng cao và giảm sức mạnh của đồng tiền Thông thường để đối phó về tình trạng lạm phát tăng cao sẽ gây đột biến về giá cả hàng hóa, niềm tin vào tiền giấy bị giảm sút, thị trường có khuynh hướng tìm đến vàng nhằm giữ giá trị của tài sản Đồng thời những biện pháp sẽ giải quyết ảnh hưởng đến giá trị đồng tiền khiến các nhà đầu tư sẽ tìm đến vàng để bảo toàn tài sản, vì giá trị của vàng không phụ thuộc vào sức khỏe của bất kỳ nền kinh tế nào, từ đó khiến giá vàng biến động tăng Vì vậy giá vàng thường tỷ lệ thuận với sự gia tăng của lạm phát và vàng được xem là công cụ tài chính hữu hiệu để phòng ngừa lạm phát

Đối với các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ của lạm phát và giá vàng thì vẫn còn khá nhiều tranh cãi Nghiên cứu của Ghosh et al (2002) sử dụng dữ liệu hàng

Trang 34

tháng từ năm 1976 tới 1999 trên cơ sở mô hình VAR chỉ ra rằng có sự ảnh hưởng của mức lạm phát toàn thế giới, mức độ lạm phát của Mỹ, lãi suất và tỷ giá đồng USD đến giá vàng Trong khi đó, Blose (2010) chỉ ra rằng nhiều học giả khuyến khích các nhà đầu tư mua vàng để bảo hiểm rủi ro trong giai đoạn lạm phát, bởi vì họ tin rằng giá vàng phản ánh mức độ lạm phát Một số học giả thậm chí lấy giá vàng như làm một biến thay thế của lạm phát trong nghiên cứu thực nghiệm của họ

Tuy nhiên, có một số nghiên cứu của các tác giả khác thì lại cho kết quả ngược lại Chẳng hạn như nghiên cứu của Jaffe (1989), Larsen và McQueen (1995), Cecchetti và cộng sự (2000), kết luận rằng giá vàng không chịu ảnh hưởng của lạm phát Hay một vài nghiên cứu ở các quốc gia không phải Mỹ, sử dụng dữ liệu giá vàng năm 1999, và kết quả là không chứng minh được mối quan hệ giữa giá vàng và lạm phát, vàng không bảo hiểm ngăn ngừa lạm phát ở nhiều quốc gia

Sự tác động của lạm phát lên giá vàng vẫn chưa được thống nhất của các nghiên cứu trước đây, tuy nhiên tác giả vẫn kỳ vọng lạm phát có ảnh hưởng đồng biến đến giá vàng với các yếu tố khác không đổi

2.4.3 Lãi suất và giá vàng

Giữa giá vàng và lãi suất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Với tín hiệu giảm lãi suất của NHTW sẽ dẫn đến việc tăng cung tiền cho nền kinh tế kéo theo hệ lụy sẽ làm cho lạm phát tăng qua đó làm tăng nhu cầu mua vàng để bảo toàn giá trị chống lại lạm phát nên kéo theo việc giá vàng cũng sẽ tăng theo

Ngược lại, lãi suất phản ánh mức lợi nhuận nhà đầu tư có được khi đầu tư vào các loại giấy tờ có giá của một đồng tiền Lãi suất thực cao hơn làm tăng chi phí cơ hội giữ vàng và làm giảm nhu cầu vàng, ngược lại khi lãi suất thực tế thấp hoặc tiêu cực làm tăng nhu cầu đối vàng

Sherman (1983) đã sử dụng mô hình hồi quy bội để xác định các yếu tố quyết định đến sự biến động của giá vàng Với R2 bằng 76.03% ông thấy rằng lãi suất làm biến động giá vàng Một nghiên cứu được thực hiện bởi Trương Thị Thanh Hoa (2012) thông qua mô hình VAR cũng đã chỉ ra rằng giá vàng trong nước chịu ảnh hưởng lãi suất huy động có vai trò nhất định đối với giá vàng

Trang 35

Dường như tồn tại một mối quan hệ tất yếu giữa lãi suất và giá vàng, các nghiên

cứu thực nghiệm về mối quan hệ này chưa tìm thấy một sự tác động rõ ràng Do đó tác

giả kỳ vọng một sự tác động âm của lãi suất lên giá vàng với các yếu tố khác không đổi

