Xuất phát từ thực tế trên tác giả thực hiện đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn Tỉnh Bạc Liêu” nhằm khám phá và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÙI THỊ THU LAN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
T.P Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÙI THỊ THU LAN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẠC LIÊU
Chuyên ngành : Kế toán
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS Trần Thị Thanh Hải
T.P Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu này do chính tác giả thực hiện, các kết quả nghiên cứu chính trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thu Lan
Trang 4
MỤC LỤC TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỄU ĐỒ, ĐỒ THỊ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 4
1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 4
1.1.1 Nghiên cứu của Healy (1985) 4
1.1.2 Nghiên cứu của Whittred (1987) 5
1.1.3 Nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990) 6
1.1.4 Nghiên cứu của Colin R.Dey và cộng sự (2007) 7
1.1.5 Nghiên cứu của Cudia, Cynthia (2008) 7
1.1.6 Nghiên cứu của Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010) 8
1.1.7 Nghiên cứu của Christos Tzovas (2006) 9
1.2 Các nghiên cứu trong nước 11
1.2.1 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh (2014) 11
1.2.2 Nghiên cứu của Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015) 12
1.2.3 Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hà (2015) 13
1.2.4 Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012) 13
1.3 Nhận xét các nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận văn 18
1.3.1 Nhận xét về các nghiên cứu 18
1.3.2 Hướng nghiên cứu của luận văn 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 20
2.1 Chính sách kế toán 20
Trang 52.1.1 Khái niệm chính sách kế toán 20
2.1.2 Vai trò của chính sách kế toán 20
2.1.4 Các văn bản pháp lý liên quan đến chính sách kế toán hiện hành ở Việt Nam 20
2.2 Lựa chọn chính sách kế toán 22
2.2.1 Khái niệm lựa chọn chính sách kế toán 22
2.2.2 Mục tiêu của lựa chọn chính sách kế toán 22
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán 24
2.3.1 Nhân tố kế hoạch tiền thưởng cho nhà quản lý 24
2.3.2 Nhân tố mức vay nợ 25
2.3.3 Nhân tố khả năng vi phạm hợp đống vay nợ 25
2.3.4 Nhân tố thuế 26
2.3.5 Nhân tố quy mô của doanh nghiệp 27
2.3.6 Nhân tố nhu cầu thông tin của người sử dụng 27
2.3.7 Nhân tố trình độ của kế toán viên 28
2.4 Lý thuyết cơ bản về lựa chọn chính sách kế toán 31
2.4.1 Lý thuyết bất cân xứng thông tin 31
2.4.2 Lý thuyết ủy nhiệm 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 34
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Quy trình nghiên cứu 35
3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất và xây dựng thang đo 35
3.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 37
3.2.2 Xây dựng thang đo 38
3.3 Thiết kế nghiên cứu 41
3.3.1 Nghiên cứu định tính 41
3.3.2 Nghiên cứu định lượng 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 45
Trang 6CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
4.1 Kết quả nghiên cứu định tính 47
4.1.1 Tổng quan về các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 47
4.1.2 Đánh giá việc áp dụng chính sách kế toán của các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 48
4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 50
4.2.1 Kết quả thống kê mô tả mẫu khảo sát 50
4.2.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 51
4.2.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 54
4.2.4 Phân tích hồi quy 63
4.2.5 Bàn luận 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 76
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
5.1 Kết luận 77
5.2 Kiến nghị 78
5.2.1 Giúp các đối tượng sử dụng BCTC giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc điều chỉnh BCTC thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 78
5.2.2 Giúp các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn chính sách kế toán 82
5.3 Hạn chế đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤC LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước đây 14
Bảng 2.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán từ các nghiên cứu trước 28
Bảng 3.1 Thang đo hiệu chỉnh sau nghiên cứu định tính 38
Bảng 4.1 Thống kê vị trí công việc và lĩnh vực hoạt động của mẫu khảo sát 50
Bảng 4.2 Thống kê trình độ chuyên môn của mẫu khảo sát 50
Bảng 4.3 Kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha 52
Bảng 4.4 Kiểm định KMO và Bartlett’s Test khi phân tích lần thứ nhất 55
Bảng 4.5 Ma trận sau khi xoay nhân tố lần thứ nhất 56
Bảng 4.6 Kiểm định KMO và Bartlett’s Test khi phân tích lần thứ hai 57
Bảng 4.7 Ma trận sau khi xoay nhân tố lần thứ hai 58
Bảng 4.8 Kiểm định KMO và Bartlett’s Test cho nhân tố phụ thuốc 59
Bảng 4.9 Ma trận sau khi xoay nhân tố phụ thuộc 60
Bảng 4.10 Diễn giải các biến quan sát sau khi xoay nhân tố 61
Bảng 4.11 Ma trận tương quan giữa các nhân tố 64
Bảng 4.12 Tóm tắt mô hình 65
Bảng 4.13 Phân tích phương sai (ANOVA) 66
Bảng 4.14 Trọng số hồi quy 66
Trang 9Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn
chính sách kế toán của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu Error! Bookmark not defined.37
Hình 4.1 Đồ thị phân tán giá trị của nhân tố lựa chọn chính sách kế toán 68 Hình 4.2 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa của nhân tố lựa chọn chính sách kế toán 69
Hình 4.3 Biểu đồ dự báo giá trị của nhân tố lựa chọn chính sách kế toán 70
Hình 4.4 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu từ kết quả hồi quy bội 72
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế hiện nay đang phát triển sâu rộng vì thế vai trò của ngành kế toán ngày càng được quan tâm Hoạt động của ngành kế toán đã cung cấp các báo cáo tài chính thể hiện thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó sẽ tác động đến nhiều đối tượng khác nhau không chỉ trong phạm vi quốc gia mà nó còn mang tính toàn cầu Ngoài ra báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán là mục tiêu của bộ phận kế toán để cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như cơ quan thuế, nhà đầu tư và ngân hàng…
Do tính đa dạng của đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC vì thế thông tin trên BCTC có vai trò rất quan trọng đối với đối tượng sử dụng Nhưng trên thực tế trong một số trường hợp người lập BCTC sử dụng chính sách kế toán để che dấu những thông tin quan trọng nếu những thông tin đó ảnh hưởng không tốt đến lợi ích của họ Vì thế việc sử dụng chính sách kế toán khác nhau sẽ cho ra kết quả thông tin trình bày trên BCTC là khác nhau và theo ý muốn của chủ doanh nghiệp
Chính sách kế toán là việc thiết lập các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể mà doanh nghiệp áp dụng để lập và trình bày BCTC (VAS 29, 2005) Như vậy chính sách kế toán của mỗi doanh nghiệp bị chi phối bởi nhiều nhân tố chủ quan của doanh nghiệp đó
Bạc Liêu là một tỉnh nhỏ thuộc duyên hải vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Các doanh nghiệp thủy sản chiếm số đông trong tổng số các DN ở Bạc Liêu Vì thế việc lựa chọn chính sách kế toán sao cho phù hợp với đặc thù của các DN này là hết
