1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp sản xuất gạch ngói trên địa bàn tỉnh bình dương

125 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn Chính sách kế toán của các Doanh nghiệp sản xuất gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương” là do chính tôi n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THÚY AN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GẠCH

NGÓI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

NGUYỄN THÚY AN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT GẠCH

NGÓI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÉ TP HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 8340301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Phạm Ngọc Toàn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn Chính sách kế toán của các Doanh nghiệp sản xuất gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương” là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện với sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Ngọc Toàn Các thông tin và số liệu được sử dụng trong luận văn được trích dẫn đầy đủ nguồn, tài liệu tại phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo là hoàn toàn trung thực

Tác giả

Nguyễn Thúy An

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

TÓM TẮT

ABSTRACT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa của đề tài 3

7 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 5

1.2 Các nghiên cứu trong nước 7

1.3 Nhận xét và khe hổng nghiên cứu 11

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 18

2.1 Tổng quan về chính sách kế toán và lựa chọn chính sách kế toán 18

2.1.1 Khái niệm chính sách kế toán 18

2.1.2 Vai trò của chính sách kế toán 19

Trang 5

2.1.3 Mục tiêu của chính sách kế toán 19

2.1.4 Việc lựa chọn chính sách kế toán 20

2.1.5 Các văn bản quy định liên quan đến chính sách kế toán hiện hành tại Việt Nam 21

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán ở Doanh nghiệp 22

2.2.1 Thuế 22

2.2.2 Nhu cầu thông tin của người sử dụng thông tin 23

2.2.3 Trình độ nhân viên kế toán 23

2.2.4 Hình ảnh của Doanh nghiệp 24

2.2.5 Mức vay nợ 24

2.3 Đặc điểm doanh nghiệp sản xuất gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương tác động đến lựa chọn chính sách kế toán 25

2.4 Các lý thuyết nền có liên quan đến lựa chọn chính sách kế toán của Doanh nghiệp 27

2.4.1 Lý thuyết đại diện 27

2.4.2 Lý thuyết các bên liên quan 29

2.4.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thiết kế nghiên cứu 32

3.1.1 Thiết kế bảng câu hỏi trong nghiên cứu định lượng 32

3.1.2 Thiết kế mẫu 33

3.1.3 Thu thập dữ liệu 33

3.1.4 Phân tích dữ liệu 34

3.2 Quy trình nghiên cứu 34

3.3 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 36

Trang 6

3.4 Xây dựng thang đo 39

3.5 Kết quả phỏng vấn chuyên gia 44

3.6 Mô tả mẫu khảo sát 46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 48

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49

4.1 Phân tích và đánh giá độ tin cậy của thang đo: 49

4.1.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s alpha: 50

4.1.1.1 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Thuế” 50

4.1.1.2 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Nhu cầu thông tin của người sử dụng thông tin” 50

4.1.1.3 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Trình độ nhân viên kế toán” 51

4.1.1.4 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Hình ảnh của DN” 52

4.1.1.5 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Mức vay nợ” 54

4.1.1.6 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho thang đo biến “Lựa chọn chính sách kế toán ở các Doanh nghiệp sản xuất gạch ngói tỉnh Bình Dương” 54

4.1.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 55

4.1.2.1 Phân tích khám phá EFA cho biến độc lập 55

4.1.2.2 Phân tích khám phá EFA cho biến phụ thuộc “Lựa chọn chính sách kế toán ở các Doanh nghiệp sản xuất gạch ngói tỉnh Bình Dương” 58

4.2 Phân tích hồi quy 59

4.2.1 Phương trình hồi quy tuyến tính 59

4.3 Kiểm định các giả thiết cần thiết trong mô hình phân tích hồi quy 62

Trang 7

4.3.1 Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa của các hệ số hồi quy 62

4.3.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 62

4.3.3 Kiểm định về phân phối chuẩn của phần dư 63

4.3.4 Kiểm định về tính độc lập của phần dư 63

4.4 Kiểm tra các giả định mô hình hồi quy bội 64

4.4.1 Kiểm định giả định phương sai của sai số (phần dư) không đổi 64

4.4.2 Kiểm tra giả định các phần dư có phân phối chuẩn 65

4.5 Bàn luận kết quả nghiên cứu 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 69

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

5.1 Kết luận nghiên cứu 70

5.2 Các kiến nghị liên quan đến lựa chọn chính sách kế toán ở các Doanh nghiệp sản xuất gạch ngói tỉnh Bình Dương 70

5.2.1 Hình ảnh của doanh nghiệp 70

5.2.2 Trình độ nhân viên kế toán 72

5.2.3 Mức vay nợ 72

5.2.4 Thuế 73

5.2.5 Nhu cầu thông tin của người sử dụng thông tin 74

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 77

KẾT LUẬN CHUNG 78

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BCTC: Báo cáo tài chính

CSKT: Chính sách kế toán

DN: Doanh nghiệp

DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNSX: Doanh nghiệp sản xuất

PPNC: Phương pháp nghiên cứu

TNDN: Thu nhập doanh nghiệp

TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các yếu tố lựa chọn chính sách của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hungary 5

Bảng 1.2: Tổng hợp các nghiên cứu trước trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài 11

Bảng 2.1: Ma trận chính sách kế toán 20

Bảng 3.1: Căn cứ xây dựng mô hình nghiên cứu 36

Bảng 3.2: Thang đo nghiên cứu 40

Bảng 3.3 Bảng kết quả đánh giá của chuyên gia đối với thang đo nghiên cứu………….44

Bảng 3.4: Thống kê số lượng bảng câu hỏi thu về hợp lệ 46

Bảng 3.5: Kết quả thống kê mẫu khảo sát 46

Bảng 4.1 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Thuế” 50

Bảng 4.2 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Nhu cầu thông tin của người sử dụng thông tin” 51

Bảng 4.3 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Trình độ nhân viên kế toán” 51

Bảng 4.4 Kết quả chạy lần 2 độ tin cậy thang đo biến “Trình độ nhân viên kế toán” 52

Bảng 4.5 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Hình ảnh của doanh nghiệp” 53

Bảng 4.6 Kết quả chạy lần 2 độ tin cậy thang đo biến “Hình ảnh doanh nghiệp 53

Bảng 4.7 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Mức vay nợ” 54

Bảng 4.8 Kết quả độ tin cậy thang đo biến “Lựa chọn chính sách kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất gạch ngói tỉnh Bình Dương” 55

Bảng 4.9 Hệ số KMO và kiểm định Bartlett các thành phần 56

Bảng 4.10 Bảng phương sai trích 57

Bảng 4.11 Ma trận xoay 58

Bảng 4.12 Hệ số KMO và kiểm định Bartlett các thành phần 58

Bảng 4.13 Phương sai trích 59

Trang 10

Bảng 4.14 Kiểm tra độ phù hợp của mô hình 60

Bảng 4.15 Bảng phân tích ANOVA 60

Bảng 4.16 Bảng kết quả hồi quy 61

Bảng 4.17 Kết quả chạy Durbin-Watson 63

Bảng 5.1 Mức độ tác động của các nhân tố đến lựa chọn chính sách kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất gạch ngói tỉnh Bình Dương 70