Trang 36

2.4.4 Giá vàng thế giới và giá vàng trong nước

Vàng là một hàng hóa, vì vậy theo lí thuyết kinh tế vĩ mô đơn giản thì giá vàng phụ thuộc vào cung và cầu vàng trên thị trường Theo lý thuyết cung cầu, khi một trong hai hoặc cả hai đường cung và cầu dịch chuyển thì điểm cân bằng là giá vàng sẽ dịch chuyển theo, tức là giá vàng thay đổi Vì vậy, các yếu tố làm dịch chuyển đường cung

và cầu vàng sẽ làm giá vàng thay đổi

Nguồn cung vàng thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia Các quốc gia có hoạt động khai thác vàng thì nguồn cung phụ thuộc vào sản lượng khai thác hàng năm, năng lực của các công ty khai khoáng Đối với Việt Nam, nguồn cung vàng khai khoáng hàng năm không đáng kể, còn vàng tái chế cũng không nhiều, nguồn vàng tiêu thụ trong nước phần lớn phải đến từ nguồn vàng nhập khẩu, nên giá vàng trong nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của giá vàng thế giới Nếu giá vàng thế giới tăng thì giá vàng trong nước cũng khó giảm

Thực trạng giá vàng thế giới và trong nước có xu hướng đi lên trong những năm

2007 – 2012, và bắt đầu đi xuống năm 2013 Tuy nhiên trong thực tế có những thời điểm giá vàng trong nước biến động không cùng chiều hoặc biên độ biến động lớn hơn so với

sự biến động của giá vàng thế giới Những tháng đầu năm 2011 hay giữa năm 2013, trong khi giá vàng thế giới có chiều hướng đi xuống thì giá vàng trong nước lại tăng Nguyên nhân có thể là do quy định về hạn ngạch nhập khẩu vàng, và tiếp đó là ngân hàng nhà nước là đơn vị độc quyền nhập khẩu vàng làm cho nguồn cung vàng trong nước bị gián đoạn tại một thời điểm nhất định Khi nguồn cầu không được đáp ứng đầy

đủ, giá vàng trong nước sẽ tăng mạnh dù cho giá thế giới không thay đổi hoặc giảm xuống

Thị trường Việt Nam chưa liên thông với thị trường thế giới Nguồn cung vàng trong nước luôn bị kiểm soát từ cơ chế cấp quota nhập khẩu vào những năm trước 2012 đến việc độc quyền nhập khẩu và sản xuất vàng miếng từ tháng 3/2012 Điều này làm cho nguồn cung vàng trong nước nhiều lần bị gián đoạn, góp phần làm giá vàng trong nước tăng cao và chênh lệch nhiều so với giá vàng thế giới

Tình trạng đầu cơ vàng, tình trạng hai tỷ giá cũng góp phần tăng giá vàng trong nước và làm tăng mức chênh lêch với giá vàng thế giới Thêm vào đó những năm gần đây thị trường chứng khoán trong nước ảm đạm, thị trường bất động sản đóng băng đã

Trang 37

khiến cho giới đầu tư tìm đến vàng nhiều hơn, làm vàng trong nước tăng giá trong khi giá vàng thế giới không biến động

Quan điểm trên được ủng hội bởi nghiên cứu của Thái Thị Hạnh Nhi (2011), kết luận bài ngiên cứu chỉ ra rằng biến động của giá vàng trong nước không chỉ được giải thích bởi giá vàng thế giới, tỷ giá mà còn được giải thích thông qua các biến trễ của chính nó và biến trễ của sai số Nghiên cứu của Bùi Kim Yến, Nguyễn Khánh Hoàng (2014) cũng cho rằng giá vàng trong quá khứ có tác động đến giá vàng hiện tại với độ trễ là 8 kỳ

Suy luận từ các phân tích trên, tác giả cho rằng giá vàng ở Việt Nam chịu sự tác động dương của giá vàng thế giới cũng như giá vàng Việt Nam trong quá khứ với các yếu tố khác không đổi

2.4.5 Giá vàng và giá dầu

Đô-la là đơn vị tiền tệ dùng trên các hóa đơn mua bán dầu thô, do đó, mối quan hệ giữa giá vàng – giá dầu thô – giá đôla lại có xu hướng tác động phức tạp lên nhau

Cả vàng và dầu là hàng hóa có giá trị thực, nhu cầu lớn đối với nền kinh tế thế giới trong khi đồng USD thực chất là một dạng dấu hiệu của giá trị, thực ra nó không có giá trị thực Vì vậy, khi USD mất giá thì các hàng hóa được định giá bằng đồng tiền này – các hàng hóa có giá trị thực và chiếm tỷ trọng cao trong thương mại quốc tế - như vàng, dầu… sẽ đồng loạt lên giá để phán ánh đúng giá trị thực của nó Mặt khác, thị trường vàng và dầu cũng không phải chỉ bị chi phối bởi giá trị của đồng USD mà còn chịu tác động của hàng loạt các yếu tố khác như quan hệ cung cầu, tâm lý của nhà tích trữ, nhà đầu tư, đầu cơ…

Khi giá dầu thô giảm, các nước tiêu thụ dầu thô sẽ giảm được số USD cần cho nhu cầu này, giúp cho các nước đó giảm tỷ lệ lạm phát, giá trị đồng bản tệ tăng lên, tức là hối suất so với USD giảm xuống kéo theo sự sụt giảm của vàng Quan điểm này được ủng hộ bởi nghiên cứu thực nghiệm của Pravit Khaemasunun (2009), tác giả cho rằng giá dầu tác động dương đến giá vàng Tuy nhiên Sindhu (2013) có quan điểm ngược lại khi kết luận rằng giá dầu tác động âm đến giá vàng

Trang 38

Còn nhiều tranh cãi về chiều hướng tác động của giá dầu đến giá vàng bởi các nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm Trong luận văn này tác giả kỳ vọng một mối tương quan dương giữa giá dầu và giá vàng với các yếu tố khác không đổi

2.5 Đề xuất hướng nghiên cứu của luận văn

Như vậy, dựa trên cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến giá vàng và kết quả phân tích các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và thế giới, tác giả đưa ra bảng tổng hợp kỳ vọng về mối tương quan giữa các yếu tố vĩ mô bao gồm: giá vàng thế giới, giá vàng Việt Nam trong quá khứ, giá dầu, chỉ số lạm phát, tỷ giá và lãi suất đến giá vàng Việt Nam cho đề tài luận văn của tác giả như sau (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi):

Tương quan cùng chiều

(+)/ ngược chiều (-)

Giá vàng thế giới

Giá vàng

VN trong quá khứ

Giá dầu

Tỷ giá USD/

VND

Lãi suất

Lạm phát

Như vậy, từ kết quả kỳ vọng, tác giả đề xuất một mô hình nghiên cứu thực nghiệm cho Việt Nam với biến phụ thuộc là giá vàng Việt Nam, các biến giải thích là: tỷ giá, lãi suất, lạm phát, giá dầu, giá vàng Việt Nam trong quá khứ và giá vàng thế giới để tiến hành đo lường tác động của các nhân tố vĩ mô đến biến động giá vàng tại Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương 2, tác giả đã tổng quan lý thuyết của giá vàng và các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng Sau khi tổng hợp được kết quả của các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về tác động của các yếu tố vĩ mô đến biến động giá vàng, tác giả đã đề xuất cho hướng nghiên cứu của luận văn cũng như kỳ vọng về mối tương quan cùng chiều giữa giá vàng Việt Nam với các yếu tố vĩ mô bao gồm: giá vàng thế giới, giá dầu, chỉ số lạm phát, tỷ giá và mối tương quan ngược chiều với lãi suất

Trang 39

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ ẢNH

HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG GIÁ VÀNG VIỆT NAM 3.1 Đặc điểm thị trường vàng Việt Nam

Nhìn nhận một cách thực tế, vàng là một loại hàng hóa đặc biệt, không chỉ mang tính chất phục vụ đời sống, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên phương diện cá nhân mà còn mang chức năng thước đo giá trị và phương tiện dự trữ như một loại ngoại hối đặc biệt Với đặc điểm trên, khi đứng trước sự bất ổn của thị trường tài chính trong nước và quốc

tế, sự mất giá của tiền tệ, vàng luôn là mối quan tâm và lựa chọn hàng đầu nhằm giảm thiểu rủi ro, bảo toàn giá trị tài sản, đồng thời thể hiện sự giàu có và vững mạnh của cá nhân, ngân hàng lẫn quốc gia

Đặt trong bối cảnh Việt Nam, quốc gia với kinh nghiệm đối mặt chiến tranh, thiên tai, lạm phát thường xuyên, sự hiện hữu của truyền thống tích trữ và giao dịch vàng trong người dân là điều không thể tránh khỏi

Từ sau năm 1975, dù vàng không được pháp luật công nhận như là phương tiện thanh toán, định giá nhưng tâm lý ưa thích dự trữ vàng trong dân chúng vẫn khá cao do lạm phát xảy ra thường xuyên với mức độ cao Nhà nước thi hành các biện pháp hành chính mạnh nhằm kiểm soát và điều khiển giá vàng, mọi hoạt động giao dịch vàng của

tư nhân (vàng trang sức lẫn vàng miếng) đều bị nghiêm cấm

Công cuộc đổi mới năm 1986, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thị trường vàng Việt Nam bắt đầu có những sự cạnh tranh với chủ trương thành lập mạng lưới các cửa hàng kinh doanh vàng bạc quốc doanh và cho phép tư nhân thành lập cửa hàng kinh doanh vàng, bạc, đá quý Ngày 23/9/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 63/1993/NĐ-CP về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng Theo đó, Nhà nước thừa nhận quyền sở hữu hợp pháp về vàng của mọi tổ chức và cá nhân Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép cất giữ, vận chuyển hoặc gửi vàng ở ngân hàng Các doanh nghiệp kinh doanh vàng được mua bán vàng các loại; được chế tác, gia công, cầm đồ vàng Từ năm 1994, Vụ Quản lý ngoại hối – Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp phép nhập ủy thác để Công ty Vàng bạc Đá quý Việt Nam (VJC) nhập trực tiếp cho các doanh nghiệp và Vụ Quản lý ngoại hối bán vàng cho các doanh nghiệp Tuy nhiên,

Trang 40

từ năm 1996, sự khan hiếm về ngoại tệ do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, NHNN tạm dừng việc cấp phép nhập khẩu vàng.

Tháng 12/1999, Chính phủ ban hành Nghị định 174/1999/NĐ-CP quy định về quản

lý hoạt động kinh doanh vàng thay thế Nghị định 63/1993/NĐ-CP Cùng với Nghị định 63/1998/ NĐ-CP về quản lý ngoại hối được ban hành ngày 17/08/1998, cơ chế quản lý vàng ở Việt Nam đã chính thức tách bạch rõ việc quản lý vàng tiền tệ, và quản lý vàng phi tiền tệ với sự nới lỏng đáng kể trong việc quản lý đối với vàng phi tiền tệ tập trung vào các nội dung chính: phân định rõ vàng miếng, vàng trang sức; quản lý xuất nhập khẩu; quản lý sản xuất, gia công; quản lý kinh doanh giao dịch Nhờ chính sách nới lỏng này, đã có 8 đơn vị tham gia sản xuất, gia công vàng miếng theo dây chuyền công nghệ hiện đại và hơn 12.000 cửa hàng kinh doanh vàng trên khắp cả nước Ngoài ra, NHNN cũng cho phép các tổ chức tín dụng đủ điều kiện được phép kinh doanh vàng tài khoản

ở nước ngoài, quy định cụ thể việc huy động vàng và cho vay bằng vàng

Năm 2008-2009, sàn giao dịch vàng vật chất nở rộ, phát triển mạnh và trở nên phức tạp với hơn 20 sàn giao dịch trước khi Chính phủ ban hành lệnh cấm vào cuối năm

2009 Tại thời điểm đó, cùng với thị trường chứng khoán, thị trường vàng cũng hoạt động sôi nổi không kém, thu hút sự tham gia của nhiều đơn vị (doanh nghiệp kinh doanh vàng, ngân hàng, thậm chí các tổ chức không kinh doanh vàng,…) và hàng loạt các nhà đầu tư, tạo nên một cơn sốt vàng, kéo theo nhiều hệ lụy, ảnh hưởng đến toàn bộ các chủ thể tham gia, đồng thời tạo nên sự bất ổn của thị trường tiền tệ, tài chính Việc nới lỏng quản lý đối với vàng phi tiền tệ đã gây nên các tác động tiêu cực, nhất là trong thời điểm giá vàng biến động mạnh Các đối tượng có hành vi làm giá, đầu cơ gây khan hiếm cung giả tạo, đồng thời tung tin đồn gây nên các "cơn sốt vàng" làm cho người dân tập trung

đi mua vàng Khi giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới, ngay lập tức xuất hiện tình trạng thu gom ngoại tệ trên thị trường tự do để nhập lậu vàng nguyên liệu, sản xuất vàng miếng từ nguồn vàng nhập lậu, từ đó gây ảnh hưởng bất lợi tới tỷ giá, thị trường ngoại tệ, đẩy mặt bằng giá hàng hóa nhập khẩu lên cao làm gia tăng lạm phát trong nền kinh tế và gây bất ổn kinh tế vĩ mô Ngoài ra, do bất cập của việc cho phép các TCTD huy động và cho vay vốn bằng vàng và chuyển đổi vàng thành tiền theo Quyết định 432/2000/QĐ-NHNN đã dẫn đến tình trạng vàng hóa trong nền kinh tế, vàng miếng dần dần trở thành phương tiện thanh toán, gây khó khăn cho quản lý của nhà điều hành

Ngày đăng: 30/12/2020, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w