Khi Miền Nam giải phóng, nước nhà thống nhất cùng với sự thay đổi nhiệm vụ chung của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ sản xuất và lưu thông cũng thay đổi.Nhiệm vụ của Công ty lúc này là cung ứ
Trang 1ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY THƯƠNG
MẠI HẢI PHÒNG I.KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY:
1.Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty thương mại Hải Phòng ra đời nagỳ 30/8/1973 theo quyết số975/TMQĐ của Bộ Thương Mại Theo Nghị định 388/QĐUB của Uỷ ban Nhândân Thành phố Hải Phòng.Công ty thành lập lại và ngày 28/5/1993 theo Quyêtđịnh 613/TM của Sở Thương mại Hải Phòng
Công ty là một đơn vị hạch toán kinh tế, tự chủ về tài chính, có tư cách phápnhân, mở tài khoản Việt tại Ngân hàng Công Thương Hải Phòng và tài khoảnngoại tệ tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
Thành lập đúng vào thời điểm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước, Công ty đã gặp nhiều khó khăn, về cơ sở vật chất hầu như không có,thiếu nơi làm việc, không có kho hàng .Nhưng với tinh thần vượt khó làm hết sứcmình cán bộ công nhân viên Công ty đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại hoànthành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Năm 1973,năm đầu tiên bước vào hoạt động, Công ty đã hoàn thành tốtnhiệm vụ, đạt 112% kế hoạch được Sở Thương mại Hải Phòng tặng bằng khen
Từ năm 1973-1975, nhiệm vụ của Công ty là vừa củng cố xây dựng cơ sởvật chất cho mình vừa phải đảm bảo cung ứng vật tư cho sản xuất , chiến đấu vàxây dựng Để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của mình, Công ty tăng cường việc
mở rộng quan hệ trực tiếp với các cơ sở sản xuất hàng hoá trong nước, tổ chứcnghiêm túc, chặt chẽ việc tiếp nhận hàng hoá nhập khẩu không để thất thoát, đặcbiệt tổ chức có hiệu quả hàng hoá nhập từ cảng Hải Phòng về các khu vực chứahàng khác
Trang 2Năm nào Công ty cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ được Nhà nước giao Cụ thểkết quả như sau: Năm 1973, Công ty thực hiện đạt 117% kế hoạch, năm 1974Côngty đạt 119% kế hoạch, năm 1975 đạt 109% kế hoạch.
So với khi thành lập, cơ cấu mặt hàng và nguồn hàng của Công ty tăng mộtcách đáng kể, thoả mãn tới mức cao các nhu cầu của sản xuất
Khi Miền Nam giải phóng, nước nhà thống nhất cùng với sự thay đổi nhiệm
vụ chung của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ sản xuất và lưu thông cũng thay đổi.Nhiệm vụ của Công ty lúc này là cung ứng vật tư tới mức cao nhất cho sản xuất vàxây dựng, đồng thời phải đảm bảo một lượng hàng hoá lương thực, thực phẩm đủlớn để cung cấp cho nhân dân.ở thời điểm này, nguồn hàng hoá để cung cấp có tỷtrọng hàng nhập khẩu lớn hơn nhiều lần so với hàng thu mua trong nước.Vì vậy,Công ty có nhiệm vụ giữ nguyên vẹn đảm bảo số lượng chất lượng vật tư hàng hoánhập, từ khâu giải toả cảng chuyển đưa tiếp nhận, việc bảo quản hàng hoá trongkho là hết sức quan trọng và Côngty đã thực hiện tốt nhiệm vụ này
Do đặc điểm kinh tế của thời kỳ này là bao cấp hành chính nên Công tykhông tránh khỏi những tác hại do cơ cũ gây ra là kế hoạch cua Công ty do trêngiao với những chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước Điều này hoàn toàn gạt bỏ tínhchủ động của cơ sở để vươn tới một kế hoạch mang tính thực tiễn Đồng thời do kếhoạch pháp lệnh không gắn với hiệu quả kinh doanh và lợi ích kinh tế nên thườngdẫn đến việc hạ thấp chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh và đòi Nhà nước cấp thêm vốnbất chấp việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không
Cơ chế cũ đã không khuyến khích Công ty kết hợp chặt chẽ việc kinh doanh
và thực hiện các chính sách xã hội trong lưu thông và tiêu dùng hàng hoá Điềunày thể hiện ở chỗ mạng lưới kinh doanh hàng hoá (cơ quan đại diệnn của các củahàng trực thuộc Công ty)rất yếu Công ty chưa thực sự quan tâm đến hiệu quả kinhdoanh và phục vụ bằng cách tận dụng mọi cố gắng để đáp ứng nhu cầu cầu ngườitiêu dùng ở mọi thời điểm, mà chỉ quan tâm tới việc hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch
Trang 3Nhà nước trong cơ chế hành chính bao cấp phạm trù kinh tế hàng hoá về thực chấtkhông được thừa nhận Bởi vì toàn bộ khối lượng hàng hoá , giá cả đều do Nhànước ấn định,việc tiêu thị được hàng hay không không quan trọng vài đã có Nhànước chịu, do đó không phản ánh đúng hiểu quả kinh doanh xuất hiện tình trạng lãigiả lỗ thật.