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan (2016) 9

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 35

Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu 37

Hình 4.1: Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy 63

Hình 4.2: Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chuẩn hóa 65

Hình 4.3: Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa 66

Trang 12

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn Chính sách kế toán của các Doanh nghiệp sản xuất gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương

TÓM TẮT Nghiên cứu góp phần trình bày tổng quan các nghiên cứu trước bao gồm trong và ngoài nước có liên quan đến mảng đề tài về lựa chọn CSKT ở các DN từ phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu để làm căn cứ kế thừa kết quả nghiên cứu của họ và xác định khe hổng nghiên cứu cho luận văn Các lý thuyết nền có liên quan như lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên liên quan, lý thuyết thông tin bất cân xứng cũng được trình bày về nội dung và vận dụng lý thuyết nền vào mô hình nghiên cứu Tác giả trình bày mô hình nghiên cứu đề xuất về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương Bằng cách sử dụng PPNC hỗn hợp, kết hợp PPNC định tính và nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng gồm: Hình ảnh DN, trình độ nhân viên kế toán, mức vay

nợ, thuế, nhu cầu thông tin của người sử dụng thông tin

Căn cứ vào mức độ tác động của các nhân tố, tác giả đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương Cuối cùng, tác giả trình bày những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài

Từ khóa: Chính sách kế toán, lựa chọn, doanh nghiệp sản xuất, gạch ngói, Bình Dương

Trang 13

Factors affecting the selection of Accounting Policies of tile manufacturing enterprises in Binh Duong province

ABSTRACT

The study contributes to an overview of previous studies including domestic and foreign studies related to the topic of accounting policy selection in enterprises from research methods, research content and research results rescued as a basis to inherit their research results and identify research gap for the thesis Relevant background theories such as representation theory, stakeholder theory, asymmetric information theory are also presented about the content and application of background theory to the research model The author presents a research model proposing factors affecting the selection of accounting policies of brick and tile enterprises in Binh Duong province By using mixed research methods, combining qualitative research methods and quantitative research, research results show that there are 5 influencing factors including: Enterprise image, accounting staff level, debt, tax, information needs of users

Based on the impact of factors, the author makes recommendations to improve the efficiency of accounting policy selection of brick and tile production enterprises in Binh Duong province Finally, the author presents the limitations and directions for further research of the topic

Keywords: Accounting policy, selection, manufacturing enterprises, brick and tile, Binh Duong

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Theo VAS 29 (2005) thì CSKT là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán

cụ thể được DN áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC, khi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kế toán viên của đơn vị dựa vào các CSKT làm cơ sở để xử lý các nghiệp vụ theo đúng chuẩn mực, chế độ kế toán, các văn bản pháp luật liên quan và theo các chính sách của DN Bên cạnh đó CSKT với DN còn có vai trò vô cùng quan trọng thể hiện ở việc CSKT là cơ sở để nhà quản trị kiểm soát kết quả hoạt động của đơn vị như doanh thu, chi phí,… từ đó định hướng cho các hoạt động của đơn vị theo các mục tiêu đã xác định Các DN được lựa chọn CSKT để áp dụng tại đơn vị sao cho phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị mình đồng thời cũng cần tuân thủ các chuẩn mực đề ra nhằm đảm bảo mức độ trung thực và hợp lý của thông tin kế toán

Việc vận dụng CSKT khác nhau thì thông tin trên báo cáo tài chính cũng sẽ khác nhau Trên thực tế, CSKT ở mỗi DN bị chi phối bởi nhiều nhân tố chủ quan với mục đích tối đa hóa giá trị DN làm giảm độ tin cậy của thông tin tài chính Vì vậy việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là rất cần thiết, góp phần nâng cao tính hữu ích của thông tin kế toán trước thực trạng đáng lo ngại về chất lượng BCTC của các

DN Việt Nam hiện nay

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới về vấn đề các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán nhưng đối tượng khảo sát lại quá rộng và bao quát, không tập trung vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh để áp dụng CSKT cụ thể hơn và cho ra kết quả nghiên cứu chính xác hơn Vì vậy, tác giả lựa chọn đối tượng khảo sát là các DNSX gạch ngói tỉnh Bình Dương vì ít có nghiên cứu nào thực hiện Thêm nữa các DNSX gạch ngói tỉnh Bình Dương hiện nay đang còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là các DN nhỏ và vừa, chưa có nhiều kiến thức về quản lý, kế toán nên việc lựa chọn các CSKT phù hợp để áp dụng cũng gặp nhiều cản trở Bên cạnh đó, các DNSX gạch ngói trước thời kỳ đổi mới hoạt động sản xuất, công nghệ cũng đang đặt ra vấn đề về thông tin

kế toán có chất lượng nhằm nhận định, đánh giá đúng thực lực và thu hút, mời gọi đầu tư

để phát triển

Trang 15

Với những lý do đã nêu trên, tác giả xin chọn nghiên cứu đề tài luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương” để thực hiện nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương

- Mục tiêu cụ thể: nghiên cứu này được thực hiện nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ thể như sau:

+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương

+ Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương

3 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính:

+ Câu hỏi 1: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương?

+ Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tốđ ến việc lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương như thế nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Trang 16

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng như sau:

- Phương pháp định tính: tổng hợp cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước trong và ngoài nước, sử dụng công cụ phỏng vấn đồng thời kết hợp với xin ý kiến chuyên gia để xác định các nhóm nhân tố có thể tác động đến lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương Tác giả sẽ sử dụng kết quả thảo luận cuối cùng để làm cơ

sở xây dựng bảng câu hỏi phục vụ cho công tác khảo sát thông qua nội dung trao đổi

- Phương pháp định lượng: tác giả sẽ dùng công cụ khảo sát để tập hợp các dữ liệu bằng cách chọn mẫu và gửi bảng khảo sát trực tiếp đến các đối tượng có liên quan đến lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương, sau đó tiếp tục dùng công cụ phần mềm SPSS để kiểm định dữ liệu được tập hợp từ các cuộc khảo sát để kiểm tra lại độ tin cậy của các thang đo các nhân tố tác động đến lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương Các công cụ sử dụng bao gồm Conbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy đa biến và các kiểm định mô hình hồi quy

6 Ý nghĩa của đề tài

Vấn đề đặt ra cho đề tài giải quyết đó là xác định và đo lường ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Về mặt lý thuyết, luận văn tổng hợp các lý thuyết có liên quan đến đề tài các nhân

tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN sản xuất gạch ngói, giúp người đọc có cái nhìn khách quan và rõ hơn về CSKT và DN sản xuất gạch ngói Dựa vào kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu, trong đó có các nhân tố ảnh hưởng được tác giả tổng hợp

từ nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó, luận văn hoàn thành sẽ bổ sung thêm lý thuyết mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến CSKT của DN sản xuất gạch ngói, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan

Về mặt thực tiễn, kết quả kiểm định sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN sản xuất gạch ngói trên địa bàn

Trang 17

tình Bình Dương, những kết quả này là cơ sở khoa học hữu ích không chỉ giúp DN trong việc lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng BCTC mà còn là hỗ trợ các cơ quan quản

lý hành chính tham khảo khi thực hiện thanh tra, rà soát

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Ở chương này, tác giả sẽ trình bày một số các nghiên cứu được thực hiện trong và ngoài nước có liên quan đến việc lựa chọn CSKT của các DN, cụ thể như sau:

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Bosnyák (2003) với nghiên cứu Számviteli értékelési eljárások hatása a vállalkozásokvagyoni, jövedelmi és pénzügyi helyzetére [The effect of evaluationmethods on the financial position, performance and cash flows of entites],Doctoral thesis, Budapest Corvinus University, Hungary (Tạm dịch: Hiệu quả của phương pháp đánh giá về vị trí tài chính, hiệu suất và dòng tiền của các DN).Tác giả này đã nghiên cứu ở Hungary việc lựa chọn CSKT của các DN vừa và nhỏ chịu tác động bởi những nhân tố nào Phát hiện của tác giả đã xác nhận tác động thực tế của thuế đối với kế toán, vì yếu tố mạnh nhất là “chi phí thuế”, giải thích 26,17% sự quyết định lựa chọn CSKT, ngoài ra còn các nhân tố khác tác động đến quyết định lựa chọn CSKT như hình ảnh của DN, nhu cầu thông tin kế toán, tính nghề nghiệp, cách ghi nhận các nghiệp

vụ kế toán được trình bày trong bảng 1 dưới đây:

Bảng 1.1: Các yếu tố lựa chọn chính sách của các DNNVV ở Hungary

Trang 19

CSKT của các DN tại Hy Lạp Đồng thời nhấn mạnh nhận thức của nhà quản lý trong việc lựa chọn CSKT, ảnh hưởng đến số liệu kế toán cung cấp, qua đó ảnh hưởng đến việc

ra quyết định và ý kiến của các bên liên quan Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả

đã tiến hành khảo sát các nhà quản lý tài chính của 200 công ty ở Hy Lạp Kết quả của nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng bởi nhận thức và quyết định của các bên liên quan, theo đuổi các mục tiêu liên quan đến lợi nhuận, mục tiêu giảm thiểu trách nhiệm pháp lý của công ty là các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT ở các công ty này Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm liên quan đến việc lựa chọn CSKT của các DN hoạt động tại Hy Lạp và ở các nước có môi trường tương tự như của Hy Lạp (do môi trường

kế toán ở Hy Lạp tương tự như ở nhiều nước châu Âu nên nghiên cứu này có thể cung cấp một cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DN hoạt động ở các nước này) Ngoài ra, những phát hiện của nghiên cứu này có thể tạo thuận lợi cho các chuyên gia thực hiện phân tích tài chính quốc tế

Szilveszter Fekete (2010) với nghiên cứu “Explaining Accounting Policy Choices

of SME’s: An Empirical Research on the Evaluation Methods” Tạm dịch: Giải thích lựa chọn các CSKT của SME: Một nghiên cứu thực nghiệm về các phương pháp đánh giá Kết quả nghiên cứu đã xác định được 5 nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT ở các

DN bao gồm: thuế, nhu cầu thông tin của người dùng, hình ảnh của DN, chủ sở hữu, hình ảnh của DN với bên thứ ba, các nguyên tắc cơ bản về kế toán Dữ liệu cho nghiên cứu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát trong đó người trả lời được yêu cầu cho biết mức độ mà mỗi yếu tố được liệt kê trong bảng câu hỏi ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT của họ Sau khi kiểm soát kích thước mẫu, tác giả áp dụng kỹ thuật phân tích thành phần chính trong việc xác định tác động của các yếu tố Qua nghiên cứu tác giả khẳng định thuế vẫn là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến lựa chọn CSKT của DN, tuy nhiên nhận thức của DN trong tính đúng đắn và công bằng khi thực hiện nghĩa vụ về thuế vẫn còn hạn chế

Okpala, Kenneth Enoch (2016) với nghiên cứu “Factors influencing accounting policy choices under IFRS in Airline-GSA companies” Ilorin Journal of Accounting (IJA) Tạm dịch: Các yếu tố ảnh hưởng đến các lựa chọn CSKT theo IFRS trong các công

Trang 20

ty hàng không-GSA Mục tiêu của nghiên cứu này là để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các CSKT trong các công ty Đại lý bán hàng hàng không (GSA) với mẫu khảo sát gồm 101 nhân viên Dữ liệu được thu thập bằng phiếu khảo sát gửi đến các đối tượng, tiếp đó phân tích bằng phương pháp phân tích tương quan và ANOVA một chiều Kết quả đã kết luận rằng quy mô của DN không có mối quan hệ đáng kể với lựa chọn CSKT Động cơ thu nhập; và mục tiêu trách nhiệm thuế của công ty có mối quan hệ đáng kể với lựa chọn CSKT Từ kết quả đã nghiên cứu, tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị như: CSKT được các công ty GSA áp dụng và áp dụng phải được công bố một cách

rõ ràng; bất kể động cơ đằng sau việc lựa chọn CSKT là gì thì quản lý GSA cần lưu ý đến quan điểm đúng đắn và công bằng của thông tin trình bày trên BCTC Các mục tiêu quản

lý và trách nhiệm thuế cần phải được xem xét trong việc lựa chọn CSKT

1.2 Các nghiên cứu trong nước

Hoàng Tâm Vân Anh (2016) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DNSX phần mềm trên địa bàn TP.HCM” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP.HCM Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả sử dụng PPNC hỗn hợp, trong đó có sự kết hợp giữa PPNC định tính và nghiên cứu định lượng, chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phi xác suất Nghiên cứu này trước hết góp phần

hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về lựa chọn CSKT của các DN, đồng thời hệ thống các nghiên cứu thuộc trong và ngoài nước trước đây có liên quan đến việc lựa chọn CSKT Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến

sự lựa chọn CSKT của DNSX phần mềm trên địa bàn TP.HCM và đưa ra các đề xuất kiến nghị đối với DN và cơ quan quản lý nhà nước về vấn đề lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng BCTC Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lựa chọn CSK chịu sự tác động của các nhân tố như nhu cầu thông tin ( =0.388), hình ảnh DN ( =0.344), ghi nhận kế toán ( =0.473); đặc điểm DN phần mềm ( =0.337)

Bùi Thị Thu Lan (2016) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP HCM Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu như: Xác định các nhân tố, đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến việc

