CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU Phần mở đầu trình bày bối cảnh cũng như tính cần thiết của đề tài, mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, phương hướng, cách thức và các bước mà tác giả sẽ thực hiện để t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Phạm Khánh Nam
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “đánh giá tác động của đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre” là do tôi tự nghiên cứu và hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Khánh Nam Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn, thu thập và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Học viên thực hiện
Trần Vĩnh Phú
Trang 4Để hoàn thành đề tài này một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nổ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của Quý thầy cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong thời gian học tập và thực hiện
đề tài Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy Phạm Khánh Nam, người
đã tận tình giúp đỡ, góp ý và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài
Cuối cùng, xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy Cô trong Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báo cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh Đặc biệt, gửi lời cám ơn chân thành đến Thầy Nguyễn Quang, Khoa Kinh tế về những kiến thức trao đổi, giúp tôi hoàn thành đề tài này
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và khả năng của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp chân thành từ quý Thầy Cô và các bạn./
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Kết cấu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Lược khảo lý thuyết có liên quan 7
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 11
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Khung phân tích 13
3.2 Mô hình hồi quy 14
3.3 Phương pháp kết nối điểm xu hướng 17
3.4 Chọn mẫu và thu thập số liệu 18
3.5 Phương pháp phân tích xử lý số liệu 19
3.6 Các bước thực hiện nghiên cứu 19
Trang 64.1 Điều kiện tự nhiên 21
4.2 Điều kiện xã hội 22
4.3 Thực trạng nguồn nhân lực 23
4.4 Chủ trương của Đảng và nhà nước về đào tạo nghề 24
4.5 Thu nhập 28
CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
5.1 Thống kê mô tả 29
5.2 Kết quả hồi quy 34
5.2.1 Kết quả hồi quy thu nhập, đào tạo và nghề nghiệp 34
5.2.2 Kết quả hồi quy thu nhập và ngành nghề được đào tạo 37
5.3 Phương pháp kết nối điểm xu hướng 40
5.4 Phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn nhóm, phỏng vấn sâu hộ gia đình 44
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 47
6.1 Kết luận 47
6.2 Gợi ý chính sách 49
6.3 Ưu điểm, hạn chế và hướng nghiên cứu mới của đề tài 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Ý nghĩa, đơn vị đo của các biến số trong mô hình 16 Bảng 5.1.1: Thống kê mô tả các biến số trong mô hình 29 Bảng 5.1.2: Trình bày hệ số tương quan theo cặp của tất cả các biến số trong mô hình 32 Bảng 5.1.3: So sánh thống kê thu nhập trung bình trước và sau đào tạo 33 Bảng 5.3.1: Thống kê mô tả và xác suất tham gia đào tạo và không đào tạo 41 Bảng 5.3.2: Số quan sát giữa 02 nhóm có tham gia đào tạo và không đào tạo được đem ra so sánh 42
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích đề tài 13
Sơ đồ 1.2: Quy trình phân tích đề tài 20
Đồ thị 1.1: Thu nhập trung bình trước và sau đào tạo 33
Trang 9Bài viết này đóng góp vào dòng nghiên cứu về vấn đề đào tạo và thu nhập, đánh giá sự tác động của đào tạo nguồn nhân lực tác động đến thu nhập của hộ gia đình Kết quả khảo sát thu thập số liệu thống kê và phân tích mở rộng sử dụng phương pháp hồi quy tối thiểu (OLS), kết hợp với phương pháp đánh giá tác động kết nối điểm xu hướng (Propensity score matching) cho thấy bằng chứng về sự khác biệt trong thu nhập của hộ gia đình có tham gia và không có tham gia chương trình đào tạo nghề Đề tài đi sâu vào phân tích sự tăng thu nhập giữa người được đào nghề và người không được đào tạo nghề, để có sự so sánh, đánh giá sự chênh lệch trong thu nhập do tác động bởi yếu tố đào tạo mang lại, trong đó có những ngành nghề đào tạo mang lại sự tăng thu nhập đáng kể, ngoài ra có những ngành đào tạo không mang lại hiệu quả Bài viết đề xuất một số chính sách nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Phần mở đầu trình bày bối cảnh cũng như tính cần thiết của đề tài, mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, phương hướng, cách thức và các bước mà tác giả sẽ thực hiện để tìm ra kết quả và các kết luận về tác động của chính sách đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
1.1 Đặt vấn đề
Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của lực lượng sản xuất xã hội, quyết định sự phát triển kinh tế xã hội Đây là nguồn lực quan trọng để thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã thông qua Tầm quan trọng này được Huyện ủy Thạnh Phú nêu trong Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 20 tháng 10 năm 2011 về “Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 -
2015 và định hướng đến năm 2020”, xem đây là nhân tố quan trọng nhằm đẩy phát triển kinh tế của huyện
Thạnh Phú là một trong ba huyện biển của tỉnh Bến Tre, dân số đông (35.876