Với phương thức kinh doanh theo kiểu “giao nộp, cấp phát ‘’,”lãi giả lỗthật’’,”biên chế đông, quỹ lương lớn ‘’cuả cơ chế bao cấp không đòi hỏi sự nỗ lựccủa tập thể cũng như mỗi con người do nó không gắn liền với lợi ích kinh tế Cơchế đó không chú ý đến năng lực chuyên môn của mỗi người nên không khuyếnkhích mọi người vì hiệu quả công việc, vì tăng thu nhập mà thường xuyên nângcao nghiệp vụ chuyên môn
Nhưng từ năm 1986, dưới ánh sáng đường lối mới của của đại hội Đảng lần
VI, hoà nhập với công cuộc đổi mới cuả cả nước, Công ty đã từng bước đổi mới vàmang lại nhiều kết quả, đặc biệt sau quyết định 217/HĐBT giao quyền tự chủ chocác đơn vị sản xuất kinh doanh thì Công ty thương mại Hải Phòng mới thực sựkhởi sắc
Trong thời gian này Công ty đã bắt đầu có bước vận động sang cơ chế thịtrường Việc làm đầu tiên mang lại thành công cho Công ty là tìm kiếm thị trườngmới, nghiên cứu và xử lý đúng cơ chế giá
Trên thị trường hàng hoá phong phú hàng công nghệ phẩm, dụng cụ điện giadụng, vật tư .hình thành một hệ thống giá hết sức chặt chẽ bởi sự cạnh tranh rất ácliệt, không chỉ của các Công ty quốc doanh mà còn bởi đông đảo các doanh nghiệpngoài quốc doanh chính vì vậy thách thách thức lớn nhất đặt ra cho Công ty làphải làm sao ấn định được mức giá phù hợp Đứng trước nguy cơ này, Công ty đãmạnh dạn trong việc thay đổi khung giá, điều chỉnh toàn bộ giá cả xuống với mứcthị trường, nhờ đó hoạt động kinh doanh của Công ty bước đầu đạt hiệu quả
Trang 4Bước sang năm 1989,năm đầu thực hiện cơ chế thị trường, cũng như tất cảcác đơn vị khác, Công ty gặp phải nhiều khó khăn thử thách :thiếu vốn, cơ sở vậtchất nghèo nàn cơ cấu hàng hoá bất hợp lý Ngoài ra, Công ty còn gặp phải khókhăn khác bắt nguồn từ tính đặc thù của mình là:
- Mặt hàng kinh doanh cảu Công ty là những mặt hàng thiết yếu
- Chủng loại quy cách, mẫu mã,hàng hoá đòi hỏi phải chuẩn bị một cách nhanhchóng nhanh chóng kịp thời nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu cảu người tiêu dùng
- Hàng hoá kinh doanh của Công ty không phải là các mặt hàng độc quyền nên bịcạnh tranh từ nhiều phía
Với những khó khăn đó, Công ty tưởng chừng không vượt qua nổi, tháng 6đầu năm 1989, Công ty thua lỗ 80 triệu đồng nhưng nhờ có sự nhìn nhân đúngđắn và kịp thời của ban lãnh đạo cùng tập thể công nhân viên nhiệt tình, Công
ty đã bình tĩnh suy đoán, đúc rút kinh nghiệm tìm ra hướng đi đúng cho mình vàđưa ra những giải pháp tháo gỡ, cuối cùng Công Ty đã tìm ra được hướng đi vàphát huy được các thế mạnh của mình
Vấn đề đầu tiên mà Công ty phải giải quyết là chuyển đổi HĐKD
Sao cho thích hợp với cơ chế thị trường Muốn vậy phải coi trọng công táckhách hàng, tìm mọi cách để tiếp cận trực tiếp với khách hàng và đảm bảothuận tiện trong việc mua bán Do đó đòi hỏi công việc đáp ứng nhu cầu củakhác hàng phải đúng lúc, kịp thời về mọi chủng loại hàng hoá với phương thứcmua bán nhanh gọn, thuận tiện để lôi cuốn, thu hút khác hàng về phía mình,công ty đã thành lập hai trung tâm bán buôn và tám của hàng trực thuộc
Vấn đề thứ hai là giải quyết mối quan hệgiữa chuyên doanh và kinh doanhtổng hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh Nội dung đa dạng hoá của công tytrong kinh doanh được thể hiện thông các mặt sau:
Khai thác phát huy tới mức tối đacác khả năng có thể có của ngành hàngcông nghệ phẩm, dụng cụ điện gia dụng, nông sản và vật tư, coi đây là một hàngtruyền thống trong hoạt động kinh doanh của công ty
Trang 5 Mở rộng hướng kinh doanh sang các ngành khác có giá tự cao, nhằm gópphần năng cao hiệu quả kinh doanh cho công ty.
Năng cấp các điểm kinh doanh hiện có, mở rộng địa bàn và mạng lướikinh doanh sang các vùng phụ cận thành phố, nhằm thu hút khách hàng và tăngkhả năng cạnh tranh của công trên thị trường
Vấn đề thứ 3 là giải quyết đúng đắn các lợi ích kinh tế, tạo nên động lựcthúc đẩy ngưới lao động tích cực làm việc biện pháp thực hiện là tổ chức khoáncho cán bộ công nhân viên, kếtt quả đạt được nhờ cơ chế khoán đúng đắn làdoanh số bán ra của công ty ngày một cao, chi phí giảm, góp phần tăng lợinhuận trong hoạt động kinh doanh
Trong năm nay, nhờ giải quyết 3 vấn đề cơ bản đó, những vấn đề được xem
là chiếc lược của công ty, nên hoạt động kinh doanh của công ty đã bước đầumang lại hiệu quả Kết quả kinh doanh sáu tháng cuói năm không những đã bù
lỗ sáu tháng đầu mà còn lãi 95 triệu Xét cả năm công ty đã hoàn thành 121%
kế hoạch, nộp ngân sách nhà nước vượt 13%
Hai năm 1990 và 1991 công ty tiếp tục hoàn thiện 3 vấn đề chiến lược đãđặt ra từ năm 1989, tiếp tục đổi mới, chuyển hẳn sang hoạt động kinh doanhtrong cơ chế thị trường Vấn đề nổi lên là lực lượng công nhân của Công ty lớn,đòi hỏi công ty phải có biện pháp sử dụng đội ngũ cán bộ công nhân viên mộtcách hợp lý Phương châm của công ty là :
- Phát hiện ra những người có khả năng kinh doanh, tổ chức kinh doanh phùhợp thông qua việc sử dụng đúng người, đúng việc
- xây dựng tâm lý tin cậy ở khách hàng, năng cao uy tín của công ty trên thịtrường
- Khẳng định những người không có khả năng, thiếu trình độ sắp xếp việclàm phù hợp
Với các chủ trương này, công ty xây dựng cho mình đội ngũ lãnh đạo cóchuyên môn, có khả năng và tư duy kinh doanh thực thụ
Trong 2 năm này để phù hợp với cơ chế thị trường mạng lưới kinh doanhcủa công ty đã được xem xét lại và hoàn thiện các điểm bán hàng của công ty
đã được năng cấp, công ty còn mở rộng buôn bán hai chiều với các bạn hàng
Trang 6PHÓ GIÁM ĐỐC CTY
P.Tổ chức hành chính P.Tài chính kế toánPhòng K.doanh Phòng Mảketing Phòng Bảo vệ
TT bán buôn 1 TT bán buôn 2Cửa hàng 1 Của hàng 2 Của hàng 3 Cửa hàng 4 Cử hàng 8
GIÁM ĐỐC CTY
mới ở châu á, châu âu công đã tạo được uy tín cao ở thị trường trong nước vàcác bạn hàng quốc tế Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 2 năm : Năm 1990 công ty đạt 125% kế hoạch, nộp ngân sách đạt 134% kế hoạch,
ty vẫn luôn nỗ lực vươn lên nắm bắt nhu cầu thị trường, đồng thời chú trọng tớiviệc cơ cấu lại hàng hoá, chất lượng phục vụ cả về hàng hoá trong nước và hànghoá nhập khẩu để ngày càng có hiệu quả hơn
2.Những đặc điểm cơ bản của công ty.
2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý ở công ty
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý ở công ty cho chúng ta biết được phần nàomối quan hệ trong nội bộ công ty với bên ngoài
Công ty thương mại hải phòng tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng,loại hình này áp dụng hầu hết ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta theo
mô hình này, bộ máy hoạt động của công ty gọn nhẹ, đảm bảo cho quá trìnhhoạt động kinh doanh được linh hoạt và có hiệu quả
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý ở công ty.
Trang 7Qua sơ đồ trên, đi sâu nghiên cứu, ta thấy chức năng và nhiệm vụ của các bộphận như sau:
Các phòng ban cụ thể là:
*) Giám đốc và Phó Giám đốc :
Là những người lãnh đạo cao nhất, có trách nhiệm điều hành chung toàn
bộ Công ty Ban giám đốc là đại diện pháp nhân cho công ty, là người lãnh đạochung, được phép tham gia quyết định và chịu trách nhiệm với Công ty,với nhànước và với cán bộ công nhân viên
*)Phòng tổ chức hành chính.
- Chức năng : Tham mưu cho giám đốc về quản lý hành chính quản trị, tổ
chức bộ máy, lao động tiền lương và bảo vệ công ty
- Nhiệm vụ và quyền hạn : Nghiên cứu xây dụng hoàn thiện mô hình tổ
chức của công ty, đào tạo sắp xếp cán bộ công nhân viên, xây dựng quỹ lương,định mức lao động tổng hợp, ban hành các quy chế quản lý, sử dụng lao dộng,
tổ chức kí kết hợp đồng lao dộng, giải quyết các chế độ lao động theo quy địnhcủa nhà nước, thực hiện nhiệm vụ văn thư, lễ tân, nghiệp vụ quản trị
Trang 8*)Phòng tài chính kế toán :
- Chức năng: Tham mưu cho giám đốc về : xây dựng kế hoạch, tổ chức các
nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh, theo dõi giám sát thực hiện các hợpđồng kinh tế về mặt tài chính, theo dõ, đôn đốc thu hồi, quản lý nghiệp vụhoạch toán, kế toán trong công ty chủ trì công tác kiểm kê trong công ty theođịnh kì quy định
- Nhiệm vụ và quyền hạn: Thực hiện nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán và
quản lý tài chính trong công ty, thực hiện công tác trả lương cho công nhân vàtrích bảo hiểm xã hội theo luật định
*)Phòng kinh doanh<tiêu thụ>
- Chức năng : Điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty(đầu ra,
đầu vào) tổ chức tiêu thụ hàng hoá quản lý việc cung ứng nguồn hàng daotừng của hàng, bảo quản dự trữ hàng hoá, khai thác các hợp đồng mua bán
- Nhiệm vụ quyền hạn: thay mặt ban giám đốc thực hiện việc kí kết hợp
đồng mua bán hàng hoá, tổ chức các hoạt động bán hàng, chịu trách nhiệmtoàn bộ việc thực hiện kế hoạch tiêu thụ hàng hoá do công ty đề ra với vaitrò quyết định trong toàn bộ quá trình kinh doanh như vậy nên phòngkinhdoanh mà người chịu trách nhiệm chính là trưởng phòng cùng với cácthành viên đã tổ chức rà soát nghien cứu thị trường, lập kế hoach kinhdoanhtrong từng thời kì và từng giai đoạn nhất định tạo lập mối quan hệvới các cơ sở sản xuất trong viẹc cung cấp hàng hoá
*)Phòng marketing:
- Chức năng : tham mưu cho phòng kinh doanh các thông tin về thị trường,
triển khai việc thiết lập chương trình quảng cáo và các hoạt động xúc tiến bánhàng
Trang 9- Nhiệm vụ và quyền hạn: thực hiện nhiệm vụ tiến hành các hoạt động quảng
cáo, nghiên cứu nhu cầu của thị trường trong việc tiêu thụ các loại hàng hoá màcông ty đang kinh doanh, xác định nhu cầu trong từn g khúc thị trường cụ thể,nghiên cứu các giải pháp tốt nhất nhằm đua các sản phẩm mới đến tận tay ngườitiêu dùng
*)Phòng bảo vệ:
- Chức năng: Bảo vệ tài sản và con người trong công ty.
- Nhiệm vụ: Thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn khách đến liên hệ công tác vào các
phòng ban cần thiết, trông coi tài sản cho khách khi đến mua hàng ở các cửahàng trực thuọc công ty cũng như trực tiếp mua hàng tại công ty, được phép giữnhững người vi phạm nội quy của công ty giao cho giám đốc
Như vậy, bộ máy của Công ty phù hợp với doanh nghiệp hoạt động trọng
cơ chế thị trường, tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động kinh doanh nói riêng
và công tác quản lý nói chung vì hieẹu quả kinh doanh cao hay thấp là do trình
độ quản lý của doanh nghiệp quyết định
2.2 Cơ sở vật chất
Được thành lập từ năm 1973, trải qua 27 năm hình thành và phát triển, đếnnay công đã có 3 trung tâm bán buôn và 8 cửa hàng trực thuộc được phân bốhầu hết ở các trucj đường chính nơi có mật độ dan cư qua lại nhiều một số ở ítcác khu vực ven thành phố ( hay của hàng)
Xác định được được yếu tố quan trọng trước tiên đẻ thu hút khách hàng đếnmua hàng của doanh nghiệp ( công ty) là phải có một hệ thống cơ sở vật chấtkhang trang, thuận tiện cho việc đến và đi của khách hàng Chính vì vậy màtrong những năm gần đây, đặc biệt là khi nền kinh tế nước ta chuyển sang hoạtđộng trong cơ chế thị trường, vấn đề cạnh tranh diễn ra vô cùng gay gắt, thìcông ty đã tiến hành năng cấp, sửa mới lại hai trung tâm bán buôn và một số
Trang 10của hàng nằm trên các trục đường đông dân cư qua laị Việc làm này đã manglại hiệu quả to lớn trong hoạt động kinh doanh của công ty, hiện nay tất cả cáccửa hàng trực thuộc công ty đã hoàn toàn được năng cấp, sửa chữa mới dể tăngkhả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác đặc biệt là các doanh gnhiệpngoài quốc doanh
2.3 Vốn và nhân lực
Vốn và nhân lực là 2 yếu tố cực kf quan trọng có tính chất quyết định đến hiệuquả kinh doanh của bất kì doanh nghiệp nào
*)Vốn : Từ năm1993 trở lại đay, khi mà cơ chế thị trường đã vận hành một thời
gian thì tính chất cạnh tranh diễn ra gay gắt Để thích ứng với nền kinh tế thịtrường công ty đã từng bước tiến hành bổ xung nguồn vốn kinh doanh củamình nhận thấy nguồn vốn do ngân sách nhà nước không đủ dể tiến hành mởrộng các hoạt động kinh doanh, công ty đã năng động trong việc huy độngnguồn vốn vay của ngân hàng Cụ thể cơ cấu nguồn vốn của công ty như sau :
Bảng I Cơ cấu nguồn vốn của công ty thương mại Hải Phòng
Trang 11*) Nhân lực : Trải qua 27 năm hoạt động kinh doanh công ty đã có trong tay đội
ngũ công nhân viên có bề dầy kinh nghiệm trong công tác quản lý cũng nhưcông tác bán hàng da số các cán bộ công nhân viên của công ty đều được đàotạo trung cấp nghiệp vụ bán hàng do đó kinh nghiệm và trình độ của họ hầuhầu hết đều được tích luỹ qua quá trình công tác lâu năm số cán bộ quản lýcủa công ty hầu hết đều là những người có trình độ đại học
47
2918
50
3120
17,5
1620
6,38
6,911,1Theo bảng trên ta thấy, số lượng lao đọng năm sau tăng hơn năm trước cụthẻ là năm 2000 tăng lên 16,87% so với năm 1999
Năm 2001 tăng lên 4,27% so với năm 2000
Như vậy số lượng lao động tăng lên vì lý do mở rộng quy mô, chất lượng laođộng của công ty qua đó cũng được tăng lên do tính chất kinh doanh ngày cángquyết liệt bởi yếu tố cạnh tranh
II TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM VÀ HIỆU KINH DOANH CỦA CÔNG TY CÔNG NGHỆ PHẨM HẢI PHÒNG TRONG 3 NĂM GẦN ĐÂY (1999,2000,2001) :
Thành lập năm 1973, tính đến nay công ty công nghệ phẩm hải phòng đã cótrên 20 năm xây dựng và trưởng thành vượt qua nhiều khó khăn thử thách trong cơchế bao cấp cũngnhư cơ chế thị trường, công ty công nghệ phẩm hải phòng đã
Trang 12không ngừng lớn mạnh là một doanh nghiệp nhà nước được bao cấp lên mọi hoạtđộng của công ty đều chịu sự chi phối điêù tiết của Nhà nước
Chính điều này đã kìm hãm tính năng động và phát triển của Công ty trongnhiều năm bao cấp Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường Công ty đã đổi mớiphương thức hoạt động kinh doanh từ hạch toán thay vì được bao cấp như trướckia, chính sự mạnh dạn đổi mới phương thức kinh doanh mà công ty đã vươn lên
và làm ăn ngày càng có hiệu quả, uy tín của công ty ngày một nâng cao, thị trườngtiêu thụ không ngừng mở rộng
2.1 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty thương mại Hải Phòng:
Trong phạm vi bài viết này chỉ dề cập đến tình hình tiêu thụ thông qua chỉ tiêusản lượng tiêu thụ, doanh thu bán hàng, và các công tác tổ chức việc tiêu thụ sảnphẩm của công ty
2.1.1 Sản lượng tiêu thụ của Công ty thương mại Hải Phòng
Sản lượng tiêu thụ là một chỉ tiêu kinh té quan trọng, phản ánh rõ nét tình hìnhtiêu thụ của doanh nghiệp trong 3 năm 1999- 2000- 2001 sản lượng tiêu thụ củacông nhân :
bảng 1 Sản lượng tiêu thụ theo mặt hàng của công ty
105380180005875917886
20766029032834213871240290
99 %98,7%101%105,2%107%90,7%
Trang 13Bảng sản lượng tiêu thụ theo mặt hàng của công ty cho ta thấy có một số biến động sau:
- Về mặt hàng công nghệ :Đây là mặt hàng phong phú về chủng loại đa dạng
về kiểu dáng, mẫu mã và đối tượng phục vụ là mọi tầng lớp dân cư trong xãhội
- 2000 sản lượng tiêu thụ có mức tăng trưởng 97% so với năm 1999 đây làmức tăng trưởng có tính chất đột phá góp phần nâng cao hiệu quả kinhdoanh chung của công ty Tuy nhiên năm 2001 sản lượng tiêu thụ lại giảm1% so với năm 2000, điều này có ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh doanhcủa Công ty
- Về mặt hàng điện gia dụng :
Cũng giống như hàng công nghệ đây cũng là mặt hàng kinh doanhtruyền thống của công ty Năm 2000 mức sản lượng tiêu thụ của mặt hàng nàytăng 61% so với năm 1999 Đây là dấu hiệu đáng mừng chứng tỏ công tác tổchức tiêu thụ sản phẩm của công ty dã có nhiều tiến bộ, vì trong thời gian quamặt hàng này đã cạnh tranh rất lớn đặc biệt là từ khu vực kinh tế tư nhân Có
lẽ cũng chính vì vậy mà năm 2001 sản lượng tiêu thụ mặt hàng này đã giảm1,3% so với năm 2000 Do vậy công ty cần phải lưu ý và cần có những biệnpháp khắc phục kịp thời, một mặt nhằm tăng sản lượng tiêu thụ của 2 mặt hàngtrên, mặt khác tăng vị thế của Công ty trên thị trường, qua đó góp phần nângcao HQKD chung cho toàn Công ty
- Về mặt hàng TBVP cao cấp Đây là mặt hàng kinh doanh mới của Công ty Tuy
là mặt hàng mới nhưng nhìn vào bảng sản lượng tiêu thụ của Công ty ta thấy mở raphương hướng kinh doanh thuận lợi nhiều hơn cho Công ty Cụ thể là năm 1999,sản lượng tiêu thụ của mặt hàng này là 1000 bộ Đến năm 2000 sản lượng tiêu thụcủa mặt hàng này tăng lên là 1420 bộ, tương đương với mức tăng tương đối là
Trang 1442% Tuy nhiên, mức tăng này có xu hướng giảm xuống vào năm 2001, mức tăngtuyệt đối là 138 bộ, tương ứng với mức tăng tương đối là 1% Tuy mức tăng trưởng
có xu hướng chậm lại nhưng đây là mặt hàng có giá trị cao, chính vì vậy, việc duytrì mức tăng trưởng, dù là nhỏ của ngành hàng này, cũng góp phần đáng kể vàoviệc nâng cao HQKD của Công ty
- Về mặt hàng vật tư: Đây là mặt hàng có thế mạnh của Công ty trong nhiềunăm qua, cũng như những năm gần đây Với mức sản lượng tiêu thụ 1387 tấntrong năm 2000, Công ty đã đưa mức tăng trưởng của ngành hàng này lên51,2% so với năm 1999 Mức tăng trưởng này tiếp tục được nâng lên trongnăm 2001, mức tăng trưởng so với năm 2000 là 5,8% Việc tăng sản lượng tiêuthụ của ngành hàng này chủ yếu là do Công ty đã ký được nguồn hàng nhậpđộc quyền đối với bạn hàng Nhật Bản mà chủ yếu là sắt thép công nghiệp & sắtthép chế tạo
- Về mặt hàng nông sản: Việc nâng cao HQKD nói chung là tùy thuộc vào sự tăngtrưởng về sản lượng tiêu thụ của các ngành hàng, trong đó, mặt hàng nông sảncũng góp phần không nhỏ làm cho quá trình kinh doanh của Công ty ngày càng cóhiệu quả Từ mức sản lượng tiêu thụ 886 tấn năm 1999 đã tăng lên 1240 tấn năm
2000, tương ứng với mức tăng là 40% Đến năm 2001, mức tăng tuyệt đối so vớinăm 2000 là 90 tấn tương ứng với mức tăng tương đối là 7% Mức tăng này tuy có
xu hướng chậm lại nhưng cũng góp phần không nhỏ trong việc duy trì tiến độ tăngdần hiệu quả kinh doanh của Công ty trong một số mặt hàng khác có xu hướnggiảm xuống
- Riêng về mặt hàng xe máy: Có thể nói, đây là mặt hàng rất mới của Công ty Mặc
dù vừa mới đưa vào kinh doanh năm 2000 nhưng nó đã chứng tỏ được vai tròkhông thể thiếu trong HĐKD của Công ty mà đã bị bỏ ngỏ trong nhiều năm qua.Ngay trong năm đầu tiên, số lượng tiêu thụ của ngành hàng giá trị cao này đã đạtđược con số 290 chiếc, góp phần rất lớn trong việc tạo dựng một năm kinh doanh
Trang 15đậy khởi sắc cho Công ty và tạo tiền đề vững chắc cho những năm kinh doanh tiếptheo Tuy nhiên, bước sang năm 2001, số lượng tiêu thụ mặt hàng này đã giảmxuống chỉ còn 263 chiếc, nghĩa là chỉ đạt 90,7% so với năm 2000 Nguyên nhâncủa tình trạng này là do giữa năm 2001 trên thị trường xe máy đã xuất hiện hàngloạt các mặt hàng xe máy của TQ với cùng một kiểu dáng như xe của công ty đangkinh doanh Nhưng bước sang năm 2002 Công ty đã nhanh chóng khắc phục tìnhtrạng trên bằng chính uy tín và chất lượng sản phẩm kinh doanh của mình, cụ thể làquý I năm 2002, số lượng xe gắn máy tiêu thụ đã vượt 23% = 10 chiếc so với cùng
kì năm ngoái và cao hơn 4,1% so với năm 2000
Bảng 2 Tỉ lệ % HTKH tiêu thụ hàng hoá của công ty TMHP
18880027500800012001300280
20766029032834213071240290
105,64,215,5-4,73,5
21000030500875014501300300
20580028683916514681330263
-2-64,71,22,3-12
Từ bảng phân tích số liệu trên ta thấy, trong năm 2000, hầu hết các mặthàng đều hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra, riêng mặt hàng nôngsản là không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch với mức suy giảm 4,7% Việc hoànthành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch đề ra chứng tỏ công tác tổchức tiêu thụ sản phẩm của Công ty được tiến hành rất tốt, góp phần không nhỏtrong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Công ty Tuy nhiên, năm 2001, cómột số mặt hàng sản lượng tiêu thụ không hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đề
Trang 16ra, cụ thể là: mặt hàng công nghệ giảm 2%, mặt hàng dụng cụ điện gia dụnggiảm 6%, mặt hàng xe gắn máy giảm 12% Điều này chứng tỏ công tác nghiêncứu, dự báo thị trường của Công ty hoạt động chưa mấy hiệu quả, làm ảnhhưởng đến hiệu quả kinh doanh chung cho toàn Công ty Bên cạnh đó, các mặthàng như: hàng TBVP cao cấp, vật tư, nông sản đều hoàn thành vượt mức kếhoạch đề ra.
Bảng 2: Sản lượng tiêu thụ nội địa của công ty TMHP.
79035 18000 5875 917 177
155745 29032 8342 1387 248 290
88%
98,7%
101%
105,8% 134%
26345709
51915992
197%
40%
68600997,5
132%
1%
Nghiên cứu sâu hơn tình hình tiêu thụ nội đia của Công ty ta nhận thấy:Mức tăng trưởng về sản lượng tiêu thụ nội địa của năm 2000/1999 không có sựkhác biệt nào so với mức sản lượng tiêu thụ theo mặt hàng của công ty Đây cũng
là điều dễ hiểu vì tỷ lệ hàng công nghệ xuất khẩu so với tiêu thụ nội địa của năm
1999 và 2000 đều là 1/4 (25%) Tỷ lệ mặt hàng nông sản xuất khẩu so với tiêuthụ nội địa là 4/5 (80%) Bước sang năm 2001, cơ cấu này đã có sự thay đổi Cụthể là tỷ lệ XK/ tiêu thụ nội địa của hàng công nghệ = 33% do đó làm cho tỷ lệ tiêuthụ nội địa giảm xuống 12% so với năm 2000 Và việc giảm tỷ lệ XK/ tiêu thụ nội
Trang 17địa của hàng nông sản xuống 25% đã khiến cho mức tỷ lệ tiêu thụ nội của hàngnông sản tăng lên là 34% so với mức tăng trưởng chung là 7%.
Từ số liệu trên ta rút ra nhận xét sau:
Hàng nông sản Năm 2000 do không có sự biến động về mức tăng trưởngsản lượng tiêu thụ nội địa so với tổng mức sản lượng tiêu thụ, nên cũng không có
sự biến động về mức tăng trưởng sản lượng xuất khẩu đối với các mặt hàng
Riêng năm 2001 cơ cấu sản lượng hàng công nghệ XK/ tiêu thụ nội địa
đã tăng lên 33% so với
25% của năm 2000 Chính điều này đã nâng mức tăng sản lượng xuất khẩu củaCông ty lên 32% so với năm 2000 trong khi tổng mức tăng sản lượng tiêu thụ củanăm 2001 là -1% Còn đối với hàng nông sản, tuy cơ cấu sản lượng XK/ tiêu thụnội địa năm 2001 đã giảm xuống còn 75% so với 2000 (80%) nhưng với mức tăngtrưởng tổng sản lượng tiêu thụ 7% so với năm 2000 mặt hàng này vẫn có mức tăngtrưởng (tuy không đáng kể) là 1%
2.1.2 Nội dung chủ yếu về hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty TMHP
a Chiến lược nghiên cứu thị trường
Thị trường đối với mỗi Doanh Nghiệp là hết sức quan trọng và có tính chất sốngcòn Thị trường tác động đến mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vàngược lại Nó là một trong những mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp, đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải nắm bắt tốt nhất, nhanh nhất để qua đó đáp ứng kịp thời nhu cầucủa thị trường
Công tác nghiên cứu thị trường của Công ty được tiến hành trừ các bộphận chức năng, theo nhóm mặt hàng của mình, từ đó đưa lại cho Công ty nhữngthông tin phản hồi và có những đề xuất với ban lãnh đạo Công ty Đối tượngnghiên cứu chính của Công ty là nhóm khách hàng truyền thống, thường xuyên vàliên tục Công ty sẽ dự đoán, xác định ai là người mua hàng của Công ty, sau đó