Trang 21

lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu; từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp các DN nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn CSKT Cụ thể kết quả nghiên cứu việc lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu chịu ảnh hưởng bởi kế hoạch tiền thưởng cho nhà quản lý ( =0.276 ), mức vay nợ ( =0.276 ), khả năng vi phạm hợp đồng vay nợ ( = 0.291), thuế ( =0.230 ), nhu cầu thông tin của người sử dụng thông tin ( = 0.151), trình độ nhân viên kế toán ( =0.439), và quy mô của DN không ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho mức độ phù hợp của mô hình là 58.7%, như vậy còn 41.3 % sự thay đổi củaviệc lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu là do các nhân tố khác quy định chưa được nghiên cứu trong đề tài này, do đó các nghiên cứu sau này có thể mở rộng mô hình nghiên cứu cho phù hợp hơn

Nguyễn Thị Ngọc Lan (2016) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế tóan - bằng chứng thực nghiệm tại các DN trên địa bàn TP

Đà Lạt” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP HCM.Trước hết, dựa trên tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây liên quan đến sự lựa chọn CSKT của các DN, cũng như cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài này, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN Tiếp đó thông qua PPNC định tính và định lượng, tác giả giải quyết những mục tiêu nghiên cứu như xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến sự lựa chọn CSKT của các DN Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lựa chọn CSKT đối với các DN trên địa bàn TP Đà Lạt Kết quả nghiên cứu được thể hiện theo mô hình dưới đây:

Trang 22

Hình 1.1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan (2016)

(Nguồn: Tác giả tổng hợp) Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lựa chọn CSKT của các DN chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: người làm kế toán, mục tiêu, đặc trưng, nguyên tắc, thông tin, nhu cầu Trong đó nhân tố người làm kế toán ảnh hưởng mạnh nhất và nhân tố nhu cầu ảnh hưởng yếu nhất đến sự lựa chọn chính sách kế tóan - bằng chứng thực nghiệm tại các DN trên địa bàn TP Đà Lạt

Lê Thị Mai Chi (2017) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của DN nhỏ và vừa – nghiên cứu đối với DNSX ngành dệt may trên địa bàn TP.HCM” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP HCM Nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời những câu hỏi như: những nhân tố nào tác động đến việc lựa chọn CSKT của DN nhỏ và vừa ngành dệt may trên địa bàn TP.HCM, mức độ tác động của chúng như thế nào.Nghiên cứu này cũng áp dụng PPNC hỗn hợp, như phân tích nhân

DN trên địa bàn

TP Đà Lạt

Trang 23

tố, phân tích hồi quy đa biến Kết quả nghiên cứu xác định các nhân tố như thuế, tính trung thực hợp lý BCTC, đáp ứng yêu cầu các đối tượng bên trong, sự tin cậy của các đối tượng bên ngoài DN có ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của DN nhỏ và vừa ngành dệt may trên địa bàn TP.HCM Bên cạnh đó tác giả cũng đề xuất một số gợi ý về lựa chọn CSKT cho các DN

Trần Thị Hoài Thương (2017) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP.HCM” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP HCM Qua nghiên cứu, luận văn này cũng xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP HCM gồm: thuế và chi phí khác của DN, chỉ tiêu tài chính phục vụ công tác đấu thầu, đặc điểm thị trường của DN, thông tin trên BCTC phản ánh trung thực và hợp lý Tuy nhiên, tác giả này nhận định nghiên cứu vẫn còn những hạn chế như: lấy mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất nên tính tổng quát của đề tài chưa cao; bên cạnh những nhân tố được đưa vào mô hình nghiên cứu thì vẫn còn nhiều nhân tố tác động đến lựa chọn CSKT chưa được nghiên cứu nên các nghiên cứu sau này có thể mở rộng mô hình nghiên cứu, hoặc không chỉ nghiên cứu các DN xây lắp mà còn có thể thực hiện nghiên cứu ở các loại hình DN khác,…

Trần Quốc Dũng (2017) với nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận DN tại TP Cần Thơ” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP HCM Việc thực hiện nghiên cứu này giúp giải quyết các câu hỏi như: thực trạng sự lựa chọn CSKT của các DN trên địa bàn TP Cần Thơ như thế nào; nhân tố nào và mức độ tác động của nó đến sự lựa chọn CSKTnhư thế nào, các kiến nghị nào có thể thực hiện để lựa chọn CSKT cho phù hợp Qua lược khảo các nghiên cứu trước, và tổng hợp cơ sở lý thuyết, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến lựa chọn CSKT gồm: quy mô DN, hợp đồng nợ, tài chính nội bộ, thuế, thâm dụng vốn và tỷ

lệ sở hữu nhà nước Tiếp đó bằng việc sử dụng PPNC hỗn hợp và thu thập dữ liệu nghiên cứu từ BCTC của 153 DNSX kinh doanh trên địa bàn TP Cần Thơ, tác giả đã giải quyết được các câu hỏi nghiên cứu đặt ra Cụ thể, nghiên cứu đã tìm ra 3 nhân tố tác động đến

sự lựa chọn CSKT, đó là: Thuế (=– 0,971), Hợp đồng nợ (=0,035) và Quy mô DN (=

Trang 24

– 0,001), tuy nhiên mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu này chỉ khoảng trên 30%, như vậy còn khoảng 70% sự thay đổi của lựa chọn CSKT là do các nhân tố khác quyết định nhưng chưa được nghiên cứu trong đề tài này.

1.3 Nhận xét và khe hổng nghiên cứu

Trước hết tác giả xin trình bày hệ thống hóa các kết quả của các nghiên cứu trước thực hiện trong và ngoài nước theo bảng dưới đây:

Bảng 1.2: Tổng hợp các nghiên cứu trước trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài

Trang 25

STT Tác giả Nghiên cứu Kết quả nghiên cứu

NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI

(2003)

The effect of evaluation methods on the financial position, performance and cash flows of entites Tạm dịch:Hiệu quả của phương pháp đánh giá về vị trí tài chính, hiệu suất và dòng tiền của các DN

Các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT gồm: Chi phí thuế; Hình ảnh của DN; Nhu cầu thông tin kế toán; Tính nghề nghiệp; Cách ghi nhận nghiệp vụ kế toán

kế toán thuế và kế toán tài chính trùng khớp

Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng bởi nhận thức

và quyết định của các bên liên quan, theo đuổi các mục tiêu liên quan đến lợi nhuận, mục tiêu giảm thiểu trách nhiệm pháp lý của công ty là các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT ở các công ty Hy Lạp

Qua nghiên cứu các tác giả khẳng định thuế vẫn là yếu

tố ảnh hưởng mạnh nhất đến lựa chọn CSKT của DN, tuy nhiên nhận thức của DN trong tính đúng đắn và công bằng khi thực hiện nghĩa vụ về thuế vẫn còn hạn chế

Kết quả đã kết luận rằng quy mô của DN không có mối quan hệ đáng kể với lựa chọn CSKT Động cơ thu nhập; và mục tiêu trách nhiệm thuế của công ty có mối

Trang 26

(2016) CSKT theo IFRS trong các công ty hàng

không-GSA

quan hệ đáng kể với lựa chọn CSKT

NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lựa chọn CSKT chịu sự tác động của các nhân tố như nhu cầu thông tin (