sức cần thiết Xuất phát từ thực tế trên tác giả thực hiện đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn Tỉnh Bạc Liêu” nhằm khám phá và nhận diện các nhân tố ảnh hưởng
đến quá trình lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp cho đối tượng sử dụng BCTC giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc điều chỉnh BCTC thông qua việc lựa
Trang 11chọn chính sách kế toán của DN và giúp cho các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn chính sách kế toán
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn thực hiện nhằm đạt được 3 mục tiêu sau:
Thứ nhất: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế
toán của các DN thủy sản trên địa bàn Tỉnh Bạc Liêu
Thứ hai: Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn
chính sách kế toán của các DN thủy sản trên địa bàn Tỉnh Bạc Liêu
Thứ ba: Đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp cho đối tượng sử dụng BCTC
giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc điều chỉnh BCTC thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán của DN Giúp cho các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn chính sách kế toán
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các DN thủy sản
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Đối tượng khảo sát, các thang đo và mô hình nghiên
cứu được kiểm định trên mẫu là các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Phạm vi thời gian: Việc thực hiện nghiên cứu, tiến hành khảo sát và thu
thập dữ liệu được thực hiện từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua 2 bước chính: Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính và nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng
Phương pháp định tính: Trước hết tác giả thực hiện nghiên cứu tại bàn để
tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán sau đó thảo luận tay đôi với các chuyên gia để khám phá, điều chỉnh và bổ sung thang đo lựa
Trang 12chọn chính sách kế toán, và thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính kế toán của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Luận văn sử dụng mô hình hồi quy
bội để phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn chính sách kế
toán của các DN thủy sản trên địa bàn Tỉnh Bạc Liêu
5 Đóng góp mới của luận văn
Các nghiên cứu đã công bố ở Việt Nam đều tập trung vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các DN ở Việt Nam hoặc trên một địa bàn cụ thể Hiện nay có rất ít nghiên cứu về xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán ở một lĩnh vực kinh doanh cụ thể,
đặc biệt là lĩnh vực thủy sản thì chưa có nghiên cứu nào thực hiện Do đó, đóng góp
mới của luận văn là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách
kế toán của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm giúp cho đối tượng
sử dụng BCTC giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc điều chỉnh BCTC thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán của DN và giúp cho các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn chính sách kế toán
6 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm 5 chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Việc lựa chọn CSKT bị chi phối bởi nhiều nhân tố và nhìn chung được xem xét dựa trên các ảnh hưởng kinh tế mà các chính sách này mang lại (Dhaliwal et al., 1982) Ảnh hưởng kinh tế ở đây, theo Holthausen và Leftwich (1983), là một sự thay đổi trong CSKT sẽ làm thay đổi cách thức tính toán, do đó sẽ làm thay đổi các chỉ tiêu kinh tế của DN như sự phân phối dòng tiền hoặc quyền lợi của các bên sử dụng những thông tin này cho việc ký kết hợp đồng hay ra quyết định Để thực hiện
đề tài này, tác giả đã tiến hành lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến việc lựa chọn chính sách kế toán để tìm ra khe hổng nghiên cứu Với cơ sở dữ liệu hiện có,
tác giả đã tìm hiểu một số nghiên cứu về vấn đề này như sau:
1.1.Các nghiên cứu ngoài nước
1.1.1 Nghiên cứu của Healy (1985)
Effect of bonus schemes on accounting decision (ảnh hưởng của kế hoạch
tiền thưởng đến lựa chọn chính sách kế toán)
Healy đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của kế hoạch tiền thưởng đối với người quản lý đến số liệu kế toán trên BCTC nhằm thu thập bằng chứng rằng liệu các kế hoạch này có ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của người quản lý không Trước hết, Healy đã khảo sát cách thức tính khoản thưởng trên lợi nhuận của doanh nghiệp và đưa ra mô hình tính như sau:
Pt{ max[Et – Lt]} hoặc Pt(min{Ut,max[Et-Lt],0)
Trong đó
Pt: Tỷ lệ phần trăm tối đa
Et: Lợi nhuận trong kỳ
Lt: Lợi nhuận tối thiểu
Ut: Lợi nhuận tối đa
Các tính này được Healy giải thích như sau
Khi lợi nhuận trong kỳ (Et) nhỏ hơn mức tối thiểu (Lt), hiệu số (Et-Lt) nhỏ hơn 0 nên khoản tiền thưởng sẽ là 0 Khi lợi nhuận trong kỳ cao hơn mức tối thiểu phần chênh lệch sẽ được nhân tỷ lệ phần trăm Pt để tính ra khoản thưởng Quy định
Trang 14này khuyến khích các nhà quản lý nâng lợi nhuận cao hơn mức tối thiểu; nhằm khắc phục tâm lý sợ rủi ro của nhà quản lý
Tuy nhiên, khi khoản chênh lệch (Et-Lt) quá lớn, vượt khỏi mức Ut nhất định thì nhà quản lý chỉ tính tiền thưởng trên Ut Cách tính này nhằm hạn chế người quản
lý chạy theo con số lợi nhuận quá mức, mang lại rủi ro quá cao cho doanh nghiệp Trong bối cảnh trên, người quản lý sẽ tìm cách ảnh hưởng đến số liệu kế toán để mang lại lợi ích cho mình
Ngoài ra Healy cũng xem xét vấn đề lựa chọn chính sách kế toán bằng cách khảo sát tổng dồn tích của doanh nghiệp Tổng dồn tích là chênh lệch giữa lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh bao gồm khấu hao, chênh lệch hàng tồn kho, các khoản phải thu và phải trả của DN Các khoản dồn tích sẽ tăng lên khi nhà quản lý muốn tăng lợi nhuận và ngược lại
Healy sử dụng danh sách năm 1980 của 250 công ty niệm yết thuộc lĩnh vực công nghiệp lớn nhất, sau đó chọn lọc 94 công ty có đầy đủ kế hoạch khen thưởng Healy đã chia các công ty thành 3 nhóm:
+ Nhóm UPP bao gồm các công ty – năm có lợi nhuận cao hơn mức tối thiểu + Nhóm LOW bao gồm các công ty – năm có lợi nhuận thấp hơn mức tối thiểu
+ Nhóm MID bao gồm các công ty – năm không thuộc hai nhóm trên
Kết quả được mong đợi là tổng dồn tích hầu hết sẽ âm ở nhóm LOW và nhóm UPP, nghĩa là người quản lý sẽ giảm dồn tích để giảm lợi nhuận trong thời kỳ lợi nhuận thấp hơn mức tối thiểu và cao hơn mức tối đa Đối với nhóm MID, kết quả mong đợi là tổng dồn tích hầu hết sẽ dương nhằm tăng lợi nhuận trong giai đoạn lợi nhuận nằm gữa mức tối thiểu và mức tối đa Kết quả phân tích thống kê của Healy cho kết quả như mong đợi tức là kế hoạch tiền thưởng đối với nhà quản
lý có ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp
1.1.2 Nghiên cứu của Whittred (1987)
The derived demand for consoliadated finan cial reporting (Nhu cầu xuất
phát cho các báo cáo tài chính hợp nhất)
Trang 15Nghiên cứu cung cấp bằng chứng về việc nhà quản lý đã tự nguyện hợp nhất BCTC nhằm thỏa mãn các yêu cầu của chủ nợ và nâng cao các khoản khen thưởng cho nhà quản lý Whittred quay lại thời kỳ 1930 – 1950 khi BCTC hợp nhất chưa bắt buộc phải thực hiện ở Australia Trong giai đoạn này, luật thuế yêu cầu các công
ty phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất lũy tiến, khiến nhiều công ty
