1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng tham gia khảo sát trực tuyến của nhân viên văn phòng trên địa bàn thành phố hồ chí minh

155 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo ESOMAR 2007 có bốn phương pháp khảo sát được chấp nhận trong nghiên cứu trực tuyến bao gồm: Các dạng khảo sát pop-up Đây là một phương pháp tuyển dụng khá phổ biến trong các cuộc k

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng tham gia khảo sát trực tuyến của nhân viên văn phòng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc Các số liệu trong luận văn được thu thập từ thực tế và có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, được xử lý trung thực khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả: Đỗ Thị Thu Hồng

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2

1.1 Khảo sát trực tuyến tại thị trường Việt Nam 2

1.2 Lý do chọn đề tài 3

1.3 Mục tiêu của nghiên cứu 5

1.4 Đối tượng khảo sát và phạm vi nghiên cứu 5

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

1.6 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7

2.1 Vai trò của khảo sát dữ liệu trong nghiên cứu 7

2.2 Các hình thức và công cụ khảo sát dữ liệu truyền thống 8

2.3 Khảo sát trực tuyến 10

2.3.1 Ưu và nhược điểm của khảo sát trực tuyến 12

2.3.1.1 Ưu điểm của khảo sát trực tuyến 12

2.3.1.2 Nhược điểm của khảo sát trực tuyến 16

2.3.2 Các so sánh với các phương pháp khác 19

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia khảo sát trực tuyến 23

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 23

2.4.2 Vấn đề tâm lý của người tham gia khảo sát 26

2.4.3 Các vấn đề động cơ của người tham gia khảo sát 29

2.4.3.1 Phần thưởng vật chất 29

Trang 5

2.4.3.3 Nhận thức 33

2.4.4 Kinh nghiệm trực tuyến 38

2.4.5 Đo lường xu hướng phản hồi khảo sát 41

2.5 Mô hình nghiên cứu 41

2.5.1 Mô hình nghiên cứu trước đây 41

2.5.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu 42

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 45

3.1 Quy trình nghiên cứu 45

3.2 Nghiên cứu định tính 46

3.3 Xây dựng và điều chỉnh thang đo 47

3.3.1 Thang đo thiết kế điều tra 47

3.3.2 Thang đo Tâm lý người tham gia khảo sát 48

3.3.3 Thang đo động cơ của người tham gia khảo sát tham gia khảo sát 49

3.3.3.1 Thang đo Phần thưởng vật chất 49

3.3.3.2 Thang đo Phần thưởng phi vật chất 50

3.3.3.3 Thang đo nhận thức 51

3.3.4 Thang đo Kinh nghiệm trực tuyến 52

3.3.5 Thang đo Xu hướng Tham gia trả lời 52

3.4 Mẫu 53

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56

4.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 56

4.2 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach Alpha 57

4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 61

4.4 Mô hình hồi quy tuyến tính 66

Trang 6

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 75

5.1 Kết quả nghiên cứu chính 75

5.2 Hàm ý của nghiên cứu: 75

5.3 Hạn chế của đề tài và gợi ý các nghiên cứu trong tương lai 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Hình 2.1: Mô hình các nhân tố tác động đến sự tham gia trả lời khảo sát trực tuyến 43

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 45

Hình 3.2: Tổng hợp dữ liệu thu thập của đề tài bằng công cụ Google Docs 54

Hình 3.3: Thời gian khảo sát và số phiếu thu thập từng ngày 55

Hình 4.1: Mô hình các nhân tố tác động đến sự tham gia trả lời khảo sát trực tuyến 70

Hình 4.2: Biểu đồ phân tán 73

Trang 8

Bảng 2.1:Tỷ lệ phản hồi khảo sát trên web sử dụng mẫu xác suất và điều tra thống kê17

Bảng 3.1: Thang đo thiết kế điều tra 48

Bảng 3.2: Thang đo Tâm lý người tham gia khảo sát 48

Bảng 3.3: Thang đo phần thưởng vật chất 49

Bảng 3.4: Thang đo phần thưởng phi vật chất 50

Bảng 3.5: Thang đo nhận thức 51

Bảng 3.6: Thang đo kinh nghiệm trực tuyến 52

Bảng 3.7: Tham gia trả lời 52

Bảng 4.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu 56

Bảng 4.2: Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo 58

Bảng 4.3: Kết quả kiểm định EFA lần đầu 61

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định EFA lần cuối 63

Bảng 4.5: Danh sách các biến trong mô hình hồi quy 67

Bảng 4.6: Thống kê phân tích hồi quy 67

Trang 9

Tóm tắt

Nghiên cứu này trình bày sơ lược lịch sử của khảo sát trực tuyến; các ưu và nhược điểm của nó so với các phương pháp khảo sát dữ liệu truyền thống như thư tín, điện thoại, trực tiếp mặt đối mặt Nghiên cứu này tổng hợp các lý thuyết của Han et

al.(2009) về động cơ của con người, của Ranchhod và Zhoou (2001) về lợi ích của khảo sát trực tuyến, của Groves et al (2004) về tỷ lệ phản hồi Tác giả sử dụng dữ liệu thu thập từ các nhân viên văn phòng làm việc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để kiểm định các kết quả nghiên cứu trước đây về lĩnh vực này Bảng câu hỏi được gửi đến hơn 10.000 địa chỉ email và chia sẻ liên kết tại các trang mạng xã hội, thu về được

286 phiếu khảo sát trực tuyến Nghiên cứu rút ra một số nhân tố tác động đến sự tham gia trả lời khảo sát trực tuyến bao gồm: nhận thức, kinh nghiệm trực tuyến, phần thưởng vật chất và phần thưởng phi vật chất Đồng thời cũng nêu ra những gợi ý phương pháp cải thiện tỷ lệ phản hồi trực tuyến

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Khảo sát trực tuyến tại thị trường Việt Nam

Một công cụ khảo sát miễn phí được sử dụng rộng rãi tại các trường đại học hay dùng

để thu thập ý kiến trong nội bộ 1 số công ty là googledocs.com Ứng dụng này của google hoàn toàn miễn phí và người dùng phải tạo 1 tài khoản google Đa số các sinh viên đại học hiện nay dùng phương pháp này để khảo sát và thu thập dữ liệu cho

nghiên cứu phục vụ học tập Đa số người dùng ứng dụng này cho biết khá hài lòng và giúp tiết kiệm chi phí nghiên cứu rất lớn

Hiện nay trên thế giới, kiếm tiền qua trả lời khảo sát là một hình thức kiếm tiền có thực trên mạng Khảo sát trực tuyến dựa trên nguyên tắc: Khi một doanh nghiệp muốn nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu sử dụng sản phẩm của khách hàng, doanh nghiệp sẽ nhờ đến một công ty khảo sát thị trường Công ty này sẽ tiến hành làm các bảng khảo sát theo nhu cầu của doanh nghiệp, giới thiệu đến với các thành viên và trả một khoản tiền làm khảo sát cho họ, sau đó thu về kết quả khảo sát gửi đến cho doanh nghiệp Có thể gọi đây là một dạng dịch vụ nghiên cứu thị trường hiện đại và phổ biến

hiện nay

Khảo sát trực tuyến tại Việt Nam đang trên đà phát triển, thông qua các Website, các công ty khảo sát thị trường trực tuyến đang phát triển nhanh chóng và chứng minh được tính năng vượt trội so với khảo sát thị trường theo cách truyền thống Bên cạnh những website khảo sát không minh bạch về cơ chế trả thưởng cho thành viên, lợi dụng

để thu thập thông tin cá nhân hay truyền dẫn các mã độc hay virus chứa trong các link khảo sát gây hiểm họa cho người dùng, có những địa chỉ đáng tin cậy đã và đang hỗ trợ rất nhiều cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc thấu hiểu thị hiếu khách hàng Sau đây

là một số website sử dụng khảo sát trực tuyến hoạt động trên thị trường Việt Nam:

- Vinaresearch.net

Trang 11

1.2 Lý do chọn đề tài

Với sự ra đời của Web và thư điện tử (e-mail), Internet đã mở ra những chân trời mới trong khảo sát Thay vì gửi thư một cuộc khảo sát giấy, một người trả lời có thể được cung cấp một liên kết đến một trang web có chứa các cuộc khảo sát Hoặc, trong một cuộc khảo sát e-mail, một câu hỏi được gửi đến một người trả lời qua e-mail, có thể là một tập tin đính kèm Hoặc là một sự thay thế hoặc bổ sung cho phương thức khảo sát

Trang 12

thông thường (ví dụ như điện thoại, mail, và mặt đối mặt phỏng vấn) các cuộc điều tra dựa trên Internet cung cấp khả năng mới độc đáo Ví dụ, một cuộc khảo sát Web có thể tương đối đơn giản kết hợp đồ họa đa phương tiện và âm thanh vào các công cụ khảo sát

Những tiến bộ quan trọng nhất về phương pháp điều tra trong thế kỷ 20 bao gồm giới thiệu kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên trong những năm 1940 và điện thoại phỏng vấn vào

trong lĩnh vực phương pháp điều tra với sự xuất hiện của các cuộc điều tra dựa trên công nghệ như Internet, hệ thống nhận dạng giọng nói, và cuộc điều tra fax điện tử Không có nhiều nghiên cứu tập trung vào các phương pháp khảo sát dựa trên công nghệ bởi vì chúng chỉ được giới thiệu trong thập kỷ qua (Dillman,1999)

Khảo sát trên Internet nhanh chóng trở thành phương thức thuận lợi nhất để tiến hành nghiên cứu thị trường dựa trên cuộc khảo sát Theo các tổ chức toàn cầu về nghiên cứu thị trường, nghiên cứu trực tuyến đại diện cho 20 phần trăm của tất cả các chi phí về thu thập dữ liệu (Hernandez, 2007)

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng internet và hệ thống website toàn cầu, khảo sát trực tuyến là lĩnh vực đang phát triển ở Việt Nam Nhu cầu về việc thu thập dữ liệu nhanh chóng phục vụ cho việc phát triển thị trường, phục vụ cho các nghiên cứu hàn lâm cũng như thực nghiệm rất lớn Đa số các công trình nghiên cứu hàn lâm hay thực nghiệm cần phải thu thập dữ liệu nghiên cứu Để thu thập dữ liệu một cách hiệu quả với chi phi thấp là chủ đề được được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm hiện nay Mặt khác, trong nước chưa có nhiều nghiên cứu về chủ đề này trong khi ở nước ngoài lĩnh vực nghiên cứu về khảo sát trực tuyến đã hình thành trên 20 năm, song hành với sự phát triển của mạng Internet và hệ thống website Đồng thời, mở ra chủ đề nghiên cứu

mới cho các nghiên cứu tiếp theo Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Các yếu tố ảnh

Trang 13

hưởng đến xu hướng tham gia khảo sát trực tuyến của nhân viên văn phòng trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh”

1.3 Mục tiêu của nghiên cứu

- Nghiên cứu này nhằm nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia các khảo sát nghiên cứu trên Internet (khảo sát trực tuyến)

- Tầm quan trọng của các yếu tố đó và các phương thức cải thiện tỷ lệ trả lời khảo sát trực tuyến

1.4 Đối tượng khảo sát và phạm vi nghiên cứu

Để thuận lợi trong công tác thu thập dữ liệu nhanh chóng, phục vụ cho việc tiến hành các bước tiếp theo của luận văn Mặt khác, tác giả công tác tại Tp.hồ Chí Minh Do đó, tác giả chọn nơi thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu là địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng tham gia khảo sát trực tuyến của nhân viên văn phòng làm việc trên địa bàn TPHCM Quan điểm của những người này giúp nghiên cứu nắm bắt được quan điểm của cá nhân họ về việc tham gia các khảo sát trực tuyến Tác giả khảo sát được một mẫu có kích thước n = 261 để đánh giá sơ bộ thang đo và phân tích nhân tố khám phá Nghiên cứu đồng thời sử dụng các kiểm định giá trị trung bình, phân tích khác biệt để xem xét sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng Các nhân tố rút trích được sử dụng trong một mô hình hồi quy bội để đánh giá tác động của các nhân tố đó lên sự tham gia trả lời khảo sát

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng vào hoạt động thu thập dữ liệu cho các nghiên cứu hàn lâm và ứng dụng

Trang 14

Tăng hiệu quả của các cuộc khảo sát trực tuyến, giúp tiết kiệm chi phí và thời gian

Tăng cường sự hiểu biết về hành vi của người sử dụng Internet về việc tham gia các khảo sát trực tuyến

1.6 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu

Kết cấu của đề tài bao gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu;

Chương 4: Kết quả nghiên cứu;

Chương 5: Hạn chế và kiến nghị

Kết luận

Trang 15

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Vai trò của khảo sát dữ liệu trong nghiên cứu

Trong nghiên cứu hàn lâm và ứng dụng, định tính và định lượng, dữ liệu đóng vai trò rất quan trọng Việc thu thập dữ liệu dùng để xây dựng và kiểm định lý thuyết khoa học trong nghiên cứu hàn lâm và được dùng để ra quyết định trong nghiên cứu ứng dụng Do đó cần phải thu thập dữ liệu đúng yêu cầu của nghiên cứu Đó là điều kiện cần để thực hiện nghiên cứu thành công

Căn cứ vào mục đích sử dụng của kết quả nghiên cứu, có thể chia thành 02 dạng cơ bản, đó là nghiên cứu hàn lâm và nghiên cứu ứng dụng …sự khác nhau cơ bản của nghiên cứu hàn lâm và nghiên cứu ứng dụng là ở mục đích nghiên cứu Nghiên cứu hàn lâm nhằm mục đích xây dựng và kiểm định lý thuyết khoa học – thu thập dữ liệu

để xây dựng và kiểm định lý thuyết khoa học Nghiên cứu ứng dụng nhằm thu thập dữ liệu để ra quyết định kinh doanh Không có sự khác biệt cơ bản về phương pháp và công cụ trong nghiên cứu hàn lâm và ứng dụng Như vậy, dữ liệu là trọng tâm của các

dự án nghiên cứu, dù là hàn lâm hay ứng dụng (Nguyễn Đình Thọ,2012)

Khi đề cập đến nghiên cứu chúng ta đề cập đến dữ liệu, nghĩa là thu thập dữ liệu thực

tế để xây dựng hay kiểm định lý thuyết khoa học Trong cộng đồng nghiên cứu khoa học, hai thuật ngữ nghiên cứu và dữ liệu có cùng nghĩa như nhau Nghiên cứu gắn liền với dữ liệu và dữ liệu gắn liền với nghiên cứu (Ehrenberg,1994; Zalman et al,1982)

Ngày nay, từ "khảo sát" được sử dụng thường xuyên nhất để mô tả một phương pháp thu thập thông tin từ một mẫu của các cá nhân Điều này "mẫu" thường chỉ là một phần nhỏ của tập hợp đang được nghiên cứu Không chỉ làm các cuộc điều tra có nhiều mục đích khác, họ cũng có thể được thực hiện bằng nhiều cách, kể cả qua điện thoại, qua đường bưu điện, hoặc trực tiếp Tuy nhiên, tất cả các cuộc điều tra có những đặc điểm chung nhất định Không giống như một điều tra dân số, nơi mà tất cả các thành viên

Trang 16

dân số được nghiên cứu, khảo sát thu thập thông tin chỉ từ một phần kích thước của mẫu tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu Trong một cuộc khảo sát chân chính, mẫu không được chọn tuỳ tiện hay chỉ từ những người tình nguyện tham gia Nó được lựa chọn một cách khoa học để mỗi người trong tập hợp sẽ có cơ hội thể đo lường được lựa chọn Bằng cách này, kết quả có thể đáng tin cậy từ các mẫu với lớn hơn Thông tin được thu thập bằng các phương tiện của thủ tục tiêu chuẩn hóa để mỗi cá nhân được hỏi những câu hỏi tương tự trong nhiều hơn hoặc ít hơn cùng một cách Mục đích của cuộc khảo sát không phải là để mô tả những cá nhân đặc biệt là những người, tình cờ,

là một phần của mẫu nhưng để có được một hồ sơ tổng hợp của tổng thể (Scheuren, 2004)

Để sử dụng các cuộc điều tra một cách hiệu quả nhất, điều quan trọng là phải hiểu rằng một bảng câu hỏi là một trong những yếu tố của một quá trình bắt đầu với việc xác định mục tiêu và kết thúc với dữ liệu phân tích và báo cáo kết quả (Dillman, 2000) Việc thiết kế điều tra tổng thể yêu cầu ở các nhà nghiên cứu một cách tiếp cận toàn diện bằng cách xem xét tất cả các khía cạnh của quá trình khảo sát Khi làm như vậy, làm tăng khả năng thu thập dữ liệu đầy đủ, giải quyết mục tiêu của nghiên cứu trong khi cân bằng thời gian và hạn mức chi phí

Nhà nghiên cứu cần thu thập dữ liệu và phân tích chúng để kiểm định giả thuyết về các quy luật này Chúng ta có thể chia cách thức thu thập dữ liệu để kiểm định mô hình nghiên cứu và giả thuyết (quy luật) thành ba nhóm chính (1) dữ liệu đã có sẵn, (2) dữ liệu chưa có sẵn, (3) dữ liệu chưa có trên thị trường (Nguyễn Đình Thọ, 2012)

2.2 Các hình thức và công cụ khảo sát dữ liệu truyền thống

Phương pháp truyền thống để thực hiện các cuộc điều tra bao gồm phỏng vấn mặt đối mặt, phỏng vấn qua thư tự điền và điện thoại phỏng vấn

Trang 17

Công cụ thu thập dữ liệu trong nghiên cứu là bảng câu hỏi Có hai dạng bảng câu hỏi chính: (1) bảng câu hỏi chi tiết dùng trong thu thập dữ liệu trong nghiên cứu định lượng, (2) dàn bài hướng dẫn thảo luận nhóm trong nghiên cứu định tính Trong qui trình thiết kế bảng câu hỏi có thể được chia thành 8 bước như sau: (1) Xác định cụ thể

dữ liệu cần thu thập, (2) xác định dạng phỏng vấn, (3) đánh giá nội dung câu hỏi, (4) xác định hình thức trả lời, (5) xác định cách dùng thuật ngữ, (6) xác định cấu trúc bảng câu hỏi, (7) xác định hình thức bảng câu hỏi, (8) thử lần 1 => sửa chữa => bản nháp cuối cùng (Nguyễn Đình Thọ, 2012)

Có 4 dạng phỏng vấn chính dùng trong nghiên cứu, đó là: phỏng vấn (1) trực diện, (2) qua điện thoại, (3) gửi thư và (4) thông qua mạng Internet (bao gồm thư điện tử e-mail)….Phỏng vấn trực diện có nhiều ưu điểm Do phỏng vấn viên tiếp xúc trực tiếp người trả lời nên có thể kích thích sự trả lời, giải thích các câu hỏi mà người trả lời chưa hiểu hoặc hiểu sai Như vậy suất trả lời và suất hoàn tất của bảng câu hỏi sẽ cao (cao nhất trong ba dạng phỏng vấn) Tuy nhiên, dạng phỏng vấn này cũng có một số nhược điểm Một là sự hiện diện của phỏng vấn viên có thể làm ảnh hưởng đến các trả lời của đối tượng phỏng vấn Hai là chi phí cho dạng phỏng vấn này rất cao Hơn nữa nếu việc quản lý không chặt chẽ có khả năng phỏng vấn viên sẽ tự điền vào bảng câu hỏi Khi thiết kế bảng câu hỏi, dạng phỏng vấn này không đòi hỏi mức độ chi tiết cao như phỏng vấn qua thư và điện thoại Hơn nữa, dạng phỏng vấn này cho phép phỏng vấn viên sử dụng các trợ vấn cụ khi cần thiết (Nguyễn Đình Thọ, 2012)

Phỏng vấn qua điện thoại giúp giảm chi phí phỏng vấn hơn so với dạng phỏng vấn trực diện Tuy không trực tiếp tiếp xúc với người trả lời như trong dạng phỏng vấn trực diện nhưng phỏng vấn viên vẫn có khả năng giải thích, kích thích sự hợp tác của người trả lời mà ít làm ảnh hưởng đến cách trả lời của họ Suất trả lời và suất hoàn tất ở dạng phỏng vấn bằng điện thoại tuy không bằng dạng phỏng vấn trực diện nhưng cũng khá cao Tuy nhiên, trong những thị trường mà đối tượng không có điện thoại thì không thể

Trang 18

dùng dạng phỏng vấn này Bảng câu hỏi cho dạng phỏng vấn qua điện thoại đòi hỏi mức độ chi tiết cao hơn so với dạng phỏng vấn trực tiếp Phỏng vấn viên chỉ có thể giải thích bằng lời chứ không thể dùng các trợ vấn cụ (Nguyễn Đình Thọ, 2012)

Phỏng vấn bằng cách gửi thư đến đối tượng nghiên cứu để họ tự đọc các câu hỏi và trả lời chúng đòi hỏi cao nhất về mức độ chi tiết và rõ ràng của bảng câu hỏi Nếu bảng câu hỏi không rõ ràng, chi tiết và dễ hiểu, người trả lời sẽ không hiểu và hiểu sai câu hỏi Suất trả lời trong dạng phỏng vấn này rất thấp và thời gian thu thập thường kéo dài nên ít được dùng trong nghiên cứu ứng dụng (nghiên cứu để ra quyết định kinh doanh như nghiên cứu thị trường) Tuy nhiên, đây là dạng phỏng vấn phổ biến trong nghiên cứu khoa học hàn lâm vì nó có một số ưu điểm Một là nếu suất trả lời cao thì chi phí

sẽ thấp Hơn nữa, các trả lời không bị tác động bởi sự hiện diện của phỏng vấn viên (Nguyễn Đình Thọ, 2012)

Sự khác biệt quan trọng nhất trong bốn phương pháp này là tỷ lệ phản hồi Do tỷ lệ phản hồi thấp của các cuộc điều tra gửi thư, chúng là dạng yếu nhất từ quan điểm chọn mẫu Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu có giới hạn thời gian, tiền bạc, và nhân lực vẫn có thể thích một cuộc điều tra gửi thư Các cuộc điều tra gửi thư có thể hữu ích trong việc đặt câu hỏi nhạy cảm (ví dụ, câu hỏi về những khó khăn trong hôn nhân hoặc tình hình tài chính), bởi vì người trả lời sẽ không cảm thấy xấu hổ do không phải đối diện với người phỏng vấn

2.3 Khảo sát trực tuyến

Ngày nay, khảo sát trực tuyến nhanh chóng trở thành phương pháp ưu tiên để thực hiện khảo sát dựa trên nghiên cứu thị trường Theo tổ chức ESOMAR(2007), nghiên cứu trực tuyến chiếm 20% tổng chi phí thu thập dữ liệu Tuy nhiên, các cuộc điều tra dựa trên Internet cũng mắc phải vấn đề tỷ lệ phản hồi như các dạng khảo sát khác Tỉ lệ đáp ứng nói chung cũng không cao hơn, và thường xuyên thấp hơn nhiều so với hình thức gởi thư truyền thống (Roster et al, 2007)

Trang 19

Việc sử dụng rộng rãi của máy tính cá nhân và sự phát triển của Internet đã tạo ra khả năng mới cho nghiên cứu khảo sát Khảo sát điện tử có thể được chuẩn bị theo hai cách: Cuộc khảo sát bằng Email và khảo sát bằng Web (Dillman,2000) Cuộc khảo sát bằng E-mail có thể được gửi vào địa chỉ email Người trả lời đánh dấu câu trả lời của

họ trong thư điện tử và gửi chúng trở lại cho nhà nghiên cứu Cách tiếp cận này dễ dàng cho các nhà nghiên cứu phát triển và người sử dụng dễ trả lời Tuy nhiên, phương pháp này không phù hợp với các cuộc điều tra dài hơn bốn hoặc năm trang Các cuộc khảo sát web được lưu trữ trên một máy chủ được kiểm soát bởi nhà nghiên cứu, người trả lời sẽ truy cập vào trang web (thường bằng cách nhấp chuột vào một liên kết e-mail) và trả lời bảng câu hỏi bằng cách chọn câu trả lời Cuộc điều tra web được lập trình bởi nhà nghiên cứu, một cuộc khảo sát Web được thiết kế tốt có thể tự động điều chỉnh số lượng câu hỏi theo từng đặc điểm người trả lời và do đó làm cho cuộc khảo sát có vẻ ngắn hơn, thú vị hơn, và hấp dẫn hơn

Theo ESOMAR (2007) có bốn phương pháp khảo sát được chấp nhận trong nghiên cứu trực tuyến bao gồm:

Các dạng khảo sát pop-up

Đây là một phương pháp tuyển dụng khá phổ biến trong các cuộc khảo sát trực tuyến được áp dụng bởi những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu trực tuyến Chúng bao gồm việc khởi xướng một cuộc khảo sát đối với một nhóm mẫu người sử dụng của một trang web và được gọi như thế bởi chúng thường xuất hiện trên một cửa sổ mới – thứ bất ngờ nhảy bật lên màn hình nhằm gây chú ý cho người sử dụng Khảo sát được tiến hành bởi chính trang web đó như một cách chọn mẫu những người sử dụng để quyết định hồ sơ và/hoặc mức độ hài lòng, hoặc bởi một quảng cáo trực tuyến Đối với trường hợp quảng cáo trực tuyến, chúng thường bao gồm các cuộc khảo sát không liên quan đến trang web được khởi xướng đó

Trang 20

Thu thập qua các trang web/các cuộc thăm dò ý kiến

Ngày nay, nhằm kích thích sự truy cập nhiều trang web chứa đựng đường dẫn đến các cuộc thăm dò ý kiến hài hước nhằm kích thích sự tương tác với người truy cập Lúc đầu, người ta cho rằng đây cũng chỉ là một phương pháp đơn giản để sử dụng cho các cuộc khảo sát Tuy nhiên, những kỹ thuật như vậy không chỉ có tỷ lệ phản hồi rất thấp

mà còn thiếu tính kiểm soát chặt chẽ trong việc chọn mẫu

Khảo sát qua thư điện tử của khách hàng

Ngày càng có nhiều cuộc khảo sát được tiến hành trực tiếp với khách hàng thông qua hình thức gởi đến khách hàng một đường dẫn đến một nghiên cứu Các công ty đã ưu tiên thu thập các địa chỉ thư điện tử vào cơ sở dữ liệu của họ Cách này cũng được hỗ trợ bởi sự thâm nhập Internet ngày càng tăng với hơn 50% tại các thị trường nghiên cứu quan trọng nhất thế giới Cách này không chỉ an toàn khi chọn mẫu mà còn nhận được phản hồi cao

Các nhóm đối tượng điều tra trực tuyến

Nghiên cứu trực tuyến bị kìm hãm do thiếu mẫu Chưa có mà có lẽ cũng không không bao giờ có, ít nhất là trong tương lai gần sẽ có bất kỳ cơ sỡ dữ liệu đáng tin cậy nào để chọn mẫu Do đó các nhà tiên phong cần phải tạo ra các nhóm đối tượng điều tra trực tuyến (Comley, 1996) Các nhóm đối tượng điều tra này đã hình thành và hiện đang cung cấp mẫu cho các thị trường phát triển Các nhóm đối tượng điều tra chuyên ngành được hình thành để hỗ trợ nghiên cứu trong các lĩnh vực như các bác sĩ và các nhà kinh doanh

2.3.1 Ưu và nhược điểm của khảo sát trực tuyến

2.3.1.1 Ưu điểm của khảo sát trực tuyến

Các ưu điểm quan trọng của khảo sát trực tuyến có thể kể đến bao gồm: tiết kiệm chi phí, chất lượng dữ liệu cao, tốc độ nhanh, đạt được số lượng mẫu lớn một cách dễ

Trang 21

dàng, vượt qua khoảng cách về địa lý, ưu thế về công nghệ tin học, linh hoạt về thời gian và địa điểm

Tiết kiệm chi phí

Khảo sát trực tuyến yêu cầu nguồn lực tài chính tối thiểu và quy mô của cuộc khảo sát không gắn với tài chính, tức là khảo sát quy mô lớn hơn không yêu cầu nguồn tài chính lớn hơn các cuộc điều tra nhỏ Chi phí liên quan đến cuộc điều tra thư tín thường là chi phí gửi và nhận thư trả lời, sao chép và nhập dữ liệu, tất cả hoàn toàn tự động trong các cuộc điều tra trực tuyến Hơn nữa, câu hỏi tương ứng có thể được lập trình để tự động sắp xếp dữ liệu phù hợp với các phần mềm phân tích (SPSS, SAS, Excel, vv) Điều này thêm vào các lợi thế tiết kiệm thời gian khảo sát và tránh tất cả các lỗi dữ liệu đầu vào liên quan đến sao chép Wygant và Lindorf (1998) ước tính rằng ngân sách cho việc quản lý điện tử bằng 1/6 chi phí của bưu điện hành chính, cho phép hai nhà nghiên cứu trong vòng một năm để thực hiện 27 cuộc điều tra điện tử, liên quan đến hơn 50.000 câu hỏi trong một cộng đồng dân số khoảng 35.000 Sự không tốn kém của cuộc khảo sát trực tuyến đã được xác nhận trong một phạm vi nghiên cứu rộng Cuộc phỏng vấn

trực tuyến có thể cung cấp các khoản tiết kiệm chi phí lớn Thứ nhất, không có nhu cầu một ngân sách cho việc đi lại Thứ hai, không có cần phải trả tiền cho chi phí mã hoá

và nhập dữ liệu do cuộc phỏng vấn trực tuyến tự động sắp xếp dữ liệu Tất cả những khó khăn thực tế của việc ghi chép dữ liệu đều tránh được Bảng dữ liệu này có thể được chuyển đổi vào một tài liệu văn bản và dễ dàng thao tác ở giai đoạn phân tích Tuy nhiên, một số chi phí phi truyền thống có thể phát sinh cho người phỏng vấn trực tuyến và sẽ được thảo luận ở phần “nhược điểm”

Nhiều gánh nặng hành chính của việc gửi và nhận được bảng câu hỏi, cũng như nhập

dữ liệu, được giảm đáng kể Ngoài ra, ngay khi các quan sát cuối cùng cho một nghiên cứu được thu thập, các nhà nghiên cứu ngay lập tức có tất cả các dữ liệu được lưu trữ trong một cơ sở dữ liệu (Wilson và Laskey 2003)

Trang 22

Chất lượng dữ liệu cao

Schaefer và Dillman (1998) kết luận rằng các cuộc điều tra e-mail cung cấp chi tiết hơn

và thông tin toàn diện hơn so với cuộc điều tra thư tín Nghiên cứu của họ phát triển phương pháp luận khảo sát trực tuyến cho thấy 69,4% người trả lời e-mail hoàn thành 95% của cuộc khảo sát trong khi chỉ có 56,6% người trả lời thư hoàn thành 95% của cuộc khảo sát Hơn nữa, khảo sát email cung cấp câu trả lời dài cho những câu hỏi mở với trung bình trên 40 từ, trong khi câu trả lời trả lời thư tín trung bình là 10 từ

Tốc độ nhanh

Khảo sát trực tuyến có thể được quản lý một cách hiệu quả về thời gian, giảm thiểu thời gian cần để đưa một cuộc khảo sát vào vận hành và thu thập dữ liệu Kannan et al (1998) kết luận rằng tốc độ và phạm vi toàn cầu của Internet cho phép truy cập thời gian thực tương tác với các nhóm người trả lời đa dạng về mặt địa lý và thông tin máy chủ dịch vụ Interent

Theo Sheehan & McMillan (1999) thời gian phản hồi trong các cuộc điều tra e-mail ngắn hơn (trung bình là 5,59 ngày) so với thời gian cần thiết cho các cuộc điều tra thư tín (trung bình là 12,21 ngày)

Ronald et al (2002) kết luận rằng: “trong khi chắc chắn là thời gian phân phối của một cuộc khảo sát dựa trên Internet là nhanh hơn so với cuộc khảo sát bằng thư, không nhất thiết tốc độ chung của cuộc khảo sát sẽ ngắn hơn đáng kể trong cả quá trình Hai điểm

có liên quan: (1) cải thiện đáng kể chỉ có thể với một quá trình hoàn toàn bằng điện tử,

mà hiện nay chỉ có thể cho nhóm dân số đặc biệt, và, (2) thậm chí khi tổng dân số đều

có thể tham gia khảo sát bằng hình thức điện tử thì tư liệu nghiên cứu cũng không có nhiều thông tin, ví dụ như không có thông tin về độ dài của thời gian tiến hành cần thiết để đạt được tỉ lệ trả lời cụ thể”

Trang 23

Vượt qua khoảng cách địa lý

Phỏng vấn trực tuyến hiện nay có cơ hội phỏng vấn cá nhân hoặc nhóm người phân tán rộng về địa lý, mà không có các ràng buộc truyền thống của ngân sách đi lại và chi phí Một cuộc phỏng vấn trực tuyến có trụ sở tại Vương quốc Anh có thể tiến hành phỏng vấn bất cứ nơi nào trên thế giới mà không cần phải xem xét các chi phí đi lại hoặc bố trí một địa điểm phỏng vấn phù hợp Nó không cần sắp xếp để di chuyển hoặc thời gian

đi lại cho phép Điều này có thể là rất quan trọng để những người tham gia có thể bị hạn chế về không gian, chẳng hạn như người già, những người bị hạn chế việc đi lại và cha mẹ của trẻ sơ sinh (O'Connor và Madge,2001)

Linh hoạt về thời gian và địa điểm

Theo Morgan (1988) và Krueger (1994) người phỏng vấn trực tuyến thì không cần phải sắp xếp một địa điểm, mỗi cá nhân có thể tham gia bất cứ nơi nào thuận tiện và tạo điều kiện thuận lợi của cuộc phỏng vấn trực tuyến chỉ yêu cầu truy cập được vào

Internet Vì vậy, các cuộc phỏng vấn ảo ít có nhu cầu tổ chức, các nhà nghiên cứu không cần phải tìm kiếm một địa điểm đáp ứng được nhiều yêu cầu

Khảo sát trực tuyến cung cấp tiện lợi bằng nhiều cách Người trả lời có thể trả lời vào một thời điểm thuận tiện cho bản thân Họ có thể cần nhiều thời gian để trả lời các câu hỏi cá nhân Như Hogg (2003) ghi chú, thay vì khó chịu vào một thời điểm bất tiện với một cuộc khảo sát qua điện thoại, một người có thể trả lời một cuộc khảo sát trực tuyến bất cứ khi nào họ cảm thấy thuận tiện

Ưu thế về công nghệ tin học

Khảo sát trực tuyến đã đi một chặng đường dài từ đơn giản, dựa trên văn bản, e-mail các cuộc điều tra của những năm 1980 đến công nghệ hiện nay Người trả lời có thể click vào một đường dẫn URL được gửi bằng e-mail và được đưa đến một công cụ

Trang 24

khảo sát trên web khảo sát có tính năng phong phú, trực quan và mạnh mẽ, hoặc trả lời trực tiếp một cuộc khảo sát e-mail nhập câu trả lời theo hướng dẫn Tingling et al (2003) kết luận rằng công nghệ internet không chỉ cung cấp sự kiểm soát và tính linh hoạt về các đối tượng hoặc các thông tin được trình bày, chúng cũng có thể được sử dụng để giảm thiểu sự thiên vị, hiển thị hoàn toàn ngẫu nhiên hơn so với các cuộc điều tra giấy

Tóm lại, những ưu điểm của các cuộc điều tra trực tuyến là: Nguồn lực tài chính rất thấp, thời gian phản hồi ngắn, nhà nghiên cứu kiểm soát được mẫu, dữ liệu có thể được nạp trực tiếp vào các phần mềm phân tích dữ liệu, do đó tiết kiệm thời gian và tài nguyên liên quan đến quá trình nhập dữ liệu

2.3.1.2 Nhược điểm của khảo sát trực tuyến

Tỷ lệ phản hồi thấp

Một số nhà nghiên cứu đã kiểm tra tỷ lệ phản hồi thấp của nhiều cuộc điều tra trực tuyến Fricker và Schonlau (2002) nêu rõ một kết luận phổ biến là có bằng chứng hạn chế trong các tài liệu nghiên cứu rằng khảo sát trực tuyến nói chung có được tỉ lệ đáp ứng cao hơn so với các loại khảo sát khác Họ báo cáo phần lớn các kết quả cho thấy các cuộc khảo sát trực tuyến tốt nhất đạt được tỷ lệ đáp ứng bằng với các phương thức khác và đôi khi thấp hơn hẳn, và họ đề nghị nghiên cứu thêm về nguyên nhân của việc này

Ronald et al (2002) bắt đầu với kết quả nghiên cứu sử dụng web như là một chế độ phản hồi chính hoặc duy nhất với một trong hai cuộc tổng điều tra mẫu xác suất Bảng 2.1 được sắp xếp theo năm và cho thấy rằng cuộc điều tra nghiên cứu chỉ sử dụng Web chỉ đạt được tỷ lệ phản hồi khá khiêm tốn, ít nhất như tài liệu trong tư liệu nghiên cứu

Trang 25

Bảng 2.1:Tỷ lệ phản hồi khảo sát trên web sử dụng mẫu xác suất và điều tra thống kê

Khảo sát Kích thước

mẫu

Tỷ lệ phản hồi Tổng thể

đẳng

Jones and Pitt

Dillman et al

Dillman et al

Nguồn: Ronald D Fricker, Jr và Matthias Schonlau (2002)

Chất lượng bị nghi ngờ

Thiết kế một cuộc khảo sát về cơ bản liên quan đến việc đánh đổi giữa chất lượng, số lượng và chi phí của dữ liệu Khi mục đích chính của một cuộc khảo sát là để thu thập thông tin về tập hợp, thông tin là vô dụng trừ khi nó là chính xác và đại diện cho tổng thể Trong khi cuộc điều tra bị lỗi thường giảm độ chính xác của ước tính thống kê, một thiết kế khảo sát tốt tìm cách giảm tất cả các loại lỗi, bao gồm lấy mẫu, đại diện, không đáp ứng, và sai số đo lường (Groves,1989) Ngay cả khi một cuộc khảo sát được thực hiện qui mô như điều tra dân số, kết quả vẫn có thể bị ảnh hưởng do lỗi từ rất nhiều nguồn

Trang 26

Thư khảo sát bị xem là thư rác

Thư rác không mong muốn là một vấn đề lớn Vào tháng Năm năm 2004,

MessageLabs, một công ty an ninh mạng (www.messagelabs.com), thấy rằng 692 triệu trên 909 triệu thư điện tử (76%) được gửi đến khách hàng tại Hoa Kỳ của họ bị sàng lọc là thư rác Kết quả là, nhiều người trả lời khó lòng phân biệt giữa một cuộc điều tra hợp pháp và một thư rác Ngay cả khi một e-mail xuất phát từ một nguồn đáng tin cậy, không chắc rằng một số khách hàng sẽ bấm vào một liên kết đưa họ đến một trang web Càng ngày, các tin nhắn tiếp thị bị chặn ở cấp độ máy chủ dịch vụ thư điện tử (Bannan, 2003 trang 1)

Người trả lời thiếu kinh nghiệm

Mặc dù dân số Internet trở thành đại diện nhiều hơn, có thể vẫn còn khó khăn cho cuộc khảo sát do người trả lời không quen thuộc với các giao thức Internet Theo tổ chức Jupiter Research, vào năm 2002, những người đã sử dụng Internet hai năm hoặc ít hơn đại diện cho 13% dân số trực tuyến ở Thuỵ Điển, 21% ở Mỹ, 25% trong Vương quốc Anh, 28% ở Pháp, 33% ở Đức, 40% ở Ý, và 43% trong Tây Ban Nha Đến năm 2007, những con số này dự kiến sẽ giảm 5 đến 16% ở các nước này

Tính đại diện của mẫu

Cho đến gần đây, người sử dụng internet và e-mail không thực sự đại diện cho dân số quốc gia nói chung trên thế giới Sự thiếu tính đại diện đã được thảo luận rộng rãi Trong nhiều quốc gia, điều này đang thay đổi, Fricker và Schonlau (2002) nói rằng sự khác biệt giữa dân số thực tế và dân số trực tuyến nhanh chóng thu hẹp lại và có thể là không đáng kể trong tương lai gần Truy cập internet vẫn còn rất khác nhau ở từng quốc gia

Trang 27

2.3.2 Các so sánh với các phương pháp khác

Evan and Mathur (2005) đối chiếu cuộc khảo sát trực tuyến với các định dạng khảo sát khác Trong những năm qua, đã có rất nhiều bằng chứng nghiên cứu về các đặc tính của ba phương pháp chi phối cuộc điều tra: điều tra thư tín, cuộc khảo sát cá nhân và khảo sát qua điện thoại Ít nghiên cứu so sánh từng định dạng khảo sát với khảo sát trực tuyến

Trong phần này, chúng ta so sánh các thuộc tính của khảo sát trực tuyến với ba phương pháp điều tra chính khác

Bởi vì các cuộc điều tra trực tuyến và thư tín là tự quản lý và có nhiều điểm tương đồng Có sự phát triển các nghiên cứu về chủ đề này Archer (2003) thực hiện tốt công việc tổng hợp những lợi thế và bất lợi tiềm năng của các cuộc khảo sát trực tuyến so với các cuộc điều tra thư tín

Lợi thế trực tuyến: xóa bỏ hoàn toàn giấy tờ, chi phí bưu chính, gởi thư đi, chi phí nhập

dữ liệu, giảm thời gian thực hiện, chi phí khảo sát giảm vì hệ thống điện tử thu thập dữ liệu được phát triển một lần, hiển thị dữ liệu và lập bảng đồng thời vào lúc hoàn thành cuộc điều tra, tính sẵn sàng của dữ liệu ở định dạng đồ hoạ và số dễ dàng để gửi thư

Trang 28

nhắc nhở đến những người không trả lời và dễ dàng đưa dữ liệu vào chương trình phân tích dữ liệu

Bất lợi trực tuyến: không phải mọi người đều nối mạng, vì vậy cuộc điều tra trực tuyến

sẽ không làm việc với một vài thành phần trong dân số biết sử dụng máy tính hạn chế, cấu hình màn hình khác nhau, khó khăn trong việc lấy mẫu địa chỉ e-mail, và các quyết định và nhanh hơn, đôi khi tức thời, quyết định không trả lời

Đây là một phần qua những phát hiện từ nghiên cứu so sánh khảo sát trực tuyến và thư tín Ngoại trừ tỷ lệ trả lời khảo sát, kết quả khá phù hợp với nhau:

Trong một đánh giá của tám nghiên cứu được công bố, Sheehan và McMillan (1999) chỉ ra rằng khảo sát e-mail có tỷ lệ phản hồi đôi khi lớn hơn và đôi khi thấp hơn, phần lớn là do các mẫu được lựa chọn và chủ đề cuộc điều tra Trong tất cả các trường hợp, thời gian phản hồi ngắn hơn với các cuộc khảo sát trực tuyến

Griffis et al (2003) đã khảo sát các nhà quản lý và nhà bán lẻ thuộc Hội đồng Quản lý hậu cần (Council of Logistics Management) Họ tìm thấy rằng các bảng câu hỏi trực tuyến có tỷ lệ trả lời cao hơn, phản hồi nhanh hơn, chi phí thấp hơn và chất lượng của

McDonald và Adam (2003) đã khảo sát các thành viên của một câu lạc bộ bóng đá kiểu

Úc Họ nhận thấy rằng các cuộc khảo sát trực tuyến có tỷ lệ trả lời thấp hơn, nhưng ít tốn kém hơn và tiến hành nhanh hơn Các tác giả cũng kết luận rằng người trả lời trực tuyến ít có khuynh hướng chọn câu trả lời ở hai thái cực của thang đo

Trang 29

Ranchhod và Zhou (2001) khảo sát các giám đốc điều hành Anh quốc Họ tìm thấy người trả lời trực tuyến hiểu biết về Internet nhiều hơn và có nhiều năm kinh nghiệm

sử dụng e-mail

Kaplowitz et al (2004) đã khảo sát sinh viên đại học, sau đại học tại Đại học bang Michigan Họ phát hiện ra rằng người trả lời khảo sát e-mail trẻ hơn nhiều so với người trả lời thư truyền thống Họ cũng phát hiện ra rằng các cuộc điều tra e-mail trước một thông báo thư tín có tỷ lệ phản hồi cao hơn đáng kể so với cuộc điều tra e-mail đơn lẻ

Khảo sát cá nhân

Các cuộc điều tra cá nhân có nhiều thế mạnh chủ chốt, bao gồm cả tương tác cá nhân, hướng dẫn rõ ràng, câu hỏi đa dạng, linh hoạt và khả năng thích ứng, sử dụng các kỹ thuật thăm dò, khả năng sử dụng các kích thích vật lý, khả năng quan sát trả lời, và kiểm soát môi trường khảo sát Điểm yếu tiềm năng lớn bao gồm thiên vị phỏng vấn, chi phí tính trên từng quan sát, mẫu kích thước hạn chế, giới hạn địa lý, thuận tiện lấy mẫu với tỷ lệ phản hồi có vấn đề (chẳng hạn như các cuộc điều tra trung tâm mua sắm),

áp lực thời gian trả lời, và khó khăn trong việc thu thập nhân khẩu học (Malhotra, 2004)

Hiện đã có khá ít kinh nghiệm nghiên cứu tương phản hành vi thực tế của người trả lời

để điều tra trực tuyến với các hành vi đơn thực tế khảo sát cá nhân Đây là những điểm nổi bật từ hai nghiên cứu:

(1) Scholl et al (2002) khảo sát người tiêu dùng trong ba quốc gia gồm Vương quốc Anh, Thuỵ Điển, và Singapore bằng cách sử dụng phương thức mặt đối mặt và các nhóm trực tuyến Họ thấy rằng quan sát trực tuyến nhanh hơn và ít tốn kém Tuy nhiên, khảo sát thu thập từ phương thức mặt đối mặt có thêm thông tin và cho phép thăm dò người trả lời nhiều hơn, mặc dù kết quả tổng thể từ hai định dạng là tương tự

Trang 30

(2) Curasi (2001) khảo sát sinh viên đại học Mỹ sử dụng cuộc phỏng vấn mặt đối mặt

và các cuộc điều tra e-mail Cô kết luận rằng cuộc khảo sát trực tuyến có lợi thế như là một kỹ thuật thu thập dữ liệu bổ sung Khảo sát trực tuyến có thể là khả thi để thay thế cho các cuộc điều tra đối mặt để phải đối mặt nếu thời gian, hạn chế chi phí, hoặc giới hạn địa lý của nghiên cứu

Các cuộc điều tra điện thoại

Các cuộc điều tra điện thoại nói chung có thế mạnh, bao gồm cả khả năng của lấy mẫu ngẫu nhiên, bao phủ về địa lý, tiết kiệm chi phí từ điện thoại tập trung và các nhà cung cấp dịch vụ gọi điện thoại giảm giá, kiểm soát quá trình khảo sát, kịp thời và tốc độ hoàn thành, tương tác cá nhân, và công nghệ cải tiến cho phép người phỏng vấn rằng

dễ dàng nhập dữ liệu và giảm thiểu sai sót Điểm yếu lớn nhất là sự từ chối của nhiều đáp viên, dẫn đến tỉ lệ đáp ứng thấp và mẫu không đại diện, cần phải ngắn gọn, thiếu

sự tin tưởng của người trả lời thường liên quan đến bản chất vô hình của người phỏng vấn, và không có khả năng sử dụng công cụ trực quan (Colombo, 2000; Goldstein và Jennings, 2002; Groves và Mathiowetz, 1984; Peterson et al, 2003; Struebbe et al, 1986; Tyebjee, 1979)

Dưới đây là ba kết quả từ các nghiên cứu nghiên cứu hạn chế so sánh hành vi người trả lời cuộc khảo sát trực tuyến và điện thoại:

(1) Jeff Miller của công ty Burke Inc báo cáo rằng trong nhiều nghiên cứu trực tuyến câu trả lời ít có khả năng trả lời ở những thái cực của thang đo hơn là người trả lời điện thoại (James 2001)

(2) Rubin (2000) tìm thấy rằng tỉ lệ phản hồi tổng thể cho các cuộc điều tra điện thoại của Hoa Kỳ giảm từ 40% năm 1990 xuống còn 14% vào năm Ông thấy rằng tỷ lệ chọn khảo sát trực tuyến là 60% vào năm 2000

Trang 31

(3) Roster et al (2004) đã tiến hành khảo sát trực tuyến và điện thoại bằng cách sử dụng một cơ sở dữ liệu từ một nhà cung cấp thương mại Trong số các kết quả khác nhau của họ, người trả lời điện thoại thì lớn tuổi hơn người trả lời khảo sát trực tuyến

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia khảo sát trực tuyến

Một cuộc phỏng vấn điều tra thành công không chỉ dựa vào sự hợp tác của người được hỏi và phỏng vấn viên, và dựa vào khả năng lựa chọn người để hỏi của người phỏng vấn Một cuộc phỏng vấn điều tra là kết quả của rất nhiều yếu tố, hữu hình và vô hình, việc hợp tác tốt trước khi người được phỏng vấn và người phỏng vấn gặp nhau Để quản lý tốt một cuộc điều tra cần phải hiểu rõ tất cả các nhân tố này, phân tích chúng, xác định yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất trong mỗi môi trường, và đào tạo các phỏng vấn viên để họ có thể xử lý tốt các yếu tố đó nhằm đem lại kết quả cao nhất cho cuộc khảo sát (Iarossi 2009)

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế điều tra đòi hỏi phải có nhiều lựa chọn khác nhau về phương pháp điều tra, đơn vị điều tra và tính cách của phỏng vấn viên Những đặc điểm chính của phương pháp điều tra có ảnh hưởng tới việc tham gia điều tra là phương thức điều tra ban đầu, liên lạc cá nhân đầu tiên, độ dài của cuộc phỏng vấn, và chủ đề của cuộc điều tra Các điều tra viên sử dụng những chiến lược khác nhau như một phương thức liên lạc đầu tiên nhằm thúc đẩy việc tham gia điều tra Các chiến lược này liên quan đến việc sử dụng những bức thư giới thiệu, tiền thưởng nhằm khuyến khích, cung cấp sách hoặc các tài liệu khác, và thời điểm thực hiện liên lạc (Groves et al 1992)

Vai trò của thư giới thiệu

Vẫn chưa có một kết luận rõ ràng về việc sử dụng các bức thư giới thiệu có đem lại kết quả quả tích cực đối với việc thu hút tham gia điều tra hay không Dillman et al (1976)

đã cho thấy những bức thư này làm tăng thêm sự hưởng ứng của người dân, trong khi

Trang 32

Singer et al (2000) lại cho rằng chúng không có ảnh hưởng đáng kể nào Bằng chứng

từ lược khảo tài liệu cho thấy số lần người trả lời được liên lạc có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định tham gia điều tra của người được phỏng vấn (Goyder,1985; Heberlein

và Baumgartner,1978) Như vậy, nên khuyến khích việc sử dụng những bức thư để giới thiệu với người được phỏng vấn về cuộc điều tra kinh doanh sắp tới và để tạo cơ sở pháp lý cho cuộc điều tra, nhưng không nên để công việc này thay thế cho chuyến viếng thăm cá nhân của phỏng vấn viên

Lời chào

Levine (2003) cho rằng nếu nhà tài trợ của một cuộc khảo sát được xác minh trước (như trường hợp với cuộc điều tra này của Stanford), phản ứng sẽ cao hơn trong số những người mà nhà tài trợ có mối quan hệ gần nhất (trong trường hợp này, các nhà tài trợ và thành viên Hội cựu sinh viên) Điều này có thực sự đúng bất kể lời chào hỏi nào được sử dụng

Mặc dù phụ nữ và những người không phải là kỹ sư có thể sử dụng web ít hơn nam giới và kỹ sư, khảo sát này chỉ ra rằng họ chỉ có khả năng đáp ứng với một cuộc khảo sát web (giả định các cuộc điều tra nổi bật là như nhau với họ) Tuy nhiên, sự phản hồi với một cuộc điều tra web của các nhóm "trẻ" cao hơn vài phần trăm so với nhóm

"trung niên" và "lớn tuổi", mặc dù sự khác biệt có thể không có ý nghĩa thống kê Vài điểm phần trăm phản hồi cao hơn với những lời chào cá nhân hơn là lời chào hỏi chung chung - cả hai tổng thể và trong hầu hết các nhóm nhân khẩu học Vì vậy, nếu thời gian cộng thêm, nỗ lực, và chi phí không quá nặng nề, nên tăng giá trị cá nhân hoá lời chào khi có thể Hầu hết những khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, do đó, nếu

cá nhân hoá là quá khó khăn hoặc không thể, phản hồi tổng thể có thể không bị ảnh hưởng nhiều với một lời chào chung chung

Trang 33

Tuy nhiên, trong các nhóm nhân khẩu học nhất định, một số lời chào cá nhân có tác dụng tốt hơn so với những nhóm khác và tỉ lệ phản hồi cao hơn đáng kể khi điều tra trong quần thể đồng nhất cụ thể:

Khảo sát được tiến hành giữa nhóm người lớn tuổi và những người trẻ tuổi có thể thu được đáp ứng cao nhất nếu họ sử dụng một lời chào chính thức cá nhân hoá (Ông Bond thân mến)

Khảo sát được tiến hành giữa các kỹ sư và người dân về mặt kỹ thuật theo định hướng cũng có thể thu được đáp ứng cao nhất nếu họ sử dụng một lời chào chính thức cá nhân hoá (Ông Bond thân mến)

Cuộc điều tra được tiến hành mà nhà khảo sát và người trả lời tiềm năng có một mối quan hệ yếu hơn có thể thu được phản hồi cao nhất nếu họ sử dụng một lời chào cá nhân quen thuộc (Chào James)

"quan tâm" chủ đề dễ dàng bị giảm khi các ưu đãi tiền tệ được cung cấp, và (3) tác động quan tâm về hợp tác đến việc phớt lờ Các dữ liệu từ một thử nghiệm ba yếu tố kiểm tra tác động về hợp tác với cuộc điều tra về (a) năm chủ đề khác nhau, bằng cách

sử dụng (b) mẫu từ năm quần thể khác nhau đã được biết đến thuộc tính liên quan đến các chủ đề, (c) áp dụng hai điều kiện ưu đãi khác nhau

Trang 34

Groves et al (2004) đã thử nghiệm xem hiệu ứng quan tâm đến chủ đề có thể là một trong những nguyên nhân phổ biến của việc phớt lờ không phản hồi trong các cuộc điều tra hộ gia đình Đó là, người ta hợp tác với tỷ lệ cao hơn với khảo sát có các chủ

đề mà họ quan tâm Các tác giả tạo nên một thực nghiệm để xác định tập hợp các đặc điểm của người quan tâm đến một chủ đề cụ thể và sau đó yêu cầu họ tham gia vào một cuộc khảo sát về chủ đề đó Thách thức đầu tiên của thiết kế được lựa chọn một chủ đề khảo sát mà tất cả các thành viên của dân số cụ thể có cùng quan tâm Thách thức thứ hai là viết một giới thiệu cuộc khảo sát (có giá trị bên ngoài cao) và làm nổi bật chủ đề của cuộc khảo sát

Đánh giá từ những hành vi đối với liên lạc đầu tiên giới thiệu khảo sát, người hợp tác ở mức độ cao hơn với các chủ đề họ quan tâm Các chủ đề được quan tâm có tỷ lệ hợp tác cao hơn 40% so với các chủ đề khác, dựa trên bốn mẫu sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm Với những kết quả này và trích dẫn từ lý thuyết đòn bẩy, chúng ta có thể tạo ra 40% cao hơn bằng cách giới thiệu chủ đề khảo sát bằng một khía cạnh nổi bật Điều quan trọng là cần lưu ý các tác động tổng thể về tỉ lệ trả lời của những hiệu ứng suy giảm do không tiếp xúc được với người không trả lời, cũng như bởi các hiệu ứng vật lý, tâm lý và ngôn ngữ gây ra (Groves et al 2004)

2.4.2 Vấn đề tâm lý của người tham gia khảo sát

Yếu tố ảnh hưởng lớn đến thành công của một cuộc điều tra là trạng thái tâm lý của người được phỏng vấn Yếu tố này được nhìn nhận là một trong những vấn đề khó khăn nhất khi thực hiện một cuộc phỏng vấn Một nghiên cứu viên tài giỏi phải có khả năng nhận biết được ngay từ những giây phút đầu tiên của cuộc phỏng vấn những yếu

tố có thể tác động đến suy nghĩ của người được mời phỏng vấn đối với cuộc điều tra và

từ đó áp dụng chiến lược thuyết phục phù hợp nhất Khảo sát trực tuyến hoàn toàn thiếu vắng vai trò của người phỏng vấn trong các hoạt động này

Trang 35

Sáu quy tắc xã hội chính luôn tác động đến suy nghĩ của bất kỳ cá nhân nào khi quyết định có tham gia vào cuộc phỏng vấn hay không: sự đền đáp, tính nhất quán, sự kiểm chứng của xã hội, quyền lực, sự khan hiếm và sự yêu mến Quy tắc đền đáp cho thấy rằng bất cứ ai cũng cảm thấy phải có trách nhiệm đền đáp lại lòng tốt, quà tặng, lời mời, và những gì mình thích mà người khác tặng cho mình Cảm giác này đóng một vai trò quan trọng đối với phương pháp điều tra khi việc tham gia phỏng vấn được coi như là một hành động để đền đáp lại những khoản tiền thưởng, quà hoặc sự giúp đỡ

Sự đền đáp là cơ sở tâm lý để thực hiện biện pháp ưu đãi đối với những người có khả năng tham gia phỏng vấn Các nhà tâm lý học cũng phát hiện ra tố chất nhất quán bẩm sinh ở con người: một khi một người đã tự nguyện tham gia vào một việc nào đó thì người đó sẽ quyết tâm đeo đuổi đến cùng Nếu không anh ta hoặc cô ta sẽ là người có

tư duy không logic, không có lý trí, hoặc hay bị dao động Quy tắc tâm lý này tạo cơ sở cho việc trao tặng giấy khen cho những người tham gia hợp tác Tờ giấy khen như lời hứa hẹn của những người có khả năng sẽ tham gia phỏng vấn và các điều tra viên sẽ dùng chúng nhằm kêu gọi sự hợp tác từ phía những người mới tham gia

(Cialdini,1985)

Sự kiểm chứng của xã hội khiến người ta tin và ứng xử như mọi người khác bởi vì họ tin vào những gì mọi người cho là đúng Do vậy, càng có nhiều người tham gia điều tra thì những người tin vào sự kiểm chứng của xã hội sẽ càng hợp tác nhiều hơn

Ý thức về quyền lực là một yếu tố khác nữa đóng vai trò quan trọng trong suy nghĩ của người được mời tham gia phỏng vấn Dường như sẽ có nhiều người tham gia vào cuộc phỏng vấn hơn nếu dự án điều tra đó do một một cơ quan chức năng thực hiện (trong suy nghĩ của người được mời tham gia phỏng vấn) Điều này lý giải tại sao có một nhà tài trợ phù hợp là rất quan trọng Chính phủ được coi là một quan chức năng hợp pháp

và thành công hơn khi kêu gọi người dân tham gia điều tra

Trang 36

Sự khan hiếm là một quy tắc xã hội khác có thể đóng vai trò quan trọng khi khuyến khích mọi người tham gia phỏng vấn Người ta sẽ dễ dàng đồng ý hợp tác hơn nếu họ cho rằng cuộc điều tra là một cơ hội hiếm có Chiến lược này sẽ làm tăng giá trị và ý nghĩa của việc tham gia hợp tác điều tra và có thể đóng vai trò quan trọng đối với quyết định tham gia hợp tác của người được mời

Sự yêu mến là quy tắc xã hội khiến người ta đồng ý với yêu cầu của những người họ biết hoặc thích Ngoài yếu tố hình thức hấp dẫn (một cách rõ ràng), các yếu tố khác có ảnh hưởng đến tính liên kết và từ đó chấp thuận yêu cầu Những người được mời tham gia phỏng vấn sẽ sẵn sàng tham gia hợp tác hơn nếu người đề nghị họ tham gia là những người giống như họ, những người tán dương họ, những người mà họ quen biết,

và những người có liên quan đến họ

Rất nhiều nhà nghiên cứu lập luận rằng con người có ý thức bẩm sinh về lòng vị tha, điều này khiến họ giúp đỡ người khác khi cần (quy tắc trợ giúp) Ý thức bẩm sinh này thường được sử dụng một cách rõ ràng và hoàn toàn là để làm tăng số lượng người tham gia điều tra Tuy nhiên, quy tắc trợ giúp bị ảnh hưởng bởi trạng thái tâm lý của người được phỏng vấn tại thời điểm người đó được yêu cầu Do đó, tâm trạng của người được mời tham gia phỏng vấn phải tính đến khi tiếp cận với họ Trong khi sự giận dữ sẽ tạo ra sự bất lợi đối với việc thuyết phục người được mời tham gia hợp tác thì sự vui vẻ sẽ mang lại kết quả ngược lại Tâm trạng buồn bã có ảnh hưởng một cách

mơ hồ, tuỳ thuộc vào mức độ chi phí và lợi ích của cuộc điều tra mà người được mời tham gia phỏng vấn nhận thấy (Groves et al 1992)

Tất cả những yếu tố trên dẫn đến một kết luận là “những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp tác điều tra biến đổi tuỳ theo cá nhân” (Groves và MacGonagle

2001, trang 252) và như vậy, trong tất cả các trường hợp không thể có một bài mở đầu hay một lập luận đơn lẻ nào để đảm bảo mức độ cao nhất người được mời tham gia phỏng vấn sẽ hợp tác Để đạt tỷ lệ chấp thuận cao nhất, các điều tra viên nên điều chỉnh

Trang 37

cách tiếp cận ban đầu theo tình hình mà họ gặp, và phản ứng của những người được mời tham gia phỏng vấn sẽ quyết định việc chọn lựa các chiến thuật tiếp theo

(Atkinson,1971; Groves và Cooper,1996; Groves et al 1992)

2.4.3 Các vấn đề động cơ của người tham gia khảo sát

Han et al (2009) đã nghiên cứu vận dụng lý thuyết động cơ của việc tham gia khảo sát trên web Tại sao người ta tham gia vào nghiên cứu khảo sát? Tại sao họ không tham gia? Một số lý thuyết động lực đã được đề xuất khả năng có liên hệ đến các câu hỏi (Linsky,1975; Dillman, 1978, 2000; Yammarino et al 1991; Albaum et al 1996, 1998; Poon et al 2003; Evangelista et al 2008) Mục tiêu của nghiên cứu là để làm sáng tỏ

về một tập hợp con của các lý thuyết hàng đầu đã được đề xuất để hiểu tại sao mọi người tham gia nghiên cứu khảo sát Những lý thuyết này được hình thành là lý thuyết

về động cơ của con người, tức là không phải là tuổi tác, giáo dục, xã hội, hay văn hoá

cụ thể

2.4.3.1 Phần thưởng vật chất

Yếu tố duy nhất thường xuyên nhắc đến nhiều nhất là khuyến khích Nhìn chung, 12%

số người được hỏi cho biết một số khía cạnh của động cơ Khuyến khích dường như đóng một vai trò quan trọng trong thúc đẩy mọi người và như là một bù đắp cho chi phí thời gian và nỗ lực tham gia khảo sát