Việc lựa chọn CSKT của các DN thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu chịu ảnh hưởng bởi kế hoạch tiền thưởng cho nhà quản lý ( =0.276), mức vay nợ ( =0.276), khả năng vi phạm hợp đồng vay nợ ( = 0.291), thuế (

=0.230), nhu cầu thông tin của người sử dụng thông tin ( = 0.151), trình độ nhân viên kế toán ( =0.439), và quy mô của DN không ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lựa chọn CSKT của các

DN chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: người làm kế toán, mục tiêu, đặc trưng, nguyên tắc, thông tin, nhu cầu

Trang 27

(2017) với DNSX ngành dệt may trên địa bàn

TP.HCM

tượng bên trong, sự tin cậy của các đối tượng bên ngoài

DN có ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của DN nhỏ

và vừa ngành dệt may trên địa bàn TP.HCM

Luận văn này cũng xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP HCM gồm: thuế và chi phí khác của DN, chỉ tiêu tài chính phục vụ công tác đấu thầu, đặc điểm thị trường của DN, thông tin trên BCTC phản ánh trung thực và hợp lý

6 Trần Quốc

Dũng

(2017)

Các nhân tố tác động đến lựa chọn CSKT ảnh hưởng đến lợi nhuận DN tại TP Cần Thơ

Nghiên cứu đã tìm ra 3 nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT, đó là: Thuế (= – 0,971), Hợp đồng nợ (=0,035) và Quy mô DN (= – 0,001),

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Trang 28

Thông qua trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT ở các DN có thể nhận thấy đề tài này nhận được rất nhiều sự quan tâm của các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Mỗi nghiên cứu đều góp phần trình bày được các nội dung liên quan đến lý thuyết về CSKT, bên cạnh đó mỗi nghiên cứu khác nhau cũng cho ra những kết quả nghiên cứu khác nhau về các nhân tố, cũng như mức độ tác động của các nhân tố đến lựa chọn CSKT ở nhóm đơn

vị mà họ thực hiện khảo sát Các nghiên cứu đi sau hầu như đều tiếp cận theo quy trình các nghiên cứu trước để xây dựng và phát triển mô hình Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu mang tính chất riêng lẻ phát triển mô hình nghiên cứu gồm các biến rời rạc, thiếu tính liên kết Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích vào một nhân tố nào đó mà cụ thể là nhân tố thuế và xem nhẹ các nhân tố còn lại

Tuy mỗi đối tượng khảo sát khác nhau lại có những đặc điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau, chính vì vậy mà các nhân tố tác động đến việc lựa chọn CSKT cũng khác nhau, điều này có thể ví dụ thông qua việc một số các nghiên cứu cho rằng quy mô DN có ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT nhưng cũng có những nghiên cứu cho kết quả không tác động, không tồn tại mối quan hệ giữa chúng Việc nghiên cứu lựa chọn CSKT trên diện rộng gồm tất cả loại hình DN trên một địa bàn quốc gia sẽ khó cho

ra kết quả nghiên cứu chính xác Điều đó có nghĩa là nên tập trung nghiên cứu đối tượng

có đặc điểm kinh doanh cụ thể, sẽ thuận lợi cho việc xác định, tìm hiểu động cơ lựa chọn CSKT của chính DN đó Hơn nữa, ngành nghề lựa chọn nghiên cứu phải mang tính đặc trưng, có sự khác biệt so với các ngành nghề còn lại và nên là một trong những ngành đang có xu hướng phát triển nhận được sự khuyến khích đầu tư của chính phủ

Từ việc phân tích những mặt đạt được và hạn chế của các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, tác giả nhận thấy cần có một công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN với một ngành nghề kinh doanh cụ thể Và ở đây, tác giả đã lựa chọn DN sản xuất gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Lý do cho sự lựa chọn nảy là vì ngành nghề sản xuất gạch ngói mang nhiều đặc điểm đặc trưng mà các DN khác không có nên việc thực hiện một nghiên cứu riêng biệt là cần thiết

Trang 29

Các doanh nghiệp sản xuất gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương chủ yếu là các

DN nhỏ và vừa, xuất phát từ ngành nghề thủ công truyền thống, chưa có nhiều kiến thức

về quản lý, kế toán nên việc lựa chọn các CSKT phù hợp để áp dụng cũng gặp nhiều cản trở Bên cạnh đó, các DNSX gạch ngói với những đặc điểm, đặc thù như đang trong quá trình thay đổi về công nghệ sản xuất theo khuyến khích của Chính Phủ nhằm tiết kiệm tài nguyên, giảm ô nhiễm môi trường cũng đã đặt ra các vấn đề kế toán, thông tin kế toán phải có chất lượng để giúp người sử dụng thông tin có nhận định chính xác, đánh giá đúng thực lực tình hình hoạt động của doanh nghiệp, từ đó mời gọi thu hút đầu tư để phát triển

về các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT ở các DN thì vẫn chưa có nghiên cứu nào thực hiện trên đối tượng là các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đây chính

là khe hổng nghiên cứu của đề tài, để từ đó tác giả lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương” thực hiện nghiên cứu

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Trong chương 1 này, tác giả đã trình bày tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến mảng đề tài về lựa chọn CSKT ở các DN Qua các nghiên cứu trước trong và ngoài nước đã chỉ ra có nhiều nhân tố tác động đến việc lựa chọn CSKT ở các DN như: Chi phí thuế, hợp đồng nợ, quy mô DN, trình độ nhân viên kế toán…

Luận văn đã tổng hợp các nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước từ PPNC, mẫu nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu để làm căn cứ kế thừa và xác định khe hổng nghiên cứu

Qua quá trình tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có thể nhận thấy mảng đề tài này nhận được rất nhiều sự chú ý từ các học giả, tuy nhiên hiện nay vẫn ít có tác giả nào thực hiện nghiên cứu với các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương, chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương” để thực hiện luận văn thạc sĩ của mình

Trang 31

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về chính sách kế toán và lựa chọn chính sách kế toán

2.1.1 Khái niệm chính sách kế toán

Theo Bosnyák (2003) thì CSKT là các nguyên tắc và thủ tục cụ thể được thực hiện bởi đội ngũ quản lý của công ty và được sử dụng để lập BCTC Chúng bao gồm bất kỳ phương pháp, hệ thống đo lường và thủ tục trình bày, công bố BCTC Các CSKT khác với các nguyên tắc kế toán trong đó các nguyên tắc là các quy tắc kế toán và các chính sách là cách tuân thủ các quy tắc đó của công ty

Theo VAS 29 (2005): “CSKT là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được DN áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC”

Định nghĩa về CSKT của VAS cũng tương tự như định nghĩa được đưa ra bởi IAS 8 (2003): “CSKT bao gồm các nguyên tắc, cơ sở, hướng dẫn, quy định luật lệ và các thực tiễn đặc biệt được DN áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC”