đã thành lập các công ty con để tránh phải nộp thuế lũy tiến Khi cơ cấu công ty ngày càng phức tạp, xuất hiện nhiều khả năng các công ty trong cùng tập đoàn chuyển nợ lẫn nhau dẫn đến rủi ro cho ngân hàng Để đối phó các ngân hàng yêu cầu một khoản bảo lãnh liên công ty trong tập đoàn cho một khoản vay cho bất kỳ công ty nào trong tập đoàn Để có thể giám sát con số tài sản cũng như công nợ của tập đoàn, ngân hàng sử dụng BCTC hợp nhất
Whittred đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các khoản bảo lãnh liên công ty với các khoản thưởng cổ phần với việc tự nguyện hợp nhất BCTC trên thị trường chứng khoán Australia Kết quả thực nghiệm chứng minh có quan hệ: Nghĩa là các công ty có quan hệ bảo đảm liên công ty có khuynh hướng lập BCTC hợp nhất tự nguyện với mục đích làm tăng độ tin cậy chi chủ nợ, giảm bớt chi phí giám sát và qua đó giảm bớt chi phí ủy nhiệm
Qua nghiên cứu của Whittred cho ta thấy yêu cầu của chủ nợ và các khoản khen thưởng cho nhà quản lý dẫn tới các công ty lựa chọn chính sách kế toán đó là lập BCTC hợp nhất để thỏa mãn yêu cầu của chủ nợ và nâng cao khoản khen thưởng cho nhà quản lý
1.1.3 Nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990)
Positive Accounting Theory A Ten Year Perspective (Lý thuyết kế toán thực
chứng)
Nghiên cứu đã xem xét lại các nghiên cứu lý thuyết kế toán thực chứng trong những năm 1980 và cũng đề xuất cách để cải thiện nghiên cứu thực chứng trong lựa chọn kế toán Ba giả thuyết chính được sử dụng để giải thích và dự đoán mối tương quan của các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán trong nghiên cứu là:
Trang 16- Giả thuyết kế hoạch tiền thưởng: Nhà quản lý của các DN mà có chi trả
tiền thưởng theo lợi nhuận thì có nhiều khả năng sẽ sử dụng phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận trong kỳ báo cáo đề tăng giá trị khoản tiền thưởng trả cho mình
- Giả thuyết nợ: Nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của DN càng cao thì nhà
quản lý có nhiều khả năng sử dụng phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận để tránh vi phạm những hạn chế trong cam kết vay vốn
- Giả thuyết chi phí chính trị: DN lớn có nhiều khả năng lựa chọn chính sách
kế toán làm giảm lợi nhuận báo cáo hơn là các DNVVV để giảm thiểu chi phí chính trị
Kết quả nghiên cứu thử nghiệm cho thấy giả thuyết tiền thưởng không thích hợp trong nhiều trường hợp Bằng chứng thực nghiệm thu được nói chung phù hợp với giả thuyết nợ và giả thuyết chi phí chính trị đến sự lựa chọn chính sách kế toán
1.1.4 Nghiên cứu của Colin R.Dey và cộng sự (2007)
Determinants of Accouning Choices in Egypt ( Các nhân tố ảnh hưởng đến
lựa chọn chính sách kế toán ở Ai Cập)
Colin R.Dey và cộng sự đã nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn
chính sách kế toán ở Ai Cập Nghiên cứu đã thêm một giả thuyết mới vào ba giả thuyết trong nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990) đó là giả thuyết thuế Vì vậy trong nghiên cứu này nhóm tác giả đã đưa ra bốn giả thuyết nghiên cứu đó là
- Giả thuyết kế hoạch tiền thưởng:
- Giả thuyết nợ
- Giả thuyết chi phí chính trị
- Giả thuyết thuế
Kết quả nghiên cứu cho thấy giả thuyết tiền thưởng, giả thuyết nợ, giả thuyết thuế có tác động đến lựa chọn chính sách kế toán đó là sự tồn tại của kế hoạch tiền thưởng luôn khuyến khích nhà quản lý, phương pháp khấu hao, phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho không làm tăng các khoản nghĩa vụ thuế phải nộp, mức vay nợ càng cao thì nhà quản lý có nhiều khả năng lựa chọn chính sách kế toán để
tăng lợi nhuận
Trang 171.1.5 Nghiên cứu của Cudia và Cynthia P (2008)
Factors that influence small and medium enterprises in Metro Manila to choose between accrual and cash accounting ( các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa
chọn giữa cơ sở kế toán dồn tích và cơ sở kế toán tiền ở Metro Manila)
Thông qua quá trình khảo sát và thu thập dữ liệu từ các kiểm toán viên thực
hiện kiểm toán cho 163 DNNVV ở Metro Manila là trung tâm của đảo Luzon của
Philippines nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn giữa cơ sở kế
toán dồn tích và cơ sở kế toán tiền ở các DDNVV tại vùng này Nghiên cứu đã sử
dụng phương pháp thống kê mô tả để tìm ra các nhân tố có ảnh hưởng Nghiên cứu
đã đưa ra mô hình nghiên cứu với 6 nhân tố tác động như sau:
Hình 1.1 Mô hình ngh iên cứu của Cudia, Cynthia P (2008)
Kết quả nghiên cứu đã tìm ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn giữa hai
cơ sở kế toán trên đó là: Bản chất của việc kinh doanh, sự thuận tiện trong lưu trữ
hồ sơ, sự phức tạp trong yêu cầu kế toán và công bố thông tin, chi phí lập báo cáo
tài chính, tính hữu dụng trong việc ra quyết định Trong đó nhân tố bản chất của
việc kinh doanh là có tác động mạnh nhất đến việc lựa chọn giữa cơ sở kế toán dồn
tích và cơ sở kế toán tiền ở các DDNVV tại Metro Manila
1.1.6 Nghiên cứu của Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010)
6 nhân tố:
- Bản chất của kinh doanh
- Thuận tiện trong lưu trữ hồ sơ
- Sự phức tạp trong yêu cầu kế toán và
công bố thông tin
- Yêu cầu tuân thủ thuế
Trang 18Explaining Accounting Policy Choices of SME: An Empirical Research on the Evaluation Mothods (C ác nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế
toán của các DNNVV ở Romania)
Nghiên cứu điều tra các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của các DNNVV ở Romania Các đối tượng trong nghiên cứu này đã được lựa chọn bằng cách lấy mẫu phân tầng bao gồm 562 DNNVV ở Romania Việc phân tích các dữ liệu được thực hiện bằng kỹ thuật phân tích nhân tố Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát yêu cầu người trả lời chỉ ra mức độ mà mỗi nhân tố liệt kê trong bảng câu hỏi ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiêp Nhóm tác giả đã tìm một số mô hình mẫu từ trong các quyết định phương pháp kế
toán và xác định nhân tố chính tác động đến các quyết định đó Nghiên cứu đã đưa
ra mô hình nghiên cứu với 6 nhân tố tác động như sau đến việc lựa chọn chính sách
kế toán của các DNNVV ở Romania như sau:
Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu của Szilveszter Fekete và cộng sự (2010)
Kết quả Nghiên cứu đã tìm ra các nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán của DNNVV và mức độ tác động của các nhân tố này Theo đó các nhân tố chủ yếu tác động theo thứ tự mức độ ảnh hưởng là: nhu cầu thông tin của người sử dụng, ảnh hưởng của thuế, hình ảnh của doanh nghiệp đối với bên thứ 3,
6 nhân tố:
- Nhu cầu thông tin của người sử dụng
- Thuế
- Hình ảnh của DN đối với bên thứ ba
- Hình ảnh của DN đối với cổ đông
- Kinh tế
Lựa chọn chính sách kế toán của các DNNVV ở Romania
Trang 19hình ảnh của DN đối với cổ đông, quan điểm trung thực hợp lý, nhân tố kinh tế có ảnh hưởng rất ít đến việc lựa chọn chính sách kế toán
1.1.7 Nghiên cứu của Christos Tzovas (2006)
Factors influencing a firm’s accounting policy decisions when tax accounting and financial accounting coincide (C ác nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp khi kế toán thuế và kế toán tài chính
trùng nhau)
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp khi kế toán thuế và kế toán tài chính trùng nhau thông qua cuộc khảo sát các nhà quản lý tài chính của 200 doanh nghiệp lớn ở Hi Lạp Nghiên cứu đã đưa ra mô hình nghiên cứu như sau:
Hình 1.3 Mô hình nghiên cứu của Christos Tzovas (2006)
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc lựa chọn chính sách kế toán chịu ảnh hưởng bởi nhận thức các bên liên quan, mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Đối với mục tiêu lợi nhuận Christos Tzovas đã ghi lại bằng chứng về việc mà DN muốn báo cáo lợi nhuận giảm để giảm nghĩa vụ thuế
và việc DN muốn báo cáo tăng lợi nhuận để tác động đến quyết định cho vay của chủ nợ, tránh vi phạm cam kết hay tăng giá trị cổ phiếu của DN Đối với mục tiêu tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế của DN có sự mâu thuẫn bởi vì giảm thuế có khả năng phát sinh chi phí ngoài thuế mà những chi phí này có thể làm giảm lợi ích của DN
6 nhân tố:
- Nhận thức các bên liên quan
- Mục tiêu lợi nhuận
- Tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế
Lựa chọn chính sách kế toán của các DN ở Hi Lạp
Trang 201.2 Các nghiên cứu trong nước
1.2.1 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh (2014)
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay
Dựa theo các công trình nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990), Cloyd
et al (1996), Steven Young (1998), Steven và Laurie S Swinney (2004), Christos Tzovas (2006), nhóm tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất về các nhân
tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay và kiểm định mô hình này tại Việt Nam gồm 7 nhân tố như sau:
Hình 1.4 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị
Kim Oanh (2014)
Để kiểm định mô hình này, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu đã xây dựng bảng câu hỏi nhằm khảo sát các đối tượng là kế toán viên (người có am hiểu nhiều về việc lựa chọn CSKT để lập BCTC) và kiểm toán viên (người thực hiện kiểm tra BCTC nói chung và kiểm tra việc áp dụng CSKT của DN nói riêng) Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của DN tại Việt Nam, đó là: chi phí thuế TNDN, mức vay nợ, tình trạng niêm yết của DN, và sự ổn định giữa các mức LN
7 nhân tố:
- Chi phí thuế TNDN
- Mức vay nợ
- Khả năng vi phạm các hợp đồng vay nợ
- Chính sách thưởng dành cho nhà quản trị
- Sự ổn định giữa các mức lợi nhuận
- Tình trạng niêm yết của DN
Nam hiện nay
Trang 21Các nhân tố: Khả năng vi phạm các hợp đồng vay nợ, chính sách thưởng dành cho
nhà quản trị, và mức độ sử dụng các hợp đồng liên quan các chỉ tiêu kế toán không
được xem là có ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT tại các DN Việt Nam
1.2.2 Nghiên cứu của Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015)
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của các
DN xây lắp trên địa bàn TP Đà Nẵng
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng dựa trên các kỹ thuật phân
tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá,
và phân tích hồi quy Mục tiêu là tìm ra các nhân tố ảnh hưởng ảnh hưởng đến việc
lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn TP Đà
Nẵng Nghiên cứu thực hiện thu thập thông tin cơ bản, điều tra và phỏng vấn đối
với 100 DN xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Nghiên cứu đã đưa ra mô hình
gồm 8 nhân tố như sau:
Hình 1.5 Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015)
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, theo quan điểm của các đối tượng khảo
sát, chỉ có 4 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT tại các DN xây lắp trên địa
bàn TP Đà Nẵng, và có sự thống nhất khá cao trong quan điểm của kế toán viên và
kiểm toán viên khi đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố này đến việc lựa chọn
CSKT, đó là: Chi phí thuế, mức vay nợ, tình trạng niêm yết, trình độ kế toán viên
Trang 221.2.3 Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hà (2015)
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của doanh
ng hiệp nhỏ và vừa trên đại bàn TP Hồ Chí Minh hiện nay
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp hỗn hợp định tính và định lượng theo thiết kế khám phá để tìm ra các nhân tố, mức độ tác động và mô hình hồi quy ước lượng nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của DNNVV trên địa bàn TP.HCM
Dựa trên kết quả công trình nghiên cứu của Szilveszter Fekete và các cộng
sự (2010), nghiên cứu đã kế thừa 20 biến quan sát các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của DNNVV chia thành 6 nhóm nhân tố sau: thuế, kinh tế, thông tin, hình ảnh bên ngoài, hình ảnh bên trong, trung thực và hợp lý
Nghiên cứu đã xây dựng thang đo cho biến phụ thuộc bao gồm 3 biến phụ thuộc như sau: Mức độ hay khả tăng lợi nhuận khi lựa chọn CSKT của DN; mức độ hay khả năng bảo toàn vốn, đảm bảo hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn của DN; mức độ phù hợp giữa chính sách kế toán của DN với quy định của luật thuế hiện hành
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp là thuế, kinh tế, thông tin, hình ảnh bên ngoài, hình ảnh bên trong, trung thực và hợp lý Nhưng để giải thích sự lựa chọn chính sách kế toán của DNNVV trên địa bàn TP.HCM thì chỉ dựa vào nhân tố thuế
1.2.4 Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012)
Nghiên cứu hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp đến sự lựa chọn chính
sách kế toán của các doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng
Luận văn này sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu, phân tích kết hợp Từ
đó, đưa ra những kết luận, đánh giá, nhận định về sự ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp đến sự lựa chọn các chính sách kế toán của các doanh nghiệp Nghiên cứu đã đi sâu vào phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa mục tiêu kế toán và mục tiêu thuế đồng thời đánh giá ảnh hưởng của nhân tố thuế thu nhập đến sự lựa
Trang 23chọn chính sách kế toán các DN dưới góc độ lý thuyết và thực tiễn Tác giả đã nghiên cứu một số vấn đề cơ sở lý luận về mối liên hệ giữa kế toán - thuế nói chung Cụ thể tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp đến sự lựa chọn các chính sách kế toán của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng Về phạm vi nghiên cứu, đề tài khảo sát thông qua báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng kết hợp với điều tra thực tế công tác kế toán của các doanh nghiệp
Nghiên cứu cho thấy rằng, sự lựa chọn chính sách kế toán trong việc lập báo cáo tài chính và lập báo cáo thuế ở các doanh nghiệp cùng quy mô trên địa bàn TP
Đà Nẵng đa phần giống nhau Nói cách khác, thuế là nhân tố có ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán ở các doanh nghiệp Tuy nhiên, sự lựa chọn này khác nhau giữa các doanh nghiệp có quy mô khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy DN lập BCTC ưu tiên cung cấp thông tin cho cơ quan thuế và chính DN hơn là ngân hàng, các tổ chức tín dụng Kết quả nghiên cứu là một bằng chứng thực nghiệm về
sự ảnh hưởng của nhân tố thuế TNDN đến việc lựa chọn chính sách kế toán
Bảng 1.1 Tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây
Tên tác
giả
Công trình nghiên cứu
Năm nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
Kế hoạch tiền thưởng đối với nhà quản lý có ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp
1987 Định tính Yêu cầu của chủ nợ và các khoản
