1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh long an

98 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan rằng Luận văn "Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh Long An" là công trìn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

_

TRẦN THỊ KIM OANH

“ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI GIAN LẬN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh- Năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

_

TRẦN THỊ KIM OANH

“ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI GIAN LẬN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN”

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60340403

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS Sử Đình Thành

TP.Hồ Chí Minh- Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng Luận văn "Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi

gian lận thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh Long An" là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện

Các số liệu thu thập và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn hợp pháp, trung thực Các tài liệu tham khảo có nguồn trích rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài nghiên cứu./

Người thực hiện đề tài

Trần Thị Kim Oanh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1.Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2.Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5.1 Phương pháp định tính 3

1.5.2.Phương pháp định lượng 4

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 4

1.7 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1.Tổng quan cơ sở lý thuyết 6

2.1.1.Hành vi gian lận 6

Trang 5

2.1.2 Hành vi gian lận thuế 6

2.2 Các hành vi gian lận thuế giá trị gia tang 7

2.3 Lược khảo những nghiên cứu trước có liên quan 12

2.3.1 Nghiên cứu trong nước 12

2.3.2 Nghiên cứu nước ngoài 13

2.4 Đề xuất mô hình lý thuyết 18

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Quy trình nghiên cứu 21

3.2 Phương pháp nghiên cứu 23

3.2.1.Nghiên cứu định tính 23

3.2.2 Nghiên cứu định lượng 23

3.2.2.1 Phương pháp chọn mẫu 23

3.2.2.2.Kích cỡ mẫu 24

3 2.2.3.Thiết kế phiếu điều tra chính thức 24

3.3 Xây dựng thang đo 25

3.3.1 Thang đo về yếu tố cơ hội 25

3.3.2 Thang đo về yếu tố động cơ 25

3.3.3 Thang đo về yếu tố khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận 26

3.3.4 Thang đo về yếu tố hành vi gian lận thuế giá trị gia tang 26

3.4 Mã hóa thang đo 28

Trang 6

3.5.Giả thuyết nghiên cứu 29

3.5.1 Để kiểm định mô hình, tác giả đưa ra các giả thuyết 29

3.5.2 Giả thuyết mong muốn đạt được 30

3.5.3 Mô hình hồi quy nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT của các DNTM 30

3.5.4 Luận văn cũng sử dụng những phổ biến dưới đây để đánh giá kết quả nghiên cứu 30

3.6 Xử lý và phân tích dữ liệu 31

3.6.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 31

3.6.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA 31

3.6.3.Kiểm định và đánh giá mô hình 31

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

4.1.Thống kê mô tả mẫu khảo sát 32

4.1.1.Giới tính 33

4.1.2.Nhóm tuổi 33

4.1.3 Vị trí công tác 34

4.1.4 Trình độ học vấn 34

4.2.Kiểm định độ tin cậy của thang đo 35

4.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo “yếu tố cơ hội gian lận thuế” 35

4.2.2.Kiểm định độ tin cậy của thang đo “yếu tố động cơ gian lận thuế” 39

Trang 7

4.2.3.Kiểm định độ tin cậy của thang đo“yếu tố khả năng hợp lý hóa hành vi gian

lận thuế” 43

4.2.4.Kiểm định độ tin cậy của thang đo “yếu tố hành vi gian lận thuế” 45

4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 47

4.3.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA của các thang đo tác động đến hành vi gian lận thuế 47

4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA của thang đo “yếu tố hành vi gian lận thuế” 53

4.4 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 55

4.4.1 Phân tích tương quan 56

4.4.1.1 Kết quả kiểm định giả thuyết H1 về tương quan giữa biến CH và HV 56

4.4.1.2 Kết quả kiểm định giả thuyết H2 về tương quan giữa biến DC và HV 57

4.4.1.3.Kết quả kiểm định giả thuyết H3 về tương quan giữa biến HL và HV 58

4.4.2 Phân tích hồi qui 59

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Một số kiến nghị về hạn chế hành vi gian lận thuế GTGT của các DNTM trên địa bàn tỉnh Long An 65

5.2.1 Yếu tố khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận thuế GTGT 65

5.2.2 Yếu tố động cơ gian lận thuế GTGT 66

5.2.3 Yếu tố cơ hội gian lận thuế GTGT 68

5.3 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 70

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

PHỤ LỤC 4

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CHỮ

VIẾT

TẮT

ACFE The Association of Certified fraud

Examiners

Hiệp hội các nhà điều tra gian lận

ANOVA Analysis of variance Phân tích phương sai

BCTC Báo cáo tài chính

DNTM Doanh nghiệp thương mại

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

ĐTNT Đối tượng nộp thuế

EFA Exploratory factor analysis Phân tích nhân tố khám phá

FD Factor loading Tải nhân tố

GDP Gross Domestic product Tổng sản phẩm quốc nội

GTGT Value Added Tax Giá trị gia tăng

Trang 10

SPSS Statistic Package for Social

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp từ năm 2010-2014 của Cục Thuế tỉnh Long An

Bảng 4.1.Kết quả thống kê mô tả

Bảng 4.1.1.Giới tính mẫu nghiên cứu

Bảng 4.1.2.Độ tuổi mẫu nghiên cứu

Bảng 4.1.3.Vị trí công việc của mẫu nghiên cứu

Bảng 4.1.4a.Trình độ học vấn của mẫu nghiên cứu

Bảng 4.1.4b Thống kê nhân khẩu học

Bảng 4.2.1a.Kết quả độ tin cậy lần 1 của “yếu tố cơ hội gian lận thuế”

Bảng 4.2.1b.Kết quả ma trận tương quan lần 1 của “yếu tố cơ hội gian lận thuế”

Bảng 4.2.1c.Kết quả thống kế tổng theo các biến lần 1 của “yếu tố cơ hội gian lận thuế”

Bảng 4.2.1d Kết quả độ tin cậy lần 2 của “yếu tố cơ hội gian lận thuế”

Bảng 4.2.1e.Kết quả ma trận tương quan lần 2 của “yếu tố cơ hội gian lận thuế”

Bảng 4.2.1f Kết quả thống kê tổng theo các biến lần 2 của “yếu tố cơ hội gian lận thuế”

Bảng 4.2.2a Kết quả độ tin cậy lần 1 của “yếu tố động cơ gian lận thuế”

Bảng 4.2.2b Kết quả ma trận tương quan lần 1 của yếu tố động cơ gian lận thuế”

Bảng 4.2.2c.Kết quả thống kê tổng theo các biến lần 1 của “yếu tố động cơ gian lận thuế”

Bảng 4.2.2d.Kết quả độ tin cậy lần 2 của “yếu tố động cơ gian lận thuế”

Trang 12

Bảng 4.2.2e.Kết quả ma trận tương quan lần 2 của “yếu tố động cơ gian lận thuế”

Bảng 4.2.2f.Kết quả thống kê theo các biến lần 2 của “yếu tố động cơ gian lận thuế”

Bảng 4.2.3a Kết quả độ tin cậy của“yếu tố khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận thuế”

Bảng 4.2.3b.Kết quả ma trận tương quan của “yếu tố khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận thuế”

Bảng 4.2.3c Kết quả thống kê tổng theo các biến của “yếu tố khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận thuế”

Bảng 4.2.4a Kết quả độ tin cậy của “yếu tố hành vi gian lận thuế”

Bảng 4.2.4b.Kết quả ma trận tương quan của “yếu tố hành vi gian lận thuế”