Theo Christos Tzovas (2006) thì các CSKT có thể được coi là một khuôn khổ mà công ty dự kiến sẽ hoạt động; tuy nhiên có phần linh hoạt hơn và nhóm quản lý của công

ty có thể chọn các CSKT cụ thể có lợi cho BCTC của công ty

Theo Okpala, Kenneth Enoch (2016) thì CSKT là một bộ tiêu chuẩn chi phối cách một công ty chuẩn bị BCTC của mình Các chính sách này được sử dụng để xử lý cụ thể với các phương pháp kế toán phức tạp như phương pháp khấu hao, ghi nhận doanh thu, chuẩn bị chi phí nghiên cứu và phát triển (R & D), giá trị hàng tồn kho và hợp nhất BCTC Các chính sách này có thể khác nhau ở các công ty khác nhau, nhưng tất cả CSKT bắt buộc phải tuân thủ Nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP) và / hoặc Tiêu chuẩn BCTC quốc tế (IFRS)

Như vậy CSKT là các nguyên tắc, cơ sở, phương pháp kế toán mà DN lựa chọn sử dụng trong việc lập và trình bày BCTC của đơn vị

Trang 32

2.1.2 Vai trò của CSKT

Với mỗi đối tượng khác nhau như kế toán viên, kiểm toán viên, nhà quản trị, cơ quan thuế, tổ chức kiểm toán độc lập, nhà đầu tư, ngân hàng, các tổ chức tín dụng thì CSKT thể hiện những vai trò khác nhau như:

+ Đối với người hành nghề kế toán viên, kiểm toán viên: Khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh, dựa vào các CSKT làm cơ sở, kế toán viên xử lý các nghiệp vụ theo đúng chuẩn mực, chế độ kế toán, các văn bản pháp luật liên quan và theo các chính sách của DN; kiểm toán viên căn cứ vào CSKT để kiểm tra, phân tích số liệu, thông tin trên BCTC

do kế toán viên cung cấp từ đó đưa ra các ý kiến cho rằng CSKT đã phù hợp với quy định chuẩn mực hiện hành hay chưa

+ Đối với nhà quản trị: CSKT là cơ sở để nhà quản trị kiểm soát kết quả hoạt động của công ty, từ đó định hướng cho các hoạt động của DN Bên cạnh hướng đến mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp, nhà quản trị cũng cân nhắc đến các lợi ích bản thân, tìm cách đề ra CSKT sao cho thỏa mãn được mục tiêu đó Điều này thể hiện khá rõ qua lý thuyết đại diện được nghiên cứu ở phần sau

+ Đối với cơ quan thuế, tổ chức kiểm toán độc lập: Các CSKT là cơ sở để cơ quan thuế và các tổ chức kiểm toán phân tích, kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ tuân thủ quy định của pháp luật về kế toán, thuế và các quy định khác liên quan của các số liệu, thông tin kế toán mà DN công bố Từ đó đưa ra ý kiến đánh giá cũng như giám sát việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính, thuế của DN đối với nhà nước và các bên có liên quan khác, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán

+ Đối với nhà đầu tư, ngân hàng, các tổ chức tín dụng: CSKT là cơ sở xem xét khả năng, tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định đầu

tư cũng như cho vay

2.1.3 Mục tiêu của CSKT

Theo Popa (2011), mục tiêu của CSKT là nhằm tạo ra cơ sở để phản ánh tình hình tài chính của DN dưới góc nhìn trung thực và hợp lý

Trang 33

Mục tiêu của CSKT nhằm đảm bảo thông tin kế toán trên BCTC thỏa mãn 06 yêu cầu đặc điểm về thông tin kế toán gồm: đầy đủ, khách quan, kịp thời, trung thực, dễ hiểu

và có thể so sánh được Từ đó, đáp ứng được tính hữu ích cho người sử dụng thông tin trên BCTC

ra các quyết định kinh tế không đúng về việc lựa chọn đầu tư của họ

Bảng dưới đây cho thấy các lựa chọn CSKT ảnh hưởng như thế nào đến các chỉ tiêu tài chính theo quan điểm của ba bên quan trọng nhất (chính phủ, nhà quản lý và các

cổ đông) và ngược lại

Hàng tồn kho FIFO, thực tế đích LIFO (nếu được phép), LIFO (nếu được

Trang 34

danh, phương pháp đơn giá bình quân, tác động lạm phát

bình quân gia quyền phép), bình quân

Không ghi nhận doanh thu cho đến khi thu 100%

Thu nhập được điều chỉnh

cổ tức (Nguồn: Davor Mance và cộng sự 2012) Theo Bosnyák (2003) thì có vô số các thao tác liên quan đến thu nhập và chi phí,

có thể bằng cách sử dụng các khoản dồn tích và hoãn lại, tức là ghi nhận doanh thu và chi phí quá sớm hoặc quá trễ Mục tiêu của các chiến lược này là tăng giá trị công ty để tăng lợi ích của các nhà quản lý thông qua các ưu đãi của công ty như tiền thưởng hoặc lựa chọn cổ phiếu của công ty hoặc chuyển lợi nhuận sang giai đoạn sau, khi các ưu đãi này

có thể được thực hiện Tương tự như vậy, lợi nhuận của công ty có thể được ẩn nhằm mục đích tránh thuế…

2.1.5 Các văn bản quy định liên quan đến CSKT hiện hành tại Việt Nam

Các văn bản quy định liên quan đến CSKT hiện hành tại Việt Nam có thể kế đến như:

- Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 21, 29

- Thông tư số 210/2009/TT-BTC ngày 06/11/2009 hướng dẫn áp dụng chuẩn mực

kế toán quốc tế về trình bày BCTC và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính và được áp dụng cho tất cả các đơn vị thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế tại Việt Nam có các giao dịch liên quan đến công cụ tài chính

- Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn kế toán áp dụng đối với các DN thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế Các DN vừa và nhỏ đang thực hiện kế toán theo Chế độ kế toán áp dụng cho DN vừa và nhỏ được vận dụng quy định của Thông tư này để kế toán phù hợp với đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của mình

Trang 35

- Thông tư số 75/2015/TT-BTC ngày 18/05/2015 sửa đổi Điều 128 Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán DN

- Luật kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2015 quy định về nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, người làm kế toán, hoạt động kinh doanh dịch

vụ kế toán, quản lý nhà nước về kế toán và tổ chức nghề nghiệp về kế toán

- Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26 tháng 8 năm 2016 về việc hướng dẫn Chế độ kế toán DN nhỏ và vừa

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT ở DN

2.2.1 Thuế

Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các cá nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được luật thuế quy định nhằm nộp vào ngân sách nhà nước để phục

vụ cho các mục đích công Do nghĩa vụ thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền của

DN nên DN thường ưu tiên lựa chọn CSKT sao cho số thuế TNDN phải nộp là hợp lý và thấp nhất

Bosnyák (2003) cho rằng trách nhiệm về thuế đảm bảo rằng các nhà quản lý muốn nộp thuế ở mức tối thiểu có thể, do đó nhà quản lý muốn sử dụng CSKT để làm giảm các khoản nợ thuế