khen thưởng cho nhà quản lý dẫn tới các công ty lựa chọn chính sách kế toán đó là lập BCTC hợp nhất để thỏa
Trang 24mãn yêu cầu của chủ nợ và nâng cao khoản khen thưởng cho nhà quản lý
Giả thuyết tiền thưởng, giả thuyết nợ, giả thuyết thuế có tác động đến lựa chọn chính sách kế toán
2008 Định lượng Bản chất của việc kinh doanh, sự
thuận tiện trong lưu trữ hồ sơ, sự phức tạp trong yêu cầu kế toán và công bố thông tin, chi phí lập báo cáo tài chính, tính hữu dụng trong việc ra quyết định ảnh hưởng đến đến việc lựa chọn giữa cơ sở kế toán dồn tích
và cơ sở kế toán tiền ở các DDNVV tại Metro Manila
2010 Định lượng Nhu cầu thông tin của người sử dụng,
ảnh hưởng của thuế, hình ảnh của doanh nghiệp đối với bên thứ 3, hình ảnh của DN đối với cổ đông, quan điểm trung thực hợp lý có ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán
Trang 25Việc lựa chọn chính sách kế toán chịu ảnh hưởng bởi nhận thức các bên liên
quan, mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp
Nam hiện nay
2014 Định lượng Chi phí thuế TNDN, mức vay nợ, tình
trạng niêm yết của DN, và sự ổn định giữa các mức LN hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay
2015 Định lượng Chi phí thuế, mức vay nợ, tình trạng
niêm yết, trình độ kế toán viên ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của các DN xây lắp trên địa bàn
Để giải thích sự lựa chọn chính sách
kế toán của DNNVV trên địa bàn TP.HCM thì chỉ dựa vào nhân tố thuế
Trang 26Minh hiện nay
1.3 Nhận xét về các nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận văn
1.3.1 Nhận xét về các nghiên cứu
Sau khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài của luận văn, tác giả có một số nhận định đối với các nghiên cứu này như sau:
* Đối với các nghiên cứu ngoài nước
Đã có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán được khám phá trong các công trình nghiên cứu trên thế giới từ các nghiên cứu thực nghiệm của Healy (1985), Whittred (1987)… đến các nghiên cứu áp dụng tại một quốc gia nhất định Hầu hết các nghiên cứu đều đưa ra các nhân tố phù hợp với nhau Các nghiên cứu này thường gắn liền với đặc thù kinh tế xã hội, với nền chính trị và văn hóa đặc trưng của mỗi quốc gia Do vậy, có một số nhân tố liên quan đến lựa chọn chính sách kế toán chỉ phù hợp với một số quốc gia nhất định, đặc biệt áp dụng đối với các DN thủy sản ở Bạc Liêu thì một vài nhân tố sẽ không phù hợp với tình hình của DN
Về phương pháp nghiên cứu, nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện hết sức công phu như nghiên cứu của Healy (1985) khi nghiên cứu ảnh hưởng của kế
Trang 27hoạch tiền thưởng đến lựa chọn chính sách kế toán có cỡ mẫu 250 công ty niêm yết, ngoài ra nghiên cứu còn đưa ra công thức tính khoản khen thưởng trên lợi nhuận của DN, dữ liệu thu thập được phân tích kỹ nên kết quả nghiên cứu mang tính thuyết phục cao; hay nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990) đã nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết phù hợp rất đáng tin cậy và làm nền tảng cho nhiều nghiên cứu sau Tuy nhiên ở một số nghiên cứu cũng có hạn chế từ các dữ liệu thu thập được (do chỉ tìm dữ liệu trên ý kiến của người trả lời về lý do lựa chọn phương pháp khấu hao và phương pháp định giá cổ phiếu) nên mang tính thuyết phục chưa cao (như nghiên cứu của Colin R.Dey và cộng sự, 2007) Hay trong nghiên cứu của Christos Tzovas (2006) không đảm bảo loại trừ hết câu trả lời mang tính chủ quan cá nhân,
vì vậy cần có một cuộc điều tra thực nghiệm dựa trên báo cáo hàng năm để cung cấp thêm bằng chứng liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách
kế toán của DN
* Đối với các nghiên cứu trong nước
Qua phần tác giả tổng hợp ở trên, có thể thấy có khá nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến việc lựa chọn chính sách kế toán, hầu hết các nghiên cứu
ở Việt Nam đều dựa trên nền tảng mô hình nghiên cứu ngoài nước để xác định các nhân tố Các nhân tố được xác định trong các nghiên cứu ở Việt Nam hầu hết phù hợp với các nghiên cứu trước đây của các tác giả ngoài nước Về phương pháp nghiên cứu theo nhận định của tác giả thì hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng phương pháp định lượng, mang lại kết quả đáng tin cậy và có ý nghĩa cao Tuy nhiên, một vài nghiên cứu chưa phân tích sâu kết quả nghiên cứu điều này sẽ gây khó khăn cho người đọc (như nghiên cứu của Huỳnh Thị Cẩm Nhung, 2015; Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014) Một vài nghiên cứu còn gặp nhiều hạn chế về đối tượng khảo sát trên địa bàn hẹp nên chưa có tính tổng quát cao (như nghiên cứu của Huỳnh Thị Cẩm Nhung, 2015) Thêm vào đó, các nghiên cứu ở Việt Nam đều tập trung vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các DN ở Việt Nam hoặc trên một địa bàn cụ thể Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
Trang 28đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các DN thủy sản Do vậy, có thể khẳng định đây là các khe hổng trong các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam và cần phải được bổ sung nghiên cứu trong thời gian tới
1.3.2 Hướng nghiên cứu của luận văn
Từ những khe hổng của các công trình mà tác giả đã trình bày ở trên nhằm xác định định hướng nghiên cứu của luận văn Tác giả sẽ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu Trong nghiên cứu này tác giả sẽ mở rộng nhóm đối tượng khảo sát để
có thể khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán phù hợp với các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu Từ đó tác giả sẽ đưa ra những giải pháp nhằm giúp cho đối tượng sử dụng BCTC giảm thiểu tác động tiêu cực từ việc điều chỉnh BCTC thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán của DN và giúp cho các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn chính sách kế toán
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhìn nhận những kết quả đạt được cũng như các hạn chế, khiếm khuyết của các nghiên cứu đã thực hiện có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xác định mục tiêu của luận văn Do đó trong chương này tác giả lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến việc lựa chọn chính sách kế toán của DN đã công bố trên thế giới cũng như ở Việt Nam Từ đó xác định khe hổng nghiên cứu và các vấn
đề cần tiếp tục thực hiện, làm cơ sở xác định mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Trang 29C HƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Chính sách kế toán
2.1 1 Khái niệm chính sách kế toán
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 8 (IAS 8) định nghĩa chính sách kế
toán là nguyên tắc cụ thể, căn cứ, quy ước, quy tắc và thông lệ được áp dụng bởi một thực thể trong việc chuẩn bị và trình bày báo cáo tài chính Các chính sách kế toán là các chính sách và thủ tục cụ thể được sử dụng bởi một công ty để chuẩn bị báo cáo tài chính của mình Các chính sách kế toán bao gồm các phương pháp, hệ thống đo lường và các thủ tục để trình bày thông tin trong báo cáo tài chính Một thực thể cần nêu rõ các chính sách kế toán đã sử dụng khi chuẩn bị các báo cáo tài chính
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 (2005) định nghĩa chính sách kế toán: “Là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp
áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính.”
2.1.2 Vai trò của chính sách kế toán
2.1.2 1 Đối với đối tượng bên trong DN
Đối với nhân viên kế toán khi phát sinh nghiệp vụ kinh tế CSKT là công cụ
để xử lý thông tin và số liệu theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, đảm bảo tuân thủ chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành Nhân viên kế toán có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất cho nhà quản lý chính sách kế toán phù hợp với yêu cầu quản trị và mục tiêu của DN trong ngắn hạn và dài hạn (Nguyễn Hồng Hà, 2015)
Đối với nhà quản lý DN, CSKT là công cụ nhằm tạo ra ngôn ngữ kinh doanh
mà họ sử dụng để trao đổi với các bên liên quan như cơ quan thuế, kiểm toán, ngân hàng, chủ nợ…(Nguyễn Hồng Hà, 2015) Do đó, việc vận dụng các chính sách kế toán khác nhau sẽ cho phép nhà quản trị công ty có khả năng điều chỉnh các thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính của công ty từ kỳ này sang kỳ khác Từ đó sẽ làm cho một số thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính của công ty được điều chỉnh theo chủ ý của các nhà quản trị công ty
Trang 30Đối với chủ sở hữu, cổ đông của DN, CSKT là công cụ để xem xét và so sánh kết quả hoạt động của DN mà nhà quản lý báo cáo (Nguyễn Hồng Hà, 2015)
2.1.2 2 Đối với đối tượng bên ngoài DN
Đối với cơ quan thuế, CSKT là công cụ kiểm tra, giám sát thông tin công bố trên BCTC nhằm phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán (Nguyễn Hồng Hà, 2015)
Đối với tổ chức kiểm toán độc lập, CSKT là công cụ phân tích thông tin, số liệu kế toán, tài chính mà trên cơ sở đó họ đưa ra ý kiến nhận xét cho bên thứ 3 sử dụng thông tin trên BCTC để ra quyết định kinh tế (Nguyễn Hồng Hà, 2015)
Đối với nhà đầu tư tiềm năng, ngân hàng, tổ chức tín dụng, CSKT là công cụ phân tích, so sánh thông tin số liệu kế toán, tài chính giữa các DN để có thể ra quyết định ký kết hợp đồng kinh tế (Nguyễn Hồng Hà, 2015)
2.1.3 Các văn bản pháp lý quy định liên quan đến chính sách kế toán hiện hành ở Việt Nam
Do đặc điểm lịch sử nên hệ thống kế toán Việt Nam chịu ảnh hưởng của trường phái Châu Âu lục địa nói chung và kế toán Pháp nói riêng Ở Việt Nam, cơ quan Nhà nước, cụ thể là Bộ Tài chính là tổ chức lập quy, chịu trách nhiệm ban hành các văn bản pháp lý liên quan đến chính sách kế toán
Khung pháp lý điều tiết hoạt động kế toán DN hiện nay bao gồm: Luật Kế toán và Nghị định hướng dẫn thi hành luật; Hệ thống chuẩn mực kế toán và các thông tư hướng dẫn chuẩn mực; cùng với Chế độ kế toán hướng dẫn thực hành công tác kế toán
Luật Kế toán là văn bản về kế toán có giá trị pháp lý cao nhất, được Quốc hội ban hành ngày 17/03/2003 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2004 Nội dung của luật này quy định những vấn đề chung nhất, làm cơ sở để xây dựng chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán
Theo sau Luật Kế toán là chuẩn mực kế toán Việt Nam là những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, nội dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản chung nhất về chính sách kế toán làm cơ sở ghi chép kế toán và lập BCTC nhằm đạt được
Trang 31sự đánh giá trung thực, hợp lý, khách quan về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Đến nay, Bộ Tài chính đã nghiên cứu ban hành được 26 chuẩn mực kế toán áp dụng cho doanh nghiệp cùng với các thông tư hướng dẫn đi kèm để giúp các doanh nghiệp vận dụng các chuẩn mực vào thực tiễn Các thông tư
ra đời giúp nội dung các chuẩn mực liên quan đến chính sách kế toán nhanh chóng
đi vào thực tế công tác kế toán ở các doanh nghiệp
Nhằm cụ thể hóa các hướng dẫn về kế toán cho doanh nghiệp, Bộ Tài chính
đã ban hành chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp, trong đó quy định cụ thể về kết cấu tài khoản, chứng từ, sổ sách, báo cáo và các sơ đồ kế toán chủ yếu Bộ tài chính đã ban hành chế độ kế toán theo QĐ15/2006/QĐ-BTC hướng dẫn thực hành công tác kế toán trên thực tế Tuy nhiên quyết định trên chủ yếu chỉ phù hợp với các doanh nghiệp lớn, kinh doanh nhiều ngành nghề, hoạt động kinh doanh phức tạp
Để phù hợp với các doanh nghiệp quy mô nhỏ, tháng 9/2006 Bộ tài chính đã ban hành bổ sung chế độ kế toán cho DNNVV theo QĐ 48/2006/QĐ-BTC Theo thời gian, để phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động tại các doanh nghiệp, cuối năm 2014
Bộ tài chính đã ban hành thông tư 200/2014/TT-BTC thay thế cho quyết định 15
Tóm lại, thực tiễn việc thực hiện chính sách kế toán tại Việt Nam hiện nay chịu sự chi phối của nhiều cấp văn bản khác nhau, các văn bản này được ban hành bởi cơ quan quản lý Nhà nước Vì vậy khi các DN lựa chọn chính sách kế toán áp dụng cho DN mình phải căn cứ vào các văn bản pháp lý hiện hành có liên quan
2.2 Lựa chọn chính sách kế toán
2.2 1 Khái niệm lựa chọn chính sách kế toán
Lựa chọn chính sách kế toán là việc doanh nghiệp lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, thì doanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo báo cáo tài chính cung cấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầu thích hợp với nhu cầu ra các quyết định
kinh tế của người sử dụng (VAS 21, 2003)
Trang 32Theo Trần Đình Khôi Nguyên (2012) đã nhận thấy việc lựa chọn chính sách
kế toán bao gồm 3 phần lớn:
Thứ nhất: Lựa chọn những nguyên tắc chung mà tất cả mọi doanh nghiệp phải áp dụng (cơ sở dồn tích, nguyên tắc thận trọng, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc…)
Thứ hai: Lựa chọn về phương pháp kế toán trong khuôn khổ phạm vi chuẩn mực cho phép, tùy thuộc vào đặc điểm của giao dịch, điều kiện và khả năng vận dụng của từng DN
Thứ ba: Lựa chọn những phương pháp mà DN tự xây dựng và phát triển do bản thân chuẩn mực không thể bao quát mọi vấn đề trong thực tiễn
Có thể thấy rằng thành phần đầu tiên của lựa chọn chính sách kế toán thể hiện tính nguyên tắc bắt buộc nhưng hai thành phần sau lại thể hiện tính linh hoạt
của kế toán, gắn liền với đặc thù quản lý của từng DN và tác động trực tiếp đến lợi ích của các bên có liên quan (ngân hàng, nhà đầu tư, chủ nợ….) do đó nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán chỉ đi sâu vào khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là những phương pháp kế toán
2.2.2 Mục tiêu của lựa chọn chính sách kế toán
Theo kết luận nghiên cứu của Mariana Gaurau (2014) những người khác nhau thì có góc nhìn khác nhau về tình hình tài chính của DN, không thể nói rằng ai
đó bóp méo sự thật, vì vậy tùy vào từng trường hợp cụ thể sẽ có mục tiêu lựa chọn chính sách kế toán tương ứng Có ba nhóm chính sách kế toán tồn tại với những mục tiêu khác nhau như sau:
- Nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận: Các DN sẽ có động cơ mạnh liên quan
đến lựa chọn chính sách kế toán theo hướng giảm chi phí trong báo cáo thu nhập bởi vì những quy định nghiêm ngặt trong ghi nhận doanh thu
- Nhằm mục tiêu bảo toàn vốn bằng cách giảm thiểu chi phí để ổn định DN trong nguyên tắc hoạt động liên tục cùng với sự phát triển kinh doanh Các DN sẽ lựa chọn chính sách kế toán để san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo
xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn
Trang 33- Nhằm mục tiêu phù hợp với việc tuân thủ các quy định của luật thuế Các
DN sẽ lựa chọn chính sách kế toán sao cho trong toàn chu kỳ sống của DN, số thuế thu nhập phải đóng là thấp nhất
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán
2.3 1 Nhấn tố kế hoạch tiền thưởng cho nhà quản lý
Thu nhập dựa trên kế hoạch tiền thưởng là một phương tiện phổ biến của nhà quản lý Fox (1980) báo cáo rằng 90% các tập đoàn sản xuất lớn nhất của Hoa Kỳ
sử dụng kế hoạch tiền thưởng dựa trên kế toán thu nhập để trả thù lao cho quản
quản lý Nghiên cứu của Healy (1985) đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của kế
hoạch tiền thưởng đối với người quản lý đến số liệu kế toán trên BCTC nhằm thu thập bằng chứng rằng liệu các kế hoạch này có ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của người quản lý không Kết quả phân tích thống kê của ông cho kết quả như mong đợi tức là kế hoạch tiền thưởng đối với nhà quản lý có ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của doanh nghiệp Healy cho rằng các nhà quản trị luôn điều chỉnh tăng mức lợi nhuận công bố trong các kỳ, họ có thể điều chỉnh lợi nhuận giảm xuống nếu mức lợi nhuận thực tế đạt được cao hơn giới hạn được thưởng, hoặc mức lợi nhuận thực tế đạt được thấp hơn nhiều so với giới hạn được thưởng Thực hiện điều này, các nhà quản trị có thể dịch chuyển phần lợi nhuận năm này qua năm sau, và làm tăng mức thưởng của mình
Watts và Zimmerman (1990) cho rằng có hai loại kế hoạch trả thù lao cơ bản
sử dụng các chỉ tiêu kế toán để thưởng công cho nhà quản trị, là kế hoạch thưởng và
kế hoạch thực hiện (Các kế hoạch này sẽ thúc đẩy họ lựa chọn và thay đổi các chính sách kế toán để cố gắng làm tăng giá trị công ty và thù lao của mình)
Colin R.Dey và cộng sự (2007) cũng cho thấy đặc điểm các doanh nghiệp có
chủ sở hữu trực tiếp nắm quyền kiểm soát tại đây đã khiến cho các chính sách kế toán làm giảm mức lợi nhuận công bố được ưu tiên hơn để giảm bớt gánh nặng thuế
và thông qua đó cải thiện dòng tiền của doanh nghiệp Steven Young (1998) cũng chứng minh được rằng các nhà quản trị do ảnh hưởng của chính sách thưởng, có nhiều khả năng sẽ lựa chọn chính sách kế toán làm tăng lợi nhuận
Trang 342.3.2 Nhân tố mức vay nợ
Theo Watts và Zimmerman (1990) cho rằng mức vay nợ có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng thuận chiều tới khả năng các nhà quản trị lựa chọn các chính sách
kế toán làm tăng lợi nhuận; tức là mức vay nợ càng cao, các doanh nghiệp càng có
xu hướng thực hiện chính sách kế toán làm tăng lợi nhuận, tùy thuộc vào mức độ giám sát của các chủ nợ mà các doanh nghiệp có xu hướng chọn chính sách kế toán làm tăng lợi nhuận Holthausen và Leftwich (1983) cho rằng động cơ thúc đẩy các nhà quản trị thực hiện chính sách kế toán làm tăng lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí của việc vi phạm các điều khoản trong hợp đồng vay nợ và khả năng mức vay nợ ảnh hưởng bất lợi đến nguồn tài chính trong tương lai của doanh nghiệp
Colin R.Dey và cộng sự (2007) khi nghiên cứu về các nhân tố quyết định
chính sách kế toán tại các doanh nghiệp ở Ai Cập cho thấy mức sử dụng nợ càng lớn thì các doanh nghiệp càng nhiều khả năng sẽ chọn các chính sách kế toán, cụ thể
là chọn phương pháp khấu hao làm tăng lợi nhuận Bên cạnh đó, trong nghiên cứu của Godfrey (1994) cũng đã kiểm tra sự liên kết giữa các quyết định chính sách kế toán với tỷ lệ nợ của doanh nghiệp và cho ra các kết quả tương tự
2.3.3 Nhân tố khả năng vi phạm các hợp đồng vay nợ
Sweenney (1994), DeFond (1994) cho rằng nhà quản lý lựa chọn chính sách
kế toán làm tăng lợi nhuận khi DN đến gần tình trạng vi phạm hợp đồng vay và thậm chí sử dụng các thủ thuật kế toán để che dấu tình hình nợ Cùng quan điểm
này Whittred (1987) đã chứng minh các công ty có quan hệ bảo đảm liên công ty có khuynh hướng lập BCTC hợp nhất tự nguyện với mục đích làm tăng độ tin cậy của chủ nợ, giảm bớt chi phí giám sát và qua đó giảm bớt chi phí ủy nhiệm Watts và Zimmerman (1978) chứng minh được rằng trong trường hợp doanh nghiệp có nguy
cơ vi phạm các điều khoản trong hợp đồng vay nợ, để tránh phải đối mặt với tình trạng vỡ nợ và phải gánh chịu các khoản chi phí liên quan, doanh nghiệp thường có
xu hướng thay đổi chính sách kế toán cũng như lựa chọn chính sách kế toán phù hợp hơn để làm tăng mức lợi nhuận công bố Steven Young (1998) khi nghiên cứu
về các nhân tố quyết định việc lựa chọn chính sách kế toán theo quan điểm nhà
Trang 35quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất ở Anh cung cấp những bằng chứng cho thấy các nhà quản trị thực hiện các quyết định về chính sách kế toán để ra tín hiệu cho sự thực hiện dòng tiền mong muốn trong tương lai và giảm khả năng vi phạm các điều khoản trong hợp đồng vay nợ Cathy J.Mccall (2007), Watts và Zimmerman (1990) cũng chứng minh được ảnh hưởng quan trọng của các hợp đồng vay nợ lên các quyết định về chính sách kế toán của nhà quản trị
2.3.4 Nhân tố thuế
Colin R.Dey và cộng sự (2007) cho thấy phương pháp khấu hao, phương
pháp xác định giá trị hàng tồn kho làm tăng lợi nhuận kế toán mà không làm tăng các khoản nghĩa vụ thuế phải nộp vì thế công ty có thể sử dụng phương pháp khấu hao, phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho có lợi cho DN mình mà không cần phải quan tâm đến nghĩa vụ thuế phải nộp
Christos Tzovas (2006) cho rằng một chính sách kế toán tiết kiệm thuế có thể giúp cải thiện dòng tiền của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp thường đi đôi với việc công bố một mức thu nhập chịu thuế thấp hơn, điều này có những ảnh hưởng nghiêm trọng Chẳng hạn như ảnh hưởng đến khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các yêu cầu về tuân thủ hợp đồng, quyền lợi nhà quản trị cũng như các bên liên quan sẽ bị ảnh hưởng, đây chính là chi phí phi thuế của chính sách tiết kiệm thuế Họ phải lựa chọn giữa chi phí thuế hay các chi phí phi thuế, kết quả của việc lựa chọn này sẽ ảnh hưởng đến việc quyết định lựa chọn chính sách kế toán Christos Tzovas (2006) cũng chứng minh được rằng áp lực vay nợ nhân tố ảnh hưởng đến tầm quan trọng của chi phí thuế đối với một doanh nghiệp, do vậy các doanh nghiệp do có xu hướng phải gánh chịu chi phí phi thuế lớn từ độ bẩy tài chính cao thì càng có động cơ thực hiện chính sách kế toán làm tăng lợi nhuận Cloyd và cộng sự (1996), Szilveszter Fekete và các cộng
sự (2010) cũng chỉ ra rằng nhân tố thuế ảnh hưởng rất lớn đế sự lựa chọn chính sách
kế toán của DN
Trang 362.3 5 Nhân tố quy mô của doanh nghiệp
Quy mô của DN có xu hướng ảnh hưởng đáng kể đến việc lựa chọn chính sách kế toán của DN điều này đã đước xác định bởi liên đoàn kế toán Quốc tế IFAC (trích từ nghiên cứu của Szilveszter Fekete và các cộng sự) năm 2010 Theo Cloy và các cộng sự (1996) nhận thấy rằng quy mô doanh nghiệp là nhân tố có ảnh hưởng đến việc quyết định lựa chọn chính sách kế toán
Theo Cătălin Nicolae Albu và các cộng sự (2010) cho thấy, quy mô doanh nghiệp càng lớn thì mức độ minh bạch thông tin, tính trách nhiệm và tính tuân thủ các quy định về kế toán, kiểm toán và công bố thông tin càng cao Trong khi các doanh nghiệp lớn bị ràng buộc bởi rất nhiều các quy định, nguyên tắc, yêu cầu kế toán để từ đó mang lại các thông tin tài chính đáng tin cậy cho người sử dụng, các DNNVV do khá đơn giản trong các hoạt động và rủi ro thấp hơn từ các nguy cơ đến
từ bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp nên hệ quả các DN này cung cấp thông tin kế toán chủ yếu là đối phó với chủ nợ, chính phủ, dẫn đến chất lượng thông tin trên BCTC không được quan tâm đúng mức Từ đó có thể hiểu được mục đích lập và trình bày BCTC của những DN có quy mô lớn và nhỏ khác nhau cũng sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán
2.3.6 Nhân tố nhu cầu thông tin của người sử dụng
Vấn đề chất lượng BCTC là vấn đề sống còn của công tác kế toán vì nếu người sử dụng BCTC không cho rằng BCTC là hữu ích và đáng tin cậy thì BCTC cũng không có giá trị (Ha van Wyk & J Rossouw, 2009) Vì thế, người sử dụng thông tin và nhu cầu thông tin kế toán có tác động đến chất lượng thông tin kế toán Điều này gián tiếp tác động đến việc lựa chọn chính sách kế toán của DN Qua đó cho thấy nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng tác động đến việc lựa chọn
chính sách kế toán để DN làm đẹp BCTC cung cấp cho người sử dụng
Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010) đã chứng minh nhân tố nhu cầu
thông tin của người sử dụng có ảnh hưởng mạnh nhất đến việc lựa chọn chính sách
kế toán ở các DNNVV ở Romania
Trang 372.3.7 Nhân tố trình độ của kế toán viên
Người làm kế toán và năng lực chuyên môn của họ là hết sức quan trọng,
trong đó sự đánh giá, xét đoán nghề nghiệp là vấn đề then chốt (Bunea, 2006; theo
Cătălin Nicolae Albu et al, 2010) Với vai trò là người trực tiếp “sản xuất” ra thông
tin, năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của bộ phận kế toán sẽ có mối
quan hệ cùng chiều với chất lượng thông tin kế toán cung cấp Trong trường hợp
hạn chế về chuyên môn và nhận thức kém của người làm công tác kế toán dẫn đến
hiểu không đúng, vận dụng không đầy đủ các quy định pháp lý và chính sách kế
toán hệ quả các văn bản này không được triển khai và thực hiện một cách hiệu quả
Điều này gây khó khăn cho DN khi lựa chọn chính sách kế toán phù hợp Huỳnh
Thị Cẩm Nhung (2015), đã đưa nhân tố này vào mô hình nghiên cứu và kết quả
nghiên cứu cho thấy trình độ của kế toán viên ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính
sách kế toán của DN sao cho phù hợp với chuyên môn và năng lực của họ
B ảng 2.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT từ
các nghiên cứu trước
Healy (1985), Colin R.Dey
và cộng sự (2007), Steven Young (1998)
2 Mức vay
nợ
Là số tiền DN vay ngân hàng, tổ chức tín dụng, đối tượng khác tại một thời điểm hoặc trong một thời kỳ nhất định
DN vay nợ càng cao thì DN càng có xu hướng thực hiện CSKT để tăng lợi nhuận để
Watts và Zimmerman (1990), Holthausen và Leftwich (1983), Colin và cộng sự (2007), Godfrey (1994) Nguyễn Thị
Trang 38tác động đến quyết định cho vay của chủ nợ Phương Hồng và Nguyễn
Thị Kim Oanh (2014), Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015)
DN phải đạt được như lợi nhuận, tổng tài sản DN sẽ lựa chọn chính sách kế toán làm ảnh hưởng dến các chỉ tiêu kế toán này
để tránh khả năng vi phạm các hợp đồng vay nợ
Sweenney (1994), DeFond
(1994), Whittred (1987),
Watts và Zimmerman (1978), Steven Young (1998), Cathy J.Mccall (2007), Watts và Zimmerman (1990)
4 Thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng
DN sẽ ưu tiên lựa chọn CSKT sao cho số thuế phải nộp là hợp lý và tiết kiệm nhất
Colin R.Dey và cộng sự (2007), Christos Tzovas
(2006), Watts và
Zimmerman (1990), Cloyd
và cộng sự (1996), Nguyễn Thị Kim Oanh (2012), Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010), Phạm Thị Bích Vân (2012), Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh (2014), Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015), Nguyễn
Hồng Hà (2015)
5 Quy mô Quy mô của DN thể hiện qua số lượng lao Cloy và các cộng sự (1996)
Trang 39để làm đẹp BCTC cung cấp cho người sử dụng.
Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010), Nguyễn
Các DN sẽ lựa chọn chính sách kế toán sao cho phù hợp với chuyên môn và năng lực của nhân viên kế toán
Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015)
2.4 Lý thuyết cơ bản về lựa chọn chính sách kế toán
2.4.1 Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymetric information)
Lý thuyết bất cân xứng thông tin lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970
bởi George Akerlo Theo ông, thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch
có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin không chính xác
Điều này kiến cho bên có ít thông tin có những quyết định không chính xác khi thực
hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin có những hành vi gây bất lợi cho
bên kia khi thực hiện giao dịch
Ngoài ra, trong một nghiên cứu của Myers và Majluf vào năm 1984, đã chỉ
ra rằng việc bất cân xứng thông tin ảnh hưởng lên quyết định đầu tư và tài trợ của
doanh nghiệp Theo đó, so với các nhà đầu tư bên ngoài, các nhà quản lý thường có
Trang 40thông tin đầy đủ hơn về tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng tương lai của doanh nghiệp
Thêm vào đó, mối quan hệ giữa tình trạng thông tin bất cân xứng và hành vi quản trị lợi nhuận đã được khẳng định bởi nghiên cứu của Richardson (1998) cho rằng sự tồn tại tình trạng thông bất cân xứng giữa nhà quản lý và cổ đông là điều kiện cho hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý bóp méo thông tin trên BCTC
Do đó, trong điều kiện thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và cổ đông, người cung cấp thông tin và người sử dụng thông tin, trong đó các cổ đông hay người sử dụng bên ngoài luôn trong tình trạng thiếu thông tin hơn, đây là điều kiện để nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Vì vậy, nhà quản lý có thể xây dựng các chính sách kế toán theo hướng làm tăng lợi nhuận, tăng giá trị cổ phiếu trong khi thực sự kết quả kinh doanh của doanh nghiệp lại không như vậy để nhằm mục đích tăng kế hoạch tiền thưởng cho nhà quản lý, vay được nhiều nợ, và tạo được lòng tin vời bên thứ ba Do đó, lý thuyết này giải thích cho các nhân tố: kế hoạch tiền thưởng cho nhà quản lý, mức vay nợ, khả năng vi phạm hợp đồng vay nợ, nhu cầu thông tin của người sử dụng, quy mô của DN Ngoài ra, cơ quan thuế cũng là bên thiếu thông tin về tài chính của DN nên nhà quản lý có thể sử dụng chính sách kế toán để tối thiểu hóa số thuế phải nộp Vì thế lý thuyết này cũng giải thích cho nhân tố thuế
2.4 2 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)
Lý thuyết ủy được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm
1976 Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm Thông qua hợp đồng, bên được ủy nhiệm thực hiện một số công việc đại diện cho bên ủy nhiệm
Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả hai bên (bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm) đều tối đa hóa lợi ích của mình Vấn đề là làm sao cho bên được ủy nhiệm hành xử theo hướng tối đa hóa lợi ích của bên ủy nhiệm Các vấn đề trên làm phát sinh chi phí ủy nhiệm Chi phí ủy nhiệm về cơ bản là số tiền mà bên ủy nhiệm mất