Bảng 4.2.4c Kết quả thống kê tổng theo các biến của “yếu tố hành vi gian lận thuế”

Bảng 4.3.1a Kết quả kiểm định KMO và Barlett của các thang đo tác động đến hành vi gian lận thuế

Bảng 4.3.1b Phương sai trích khi phân tích nhân tố cuối cùng của các thang đo tác động đến hành vi gian lận thuế

Bảng 4.3.1c.Kết quả ma trận xoay nhân tố của các thang đo tác động đến hành vi gian lận thuế

Bảng 4.3.1d.Kết quả ma trận hệ số nhân tố của các thang đo tác động đến hành vi gian lận thuế

Bảng 4.3.2a Kết quả kiểm định KMO and Bartlett của thang đo “yếu tố hành vi gian lận thuế”

Bảng 4.3.2b Phương sai trích khi phân tích nhân tố cuối cùng của thang đo “yếu tố hành vi gian lận thuế”

Trang 13

Bảng 4.3.2c Kết quả ma trận nhân tố của thang đo “yếu tố hành vi gian lận thuế”

Bảng 4.3.2d.Kết quả ma trận hệ số nhân tố của thang đo “yếu tố hành vi gian lận thuế”

Bảng 4.4.1.1.Kết quả tương quan giữa biến HV và biến CH

Bảng 4.4.1.2: Kết quả tương quan giữa biến HV và biến DC

Bảng 4.4.1.3: Kết quả tương quan giữa biến HV và biến HL

Bảng 4.4.2a: Kết quả tóm tắt mô hình hồi quy

Bảng 4.4.2b: Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy (ANOVA)

Bảng 4.4.2c: Kết quả hệ số hồi quy

Trang 14

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1.5 Mô hình lý thuyết hành vi gian lận thuế GTGT

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu

Trang 15

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1.Lý do chọn đề tài

Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước mà thuế GTGT là một trong các loại thuế có tầm quan trọng trong nền kinh tế Trong hầu tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ của mọi lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế quốc dân, thuế GTGT đều chiếm một phần trong tổng giá trị của nó Thuế GTGT giúp hệ thống chính sách thuế, sắc thuế tương đồng với Luật thuế Nhà nước và phù hợp với thông lệ quốc tế Điều đó giúp các doanh nghiệp mở rộng quan hệ hợp tác, phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện bảo

hộ hợp lý, có chọn lọc, có thời hạn, có điều kiện, tăng sức cạnh tranh của nền kinh

tế thúc đẩy sản xuất phát triển và đảm bảo lợi ích Quốc gia

Thuế GTGT đã và đang phát huy tác dụng tích cực trong tất cả mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, xuất khẩu đầu

Hiện nay tại tỉnh Long An có 6.200 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp thương mại chiếm 34,98% (Cục Thuế Tỉnh Long An, 2015) là một nhân tố quan trọng trong việc đóng góp nguồn thu cho Ngân sách nhà nước ở địa phương Cụ thể: Năm 2014 Cục thuế tỉnh Long An thu được 5,208 tỉ đồng đạt 114% chỉ tiêu pháp lệnh Trong đó thuế GTGT chiếm 38%

Tuy nhiên, công tác quản lý thu thuế nói chung, quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp thương mại nói riêng hiện tại vẫn còn nhiều bất cập, một hiện tượng tiêu cực khá nghiêm trọng nảy sinh trong quá trình thực thi thuế giá trị gia tăng là gian lận và chiếm đoạt tiền thuế Cụ thể:

Trang 16

Bảng 1.1: Kết quả thanh tra, kiểm tra tại doanh nghiệp từ năm 2010-2014

ĐVT:triệu đồng

phạm

Số tiền truy thu và phạt

Số thuế GTGT phát hiện gian lận

Tỷ lệ gian lận thuế GTGT/số thuế phát hiện gian lận(%)

Để nhằm mục tiêu tăng thu cho ngân sách đồng thời đáp ứng được yêu cầu

về công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế thì việc xây dựng hoàn thiện chính sách thuế nói chung và quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp thương mại nói riêng là một đòi hỏi bức thiết Xuất phát từ những vấn đề trên tác giả chọn đề tài

“Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng của

các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh Long An” làm luận văn thạc sĩ

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh Long An Trên cơ sở đó nhằm đề xuất các giải pháp giúp Nhà nước hạn chế tình trạng gian lận thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh Long An

Trang 17

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh Long An?

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

1.4.1.Đối tượng nghiên cứu

Mối liên hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng với hành vi gian lận thuế GTGT của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh Long An giai đoạn 2010-2014.(yếu

tố cơ hội, động cơ, khả năng hợp lý hóa hành vi)

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện:

Cán bộ, công chức Thuế tại: Cục thuế Tỉnh Long An, Chi cục thuế Huyện Vĩnh Hưng, Chi cục thuế huyện Đức Hòa, Chi cục thuế huyện Bến Lức, Chi cục Thuế Thị xã Kiến Tường, Chi cục thuế huyện Tân Trụ

Kế toán và chủ doanh nghiệp thương mại trên địa bàn Tỉnh Long An tại: Thành Phố Tân An, huyện Vĩnh Hưng, huyện Đức Hòa, huyện Bến Lức, Thị xã Kiến Tường, Huyện Tân Trụ

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện thông qua hai bước: (1) nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT của các DNTM xây dựng thang đo, (2) nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến hành vi gian lận thuế GTGT của các DNTM trên địa bàn tỉnh Long An từ đó có cơ

sở để kết luận vấn đề, các phương pháp cụ thể:

1.5.1 Phương pháp định tính

Phỏng vấn, đối thoại một số chuyên gia gồm cán bộ thuế và nhà nghiên cứu, xây dựng hiệu chỉnh thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT của các DNTM

Trang 18

1.5.2 Phương pháp định lượng

Xây dựng bảng câu hỏi điều tra với thang đo Likert 5 mức độ và tiến hành phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi để thu thập thông tin từ cán bộ công chức thuế, kế toán doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp

Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu này là phương pháp chọn mẫu phi xác suất

Xử lý dữ liệu điều tra được bằng phần mềm phân tích dữ liệu SPSS 20 Sử dụng phần mềm SPSS 20 để xử lý và phân tích các vấn đề sau:

Kiểm định độ tin cậy của thang đo qua Cronbach’s alpha, Cronbach’s alpha

sẽ kiểm định độ tin cậy của các biến dùng để đo lường từng yếu tố ảnh hưởng đến

sự thỏa mãn trong công việc Những biến đo lường không đảm bảo độ tin cậy sẽ bị loại khỏi thang đo Nhiều nhà nghiên cứu đồng ý khi Cronbach’s Alpha từ 0.8 đến gần 1 thì thang đo lường là tốt, từ 0.7 đến gần 0.8 là sử dụng được Hệ số tương quan biến tổng phải từ 0.3 trở lên Một số nhà nghiên cứu khác đề nghị rằng Cronbach’s alpha từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng được trong trường hợp khái niệm đang đo lường là mới hoặc mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)

Phân tích nhân tố EFA để đo lường nhân tố chính dựa vào các thang đo đã được lọc ra từ kiểm định độ tin cậy

Phân tích mô hình bằng phương pháp hồi quy tuyến tính, tìm ra mối tác động của các yếu tố đến hành vi gian lận thuế GTGT của các DNTM trên địa bàn tỉnh Long An

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu đem lại một số ý nghĩa thực tiễn cho những người làm công tác quản lý thuế, các nhà làm chính sách trong việc hướng dẫn thực thi thuế GTGT Cụ thể:

-Một là, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp những nhà làm chính sách thuế

hiểu hơn nữa về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT của các DNTM Góp phần tạo cơ sở cho việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện

Trang 19

chính sách hữu hiệu hơn, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của Người nộp thuế

- Hai là, thực hiện các giải pháp nâng cao quản lý thuế trên địa bàn tỉnh phải

căn cứ vào các khoản thu thực tế và trên cơ sở thực trạng phát triển của doanh nghiệp và người nộp thuế, không được chủ quan, phải dựa trên cơ sở hệ thống pháp luật về thuế, về kinh doanh và trên cơ sở nguồn nhân lực thực trạng tại Cục Thuế

-Ba là, kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà quản lý thuế tại Cục Thuế tỉnh

Long An nắm bắt được tâm lý chung của Người nộp thuế từ đó có thể thực hiện công tác quản lý thuế tốt hơn, hạn chế hiện tượng gian lận thuế GTGT, giảm thất thu ngân sách cho Nhà nước

1.7 Kết cấu luận văn

Luận văn được làm 5 chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Cở sở lý thuyết

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 20

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 2, tác giả giới thiệu tổng quan cơ sở lý thuyết về hành vi gian lận, hành vi gian lận thuế, các hành vi gian lận thuế GTGT của các doanh nghiệp thương mại, lược khảo những công nghiên cứu trước có liên quan và đề xuất mô hình lý thuyết

2.1.Tổng quan cơ sở lý thuyết:

Hành vi gian lận: là các hành vi bất thường và phi pháp mang chủ ý lừa dối, hay đưa thông tin thiếu chính xác mà cá nhân đó biết rõ là sai hoặc tin là không đúng Người có hành vi gian lận biết rõ hành vi đó có thể đem lại lợi ích bất hợp pháp cho cá nhân hoặc tổ chức nào đó Gian lận có thể do người bên trong hoặc bên

ngoài tổ chức thực hiện

2.1.2 Hành vi gian lận thuế

Thuế là phạm trù pháp luật; luật thuế quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia thực hiện Trong đó, cơ quan Thuế có tư cách là chủ thể quản lý Nhà nước về thuế, người nộp thuế là đối tượng của quản lý Trong quá trình thực hiện luật thuế và các chính sách thuế thì gian lận thuế chỉ là hành vi của đối tượng nộp thuế, còn chủ thể quản lý với bộ máy và cán bộ thuế có chức năng chống gian lận thuế Do đó, khái niệm gian lận thuế được hiểu là: “Bằng những hành vi dối trá, lừa lọc các đối tượng nộp thuế vi phạm pháp luật thuế nhằm mục đích trốn số thuế phải

nộp theo quy định hoặc để chiếm đoạt tiền hoàn thuế từ ngân sách Nhà nước”

Gian lận thuế là hành vi vi phạm pháp luật luôn tồn tại song hành với hoạt động thuế của Nhà nước Có thể nói, Nhà nước còn đánh thuế thì sẽ còn tồn tại

Trang 21

hành vi gian lận thuế do động cơ của gian lận thuế luôn tồn tại khi Nhà nước thu thuế, đó là mong muốn giảm nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta chấp nhận các hành vi gian lận thuế Gian lận thuế sẽ giảm bớt nếu hoạt động quản lý thuế đạt hiệu quả cao (Lê Xuân Trường và Nguyễn Đình Chiến, 2013)

để khai thuế Kiểu hành vi này thường xảy ra ở các doanh nghiệp dân doanh hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ, ăn uống, khách sạn, xây dựng dân dụng và sản xuất nhỏ Đây chính là một kiểu hoạt động kinh tế ngầm mà môi trường thuận lợi của nó là nền kinh tế tiền mặt Rất khó có thể xác định được số thuế thất thu do hành vi trốn thuế này gây ra vì nếu xác định được thì đã không xảy ra thất thu thuế Một số vụ trốn thuế bị phanh phui thời gian qua cho thấy hành vi này khá phổ biến

và gây thất thu ngân sách Chẳng hạn, Công ty trách nhiệm hữu hạn thông tin tín nhiệm và xếp hạng DN Việt Nam đã trốn thuế 1.028 triệu đồng qua hành vi không ghi sổ kế toán tiền bán quyền mua căn hộ; Công ty Viễn thông điện lực bán hàng không xuất hóa đơn, không phản ánh vào sổ kế toán để trốn thuế 37 tỷ đồng

Hai là, tạo giao dịch bán hàng giả mạo

Thành lập nhiều doanh nghiệp “ma” thành hệ thống để gian lận thuế GTGT lợi dụng chính sách khuyến khích xuất khẩu, một số công ty đã lập hồ sơ xuất khẩu khống để kê khai hoàn thuế hay thành lập nhiều DN “ma” thành hệ thống kinh doanh trốn thuế

Trang 22

Mục tiêu của thủ đoạn này là chiếm đoạt tiền ngân sách Nhà nước thông qua hoàn thuế hoặc tiếp tay cho hành vi tham nhũng NSNN của một bộ phận công chức được giao nhiệm vụ mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ cho cơ quan Nhà nước Thủ đoạn này cũng liên quan đến hành vi giao dịch mua hàng giả mạo sẽ phân tích dưới đây nhằm giúp cho bên mua tăng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và giảm chi phí tính thuế thu nhập DN

Điển hình cho thủ đoạn này là hành vi xuất khẩu khống nhằm chiếm đoạt tiền qua hoàn thuế GTGT từ NSNN Xuất khẩu khống chủ yếu diễn ra đối với phương thức xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới Dạng gian lận này đã có một thời

bị ngăn chặn đấu tranh quyết liệt nên giảm bớt nhưng trong vài năm gần đây lại có

xu hướng bùng phát với những hình thức tinh vi hơn, đặc biệt có dấu hiệu trầm trọng là ở các tỉnh giáp ranh Campuchia Lợi dụng hệ thống sông ngòi chằng chịt để quay vòng hàng hóa: sau khi làm thủ tục xuất khẩu sang nước bạn thì lại đưa hàng hóa quay trở lại Việt Nam không qua cửa khẩu, rồi sau đó lại làm thủ tục xuất khẩu Trong trường hợp này, các đối tượng cấu kết với đối tác nước ngoài để hoàn tất các thủ tục để đủ điều kiện đề nghị hoàn thuế GTGT Cùng với đó, các đối tượng này cũng áp dụng chiêu thức mua hóa đơn để hợp thức hóa thuế GTGT đầu vào và chi phí tính thuế thu nhập DN Không phải ngẫu nhiên mà kim ngạch xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Campuchia tăng nhanh đáng ngờ, kèm theo đó, số tiền hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa xuất khẩu sang Campuchia cũng tăng nhanh chóng: Năm 2011 tăng 196,4% so với năm 2010, năm 2012 tăng 190% so với năm 2011

Ngoài xuất khẩu khống, giao dịch bán hàng hóa, dịch vụ giả mạo còn được thực hiện chủ yếu thông qua các hợp đồng bán hàng khống; các hợp đồng cung cấp dịch vụ khống và xuất hóa đơn khống Hành vi này được thực hiện ở cả DN “ma”

và cả ở các DN đang hoạt động kinh doanh bình thường

Ba là, tạo giao dịch mua hàng giả mạo

Không có giao dịch mua bán trong thực tiễn nhưng bên bán vẫn cung cấp hóa đơn cho các đơn vị có yêu cầu

Trang 23

Thủ đoạn tạo giao dịch mua hàng giả mạo không hoàn toàn trùng với thủ đoạn thành lập DN “ma”, do việc tạo giao dịch mua hàng giả mạo không chỉ thực hiện thông qua hành vi mua hóa đơn, song giữa chúng có mối liên hệ mật thiết DN

“ma” là DN được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhưng thực tế không sản xuất kinh doanh, chỉ nhằm mục đích đủ điều kiện để được phát hành hoá đơn, từ đó bán hóa đơn cho các đối tượng khác hoặc trung gian lập hoá đơn mua bán khống, lập hồ sơ giả mạo để xin hoàn thuế Mức độ thiệt hại do những hoá đơn trôi nổi này gây ra là không thể kiểm soát được, bởi nó hoàn toàn phụ thuộc vào số chi phí đầu vào cần hợp thức hoá của DN mua bán hoá đơn Hiện nay, hình thức gian lận này càng được tổ chức tinh vi hơn và có hệ thống, tuy nhiên có một số đặc điểm mang tính định vị như: các DN “ma” thường thành lập dưới dạng công ty TNHH hay DNTN; chủ DN thường là người có hộ khẩu thường trú ở địa phương khác đến đăng ký thành lập DN, hạn chế về trình độ học vấn, không am hiểu pháp luật; văn phòng giao dịch thường đi thuê thời hạn ngắn, trụ sở chật hẹp, tài sản không tương xứng với mô hình tối thiểu của một DN bình thường; đăng ký kinh doanh nhiều ngành nghề, chủ yếu là thương mại, dịch vụ tổng hợp, những ngành nghề không cần phải đăng ký vốn pháp định và không bắt buộc có chứng chỉ hành nghề; doanh thu lớn nhưng chênh lệch giữa thuế GTGT đầu vào và thuế GTGT đầu

ra ít nên kê khai thuế thấp, thậm chí có thuế GTGT phải nộp âm nhiều kỳ nhưng không làm thủ tục xin hoàn thuế…

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính trung bình hằng năm có khoảng 10.000 mẫu hàng hóa được phân tích phân loại Trong đó, mẫu khai đúng chiếm khoảng 47%, sai khoảng 53%, giảm thuế khoảng 7,4%

Đây là hành vi trốn thuế khá phổ biến hiện nay, thực tế DN không có khoản chi này nhưng đã tự tạo ra chứng từ để hợp pháp hóa khoản chi không có thực, vì thế có thể gọi đây là chi khống Chi khống thể hiện qua những bảng kê thanh toán giả mạo với chữ ký giả, hợp đồng lao động giả mạo (có trường hợp tên người lao động không có thật; có trường hợp tên người lao động là có thật nhưng thực sự không làm việc cho DN đó) và thể hiện ở những hóa đơn đi mua của cơ sở kinh

Trang 24

doanh khác Bằng hành vi này, DN không chỉ trốn thuế TNDN mà còn trốn cả thuế GTGT thông qua việc khấu trừ khống thuế GTGT đầu vào Đối với những hóa đơn

đi mua, để phát hiện, cơ quan Thuế phải làm tốt công tác đối chiếu, xác minh Thực

tế thời gian qua, thông qua công tác đối chiếu hóa đơn, cơ quan Thuế các địa phương đã phát hiện khá nhiều trường hợp gian lận Chẳng hạn, năm 2012, Cục Thuế Hà Nội đã gửi 10.200 phiếu xác minh hóa đơn, gồm 28.444 số; kết quả trả lời xác minh 7.570 phiếu, chiếm 74,21% số phiếu gửi đi Qua xác minh hóa đơn và thanh tra, kiểm tra, phát hiện 786 hóa đơn vi phạm, truy thu thuế GTGT là 1.198 triệu đồng, thuế thu nhập DN là 1.658 triệu đồng và xử phạt hành vi trốn thuế 646 triệu đồng, xử phạt hành chính 369 triệu đồng” Tuy nhiên, với công nghệ đối chiếu hóa đơn thủ công như hiện nay thì hiệu quả còn rất thấp, bởi vì tỷ lệ hóa đơn có thể đối chiếu so với số hóa đơn cần đối chiếu là quá nhỏ Hơn nữa, trong trường hợp

DN bán hóa đơn sử dụng hóa đơn của những khách hàng không lấy để bán cho những người có nhu cầu mua hóa đơn thì việc đối chiếu cũng không đem lại kết quả

Bốn là, ghi giá bán thấp hơn giá thực tế

Bán hàng có xuất hóa đơn nhưng giá cả và số lượng hàng hóa ghi trong liên 1(lưu) nhỏ hơn trong liên 2 (giao khách hàng) Trường hợp này, người mua thông đồng với người bán để ghi giá trị trên liên 2 cao hơn giá thanh toán trên thực tế để bên mua tăng số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ còn bên bán hạ thấp giá trị ghi

ở liên 1 để khai báo lỗ, không phải đóng thuế TNDN và làm giảm thuế GTGT

Hành vi này được gọi là “down” giá Đây là hành vi ghi giá bán trên hóa đơn

và kê khai doanh thu tính thuế thấp hơn giá khách hàng thực tế thanh toán Hành vi này thường gặp ở các DN kinh doanh nhà hàng khách sạn, vận tải tư nhân, xăng dầu, kinh doanh vật liệu xây dựng, bán ô tô và xe máy, hàng trang trí nội thất Các công ty xây dựng (nhà dân và đơn vị xây dựng vãng lai) khi thi công các công trình

ở các địa phương khác hay xây nhà tư nhân thường khai báo không trung thực, không kê khai hoặc giấu bớt một phần công trình Hành vi gian lận này làm giảm thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến

Trang 25

số thu ngân sách hàng năm Để chống hành vi “down” giá ô tô và xe máy, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 71/2010/ TT-BTC hướng dẫn ấn định thuế đối với cơ

sở kinh doanh ô tô, xe hai bánh gắn máy ghi giá bán ô tô, xe hai bánh gắn máy trên hóa đơn giao cho người tiêu dùng thấp hơn giá giao dịch thông thường trên thị trường Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để cơ quan Thuế đấu tranh ngăn chặn tình trạng “down” giá nhằm trốn thuế ở hai mặt hàng này Tuy vậy, còn một số lĩnh vực khác chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu

Năm là, hạch toán kế toán và kê khai thuế sai quy định

Các dạng hạch toán sai nhằm tăng chi phí được trừ tính thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ chủ yếu là: hạch toán toàn bộ chi phí mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ bản vào chi phí quản lý DN; đưa khấu hao tài sản cố định phúc lợi vào chi phí khấu hao tài sản cố định; tài sản cố định hết thời gian khấu hao vẫn trích khấu hao; hạch toán vào chi phí được trừ các khoản chi

từ thiện, các khoản chi thuộc nguồn kinh phí khác đài thọ, chi mang tính chất tiêu dùng cá nhân của chủ DN

Mục tiêu chủ yếu của hành vi hạch toán kế toán sai quy định pháp luật là che giấu doanh thu tính thuế, hạch toán tăng chi phí tính thuế thu nhập DN và tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ Các kiểu hạch toán sai chế độ kế toán rất đa dạng Khi bị kiểm tra phát hiện, cán bộ kế toán có thể lấy cớ là hạch toán nhầm để tránh bị phạt vì hành vi trốn thuế Kế toán có thể hạch toán giảm trừ doanh thu thông qua các hình thức giảm giá, chiết khấu không đúng quy định Kế toán có thể hạch toán sai tài khoản kế toán để che giấu doanh thu Chẳng hạn, khi phát sinh doanh thu bán hàng, lẽ ra phải hạch toán vào tài khoản 511 thì kế toán lại hạch toán vào các tài khoản kế toán khác, như hạch toán vào tài khoản 338, 138 Một số DN nhượng bán, trao đổi vật tư không ghi nhận doanh thu mà chỉ hạch toán thay đổi cơ cấu tài sản lưu động bằng các bút toán nhập, xuất, thu, chi hoặc công nợ phải thu, phải trả; bán phế liệu không xuất hóa đơn, không ghi nhận doanh thu hoặc hạch toán giảm chi phí sản xuất

Trang 26

Hành vi gian lận này chỉ có thể bị phát hiện qua kiểm tra báo cáo quyết toán thuế hoặc qua thanh tra tại cơ sở kinh doanh Muốn phát hiện được hành vi này, cán

bộ thanh tra, kiểm tra phải vững vàng về nghiệp vụ kế toán và phải nhanh nhạy trong đánh giá báo tài chính của DN

Tóm lại: Gian lận thuế là việc người nộp thuế dùng các thủ đoạn bất hợp pháp để không phải nộp thuế hoặc làm giảm số thuế phải nộp Đối với thuế giá trị gia tăng, gian lận thuế chủ yếu thông qua việc khai báo giảm thuế GTGT đầu ra, tăng thuế GTGT đầu vào, cơ chế hoàn thuế GTGT…

Gian lận thuế làm thất thu ngân sách Nhà nước, không đảm bảo công bằng giữa những người nộp thuế, ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư, kinh doanh Mức

độ gian lận thuế khác nhau phụ thuộc vào chính sách thuế (có kẽ hở dễ bị lợi dụng), hiệu quả của công tác quản lý thuế, các chế tài xử lý hành vi vi phạm pháp luật thuế

và ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế Để phòng chống gian lận thuế, cùng với việc nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý thuế, thì tăng cường các chế tài

xử phạt các hành vi gian lận thuế Bên cạnh đó, cần hoàn thiện chính sách thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, chặt chẽ, hạn chế các kẽ hở có thể bị lợi dụng, gian lận thuế

2.3 Lược khảo những công nghiên cứu trước có liên quan

2.3.1.Nghiên cứu trong nước

Trong nước chưa có nhiều cuộc nghiên cứu chuyên sâu về hành vi gian lận thuế, nhưng có một số nhận xét các chuyên gia về hành vi gian lận thuế như sau:

Hà Minh Lục (2013), trong bối cảnh kinh tế khó khăn, nhiệm vụ thu ngân sách của ngành Tài chính là hết sức nặng nề Trước tình hình đó, toàn ngành đang triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý thu, chống thất thu ngân sách, hạn chế nợ đọng thuế nhằm ngăn chặn các hành vi gian lận thuế, vi phạm trong sản xuất kinh doanh, nâng cao tính tuân thủ pháp luật của người nộp thuế…

Đinh Văn Hải (2013), qua điều tra xác minh của các cơ quan chức năng cho thấy, hành vi gian lận tiền hoàn thuế thường tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đăng ký kinh doanh thấp, mới thành lập nhưng xin hoàn thuế liên tục; các doanh

Trang 27

nghiệp có số lượng hàng xuất khẩu rất lớn và không theo mùa vụ Tuy nhiên, việc

xử lý đang là bài toán chưa tìm ra lời giải tốt

Lê Đình Tuấn (2013), sau 5 năm thực hiện Quy chế phối hợp về đấu tranh với tội phạm trong lĩnh vực thuế, liên ngành Thuế - Công an TP Hà Nội đã tạo ra sức mạnh tổng hợp để trấn áp có hiệu quả các đối tượng vi phạm pháp luật thuế Đồng thời, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, tuyên truyền, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, chống thất thu ngân sách

Lê Xuân Trường (2013), hóa đơn là một loại chứng từ kế toán đặc biệt Do không giới hạn về mệnh giá nên những tổn thất gian lận hoặc sai sót về hóa đơn gây

ra rất lớn, không chỉ gây thất thu thuế mà còn tiếp tay cho hành vi tham nhũng của một bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất Bởi vậy, tìm giải pháp phát huy vai trò của công tác quản lý hóa đơn trong quản lý thuế là rất cần thiết

Nguyễn Xuân Thành (2013), giám sát hoạt động thanh tra thuế không chỉ đánh giá được mức độ tuân thủ của cán bộ công chức thuế và người nộp thuế, mà còn đánh giá được mức độ hiệu lực của các cuộc thanh tra Qua đó, cơ quan Thuế phát hiện được những khiếm khuyết của mỗi cuộc thanh tra, nhằm nâng cao chất lượng thanh tra và có biện pháp chấn chỉnh kịp thời

Vụ Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế (2013), trong những năm qua, công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế đã được ngành Thuế triển khai tích cực, góp phần phổ biến kịp thời các chế độ, chính sách của Đảng, pháp luật thuế của Nhà nước đến với người nộp thuế trên địa bàn cả nước

Lê Quang Thuận (2013), để phòng, chống gian lận thuế, các nước đều hướng

đến nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý thuế, tăng cường chế tài xử phạt các hành vi gian lận thuế, hoàn thiện chính sách thuế để hạn chế các kẽ hở có thể bị lợi dụng gian lận thuế

2.31.Nghiên cứu nước ngoài

Edwin H Sutherland(1950)

Trang 28

Nghiên cứu: Edwin H Sutherland là người tiên phong trong việc nghiên cứu

về gian lận Nghiên cứu của Edwin H Sutherland chủ yếu dựa vào việc quan sát tội phạm đường phố, những kẻ lưu manh, sát thủ hay những kẻ du thủ du thực

Phát hiện: Edwin H.Sutherland đã rút ra một kết luận việc phạm tội thường phát sinh từ môi trường sống, vì thế hành vi phạm tội không thể được tiến hành nếu như không có sự tác động của yếu tố bên ngoài Để hiểu rõ bản chất và nhận diện tội phạm, cần nghiên cứu thái độ cũng như động cơ thúc đẩy hành vi phạm tội

D W Steve Albrecht(1980)

Nghiên cứu: Ông là nhà tội phạm học làm việc tại trường Đại học Brigham Young (Mỹ) Ông cùng với 02 đồng sự Keith Howe và Marshall Rommey đã tiến hành phân tích 212 trường hợp gian lận vào những năm 1980 dưới sự tài trợ của Hiệp hội các nhà sáng lập nghiên cứu về kiểm toán nội bộ Ông đã xuất bản tác phẩm: “Chôn vùi gian lận, viển cảnh của kiểm toán nội bộ” Phương pháp luận nghiên cứu của Albrecht là khảo sát thông tin thông qua sử dụng bảng câu hỏi Những người tham gia vào công trình nghiên cứu này là kiểm toán viên nội bộ ở các công ty tại Mỹ Thông qua khảo sát, ông đã thiết lập các biến số liên quan đến gian lận và đã xây dựng danh sách 50 dấu hiệu đỏ về chỉ dẩn gian lận, lạm dụng Các biến số này tập trung vào 02 vấn đề chính: dấu hiệu của nhân viên và đặc điểm của tổ chức

Phát hiện: Ông đã phát hiện ra 10 dấu hiệu của nhân viên cho thấy khả năng gian lận xuất hiện cao nhất đó là: sống dưới mức trung bình, nợ nần cao, quá mong muốn có thu nhập cao, có mối liên hệ thân thiết với khách hàng, cho rằng thù lao nhận được không tương xứng sự đóng góp, có mối quan hệ không tốt với người chủ, có mong muốn chứng tỏ là có thể vượt qua sự kiểm soát của công ty, có thói quen cờ bạc, chịu áp lực từ quá mức, không được công ty ghi nhận về thành tích

Ông cũng đã phát hiện ra 10 dấu hiệu về tổ chức cho thấy khả năng gian lận xuất hiện cao nhất như: đặt quá nhiều lòng tin vào nhân viên chủ chốt, thiếu thủ tục phê chuẩn thích hợp, không công bố đầy đủ các khoản đầu tư và thu nhập cá nhân, không tách bạch chức năng quản lý và chức năng phê chuẩn, thiếu kiểm tra soát xét

Trang 29

độc lập với việc thực hiện, không theo dõi chi tiết các hoạt động, không tách bạch chức năng quản lý với kế toán, không tách bạch một số chức năng liên quan kế toán, thiếu chỉ dẫn rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn, thiếu sự giám sát của kiểm toán viên nội bộ

Dựa vào kết quả nêu trên, ông đã xây dựng một mô hình nổi tiếng: mô hình

về bàn cân gian lận Mô hình này gồm có ba nhân tố: hoàn cảnh tạo ra áp lực, nắm bắt cơ hội và tính trung thực của cá nhân

Theo Albercht, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao cùng với tính liêm chính của cá nhân thấp thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất cao và ngược lại, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận thấp cùng với tính liêm chính cao thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất thấp

Hoàn cảnh tạo áp lực có thể là liên quan tới những khó khăn về tài chính Cơ hội để thực hiện gian lận có thể do cá nhân đó tự tạo ra hay do sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ Công trình nghiên cứu này đã đóng góp rất lớn cho việc

thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ

Richard và John(1983)

Nghiên cứu: cùng với đồng sự của mình, Richard và John đã cho ra đời cuốn sách “khi nhân viên biển thủ” sau một cuộc nghiên cứu công phu với mẫu chọn là 10.000 nhân viên làm việc tại Hoa Kỳ Cuốn sách này có một sức hút rất lớn đối với những nhà nghiên cứu về gian lận vì nó đã đưa ra một kết luận có tính chất khác biệt so với mô hình tam giác gian lận của Cressey Richard và John (1983) thực hiện một cuộc nghiên cứu với mẫu hơn 10.000 nhân viên làm việc tại Hoa Kỳ

Phát hiện: kết quả nghiên cứu về gian lận này đã đưa ra một kết luận có tính chất khác biệt so với Donald (1987) Nguyên nhân chủ yếu của gian lận chính là điều kiện nơi làm việc và môi trường kinh doanh Hai ông đưa ra một loạt những giả thuyết về tình trạng nhân viên biển thủ tài sản của công ty: khi nền kinh tế có những khó khăn chung: giá cả tăng, đồng tiền mất giá, những người đương thời, đặc biệt là những người trẻ tuổi thường kém trung thực và không chịu khó làm như những thế hệ đi trước, bản chất tự nhiên của con người là lòng tham và không trung

Trang 30

thực, vì thế các nhân viên thường cố gắng lấy cắp tài sản của công ty khi có cơ hội,

sự không hài lòng, không thỏa mãn với công việc cũng là một trong những nguyên nhân của việc biển thủ, và cuối cùng, do cấu trúc của công ty đó có hợp lý hay không Ông còn tìm ra một loạt những mối liên hệ giữa thu nhập, tuổi tác, vị trí và mức độ hài lòng trong công việc với tình trạng biển thủ Chẳng hạn như mối liên hệ giữa thu nhập và biển thủ Theo đó, một người chịu áp lực về tài chính hay có những rắc rối trong tình hình tài chính không gây ra nhiều động cơ biển thủ so với việc anh ta luôn luôn đặt tài chính như ưu tiên số một cho mục tiêu sống của anh ta Còn đối với mối tương quan giữa tuổi tác và biển thủ, Hollinger và Clark cho rằng thông thường, trong một tổ chức những người trẻ tuổi thường không được giao nhiều trách nhiệm, đương nhiên phần đó thuộc về những người có nhiều kinh nghiệm làm việc và có tuổi đời cao hơn Nhưng chính cách bố trí này đã làm cho mức độ gắn kết với công ty, những cam kết cá nhân hay những ràng buộc với mục tiêu của tổ chức trở nên lỏng lẻo Và đấy chính là một lý do khiến cho tỉ lệ biển thủ

ở những ngưởi trẻ tuổi thường cao hơn Hai ông còn tìm ra mối liên kết trực tiếp giữa vị trí chức vụ và mức độ biển thủ Khởi nguồn của hành vi biển thủ thường do

sự không hài lòng về công việc hiện tại nhưng mức độ nghiêm trọng của việc biển thủ thì lại tùy thuộc vào vị trí của người đó trong tổ chức, thông thường những người có hành vi biển thủ ở vị trí cao cấp thì hành vi đó thường gây ra những tổn thất lớn

Trang 31

nghiên cứu gian lận, trong đó có nghề nghiệp kiểm toán

Phát hiện: Theo Donald R Cressey là người phát minh tam giác gian lận, Theo Ông hành vi gian lận chỉ được thực hiện trên cơ sở hội đủ 03 yếu tố sau: áp lực (động cơ) gian lận, cơ hội gian lận, khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận

Tâm lý thông thường của con người là: lần đầu tiên khi thực hiện gian lận, người phạm tội thường an ủi rằng, họ sẽ không để chuyện này lặp lại Nhưng nếu tiếp tục, người thực hiện sẽ không còn băn khoăn và mọi việc diễn ra dễ dàng hơn,

dễ được chấp nhận hơn

Tam giác gian lận của Donald R Cressey được dùng để lý giải rất nhiều vụ gian lận Tuy nhiên, do đây không phải là một tiền đề nên không thể khẳng định rằng mô hình này đúng với mọi trường hợp

Công trình nghiên cứu gian lận của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Mỹ (The Association of Certified Fraud Examiners-ACFE)(1993)

Nghiên cứu: vào năm 1993, một tổ chức chuyên nghiên cứu về gian lận ra đời bên cạnh Ủy ban quốc gia chống gian lận Mỹ đó là Hiệp hội của các nhà điều tra gian lận (ACFE) Cho đến nay, có thể nói đây là tổ chức nghiên cứu và điều tra

về gian lận có quy mô lớn nhất thế giới Ngay sau khi được thành lập, ACFE đã tiến hành một cuộc nghiên cứu trên quy mô lớn các trường hợp gian lận Đầu tiên, vào năm 1993, ACFE đã tiến hành gửi bảng câu hỏi cho khoản 10.000 thành viên của Hiệp hội nhằm thu thập thông tin về các trường hợp về gian lận mà các thành viên này đã từng chứng kiến Cho tới đầu năm 1995, đã có 2.608 phản hồi, trong đó có 1.509 trường hợp đề cập trực tiếp đến vấn đề gian lận tài sản của tổ chức họ đã hay đang làm việc

Sau đó, các năm 2002, 2004, 2006, 2008, ACFE tiếp tục các cuộc nghiên cứu

về gian lận trên qui mô toàn Mỹ với phương pháp tương tự năm 1993, tức là tổng hợp nguồn thông tin từ thành viên của tổ chức ACFE nhưng với một mục tiêu khác: tập trung vào phân tích cách thức tiến hành gian lận từ đó giúp các nghề nghiệp đưa

ra biện pháp ngăn ngừa và phát hiện gian lận trên báo cáo tài chính

Trang 32

Một trong những con số thống kê đưa ra rất ấn tượng là: Gian lận gây ra thiệt hại cho nền kinh tế Mỹ là khoảng 6% trên tổng thu nhập quốc nội vào năm 2004 (tương đương với 10,000 tỷ USD), tức là mỗi năm nền kinh tế bị thiệt hại trên 600

tỷ USD do gian lận Đây là con số rất lớn vì nó gần gấp đôi số ngân sách mà Chính phủ Mỹ dành cho các hoạt động quân sự trong năm 2003 Và tất nhiên là nhiều hơn

cả nguồn tiền Chính phủ đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng và giáo dục, vượt quá

28 lần số ngân sách Chính phủ ưu tiên dùng để phòng chống tội phạm năm 2003

Dù công trình nghiên cứu về gian lận ACFE đã đưa ra những số liệu thống

kê về những thiệt hại của việc gian lận trên báo cáo tài chính bị phát hiện, tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khó mà xác định được thiệt hại thực sự bởi lẽ không phải tất cả những gian lận đều bị phát hiện và không phải tất cả các gian lận được phát hiện đều được báo cáo và không phải tất cả gian lận đã báo cáo đều bị khởi tố theo đúng pháp luật Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu trên chỉ thống kê thiệt hại về kinh tế trực tiếp do gian lận trên báo cáo tài chính, trong khi còn rất nhiều thiệt hại vô hình không thể biểu hiện bằng con số cụ thể ví dụ như chi phí kiện tụng, phí bảo hiểm, sự sụt giảm niềm tin và tác động xấu đến thị trường chứng khoán

Phát hiện: kết quả nghiên cứu về gian lận theo công trình nghiên cứu của ACFE Dưới đây là kết quả của công trình nghiên cứu của ACFE vào năm 2002,

2004, 2006 có ba loại gian lận như sau: biển thủ tài sản, tham ô, gian lận trên báo cáo tài chính

2.4 Đề xuất mô hình lý thuyết

Hiện nay, trên thế giới có một số công trình nghiên cứu về gian lận kinh

điển như công trình nghiên cứu của:

Orewa(1957): đã tiến hành nghiên cứu và điều tra các đặc điểm của hành vi trốn thuế Nghiên cứu cho thấy rằng lý do chính của việc trốn thuế là tính thay đổi của tiền lương người có thu nhập, người làm công ăn lương và những người tự làm chủ mà họ luôn thay đổi địa chỉ nơi hàng hóa, những thương nhân không lưu giữ hồ

sơ đầy đủ

Trang 33

Donald R.Cressey(1987): nghiên cứu mô hình về tam giác gian lận

D W.Steve Albrecht(1983): nghiên cứu mô hình về bàn cân gian lận và gần

đây hơn là công trình nghiên cứu gian lận của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa kỳ (ACFE) vào năm 1993

Trong mỗi mô hình, các nhà nghiên cứu dựa trên những giả thuyết khác nhau

để nghiên cứu và đưa ra những kết luận thú vị về hành vi gian lận của con người Ở đây, tác giả lựa chọn mô hình lý thuyết của Donald R.Cressey để phát triển lý thuyết về đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT của các doanh nghiệp thương mại tại địa bàn tỉnh Long An

Theo Donald R Cressey(1987), hành vi gian lận chỉ được thực hiện trên cơ

sở hội đủ 3 yếu tố sau: động cơ (áp lực); cơ hội và khả năng hợp lý hóa hành vi của con người Những yếu tố này phải được đưa vào để xem xét một cách đúng mức nhằm hiểu rõ bản chất và tìm ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng

Theo Donald R Cressey cho rằng đây là phản ứng tự nhiên của con người: lần đầu tiên làm những điều trái với lương tâm và đạo đức của mình, họ sẽ ám ảnh nhưng ở những lần kế tiếp, người thực hiện sẽ không cảm thấy băn khoăn và mọi việc diễn ra dễ dàng hơn, dễ chấp nhận hơn và khả năng xảy ra gian lận sẽ cao hơn nếu cá nhân đó là người “xấu”

Trang 34

Hình 2.1.5: Mô hình lý thuyết hành vi gian lận thuế GTGT

Mục đích của nghiên cứu này là kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh Long An, đồng thời xem xét các yếu tố này có sự khác biệt với nhau hay không theo giới tính, theo trình độ học vấn, vị trí công tác hiện tại khi quyết định hành vi gian lận thuế

GTGT

CƠ HỘI

ĐỘNG CƠ

KHẢ NĂNG HỢP LÝ HÓA HÀNH VI

GIAN LẬN THUẾ GTGT

Trang 35

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Chương 3, tác giả giới thiệu quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, xây dựng thang đo, mã hóa thang đo, giả thuyết nghiên cứu, xử lý và phân tích dữ liệu

3.1 Quy trình nghiên cứu:

Trang 36

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Xác định động cơ và mục tiêu nghiên cứu

Tìm khung lý thuyết và lược khảo nghiên cứu lilllllliêliêquanquan Xây dựng mô hình

- Phân tích hồi quy

Đề ra giải pháp hạn chế

hành vi gian lận thuế

GTGT

Kiểm định giả thuyết

-Phỏng vấn -Thảo luận tay đôi

Báo cáo kết quả nghiên cứu

Trang 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được thực hiện với kỹ thuật thảo luận nhóm, thảo luận tay đôi và phỏng vấn trực tiếp nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT của các doanh nghiệp thương mại trên địa bàn tỉnh Long An và xây dựng các biến phù hợp với mô hình nghiên cứu Thảo luận nhóm được tiến hành với một nhóm khoảng 10 người là các thành viên trong phòng Thanh tra Thuế, Kiểm tra Thuế, Phòng Tổng hợp nghiệp vụ dự toán và Chi cục Thuế các huyện để thu nhập dữ liệu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT của các DNTM trên địa bàn tỉnh Long An và các biến quan sát cho từng yếu tố đó Kết quả thảo luận được tổng hợp lại, sau đó tham khảo ý kiến của các chuyên gia và một số cán bộ lãnh đạo có kinh nghiệm trong ngành thông qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp

để xây dựng nên một thang đo bao quát, hoàn chỉnh về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế nhằm phục vụ cho nghiên cứu định lượng

3.2.2 Nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua việc phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chính thức và được sử dụng để kiểm định lại mô hình nghiên cứu

và các giả thuyết mô hình Nhằm kiểm định mô hình lý thuyết đã được đặt ra cũng như đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT, một nghiên cứu chính thức được tiến hành trên địa bàn tỉnh Long An với kích thước mẫu n=200 Đối tượng khảo sát của nghiên cứu này là cán bộ công chức Cục thuế tỉnh Long An, kế toán doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp Phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu khảo sát với bảng câu hỏi được chuẩn bị trước

3.2.2.1 Phương pháp chọn mẫu

Có nhiều phương pháp chọn mẫu, chúng được chia thành hai nhóm chính bao gồm: (1) phương pháp chọn mẫu theo xác suất, thường gọi là chọn mẫu ngẫu nhiên, và (2) các phương pháp chọn mẫu không theo xác suất, còn gọi là phi xác suất hay không ngẫu nhiên Do điều kiện thời gian có hạn nên trong nghiên cứu này phương pháp chọn mẫu phi xác suất với hình thức chọn mẫu thuận tiện được sử

Trang 38

dụng Lý do chọn phương pháp này là vì người trả lời dễ tiếp cận, họ sẵn sàng trả lời phiếu điều tra cũng như ít tốn kém về thời gian và chi phí để thu thập thông tin cần nghiên cứu, các phiếu điều tra được tác giả khảo sát trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu hoặc thông qua hình thức gửi email khảo sát

3.2.2.2.Kích cỡ mẫu

Hair, Anderson, Tatham, Black, (1998), Trong EFA, kích thước mẫu thường được xác định dựa vào kích thước tối thiểu và số lượng biến quan sát đưa vào phần tích Để sử dụng EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỷ lệ quan sát/biến quan sát là 5:1, nghĩa là 1 biến quan sát cần tối thiểu 5 quan sát, tốt nhất là 10:1 trở lên (Hair, Anderson, Tatham, Black, 1998) Trong nghiên cứu này, tác giả lấy kích thước mẫu theo công thức: N ≥ 5*x (trong đó: x là tổng số biến quan sát) Nghiên cứu gồm có 17 biến quan sát, như vậy kích thước mẫu tối thiểu là

85 Để đạt được kích thước mẫu đề ra, 200 phiếu khảo sát đã được gởi đi phỏng vấn thông qua file giấy, qua mạng internet và phỏng vấn trực tiếp cán bộ công chức thuế, kế toán doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp Trong 200 bảng khảo sát đã gởi đi có 192 phản hồi từ phía đối tượng khảo sát (192 phiếu hợp lệ và 8 phiếu không hợp lệ rơi vào các trường hợp như trả lời sót câu hỏi và trả lời câu hỏi nhiều hơn lựa chọn) Do đó, mẫu điều tra được chọn là 192 quan sát là phù hợp với yêu cầu và mang tính đại diện của mẫu nên đảm bảo cho việc thực hiện nghiên cứu

3.2.2.3.Thiết kế phiếu điều tra chính thức

Thiết kế phiếu điều tra bao gồm 2 phần (phục lục 1: khảo sát định lượng) +Phần 1: thông tin cá nhân

Phần này được thiết kế để thu thập các thông tin về người tham gia phỏng vấn như: giới tính, độ tuổi, vị trí công tác, trình độ học vấn

+Phần 2: Nội dung khảo sát gồm có 17 câu hỏi khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT, yêu cầu đối tượng điều tra đánh giá mức độ quan trọng theo thang đo Likert từ 1 đến 5: mức 1 tương ứng với “Rất không đồng ý” và mức 5 tương ứng với “Rất đồng ý”

-Kết cấu bảng khảo sát gồm: 02 cột

Trang 39

Cột bên trái: nội dung các quan sát về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT;

Cột bên phải: đánh giá của người tham gia phỏng vấn về mức độ đồng ý của các yếu tố, thuộc tính khi có hành vi gian lận thuế GTGT

3.3 Xây dựng thang đo

Thang đo đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận thuế GTGT của các DNTM trên địa bàn tỉnh Long An được xây dựng dựa trên thang đo lường thái độ hành vi về thuế và tính tuân thủ thuế được đánh giá ở Ireland năm 2008/2009 của Lefebve et at (2011) Thang đo này gồm có 3 yếu tố được nghiên cứu là yếu tố động cơ (áp lực), yếu tố cơ hội, yếu tố khả năng hợp lý hóa hành vi

3.3.1 Thang đo về yếu tố cơ hội

Cơ hội: một khi đã có những áp lực hay động cơ thúc đẩy, nếu có cơ hội, hành vi gian lận sẽ được thực hiện Theo Cressy, có hai yếu tố để tạo ra cơ hội là nắm bắt thông tin và có kỹ thuật để thực hiện Thang đo về yếu tố cơ hội gồm 3 biến quan sát:

1.Lợi dụng kẽ hở pháp luật để giảm số thuế phải nộp

2.DN gian lận thuế vì người mua không yêu cầu đơn vị bán hàng cung cấp hóa đơn khi mua hàng

3 Trình độ, năng lực đội ngũ công chức thuế còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu quản lý thuế mới

3.3.2.Thang đo về yếu tố động cơ (áp lực)

Động cơ: theo Donald R.Cressey cho rằng khởi nguồn của việc thực hiện gian lận là do người thực hiện có những động cơ hay chịu những áp lực trong cuộc sống Các áp lực có thể là những bế tắc trong cuộc sống cá nhân như do khó khăn

về tài chính, hay sự thiếu hụt tiền và thậm chí có thể là do mối quan hệ không xuôn

sẻ giữa chủ và người làm thuê Động cơ (áp lực) là một nhu cầu đã có đủ sức mạnh

để thôi thúc người ta hành động Thang đo về yếu tố động cơ gồm 5 biến quan sát:

1 Mọi người nghĩ rằng họ phải nộp quá nhiều thuế

2 Số tiền gian lận từ thuế được dùng cho mục đích cá nhân

Trang 40

3 Người ta tin rằng có những người khác kê khai trung thực

4 Số tiền thu được, sử dụng kém hiệu quả

5 Trốn thuế không phải là vấn đề của Ireland

3.3.3.Thang đo về yếu tố khả năng hợp lý hóa hành vi gian lận

Khả năng hợp lý hóa hành vi: theo Cressey tùy theo cá tính mà hành vi gian lận có được tiến hành hay không Phần lớn người (khoảng 80%) khi có cơ hội và chịu áp lực họ sẽ thực hiện hành vi gian lận với lý lẽ tự an ủi rằng họ sẽ không để chuyện này lặp lại Cressey cho rằng đây là phản ứng tự nhiên của con người Lần đầu tiên làm những điều trái với lương tâm và đạo đức của mình họ sẽ bị ám ảnh Nhưng ở những lần kế tiếp, người thực hiện sẽ không cảm thấy băn khoăn và mọi việc diễn ra dễ dàng hơn, dễ được chấp nhận hơn Thang đo này được tác giả xây dựng bao gồm 4 biến quan sát:

1 Đã thành công trong việc trốn thuế

2 Mỗi người nghĩ rằng gian lận thuế là phạm pháp nhưng nguy cơ bị phát hiện là rất thấp

3 Biện pháp chế tài chưa đủ sức răng đe

4 Trốn thuế có thể bị phát hiện, khi đó sẽ nộp đủ

3.3.4.Thang đo về yếu tố hành vi gian lận thuế GTGT

Trong nghiên cứu này, thang đo về hành vi gian lận thuế GTGT gồm 3 biến quan sát:

1.Sẵn sàng trốn thuế khi có cơ hội

2.Sẵn sàng trốn thuế khi hợp lý hóa được hành vi

3.Sẵn sàng trốn thuế khi mang lại lợi ích

Sau khi tiến hành phỏng vấn thử các chuyên gia, thang đo được hiệu chỉnh

để phù hợp với địa bàn nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu:

SS

T

T

Thang đo điều chỉnh

Thang đo về yếu tố cơ hội

1 Lợi dụng kẽ hở pháp luật để giảm Doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở pháp

Ngày đăng: 30/12/2020, 17:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w