Theo nghiên cứu của Szilveszter Fekete và cộng sự (2010), việc tối thiểu hóa các loại thuế cũng tạo động cơ cho nhà quản lý lựa chọn các CSKT khác nhau để đạt được mục đích của mình Nhà quản lý sẽ cân nhắc về vấn đề mức chi hợp lý và thời gian phân

bổ phù hợp sao cho thuế phải nộp là thấp nhất

Báo cáo giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế thường có sự khác biệt Sự khác biệt này do quy định về đo lường, ghi nhận doanh thu, thu nhập và chi phí trong kế toán và thuế có khác nhau Theo Nguyễn Công Phương (2010), ở nước ta tồn tại một mối liên hệ chặt chẽ giữa kế toán và thuế, luật thuế can thiệp mạnh mẽ vào kế toán, quy định các nguyên tắc đánh giá, nguyên tắc lập và trình bày BCTC Do đó, các CSKT được sử dụng để xác định lợi nhuận chịu thuế TNDN DN sẽ lựa chọn CSKT để giảm thiểu thuế thu nhập DN mà vẫn đảm bảo phù hợp với quy định của luật thuế DN chọn cách ghi nhận chi phí nhiều hơn ở kỳ hiện tại và đẩy lợi nhuận sang các kỳ sau sao cho trong toàn

Trang 36

chu kỳ sống của DN, số thuế thu nhập phải đóng là thấp nhất Từ lý thuyết bất cân xứng thông tin, có thể thấy nhà quản lý có thông tin đầy đủ hơn sẽ có động cơ và khả năng để điều chỉnh lợi nhuận nhằm tối thiểu hóa chi phí thuế phải nộp Một số nghiên cứu liên quan đến nhân tố này là: Okpala, Kenneth Enoch (2016); Lê Thị Mai Chi (2017); Trần Thị Hoài Thương (2017); Trần Quốc Dũng (2017)

2.2.2 Nhu cầu thông tin của người sử dụng thông tin

Theo Bosnyák (2003) thì kế toán cung cấp thông tin quan trọng cho các đối tượng bên trong như nhà quản lý nhằm đưa ra các định hướng đường lối phát triển DN, giúp điều hành sản xuất gạch ngói, kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị

Các đối tượng bên ngoài DN như chủ nợ, nhà đầu tư, ngân hàng, (ngoại trừ cơ quan thuế) cùng cần nắm thông tin trên BCTC mà DN cung cấp để đưa ra các quyết định kinh tế Vì vậy DN sẽ thường áp dụng CSKT nhằm mục đích cung cấp thông tin làm hài lòng và mang lại sự tin cậy, nâng cao tính hữu ích của thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC (Szilveszter Fekete, 2010)

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước cũng cho kết quả nghiên cứu rằng nhu cầu thông tin của người sử dụng thông tin có ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT như Christos Tzovas (2006); Hoàng Tâm Vân Anh (2016); Bùi Thị Thu Lan (2016); Nguyễn Thị Ngọc Lan (2016)

2.2.3 Trình độ nhân viên kế toán

Theo Nguyễn Thị Ngọc Lan (2016) thì trình độ nhân viên kế toán được thể hiện qua năng lực, chuyên môn và kỹ năng khi lập và trình bày BCTC của họ Các DN sẽ lựa chọn CSKT sao cho phù hợp với chuyên môn và năng lực của nhân viên kế toán tại đơn

vị Khi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kế toán viên dựa vào các CSKT làm cơ sở để xử

lý các nghiệp vụ theo đúng chuẩn mực, chế độ kế toán, các văn bản pháp luật liên quan

và theo các chính sách của DN Đối với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh chưa có CSKT hướng dẫn, dựa vào đặc điểm của đơn vị, quy định của pháp luật, kế toán viên đề xuất lãnh đạo DN xây dựng CSKT phù hợp (Bùi Thị Thu Lan, 2016) Như vậy trình độ nhân viên kế toán và lựa chọn CSKT rõ ràng có mối quan hệ tác động lẫn nhau

Trang 37

2.2.4 Hình ảnh của DN

Theo Bosnyák (2003) thì cổ đông, chủ sở hữu DN luôn có những yêu cầu đối với

DN của mình, để đánh giá những yêu cầu đó có được thực hiện đúng hay không thông thường họ đánh giá qua các báo cáo mà nhà quản trị cung cấp và đa phần là BCTC Vì vậy nhà quản lý thuờng có xu huớng tạo ra hình ảnh DN tốt đẹp cho các cổ đông hay chủ

sở hữu hiện tại thông qua BCTC dựa vào việc lựa chọn CSKT

Đồng thời theo nghiên cứu của Szilveszter Fekete (2010) thì các thông tin cung cấp trên BCTC là cơ sở để tạo nên hình ảnh của DN đối với nhà đầu tư, ngân hàng và cơ quan ban ngành Sự lựa chọn CSKT phù hợp sẽ giúp cho DN được đánh giá tốt hơn, từ

đó dễ dàng đạt được mục tiêu đề ra

Nghiên cứu của tác giả Hoàng Tâm Vân Anh (2016) về lựa chọn CSKT ở các DNSX phần mềm cũng cho kết quả rằng hình ảnh của DN là một trong các nhân tố tác động đến lựa chọn CSKT Bên cạnh việc tối đa hóa lợi ích của DN, nhà quản trị cũng như ban quản lý điều hành dự án cũng tìm cách tối đa lợi ích của bản thân sao cho có thể nâng cao mức lương, thưởng đặc biệt với các DN có chính sách thưởng tỷ lệ với lợi nhuận trên BCTC (nghiên cứu của Steven Young 1998, Michael J.Aitken và Janice A.Loftus 2009)

Trang 38

Theo nghiên cứu của Frank (2004), các DN có mức vay nợ càng nhiều càng có động cơ lựa chọn CSKT điều chỉnh tăng lợi nhuận và giảm tỷ lệ đòn bẩy Các khoản vay ngân hàng và cá nhân có liên quan đến việc điều chỉnh tăng lợi nhuận và giảm tỷ lệ đòn bẩy Ngoài ra, thời hạn của các khoản nợ nếu là ngắn hạn, quay vòng thường xuyên sẽ có nhiều cơ hội cho nhà quản lý lựa chọn CSKT Watts và Zimmerman (1990), Colin R.Dey

và cộng sự (2007), thực hiện nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhân tố mức vay nợ đến sự lựa chọn CSKT, cho rằng DN vay nợ càng nhiều càng có động cơ lựa chọn CSKT để tăng lợi nhuận, tác động đến quyết định cho vay của chủ nợ và ký kết được những điều khoản thuận lợi hơn Bên cạnh đó, các điều khoản hạn chế trong hợp đồng vay nợ thường liên quan đến chỉ tiêu lợi nhuận mà DN dễ bị vi phạm, việc lựa chọn CSKT để tăng lợi nhuận

có thể giúp DN tránh được điều này Steven Young (1998), Christos Tzovas (2006) cũng

đã thực hiện nghiên cứu chứng minh ảnh hưởng của nhân tố này Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Lan (2016) cũng cho kết quả tương tự