Có ba loại động cơ chính: các khoản tương đương tiền thông qua các trang web công

ty, phiếu quà tặng từ các nhà bán lẻ phổ biến hoặc xổ số, hứa hẹn tài chính hoặc phần thưởng Bennett (2000) đề xuất rằng “các ưu đãi phải có liên quan đến người nhận” trong khi Birnholtz et al (2004) cho rằng “tiền mặt là một động lực tốt hơn quà tặng cho một cuộc khảo sát trực tuyến, ngay cả với người trả lời công nghệ tinh vi” Điều này có thể là do những hạn chế nhận thức, chậm trả tiền hoặc giảm khả năng hiển thị phiếu quà tặng trực tuyến

Trang 38

Khuyến khích vật chất cho các cuộc điều tra trực tuyến không phải là dễ dàng phân phối như những ưu đãi điều tra bằng thư Không thể gửi một tờ 5 USD qua Internet hoặc để lôi kéo người trả lời tiềm năng với một màn hình hiển thị các mục xổ số như khi một cuộc điều tra đang được tiến hành trong một cửa hàng, cơ sở kinh doanh, hoặc trung tâm mua sắm Điều này không có nghĩa là ưu đãi không thể được sử dụng Trong thực tế, nghiên cứu cho thấy rằng ưu đãi có hiệu quả làm tăng tỉ lệ phản hồi các cuộc điều tra trực tuyến

Ưu đãi có thể được phân phối bằng một số cách khác nhau Chúng có thể được gửi qua đường bưu điện hay người trả lời có thể nhận một phiếu giảm giá hoặc phiếu quà tặng sau khi hoàn thành cuộc điều tra Một cách khác là chuyển cho người trả lời một mã số Những người này có thể nhận được giảm giá hoặc quà tặng miễn phí khi họ đăng nhập vào một trang web và nhập vào mã số đó Nếu cuộc khảo sát được đăng trên một trang web, và bạn tuyển dụng tham gia bằng cách gửi thư thông qua dịch vụ bưu chính, bạn

có thể gởi kèm ưu đãi trong thư Các ưu đãi được đưa ra cho mỗi người thường có giá trị tiền tệ thấp hơn so với ưu đãi cho các cuộc rút thăm trúng thưởng, và ưu đãi cho các cuộc điều tra ngắn hơn thường có giá trị tiền tệ thấp hơn so với ưu đãi cho các cuộc điều tra dài hơn

Một siêu phân tích thí nghiệm về khuyến khích thực hiện bởi Göritz (2005) cho thấy rằng biện pháp khuyến khích động viên mọi người bắt đầu một cuộc khảo sát Web Khuyến khích tăng xác suất một người trả lời một cuộc khảo sát lên 19% so với người không nhận được ưu đãi

Ưu đãi cũng làm tăng cơ hội mà người trả lời sẽ hoàn thành việc khảo sát hơn là bỏ 27% so với không có ưu đãi Göritz cũng phát hiện ra rằng cam kết ưu đãi phi tiền tệ dường như có hiệu quả hơn ở môi trường mạng hơn so với cuộc điều tra trên thực địa Trong một nghiên cứu độc lập, Göritz (2004) thấy rằng tỷ lệ phản hồi khi khuyến khích

là “điểm trung thành” cao hơn một chút (82,4%) so với tiền (78%) hoặc nữ trang

Trang 39

(78,6%) đã được xổ số Nếu “điểm trung thành” đã được cung cấp, tỷ lệ bỏ cuộc thấp hơn

Tiền thưởng nhằm khuyến khích tham gia điều tra có một ảnh hưởng tích cực đối với việc kêu gọi tham gia điều tra (James và Bolstein,1992; Singer et al 1998; Willimack

et al 1995) Ảnh hưởng này là nhỏ - tăng thêm 5% số người tham gia phỏng vấn trực tiếp – và đã được chứng minh chỉ có hiệu quả trong lần gặp đầu tiên (Willmack et al 1995) Mặc dù tiền thưởng nhằm khuyến khích tham gia điều tra dường như không bóp méo chất lượng dữ liệu (Singer et al 2000; Willmack et al 1995), nhưng các khoản tiền thực trả đã tạo ra những vấn đề trong nguyên tắc và thực tế Hơn nữa, việc sử dụng tiền để khuyến khích tham gia điều tra đã được chứng minh là phản tác dụng nếu việc tham gia không được đảm bảo trong lần gặp đầu tiên (James và Bolstein,1992;

Willmack et al 1995) Trong các cuộc điều tra kinh doanh, như là Điều tra môi trường đầu tư, thì nên sử dụng các biện pháp khuyến khích phi tiền tệ, như tặng sách và các tài liệu khác, trong đó nêu bật những lợi ích thực tế của cuộc điều tra đối với cá nhân trả lời phỏng vấn, nhấn mạnh việc sử dụng nguồn dữ liệu thu thập được và ảnh hưởng của các cuộc điều tra trước đó (Growe,1993)

2.4.3.2 Phần thưởng phi vật chất

Cung cấp ưu đãi phi vật chất cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ phản hồi Göritz (2005)

đã tiến hành ba thí nghiệm trực tuyến và lưu ý rằng khi một bản tóm tắt kết quả khảo sát đã được cung cấp thì tỉ lệ phản hồi cao hơn một chút so với trường hợp không cung cấp Tỷ lệ bỏ cuộc cũng giảm khi một bản tóm tắt dữ liệu được cung cấp

Thuyết phục người trả lời tiềm năng tham gia cuộc khảo sát sẽ được vui vẻ là một cách khác để tối đa hoá phần thưởng của mình để tham gia trong cuộc khảo sát Tất nhiên, sau đó bổn phận của bạn là đảm bảo rằng cuộc điều tra thực sự là thú vị

Trang 40

Người trả lời dự kiến cuộc khảo sát trực tuyến là "vui vẻ" và "thú vị hơn" Xem xét khuynh hướng của người trả lời xem các cuộc điều tra là "nhàm chán", "không thú vị",

và thậm chí là "một sự lãng phí thời gian" Khi yêu cầu mọi người trả lời trên Internet, nên lưu ý rằng có một chi phí cơ hội để trả lời, ví dụ có hàng ngàn các trang web thú vị khác thay vì điền vào bảng câu hỏi Điều này rõ ràng có thể ảnh hưởng đến sự sẵn sàng tham gia, đặc biệt là xem xét người trả lời tiềm năng có phải trả phí kết nối internet bằng tiền của mình Niềm vui đề cập đến chính là hình ảnh thiết kế, tính năng kỹ thuật, chủ đề khảo sát và từ ngữ Màu sắc, hình ảnh, thông tin phản hồi ngay lập tức trong biểu đồ hay đồ thị, một đồng hồ hiển thị tỷ lệ phần trăm hoàn thành, nhạc nền, hài hước, và chủ đề thú vị là cách để làm giảm sự nhàm chán làm một cuộc khảo sát và làm cho nó đáng giá hơn cho những người trả lời Tuy nhiên, khía cạnh niềm vui là một “con dao hai lưỡi”, một cuộc khảo sát quá thú vị có thể khuyến khích người trả lời không đủ điều kiện để tham gia, có khả năng làm mất giá trị các kết quả nghiên cứu

Các yếu tố liên quan tương tự như cam kết/sự tham gia của lý thuyết, cũng nhấn mạnh rằng kinh nghiệm, liên kết với các nhà nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu dẫn đến cảm giác trách nhiệm giúp đỡ với câu hỏi điều tra Người quan tâm hơn về một cuộc điều tra nếu nó là liên quan đến họ Như một người trả lời từng bình luận: "trừ khi khảo sát được thực hiện một cách rõ ràng liên quan đến người được khảo sát, nếu không thì có rất ít cơ hội hợp tác"

Tham gia khảo sát dự kiến lợi ích xã hội từ các cuộc điều tra Tuyên bố mục đích nghiên cứu là rất quan trọng về quyết định có hay không tham gia khảo sát Tuyên bố mục đích cần truyền đạt các lợi ích xã hội của cuộc khảo sát Hai vấn đề thường gặp là

sự thiếu hụt và sự mơ hồ Các thông tin phản hồi cho thấy rằng người trả lời yêu cầu một mục đích khảo sát nêu rõ, và thêm nữa thông tin cụ thể về mục đích của cuộc khảo sát cụ thể góp phần vào sự hiểu biết giá trị của cuộc khảo sát Một mức độ cao hơn của nhận thức giá trị xã hội cải thiện sự sẵn sàng tham gia trả lời

Ngày đăng: 30/12/2020, 17:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w