hộ, với 148.178 nhân khẩu), trình độ dân trí thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao Qua kết quả bình nghị hộ nghèo cuối năm 2014, toàn huyện có 3.897 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 10,86%, hộ cận nghèo 2.566 hộ, chiếm tỷ lệ 7,15%; huyện có 08/18 xã được Chính phủ công nhận
là bãi ngang ven biển đặc biệt khó khăn theo chương trình 135, nguồn nhân lực và cơ
sở hạ tầng của huyện còn nhiều hạn chế, do đó Trung ương, tỉnh tập trung đầu tư nhiều chương trình, chính sách , trong đó việc đào tạo nguồn nhân lực được quan tâm hàng đầu để giải quyết vấn đề quan trọng sau: (1) “Chất lượng nguồn nhân lực của huyện còn nhiều hạn chế”; (2) “Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp còn cao Lao động thiếu việc làm và không có việc làm còn nhiều Tỷ lệ hộ nghèo cao, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp”; (3) “Thu nhập bình quân đầu người của huyện thấp”
Theo Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn” của Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của
Trang 11Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, kế hoạch trung bình mỗi năm mở 30 lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đào tạo nghề cho 900 lượt người, trong đó ưu tiên cho những hộ gia đình có thu nhập thấp (hộ nghèo) và hộ gia đình thuộc các xã bãi ngang ven biển Kinh phí đào tạo khoảng 800 triệu đồng/năm; người được đào tạo sẽ được hỗ trợ 100% học phí, được cấp tiền ăn trong thời gian tham gia khóa học và được ưu tiên vay vốn để sản xuất
Đến nay, hiệu quả của chương trình đào tạo nguồn nhân lực vẫn là dấu hỏi lớn
về mặc chính sách Chương trình đào tạo có góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của gia đình được đào tạo? Các yếu tố nào quyết định sự thành công của chương trình đào tạo? nghiên cứu cung cấp bằng chứng lượng hóa tác động của các chính sách của nhà nước đến cuộc sống của người dân sẽ đóng góp quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, chính sách kinh tế xã hội
Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập của người được đào tạo nghề trên địa bàn huyện Thạnh Phú Kết quả nghiên cứu
sẽ cho thấy tính hiệu quả của chương trình đào tạo nguồn nhân lực, từ đó giúp các cơ quan nhà nước có bằng chứng khoa học để xây dựng các chương trình đẩy mạnh vốn nhân lực cho nền kinh tế một cách hiệu quả
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá tác động của đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập của người thụ hưởng trên địa bàn huyện Thạnh Phú
- Với mục tiêu tổng quát trên, các mục tiêu cụ thể sau được đặt ra:
+ Đánh giá tác động của chương trình đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập của người thụ hưởng trên địa bàn huyện Thạnh Phú
+ Phân tích các nhân tố tác động đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nguồn nhân lực
Câu hỏi nghiên cứu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của đào tạo
nguồn nhân lực đến thu nhập của hộ gia đình và trả lời câu hỏi: Hiệu quả của chương
Trang 12trình đào tạo, và người được tào tạo nghề thu nhập có tăng lên hay không, hay thu nhập tăng lên do những yếu tốt khác?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập của hộ gia đình được hưởng
chính sách đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình, như sau khi được đào tạo nghề, tìm được việc làm và có thu nhập tăng lên từ chính nghề được đào tạo, so sánh thu nhập bình quân/tháng trước khi được học nghề (12 tháng trước) và thu nhập hiện tại; so sánh thu nhập giữa nhóm được đào tạo nghề và nhóm không được đào tạo nghề, tìm sự khác biệt trong thu nhập của hai nhóm nêu trên
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trong phạm vi thời gian, không
gian và nội dung như sau: (i) về thời gian: nghiên cứu tác động của chương trình đào tạo nguồn nhân lực từ năm 2012 và 2013 đến thu nhập của hộ gia đình; (ii) về không
gian: Do hạn chế về mặc thời gian và nhân lực, nên phạm vi nghiên cứu giới hạn trên
địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Huyện Thạnh Phú có những đặc điểm phù hợp cho việc nghiên cứu và sự thuận tiện cho việc thu thập thông tin, tiến hành điều tra, do
là huyện nghèo nhất tỉnh, tăng trưởng kinh tế chậm, qua đó sẽ giúp cho nghiên cứu có tính tổng quát cao hơn, ít bị thiên lệch, kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao
hơn, có thể suy rộng ra phạm vi toàn tỉnh Bến Tre; (iii) về nội dung: nghiên cứu tập
trung vào các yếu tố cơ bản tác động đến thu nhập của hộ gia đình, bao gồm: các yếu
tố liên quan đến đặc điểm cá nhân của người được đào tạo nghề như độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, đất sản xuất, tài sản, chi tiêu, tiết kiệm; ngoài ra còn các yếu tố như ngành nghề được đào tạo, số nhân khẩu trong hộ gia đình, bệnh tật, hộ gia đình có tham gia các tổ chức đoàn thể xã hội
Trang 131.4 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở dữ liệu: Đề tài sử dụng nguồn dữ liệu chính là dữ liệu sơ cấp được thu
thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 180 hộ gia đình có thu nhập thấp trên địa bàn huyện, trong đó 50% hộ gia đình có tham gia và 50% hộ gia đình không tham gia vào chương trình đào tạo
Số liệu thứ cấp: Thu thập từ cục thống kê, các báo cáo của Ủy ban nhân dân
huyện Thạnh Phú
Phương pháp phân tích: Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Để khảo sát tình hình thu nhập của hộ gia đình, tình hình kinh tế chung của huyện Thạnh Phú, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả
- Để phân tích tác động của chương trình đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập, nghiên cứu sử dụng 2 phương pháp: Mô hình hồi quy và phương pháp kết nối điểm xu hướng
Mô hình hồi quy bình phương tối thiểu (OLS) có biến phụ thuộc là thu nhập (income) và biến độc lập là:
+ Hộ gia đình có tham gia hay không có tham gia vào chương trình đào tạo (training)
+ Học vấn (edu),
+ Giới tính (gender),
+ Tuổi (age),
+ Số nhân khẩu trong hộ (hhsize),
+ Đất sản xuất (land value),
+ Tài sản (property),
+ Chi tiêu (spending),
+ Tiết kiệm (saving),
Trang 14+ Ngành nghề được đào tạo (field),
+ Nghề nghiệp (occu)
Phương pháp đánh giá tác động kết nối điểm xu hướng (Propensity score matching) cho phép tách biệt tác động của chương trình đào tạo lên thu nhập của hộ gia đình
-Để tìm hiểu các nhân tố giải thích tác động của chương trình đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính thông qua phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn nhóm và phỏng vấn sâu hộ gia đình nhằm tìm ra các yếu tố cụ thể nào của chương trình đào tạo có ảnh hưởng đến hành vi kinh tế của người thụ hưởng
1.5 Kết cấu nghiên cứu
Nhằm đạt được tính chặt chẽ trong việc trình bày, kết nối các nội dung giúp cho người đọc có thể tham khảo các vấn đề và kết quả của quá trình nghiên cứu, gồm
06 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu các nội dung tổng quát của đề tài, đặt vấn đề nghiên
cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cũng như giới thiệu sơ lược về phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Chương này trình bày tổng quan về lược khảo các
lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày khung phân tích, mô hình hồi quy, chọn mẫu và thu thập số liệu, các bước thực hiện nghiên cứu:
Chương 4: Tổng quan về chương trình đào tạo nhân lực và thu nhập tại huyện Thạnh Phú: Bằng phương pháp thống kê mô tả, sẽ đưa ra những đánh giá
tổng quan về thực trạng chương trình đào tạo nhân lực và thu nhập của hộ gia đình thông qua phân tích các số liệu về dân số, lao động, thu nhập, giáo dục và việc làm trên địa bàn huyện Qua đó, nghiên cứu chỉ ra tác động của đào tạo nhân lực và các yếu khác ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình
Trang 15Chương 5: Kết quả nghiên cứu: Kiểm chứng định lượng nhằm đánh giá tác
động của đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn huyện Thạnh Phú; cuối chương, tác giả một lần nữa đánh giá lại tác động của các yếu tố bằng kết quả hồi quy tương tác giữa các biến trong mô hình
Chương 6: Kết luận và gợi ý chính sách: Chương này sẽ tóm lược lại những
kết quả quan trọng của đề tài và đặc biệt là mô hình nghiên cứu Đồng thời, vận vụng những kết quả này vào các tình huống thực tế Từ đó, có những kiến nghị chính sách Ngoài ra, chương này còn đánh giá lại những điểm mới cũng như những hạn chế của
đề tài để từ đó mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 16CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Lược khảo các lý thuyết có liên quan
- Lý thuyết về vốn con người (Human capital)
Theo Mincer (1974), Vốn con người cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con người phải đầu tư tích lũy thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi người, nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập Vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng trong sản xuất Vốn con người cũng hao mòn và phải tốn chi phí để đầu tư hình thành và là nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển của mỗi doanh nghiệp và quốc gia
- Lý thuyết về thu nhập
Smith, A (1766), quan niệm tiền lương là một phần thu nhập của công nhân làm thuê, là một phần của sản phẩm lao động Ông ủng hộ việc trả tiền lương cao Hai yếu tố quyết định đến mức tiền lương là cầu về lao động và giá cả trung bình của các
tư liệu sinh hoạt, ông cũng phân biệt sự khác nhau giữa tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa
Ricardo, D (1817), coi tiền lương là giá cả tự nhiên của hàng hoá lao động, là giá cả các tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình anh ta Theo ông tiền lương cao sẽ làm cho nhân khẩu tăng nhanh, đẫn đến thừa lao động, lại làm cho tiền lương hạ xuống, đời sống công nhân xấu đi, là kết quả của việc tăng dân số
- Các nhận định khác về đào tạo nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là sức lực, kỹ năng, tài năng và tri thức của những người trực tiếp tham gia hoặc có tiềm năng tham gia vào sản xuất ra sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ hữu ích; đào tạo là đầu tư vào con người dưới góc độ kinh tế Afred Marshall
Trang 17nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục như “sự đầu tư quốc gia” và theo quan điểm của ông “vốn giá trị nhất trong tất cả các loại vốn là vốn đầu tư con người”
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước
(Nguồn: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI)
-Vai trò của giáo dục và đào tạo trong chiến lược phát triển:
Giáo dục, yêu cầu đào tạo
Nâng cao sản xuất, tạo nguồn thu nhập
Chuyển đổi sang trồng cây công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng
Giáo dục cơ bản, kỹ năng sinh kế, đào tạo kinh doanh và
có những hình thức
hỗ trợ nhất định, hỗ trợ học nghề truyền thống, tái tập trung giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề trên khu vực phi chính thức
Trang 18Nhạy cảm với sự thay đổi của kinh tế thế giới, giá cả hàng hóa, sự biến động của tỷ giá hối đoái
bởi các yếu tố chính của sản xuất như: Nhà xưởng, đất đai, hàng hóa và lao động đơn giản Vai trò chính phủ
là cung cấp sự ổn định
về kinh tế và chính trị
Sử dụng hàng hóa và lao động đơn giản có hiệu quả
trình độ thấp, thay đổi tập hoán làm việc, các biện pháp kiểm soát việc tăng lương
sẽ nhập khẩu
Thu hút đầu tư từ nước ngoài, nhập khẩu công nghệ thông qua việc cấp phép và kinh doanh Liên kết nền kinh tế quốc gia với hệ thống kinh tế toàn cầu
Ưu tiên của Chính phủ
là cải thiện cơ sở hạ tầng và sắp xếp cho phép tích hợp với thị trường toàn cầu Tạo điều kiện cho thị trường lao động được hoạt động linh hoạt
Giáo dục trung học, dạy kỹ hơn giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật viên trung cấp Lao động phổ thông thông qua quá trình học tập đã trang bị
và cập nhật những
kỹ năng Nâng cao
kỹ năng bao gồm làm việc theo nhóm, thông tin và giải quyết vấn đề
4 Thu Đổi mới dịch vụ và sản Tăng tốc, đổi mới công Phát triển cao, nền
Trang 19là chất xám, đối tượng này có khả năng thích nghi với công nghệ mới
nghệ, giáo dục đại học
và cải thiện thị trường vốn Quản lý hệ thống,
hỗ trợ khởi động các doanh nghiệp công nghệ cao Thích ứng
và thương mại hóa các công nghệ mới
giáo dục cao hơn, đặc biệt trong kỹ thuật chuyên môn,
tỷ lệ học xã hội cao, đặc biệt trong những môn học cơ bản, khu vực liên kết chương trình giáo dục cao hơn Các công ty đầu tư mạnh cho giáo dục và đào tạo nhân lực cao hơn
(Nguồn: Chiến lược, chính sách phát triển dạy nghề, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội – năm 2013)
Năng suất lao động: Khi có kỹ năng thì người lao động làm việc năng suất hơn,
sản xuất ra nhiều sản phẩm, tạo ra nhiều thu nhập hơn trong một lượng thời gian và công sức nhất định Điều này đúng đối với cả người làm công ăn lương và những người tự sản xuất kinh doanh Hơn nữa, khi người lao động có kỹ năng thì họ còn giúp cho người cùng làm việc củng có năng suất tốt hơn Con người được xem là nguồn vốn
có vai trò quyết định đáng kể trong tổng vốn đầu tư nền kinh tế “Nguồn nhân lực trình
độ cao có thể sử dụng máy móc thiết bị và nhà xưởng hiệu quả hơn, nâng cao tỷ lệ thu lợi nhuận trên vốn đầu tư” Lao động và vốn là hai yếu tốt bổ trợ cho nhau, nếu việc đầu tư chưa đúng mức vào nguồn vốn con người sẽ làm giảm hiệu quả của vốn vật chất
và do đó sẽ dẫn đến sự thiếu hụt về đầu tư vật chất sản xuất và làm giảm tăng trưởng kinh tế
(Nguồn: Chiến lược, chính sách phát triển dạy nghề, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội – năm 2013)
Trang 202.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
Trong vài thập kỷ qua, Trung Quốc liên tục tăng trưởng kinh tế với tốc độ hai con số, với dân số hơn 1,3 tỷ người, diện tích tự nhiên 9.597 km2, hiện đang là nền kinh tế thứ hai thế giới Sau giải phóng năm 1949 Trung quốc thực hiện chính sách đầu
tư mạnh cho giáo dục, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã chứng minh một hướng đi đúng trong việc phát triển nguồn nhân lực để phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đó là tăng trưởng kinh tế gắn với giáo dục - đào tạo Park
và cộng sự (2004), Knight và Song (2003) khẳng định quan trọng rằng lợi tức tăng lên
từ giáo dục ở Trung Quốc, Họ sử dụng dữ liệu từ năm 1988-2001 để chạy hồi quy ước tính phương trình về tiền lương và chứng minh một sự gia tăng lợi tức của người dân trong các đô thị ở Trung Quốc từ giáo dục Năm 1998, tỉ lệ lợi tức cho giáo dục chỉ 4,0%; vào năm 2001, nó đã tăng lên 10%
Các nghiên cứu về nguồn nhân lực bắt đầu ở Hoa kỳ cuối năm 1950 đã mang lại kết quả quan trọng về tỷ lệ lợi tức để học, đào tạo trong công việc và các hoạt động đầu
tư vốn con người khác Jamison và van der Gaag (1987) và Byron và Manaloto (1990)
đã sử dụng bộ dữ liệu thu thập thông tin từ 51.352 cá nhân và 10.258 hộ gia đình nông thôn và 31.827 cá nhân và 9.009 hộ gia đình ở thành thị của Trung Quốc, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ lợi nhuận mỗi năm để đi học ở Trung quốc (4,02% ở vùng nông thôn và 3,99% ở các đô thị), và cũng chỉ ra rằng tỷ lệ lợi nhuận để đi học cho người có thu nhập ở khu vực nông thôn cao hơn so với thành thị; tỷ lệ lợi nhuận để đi học cho phụ nữ cao hơn đáng kể đối với nam ở các đô thị
Theo Becker (1967), học được xem là một quyết định đầu tư tối ưu hóa Giáo dục sẽ làm tăng năng suất của các cá nhân, và công nhân có tay nghề cao hơn sẽ được trả lương cao hơn, nếu thị trường lao động là hoàn hảo và lao động được trả lương theo giá trị biên của nó, nhận định này được Becker (1967) nghiên cứu ở 21 quốc gia OECD trong những năm từ 1991 đến 2005, qua kết quả chạy hồi quy, ông nhận định IRR (suất sinh lợi) tăng lên rõ rệt ở Ireland, Bồ Đào Nha và Canađa
Trang 21Theo Mincer (1974), thực hiện một phép hồi qui bình phương tối thiểu, trong đó
sử dụng logarit tự nhiên của thu nhập làm biến phụ thuộc và số năm đi học cũng như
số năm kinh nghiệm và bình phương của nó làm các biến độc lập Hệ số ước lượng cho
số năm đi học cho ta biết phần trăm gia tăng của tiền lương khi thời gian đi học tăng thêm một năm Thông qua giả định rằng các cá nhân không khác nhau về năng lực bẩm sinh, hệ số ước lượng cho số năm đi học có thể được lý giải là suất sinh lợi của việc đi học
Trang 22CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Khung phân tích
Dựa vào khảo lược lý thuyết về vốn con người của Mincer, lý thuyết về thu nhập của Adam Smith và khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, khung phân tích sử dụng trong luận văn này được phát triển như sau:
Sơ đồ: 1.1 Khung phân tích đề tài
Đào tạo
Thu nhập
Phỏng vấn chuyên gia, phỏng phấn nhóm, phỏng vấn sâu
Phương pháp đánh giá tác động kết nối điểm xu hướng (PSM)
Trang 233.2 Mô hình hồi quy
Nghiên cứu này khảo sát tác động của các chương trình đào tạo nghề đến thu nhập của người được đào tạo Mô hình sau đây dùng để lượng hóa tác động này
Thu nhập = α + β1 đào tạo + β2 giới tính + β3 học vấn + β4 tuổi + β5 quy mô hộ
gia đình+ β6 nghề nghiệp + β7 ngành nghề đào tạo + β8 tiết kiệm + Ui
Biến phụ thuộc (thu nhập), là biến thể hiện thu nhập thực của hộ gia đình
Biến độc lập được định nghĩa như sau:
- Biến đào tạo là biến giả thể hiện hộ gia đình tham gia chương trình đào tạo
nghề Biến nhận giá trị 1 nếu là có và 0 nếu là không
Nhóm các biến kiểm soát:
- Biến thể hiện học vấn của người được đào tạo
- Biến giả thể hiện giới tính của người được đào tạo Biến nhận giá trị 1 nếu là
nam và 0 nếu là nữ
- Biến thể hiện tuổi của người được đào tạo
- Biến thể hiện số nhân khẩu trong hộ gia đình
- Biến thể hiện nghề nghiệp của người được đào tạo, nhận giá trị từ 1 đến 7
+ 1= Nuôi trồng/ đánh bắt thủy sản;
+ 2= trồng trọt/nông nghiệp;
+ 3= Tự kinh doanh phi nông nghiệp;
+ 4= làm công ăn lương;
+ 5 = học sinh/sinh viên;
+ 6= thất nghiệp;
+ 7= không nằm trong lực lượng lao động
Trang 24- Biến thể hiện ngành nghề được đào tạo Biến nhận giá trị từ 1 đến 10
1= May công nghiệp
2= Kỹ thuật đan đát
3= Kỹ thuật bó chổi cọng dừa
4= Đan khung nhựa
5= Điện/cơ khí
6= Kỹ thuật chăn nuôi gia súc/gia cầm
7= Kỹ thuật trồng lúa theo mô hìnhVietGAP
8= Kỹ thuật khai thác, đánh bắt thủy sản
9= Nuôi tôm nước lợ
10= Ngành nghề khác
- Biến thể hiện tiết kiệm của hộ gia đình
Trang 25Bảng: 3.1 Ý nghĩa, đơn vị đo và kỳ vọng dấu hồi quy của các biến số
Tên biến Ý nghĩa Đơn vị đo Kỳ vọng
giới tính Thể hiện giới tính của người được đào tạo nghề nam/nữ
tuổi Thể hiện tuổi của người được đào tạo (-)
nghề nghiệp Thể hiện nghề nghiệp của người được
nghề đào tạo Thể hiện ngành nghề được đào tạo + giá trị tài sản Thể hiện giá trị tài sản của hộ gia đình ngàn đồng (+) giá trị đất Thể hiện giá trị đất sản xuất của hộ gia đình ngàn đồng (+) chi tiêu thể hiện chi tiêu của hộ gia đình ngàn đồng (-)
tiết kiệm Thể hiện tiết kiệm của hộ gia đình ngàn đồng (+)
trình trạng sức
khỏe Thể hiện trình trạng sức khỏe của hộ gia đình (-) quan hệ xã hội Thể hiện có tham gia các tổ chức xã hội (+)
Trang 263.3 Đánh giá tác động bằng phương pháp kết nối điểm xu hướng (Propensity score matching)
Bên cạnh mô hình hồi quy để phân tích tác động của chương trình đào tạo nghề đến thu nhập, nghiên cứu sử dụng phương pháp kết nối điểm xu hướng để phân tích so sánh với phương pháp hồi quy và xác định sự ổn định của kết quả
Có nhiều phương pháp để tạo ra sự tương đồng trong so sánh Sự so sánh có
thể thực hiện theo thời gian hoặc theo không gian hoặc kết hợp cả hai Trong đó
phương pháp so sánh theo không gian mà cụ thể là phương pháp Propensity score matching (PSM) được đánh giá rất cao trong đánh giá tác động của dự án Nội dung
trọng tâm trong hoạt động đánh giá sự tác động là tạo được sự tương đồng trong quá
trình so sánh Ở nghiên cứu này, thực chất của việc đánh giá tác động là so sánh lợi ích
mà người tham gia thu được sau khi được đào tạo nghề
Các bước cơ bản để thực hiện so sánh bằng PSM được tóm tắt như sau:
-Bước 1: Tiến hành điều tra chọn mẫu hai nhóm: 90 hộ có tham gia đào tạo
nghề và 90 hộ không tham gia đào tạo nghề Cuộc điều tra phải đảm bảo được tính tương đồng, chẳng hạn như cùng phiếu điều tra, cùng thời điểm, cùng người phỏng vấn, cùng địa bàn
-Bước 2: Từ số liệu điều tra, xây dựng mô hình probit, trong đó biến phụ thuộc
là 0 cho hộ không tham gia và 1 cho hộ có tham gia đào tạo, còn biến độc lập là những nhân tố có thể ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào việc đào tạo nghề của cả hai nhóm, như: Giới tính, tuổi, đặc điểm nhân khẩu trong hộ
-Bước 3: Tiến hành hồi quy cho mô hình probit rồi tính giá trị dự đoán hay xác
suất dự đoán cho từng hộ ở cả hai nhóm
Giá trị xác suất dự đoán được gọi là propesity, giá trị này sẽ nằm trong khoản
từ 0 đến 1
-Bước 4: Loại bớt những hộ có xác suất dự đoán quá thấp hoặc quá cao so với
cả mẫu
Trang 27-Bước 5: Tương ứng với mỗi hộ trong nhóm người tham gia, chúng ta tìm một
hoặc một số hộ trong nhóm người không tham gia mà có xác suất dự đoán gần giống nhau nhất rồi so sánh với nhau So sánh thu nhập của hộ trong nhóm người giam gia đào tạo với thu nhập bình quân của những hộ không tham gia mà có xác suất dự đoán gần giống nhau nhất
Kết quả của những so sánh này là tác động của việc đào tạo nghề đối với hộ gia đình có tham gia đào tạo, gọi là “individual gains”
Sử dụng so sánh cận gần nhất là một trong những kỹ thuật so sánh được sử dụng thường xuyên nhất, trong đó mỗi đơn vị can thiệp được so sánh với một đơn vị đối chiếu có điểm xu hướng gần nhất Ta cũng có thể chọn các đối tượng gần nhất n để thực hiện so sánh (n=5 thường được sử dụng) Việc đối chiếu có thể thực hiện dù có hay không có thay thế Chẳng hạn, so sánh có thay thế có nghĩa là sử dụng cùng một đối tượng không tham gia để đối chiếu với nhiều đối tượng tham gia khác
-Bước 6: Cuối cùng tính trung bình của tất cả “individual gains” để được giá
trị trung bình chung, giá trị trung bình chung này chính là tác động của chương trình đào tạo nghề đối với hộ gia đình tham gia
3.4 Chọn mẫu và thu thập số liệu
Kích thước mẫu điều tra 180 hộ gia đình có thu nhập thấp trên địa bàn huyện, trong đó 50% được đào tạo nghề theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ, giai đoạn từ năm 2012-2013
Mẫu được chọn theo phương điều tra trải đều địa bàn huyện Thu thập số liệu khắp 18 xã trên địa bàn huyện, mỗi xã thu thập 10 mẫu, chọn những hộ gia đình có tham gia chương trình đào tạo nghề và thuộc diện hộ có thu nhập thấp (hộ nghèo) để phỏng vấn thu thập số liệu
Việc điều tra được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp người được thụ hưởng chương trình đào tạo nghề
Trang 283.5 Phương pháp phân tích xử lý số liệu
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả
- Sử dụng mô hình kinh tế lượng hồi quy bằng phần mềm Stata12
3.6 Các bước thực hiện nghiên cứu
Để khảo sát tình hình thu nhập của hộ gia đình ở huyện Thạnh Phú và hộ gia đình được tham gia đào tạo trước và sau chương trình đào tạo, nghiên cứu này sử dụng phương pháp điều tra mẫu, thống kê phân tích xem thu nhập trước và sau khi tham gia chương trình đào tạo nghề theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Để đánh giá tác động của chương trình đào tạo nhân lực đến thu nhập của người thụ hưởng trên địa bàn huyện Thạnh Phú, nghiên cứu này áp dụng lý thuyết về vốn con người của Mincer, lý thuyết về thu nhập của Adam Smith, đồng thời kết hợp với Học thuyết kinh tế của David Ricardo để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thu nhập của hộ gia đình, xem khả năng thu nhập tăng lên sau khi tham gia vào chương trình đào tạo nghề Kỳ vọng sẽ có sự khác biệt trong thu nhập giữa nhóm người được đào tạo và nhóm người không được đào tạo nghề
Để giải thích tác động của chương trình đào tạo nguồn nhân lực, sử dụng mô hình kinh tế tượng và phương pháp đánh giá tác động kết nối điểm xu hướng (PSM) để đánh giá tác động
Trang 29Sơ đồ: 1.2 Quy trình phân tích:
Vấn đề nghiên cứu
Đào tạo và thu nhập
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 30CHƯƠNG 4 TỔNG QUAN ĐÀO TẠO NHÂN LỰC
VÀ THU NHẬP TẠI HUYỆN THẠNH PHÚ
4.1 Điều kiện tự nhiên
Thạnh Phú là một trong 3 huyện ven biển của tỉnh Bến Tre, nằm trong khu vực
Cù lao Minh, giữa hai nhánh sông Hàm Luông và Cổ Chiên trong hệ thống sông Tiền thông ra biển Đông Chiều dài nhất theo trục đông - tây (từ Tân Phong đến Thạnh Phong) là 38,2km, nơi hẹp nhất theo trục Bắc - Nam là 9,8 km (từ Mỹ Hưng đến Bình Thạnh), nơi rộng nhất 16,3 km (từ An Điền đến Thạnh Phong)
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 425,7 km2, chiếm khoảng 18% diện tích
tự nhiên toàn tỉnh, dân số trung bình năm 2013 là 134.981 người, mật độ dân số 307 người/km2
Về giao thông, Quốc lộ 57 là tuyến đường xương sống chạy xuyên suốt địa bàn với tổng chiều dài 38,6 km; đồng thời các tuyến đường huyện kết nối với tuyến quốc
lộ và hai tuyến đường huyện ven sông Cổ Chiên, Hàm Luông theo dạng xương cá tạo nên mạng lưới giao thông đều khắp trên toàn địa bàn Đường thủy, sông Cổ Chiên và Hàm Luông được xem là 2 tuyến đường thủy quan trọng giữ vai trò kết nối địa bàn Huyện với khu vực lân cận; sông Băng Cung, sông Eo Lói đóng vai trò là tuyến giao thông trục nối liền với 2 tuyến sông Hàm Luông và Cổ Chiên
Về vị trí kinh tế, Thạnh Phú do có vị trí nằm dưới hạ lưu tam giác châu của hệ thống sông Hàm Luông - Cổ Chiên, là địa bàn nhiễm mặn và lợ từ biển Đông, thuận lợi phát triển nuôi trồng, khai thác thủy hải sản và tương đối thuận lợi trong quá trình phát triển các cây trồng ngọt hóa thông qua các công trình thủy lợi được xây dựng trên địa bàn Ngoài ra, do vị trí cửa sông và liên tục được bồi lắng, huyện Thạnh Phú còn là địa bàn của bãi triều và Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú
Địa hình và khí hậu: Với đặc trưng châu thổ lắng phù sa mới của sông Cửu Long trên nền phù sa cổ, địa hình nhìn chung bằng phẳng với những giồng cát hình
Trang 31cánh cung đan xen với đất trồng trọt nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển
Nhiệt độ bình quân hàng năm 26oC đến 27oC/năm và không có sự chênh lệch nhiều giữa tháng nóng nhất và tháng mát nhất Trong khoảng 15 năm trở lại đây, tình hình khí hậu thủy văn diễn biến khá phức tạp tạo nên trình trạng ngập, lốc, xâm nhập nặm sâu và rộng
Tài nguyên thiên nhiên: Tổng diện tích tự nhiên của huyện 42.565,65 ha, diện tích nuôi thủy sản trên địa bàn huyện là 16.910 ha Trong đó, có 15.280 ha nuôi tôm sú
và tôm thẻ, sản lượng thu hoạch các loại bình quân hàng năm đạt 24.797 tấn Tổng diện tích gieo trồng lúa hàng năm 15.150 ha, sản lượng bình quân 61.934 tấn Diện tích cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày 2.656 ha, sản lượng 11.588 tấn Toàn huyện hiện có tổng đàn bò 29.570 con, đàn heo 31.000 con, đàn gia cầm 540.000 con Trên địa bàn không có các loại khoáng sản có giá trị cao, có trữ lượng công nghiệp Nguồn tài nguyên thủy sản là nguồn thu chủ yếu của huyện
4.2 Điều kiện xã hội
Toàn địa bàn được chia thành 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm: Thị trấn Thạnh Phú và các xã Phú Khánh, Đại Điền, Tân Phong, Thới Thạnh, Quới Điền,
Mỹ Hưng, Hòa Lợi, Mỹ An, Bình Thạnh, An Thạnh, An Thuận, An Điền, An Quy, An Nhơn, Giao Thạnh, Thạnh Phong và Thạnh Hải Trung tâm huyện đặt tại thị trấn Thạnh Phú là nơi tập trung các cơ quan Đảng, trụ sở hành chính quản lý nhà nước, các
cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa cấp huyện và là trung tâm kinh tế đô thị hàng đầu của huyện
Định hướng phát triển 3 vùng: vùng ngọt hóa: Tập trung Sản xuất lúa; vùng lợ: Trồng lúa và nuôi tôm xen canh; vùng ven biển: Nuôi trồng, đánh bắt, khai thác thủy hải sản và tài nguyên khác từ biển
Trang 324.3 Thực trạng nguồn nhân lực
Số người trong độ tuổi lao động 87.850 người, chiếm tỷ lệ 65,08%; số người đang làm việc trong nền kinh tế 70.685 người, chiếm tỷ lệ 80,46%, trong đó lao động nông thôn chiếm 75% dân số trên địa bàn huyện, lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; hàng năm, có 2.135 người bước vào tuổi lao động Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 34,7%, trong đó có 17,59% lao động đã qua đào tạo nghề Tỷ
lệ lao động thất nghiệp trên địa bàn 5,5% Tỷ trọng lao động khu vực I chiếm 54,67%; khu vực II chiếm 19,82% và khu vực III chiếm 25,51%
Về công tác đào tạo nghề, giới thiệu việc làm: Thực hiện đào tạo nghề theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Hàng năm, đào tạo cho hơn 1.000 lao động, chủ yếu là trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng, tỷ lệ lao động qua đào tạo nâng lên từ 29,5% (năm 2011) lên 41% (năm 2014), tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng từ 14,2% lên 20,5% Dạy nghề, truyền nghề, tập huấn kỹ thuật cho hơn 8.097 lượt người, tổ chức tư vấn hướng nghiệp giới thiệu việc làm cho 10.782 lượt người, giới thiệu trên 1.000 người, tỷ lệ thất nghiệp giảm (năm 2011 là 5,2%, năm
2014 là 3,5%)
Về công tác giáo dục: Sự nghiệp giáo dục ngày càng phát triển cả về quy mô, loại hình giáo dục Toàn huyện có 35 trường tiểu học, trung học cơ sở, 3 trường trung học phổ thông, 18/18 xã có trường đạt chuẩn quốc gia, 18/18 xã có trung tâm học tập cộng đồng, 01 Trung tâm dạy nghề
Xác định giảm nghèo là chương trình cần được quan tâm và triển khai một cách tích cực trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của toàn huyện, cùng với sự nỗ lực không ngừng trong quá trình thực hiện công tác giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2014 còn 11%, giảm 3,45% so với năm 2010; tỷ lệ tái nghèo chiếm 1,1%
(nguồn: Báo cáo tổng kết 5 năm công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm của UBND huyện Thạnh Phú)
Một góc Trung tâm Dạy nghề huyện Thạnh Phú,
tỉnh Bến Tre
Lớp dạy nghề may công nghiệp cho lao động nông thôn
Trang 334.4 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác đào tạo nghề
Đào tạo nghề và tạo việc làm có thu nhập ổn định cho người nông dân là góp phần đảm bảo an sinh xã hội Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm đến việc triển khai thực hiện công tác đào tạo nghề cho lực lượng lao động có chất lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Đại hội X đã chỉ rõ: “Phát triển hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề, nhất là các nghề cho nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp; đa dạng hóa các loại hình dạy nghề, phát triển nhanh đào tạo nghề dài hạn theo hướng hiện đại”
Các chủ trương của Đảng về vấn đề dạy nghề đã được cụ thể hóa thành những mục tiêu cụ thể Nhằm đưa công tác đào tạo nghề đến với nông nghiệp, nông thôn; để mạng lưới các cơ sở dạy nghề trải khắp trên địa bàn cả nước, ngày 11 tháng 4 năm
2002 Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số 48/2002/QĐ- TTg phê duyệt mạng lưới dạy nghề giai đoạn 2002 - 2010 Mục tiêu của quy hoạch này nhằm xây dựng mạng lưới trường dạy nghề và các cơ sở dạy nghề khác đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế -
xã hội, củng cố an ninh - quốc phòng, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước; từng bước nâng cao chất lượng dạy nghề, tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề, khắc phục những bất hợp lý về cơ cấu nhân lực; tạo cơ hội cho đông đảo người lao động được trang bị những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tiếp thu công nghệ mới để tự tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập nghiệp Như vậy, với Nghị quyết này, người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn và lao động nghèo không có cơ hội đi học xa sẽ được học tập và được hưởng các chế độ giáo dục Đây sẽ
là điều kiện thuận lợi giúp cho lao động nông thôn tìm kiếm việc làm tốt và có thu nhập ổn định
Ngày 15 tháng 6 năm 2004 Ban Bí thư ra Chỉ thị 40-CT/TW và ngày 11 tháng
01 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2005/QĐ -TTg về xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010 Như vậy, song song với công tác đào tạo nghề, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm và tích cực triển khai
Trang 34sâu rộng trên địa bàn cả nước, nhằm tạo ra được nguồn nhân lực dồi dào về quy mô đào tạo và có chất lượng tay nghề vững chắc
Ngày 02 tháng 10 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội
đã ra quyết định số 07/2006/QĐ-BLĐTBXH về phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010
và định hướng đến năm 2020” Theo đó cần phải phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề rộng khắp cả nước, đa dạng các hình thức dạy nghề, tạo điều kiện cho người lao động, thanh niên, nông dân, người dân tộc thiểu số học nghề, lập nghiệp; mở rộng quy mô, đồng thời nâng cao chất lượng dạy nghề, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình
độ đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường lao động và những tiến bộ về kỹ thuật, công nghệ; đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư dạy nghề, phát triển các cơ sở dạy nghề tư thục và cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư của nước ngoài, mở rộng hội nhập quốc tế về dạy nghề
Với quan điểm, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; ngày 27 tháng 11 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, qua đó, công tác đào tạo nghề sẽ được đổi mới và phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình
Mục tiêu tổng quát của đề án: bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào tạo và bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức xã; nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trang 35Bản đề án chia làm ba giai đoạn với những mục tiêu cụ thể:
Giai đoạn 2009 - 2010: Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn theo mục tiêu của Dự án “ Tăng cường năng lực dạy nghề” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giáo dục - Đào tạo đến năm 2010; Thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn với khoảng 18.000 người, 50 nghề đào tạo và đặt hàng dạy nghề cho khoảng 12.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề theo các mô hình này tối thiểu đạt 80%
Giai đoạn 2011 - 2015: Đào tạo nghề cho 5.200.000 lao động nông thôn, trong đó: khoảng 4.700.000 lao động nông thôn được học nghề (1.600.000 người học nghề nông nghiệp; 3.100.000 người học nghề phi nông nghiệp) Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 70%
Giai đoạn 2016 - 2020: Đào tạo nghề cho khoảng 6.000.000 lao động nông thôn, trong đó: Khoảng 5.500.000 lao động nông thôn được học nghề (1.400.000 người học nghề nông nghiệp; 4.100.000 người học nghề phi nông nghiệp) Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 80%
Với những mục tiêu rõ ràng và phân theo từng giai đoạn cụ thể, cùng với những
nỗ lực trong quá trình triển khai thực hiện của các cấp, các ngành, đoàn thể; hy vọng công tác đào tạo nghề thực sự mang lại những kết quả khả quan, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước, đồng thời mang lại cuộc sống ấm
no, hạnh phúc cho người lao động, đặc biệt là bộ phận lao động nông thôn – nguồn nhân lực quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (nguồn: Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ)
Đối với huyện Thạnh Phú: Ủy ban nhân dân huyện xây dựng Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn của huyện đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, được Hội đồng nhân dân huyện khoá IX thông qua vào ngày 20 tháng 9 năm 2010, đề ra các nhiệm vụ, mục tiêu như sau:
Trang 36Mục tiêu tổng quát:
Tổng số lao động nông thôn được dạy nghề từ 2010 đến 2020 là 20.955 người Trong đó: Trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề là: 4.450; Sơ cấp nghề và học nghề dưới 03 tháng là: 16.505 người
Đến năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 50% và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề 22%
Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 60% và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề 32%
Mục tiêu cụ thể:
* Giai đoạn 2010-2015: Dự kiến đào tạo 8.590 lao động nông thôn Trong đó; đào tạo trình độ Trung cấp và Cao đẳng nghề : 1.080 người; đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên dưới 03 tháng: 7.510 người; được thụ hưởng chính sách hỗ trợ dạy nghề theo Quyết định 1956/QĐ-TTg: 4.880 người bao gồm:
Dạy nghề nông nghiệp là: 2.315 người;
Dạy nghề phi nông nghiệp là: 3.480 người;
* Giai đoạn 2016-2020: Dự kiến đào tạo 10.500 lao động nông thôn Trong đó; đào tạo trình độ Trung cấp và Cao đẳng nghề: 1.100 người; đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên dưới 03 tháng: 8.900 người; được thụ hưởng chính sách hỗ trợ dạy nghề theo Quyết định 1956/QĐ-TTg: 5.100 người bao gồm:
Dạy nghề nông nghiệp là: 4.400 người;
Dạy nghề phi nông nghiệp là: 5.500 người;
* Kết quả và hiệu quả dạy nghề trong 5 năm (2010-2014): Tổng số lao động nông thôn được học nghề: 5.875 người, trong đó số lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề án 1956 là 2.820 người
Tổng số lao động học nghề có việc làm sau khi học nghề: 2.415 người