2.3 Đặc điểm DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương tác động đến lựa chọn CSKT

Gạch ngói là vật liệu truyền thống trong xây dựng, chiếm vị trí quan trọng trong các loại vật liệu xây dựng cơ bản như: xi măng, vôi, cát đá sỏi, tre gỗ, sành sứ, sắt thép và kính xây dựng,… Tùy theo công nghệ sản xuất khác nhau mà có các sản phẩm gạch ngói khác nhau Tuy nhiên sản phẩm gạch ngói từ lò thủ công và lò liên tục kiểu đứng kém đồng đều và độ cong vênh cao nên thường chỉ được dùng cho các công trình xây dựng dân dụng Còn đối với các công trình cao cấp, công trình thuỷ lợi hoặc công trình đặc biệt thường sử dụng gạch ngói Tuynel

Thị trường tiêu thụ chủ yếu của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương là ở trong tỉnh Bình Dương và các tỉnh lân cận có thể kể đến như Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Lâm Đồng, TP HCM , cũng có một số DN có sản phẩm tiêu thụ ở thị trường miền Tây Nam Bộ và miền Trung, một số DN còn có sản phẩm gạch ngói xuất khẩu ra nước ngoài như Hàn Quốc, Ấn Độ Định hướng của ngành sản xuất gạch ngói tỉnh Bình Dương là phát triển theo hướng đa dạng hóa và nâng cao giá trị sản phẩm trên cơ sở tiết kiệm tài nguyên khoáng sản để tạo ra giá trị gia tăng cao nhất

Trang 39

Phần lớn các DNSX gạch ngói tại Bình Dương sản xuất theo mô hình DN tư nhân, chủ DN chịu trách nhiệm chung điều hành toàn bộ cơ sở thông qua các bộ phận chức năng bao gồm: kế hoạch, kỹ thuật, tài chính kế toán, kinh doanh, hành chính, phân xưởng sản xuất Các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương chủ yếu được hình thành từ làng nghề sản xuất gạch ngói truyền thống Đa số là các DN có vốn tư nhân, quy mô sản xuất nhỏ Các DN đầu ngành phần lớn là các DN có vốn nhà nước hoặc vốn cổ phần với quy mô và công nghệ sản xuất hiện đại, mang tính chất “đầu tàu” trong ngành

Những đặc điểm của các DNSX gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Dương như ngành sản xuất, lao động, công nghệ, quy trình sản xuất, trình độ quản lý, … ảnh hưởng rất nhiều đến việc lựa chọn CSKT tại DN, điều này có thể được giải thích như:

+ Theo tinh thần Quyết định 121/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020; Quyết định 15/2000/QĐ-BXD, ngày 24/07/2000 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc ban hành quy định đầu tư sản xuất gạch ngói đất sét nung, trong đó bắt buộc các doanh nghiệp đang sản xuất bằng công nghệ lò nung thủ công truyền thống phải chuyển đổi sang công nghệ nung ít gây ô nhiễm hơn Việc chuyển đổi công nghệ nung truyền thống

là cần thiết nhằm thay thế các lò gạch thủ công truyền thống gây ô nhiễm môi trường, không hiệu quả về mặt sử dụng năng lượng, nhân rộng mô hình lò nung tiên tiến (lò gạch tuynen, lò VSBK) trong tỉnh để góp phần bảo vệ môi trường Chuyển đổi công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, sức cạnh tranh của một sản phẩm là một yêu cầu tất yếu nếu doanh nghiệp muốn tồn tại Nhiệm vụ này càng cấp thiết hơn khi UBND tỉnh đang thực hiện quyết liệt việc di dời và chuyển đổi công nghệ các cơ sở nung gạch ngói

ra khỏi khu vực dân cư sinh sống hoặc chấm dứt hoạt động

Đứng trước áp lực sống còn đó, hoặc là tìm vốn đầu tư hang chục tỷ đồng để di dời doanh nghiệp, đồng thời chuyển đổi công nghệ mới, mở rộng quy mô sản xuất hoặc

là bỏ nghề truyền thống của gia đình hàng chục năm nay, phần lớn các DN lựa chọn quá trình chuyển đổi công nghệ, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ hình thức cơ sở, hộ kinh doanh lên hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần,…với quy mô lớn hơn, tập trung hoá sản xuất gần vùng nguyên liệu theo Quyết định của Thủ

Trang 40

tuớng và theo Quy hoạch ngành nghề sản xuất vật liệu xây dựng của tỉnh Bình Dương; hay hiện nay nhiều DN đã và đang chuyển sang sử dụng lò Tuynel dùng nhiên liệu than thay cho dầu, điều đó làm giảm chi phí sản xuất, tăng cạnh tranh về giá giữa các DN trên thị trường Những sự thay đổi trong công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến chi phí của DN, khi

đó DN có thể lựa chọn CSKT theo hướng giảm số thuế (thuế TNDN) phải nộp xuống mức thấp nhất, hoặc cũng có thể tác động đến các khoản doanh thu, lợi nhuận để có thể vay vốn, thu hút đầu tư bên ngoài, hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi, phát triển của DN

+ Gia tăng sự cạnh tranh về giá giữa nhà sản xuất nhỏ với nhà sản xuất lớn; Xuất hiện nhiều DN với công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn; đồng thời nhiều DN nhỏ với công nghệ sản xuất thủ công truyền thống đã phải đóng cửa chấm dứt hoạt động sản xuất khi đó việc lựa chọn CSKT liên quan đến doanh thu hay phân bổ, khấu hao,… ảnh hưởng rất nhiều đến DN

+ Quy trình sản xuất gạch ngói trải qua 4 công đoạn chính như sau:

 Giai đoạn ngâm ủ nguyên liệu đất, phong hoá tạo kết dính trong khối sét;

 Giai đoạn phối trộn nguyên liệu, chế biến, tạo hình gạch mộc;

 Giai đoạn phơi, sấy gạch mộc đạt đủ độ khô cần thiết trước khi nung;

 Giai đoạn nung và làm nguội hình thành nên sản phẩm

Khi đó CSKT đặc biệt là CSKT hàng tồn kho bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, đánh giá sản phẩm dở dang,…

2.4 Các lý thuyết nền có liên quan đến lựa chọn CSKT của DN

2.4.1 Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện được Jensen và Meckling công bố năm 1976 Mối quan hệ đại diện thể hiện ở một hợp đồng, trong đó một hoặc nhiều người gọi là người ủy nhiệm thuê một người khác gọi là người đại diện để thực hiện một số công việc thay mặt người ủy nhiệm, ra một số quyết định liên quan Trong mối quan hệ nếu cả hai bên này đều thực hiện tối đa hóa lợi ích của mình thì người đại diện sẽ có lúc không hành động vì lợi ích của người ủy nhiệm, khi đó người ủy nhiệm có thể bị thiệt hại Người ủy nhiệm có thể hạn chế thiệt hại lợi ích của mình bằng cách đưa ra các ưu đãi thích hợp cho người đại

Ngày đăng: 30/12/2020, 17:07

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm