LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng đến ý định nghỉ việc của nhân viên thông qua yếu tố cam kết tình cảm, trường hợp cá
Trang 1TRƯƠNG NGỌC TIẾN
ẢNH HƯỞNG CỦA TRẢI NGHIỆM THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG
ĐẾN Ý ĐỊNH NGHỈ VIỆC CỦA NHÂN VIÊN
THÔNG QUA YẾU TỐ CAM KẾT TÌNH CẢM
TRƯỜNG HỢP CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh (Hướng nghiên cứu)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM XUÂN LAN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của trải nghiệm thương
hiệu nhà tuyển dụng đến ý định nghỉ việc của nhân viên thông qua yếu tố cam kết tình cảm, trường hợp các ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những nội dung trong luận văn này là
do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Phạm Xuân Lan Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do tôi tự thực hiện, trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Ký tên
Trương Ngọc Tiến
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu đề tài 5
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 6
1.4 Phương pháp nghiên cứu: 6
1.5 Cấu trúc đề tài 7
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8
2.1 Các khái niệm trong mô hình 8
2.1.1 Khái niệm về Trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng 8
2.1.2 Cam kết tình cảm 17
2.1.3 Ý định nghỉ việc của nhân viên 20
2.2 Các kết quả nghiên cứu có liên quan 21
2.2.1 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng và cam kết tình cảm của nhân viên 21
2.2.2 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa yếu tố cam kết tình cảm và ý định nghỉ việc của nhân viên 24
2.3 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 27
2.3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 27
2.3.2 Các giả thuyết nghiên cứu 28
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Quy trình nghiên cứu 32
3.2 Nghiên cứu sơ bộ 33
Trang 43.3.1 Chọn mẫu nghiên cứu 45
3.3.2 Thiết kế bảng câu hỏi 46
3.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 46
3.3.4 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu 47
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Mẫu nghiên cứu 49
4.2 Đánh giá sơ bộ thang đo 50
4.2.1 Kết quả đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha 51
4.2.2 Kết quả kiểm định EFA 53
4.3 Kiểm định thang đo bằng CFA 55
4.3.1 CFA cho các khái niệm trong mô hình nghiên cứu 56
4.3.2 Kiểm định giá trị phân biệt giữa các khái niệm 60
4.4 Kiểm định mô hình nghiên cứu 64
4.4.1 Kiểm định mô hình lý thuyết chính thức 64
4.4.2 Kiểm định giả thuyết 66
4.4.3 Ước lượng mô hình bằng boostrap với mẫu N = 1000 68
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 71
5.1 Kết quả nghiên cứu chính và thảo luận 71
5.1.1 Tóm tắt nghiên cứu 71
5.1.2 Kết quả nghiên cứu chính và thảo luận 72
5.2 Hàm ý cho nhà quản lý 74
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5 CFI: Comparative fit index
EFA: Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis)
GFI: Goodness of fit index
GTPB: Giá trị phân biệt
RMSEA: Root mean square error approximation
SEM: Kiểm định mô hình cấu trúc phương trình tuyến tính (Structural Equation Modeling)
TMCP: Thương mại cổ phần
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6thương hiệu nhà tuyển dụng 37
Bảng 3.2 Kết quả nghiên cứu định tính thang đo Trải nghiệm nhận thức đối với thương hiệu nhà tuyển dụng 38
Bảng 3.3 Kết quả nghiên cứu định tính thang đo Trải nghiệm cảm xúc đối với thương hiệu nhà tuyển dụng 38
Bảng 3.4 Kết quả nghiên cứu định tính thang đo Cam kết tình cảm của nhân viên đối với thương hiệu nhà tuyển dụng X 39
Bảng 3.5 Kết quả nghiên cứu định tính thang đo Ý định nghỉ việc của nhân viên 40
Bảng 3.6 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha 42
Bảng 3.7 Kết quả kiểm định EFA 44
Bảng 4.1 Thông tin mẫu nghiên cứu 49
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha 51
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định EFA cho khái niệm trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng và cam kết tình cảm của nhân viên 54
Bảng 4.4 Kết quả EFA cho khái niệm ý định nghỉ việc của nhân viên 55
Bảng 4.5 Tóm tắt kết quả kiểm định độ tin cậy 62
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định giá trị phân biệt giữa các biến 63
Bảng 4.7 Tóm tắt kết quả kiểm định thang đo 63
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm nghiên cứu trong mô hình (Chuẩn hóa) 66
Bảng 4.9 Hiệu quả tách động trực tiếp, gián tiếp và tổng hợp trong mô hình nghiên cứu 68
Bảng 4.10 Kết quả ước lường bằng boostrap với mẫu N = 1000 69
Trang 7Hình 2.2 Mô hình “Cam kết của nhân viên với thương hiệu trong ngành dịch vụ: nghiên cứu tại chuỗi khách sạn cao cấp tại Thái Lan” 22Hình 2.3 Mô hình “Vai trò của kinh nghiệm thương hiệu và cam kết tình cảm trong việc xác định lòng trung thành của thương hiệu” 23Hình 2.4 Mô hình “Ảnh hưởng của trải nghiệm thương hiệu đến cam kết tình cảm của nhân viên đối với thương hiệu nhà tuyển dụng” 24Hình 2.5 Mô hình “Ba thành phần của sự cam kết trong tổ chức” 25Hình 2.6 Mô hình “Nghiên cứu ảnh hưởng của cam kết tình cảm và sự hài lòng trong công việc đến ý định nghỉ việc của nhân viên và sự điều tiết của yếu
tố sự phù hợp giữa cá nhân và tổ chức” 26Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất 27Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 32Hình 4.1 Kết quả CFA: Cam kết tình cảm của nhân viên đối với thương hiệu nhà tuyển dụng (Chuẩn hóa) 57Hình 4.2 Kết quả CFA: Trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng (Chuẩn hóa) 58Hình 4.3 Kết quả CFA: Ý định nghỉ việc của nhân viên (Chuẩn hóa) 59Hình 4.4 Kết quả CFA cho mô hình đo lường tới hạn (Chuẩn hóa) 61Hình 4.5 Kết quả SEM của mô hình lý thuyết (Chuẩn hóa) 65
Trang 8TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi và phát triển nhanh chóng ngày nay, điều quan trọng là một tổ chức phải sở hữu một lực lượng lao động có trình độ cao và có động lực để theo kịp tốc độ phát triển nhanh của thị trường (Harikumar, 2016) Ngày nay, nhu cầu về lực lượng lao động ngày càng tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ - một ngành công nghiệp dựa trên tri thức, cái được gọi là “cuộc chiến cho tài năng” đang leo thang, các vị trí chủ chốt đòi hỏi phải có kiến thức đủ rộng và chất lượng chuyên môn cao đang dần trở nên khan hiếm (Weber, 2016) Nhưng do sự thiếu hụt những nhân sự có kinh nghiệm và kỹ năng, nhiều tổ chức đang phải đối mặt với thách thức về việc thay đổi nhân sự Việc các tổ chức tiếp cận và tuyển dụng những nhân sự giỏi và có kinh nghiệm ngày càng trở nên khó khăn hơn, các công ty phải cạnh tranh lẫn nhau trong việc giành lấy những ứng viên tiềm năng Ngày nay, các tổ chức bắt đầu quan tâm hơn đến việc làm thế nào để các ứng viên phân biệt mình với các nhà tuyển dụng khác, làm sao để công ty có thể thu hút và giành được những nhân tài ưu tú nhất (Harikumar, 2016)
Khái niệm thu hút và giữ chân nhân viên thông qua thương hiệu nhà tuyển dụng đang là một chủ đề được quan tâm và áp dụng trên thế giới trong những năm gần đây Việc xây dựng thương hiệu của người sử dụng lao động (hay gọi là nhà tuyển dụng) được cho là một cách tiếp cận hiện đại có thể hỗ trợ hiệu quả các công
ty trong nỗ lực tiếp cận và giữ chân nhân viên (Fernandez-Lores và cộng sự, 2015) Khái niệm này bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm 1990, là sự kết hợp từ cơ sở lý thuyết của hai lĩnh vực Quản trị nhân sự và Marketing thương hiệu (theo Ambler and Barrow, 1996) Từ góc độ Marketing, có thể xem công ty như “sản phẩm đặc biệt”
và nhân tài như “khách hàng hiện tại hoặc tiềm năng” Với cách ẩn dụ trên, công việc của các nhà nhân sự cũng có nhiều điểm tương đồng với Marketing, từ việc thu hút khách hàng, đến làm thế nào để họ lựa chọn và đưa ra quyết định có chọn sử dụng
Trang 9sản phẩm đó hay không, và cách thức để duy trì mối quan hệ thân thiết giữa họ và sản phẩm họ đã lựa chọn
Ambler và Barrow (1996) đã định nghĩa “Thương hiệu nhà tuyển dụng (Employer Brand) là tập hợp những lợi ích về chức năng, kinh tế và tâm lý được tạo
ra bởi công việc và được gắn liền với công ty” Còn theo Minchington (2015) đã định
nghĩa, “Thương hiệu nhà tuyển dụng là hình ảnh của một tổ chức như một ‘Nơi làm việc tuyệt vời’ trong tâm trí của nhân viên và ứng viên tiềm năng.”
Hiện nay, thương hiệu nhà tuyển dụng vẫn còn là khái niệm mới tại Việt Nam
và vẫn chưa được quan tâm và chú trọng Lý thuyết khoa học của chủ đề này vẫn còn khan hiếm và chưa có nhiều nghiên cứu khoa học về đề tài này tại Việt Nam Gần đây, khái niệm “thương hiệu nhà tuyển dụng” bắt đầu được quan tâm và gây sự chú
ý thông qua nghiên cứu khảo sát về “Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam” do tổ chức Anphabe và Nielsen phối hợp thực hiện, nhằm đánh giá và xếp hạng các thương hiệu nhà tuyển dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau được cho là “nơi làm việc lý tưởng” trong mắt các nhân viên hiện tại và các ứng viên tiềm năng Mục đích của khảo sát là xây dựng và hoàn thiện bộ tiêu chí đo lường sức hấp dẫn của thương hiệu nhà tuyển dụng tại Việt Nam, cập nhật xu hướng nhân tài và đo lường “sức khỏe” và xếp hạng các thương hiệu nhà tuyển dụng tại Việt Nam hàng năm, từ đó đưa ra các giải pháp gắn kết nhân viên và thu hút nhân tài
“Nhân tài là tài sản quý giá nhất của bất kỳ doanh nghiệp nào Vì vậy, thu hút
và giữ chân nhân tài là chiến lược quan trọng nhất của mọi công ty Thương hiệu nhà tuyển dụng là công cụ cần thiết để thu hút nhân tài và cũng là phương tiện chuyển tải văn hóa, giá trị doanh nghiệp ra bên ngoài Phát triển thương hiệu nhà tuyển dụng thành công sẽ giúp doanh nghiệp thu hút nhiều ứng viên chất lượng, giữ chân nhân tài hiệu quả Hơn hết, giá trị của thương hiệu nhà tuyển dụng còn giúp đội ngũ nhân lực làm việc hiệu quả hơn, giảm thiểu sự trì trệ trong kinh doanh và chi phí tuyển
Trang 10dụng” (Công Ông, Giám đốc điều hành - First Alliances, trong Báo cáo 100 nơi làm việc tốt nhất Việt Nam, 2013)
Trong bài viết về thương hiệu nhà tuyển dụng, Minchington và cộng sự (2015)
đã khẳng định rằng, trong quá trình xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng, thì sự trải nghiệm là yếu tố quan trọng nhất Lý thuyết về sự trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng của nhân viên được lấy ý tưởng từ lý thuyết trải nghiệm thương hiệu của người tiêu dùng Trải nghiệm của nhân viên đối với thương hiệu nhà tuyển dụng có thể được định nghĩa là nhận thức tổng thể của nhân viên về mối quan hệ với tổ chức của họ bằng tất cả sự trải nghiệm trong suốt quá trình sự nghiệp của họ tại công ty, từ lúc tiếp cận cho đến khi rời khỏi tổ chức (Crawford, 2005) Sự trải nghiệm này được cho
là bao gồm nhiều nhân tố kích thích xuất phát từ nơi làm việc, nơi những trải nghiệm xảy ra, từ sự hài lòng trong công việc có được bằng cách thực hiện các nhiệm vụ với các giá trị được thể hiện bởi thương hiệu trong mắt nhân viên (Fernadez-Lores và cộng sự, 2015) Philips, một công ty về thiết bị điện tử hàng đầu thế giới, cho rằng chìa khóa thành công của tổ chức là tạo ra nhiều sự trải nghiệm cho nhân viên thông qua thương hiệu nhà tuyển dụng và tối đa hóa những gì mà sự trải nghiệm đem lại hơn là các hình thức quảng cáo hấp dẫn (Crawford, 2005) Khi nhân viên suy nghĩ về thương hiệu nhà tuyển dụng của họ, điều đầu tiên họ sẽ cân nhắc là những trải nghiệm thương hiệu trong công việc hàng ngày của mình Trải nghiệm của họ phần lớn là do phong cách quản lý công ty, thực tiễn quản lý nguồn nhân lực và phối hợp chéo chức năng Trải nghiệm này sẽ hình thành nhận thức và hành vi của nhân viên (Kimpakorn
và cộng sự, 2009) Khi nhân viên hiểu rõ về thương hiệu nhà tuyển dụng của tổ chức
và hệ thống, họ sẽ mang đến cho khách hàng một trải nghiệm tích cực, từ đó công ty được hưởng lợi nhờ mức độ tham gia của nhân viên nhiều hơn, tỷ lệ nghỉ việc giảm
và lợi nhuận cao hơn (Minchington và cộng sự, 2015)
Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tại Việt Nam, sau nhiều quá trình tái cấu trúc trong hệ thống, cùng với đặc điểm công việc chuyên môn tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam không có quá nhiều sự khác biệt, sự dịch chuyển nhân sự
Trang 11đang diễn ra ngày một nhiều hơn Các nhân viên dễ dàng nhảy việc từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, nơi mà có chính sách lương thưởng – phúc lợi thu hút hơn nơi làm việc hiện tại Ngoài việc nhân viên nhảy việc từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, hiện nay còn xuất hiện hiện tượng nhân viên chuyển dịch sang các doanh nghiệp khác hoặc tự kinh doanh (Thy, 2014) Nhân lực ngân hàng hiện đang dư thừa ở cấp nhân viên nhưng lại thiếu hụt trầm trọng ở khâu nhân sự cấp cao Những lĩnh vực chuyên sâu hiện trong tình trạng ‘‘đãi cát tìm vàng’’ (Trần Lâm Vũ, 2015)
Một đại diện quản lý nguồn nhân lực của ngân hàng VPBank nhận định, trước đây mỗi nhân viên thường gắn bó 5-6 năm trong một ngân hàng, sau giảm xuống còn 3-4 năm Đến năm 2016, thì con số này giảm xuống chỉ còn 2-3 năm Tình trạng này khiến các ngân hàng thường xuyên lao vào vòng xoáy tuyển dụng nhân sự mới 1(theo Báo mới, 2017)
Với xu hướng toàn cầu như hiện nay, sự cạnh tranh gia tăng giữa các tổ chức, nhu cầu cao về nhân viên có chuyên môn giỏi và chi phí của việc giữ chân nhân viên, đặc biệt là những người có trình độ cao trở nên quan trọng hơn bao giờ hết (Davidson, Timo và Wang, 2010) Hiện nay, có nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn sẵn sàng chi trả mức lương rất cao kèm theo nhiều phúc lợi hấp dẫn, do đó những nhân viên ngân hàng – những người có năng lực, được đào tạo chuyên nghiệp và rèn luyện trong môi trường khắc nghiệt luôn là những mục tiêu săn đón hàng đầu ở các doanh nghiệp này Qua những điều trên, có thể thấy được rằng, tình hình nhân sự của ngành ngân hàng đang gặp rất nhiều bất ổn
Một tổ chức muốn phát triển bền vững, trước tiên cần có một nguồn nhân lực mạnh mẽ và ổn định Việc các nhân viên, đặc biệt là các vị trí cao cấp và công tác lâu năm, nghỉ việc sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạt động và sự phát triển của một tổ chức Phải nhấn mạnh rằng quá trình tìm kiếm, tuyển dụng người phù hợp với yêu
1 Nguồn: https://baomoi.com/nhan-vien-ngan-hang-chi-gan-bo-voi-cong-viec-trong-2-3-nam/c/22074656.epi
Trang 12cầu của tổ chức là rất vất vả và mất nhiều thời gian, tuy nhiên, quá trình đào tạo và khiến nhân viên hiểu và gắn bó với tổ chức là một quá trình vừa mất rất nhiều thời gian lại vừa tiêu tốn nhiều kinh phí Việc duy trì bất kỳ mối quan hệ nào cũng ít tốn kém hơn việc xây dựng mối quan hệ đó (Võ Ngọc Sơn, 2015) Đó là lý do vì sao việc duy trì nguồn nhân lực, và hơn tất cả là có được lòng trung thành của nhân viên tại các tổ chức nói chung và các ngân hàng nói riêng là điều vô cùng quan trọng, nó có thể ảnh hưởng đến tốc độ và quy mô phát triển của cả tổ chức
Nghiên cứu về ý định nghỉ việc của nhân viên trong lĩnh vực ngân hàng luôn nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học ở Việt Nam Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu tập trung vào các chính sách nhân sự, lương thưởng, phúc lợi, gắn kết tổ chức,… mà chưa có nghiên cứu cụ thể từ khía cạnh trải nghiệm thương hiệu tuyển dụng ngân hàng của nhân viên ảnh hưởng đến ý định nghỉ việc của họ Để góp phần cải thiện sự cam kết của nhân viên đối với tổ chức ngân hàng, và mong muốn đưa ra giải pháp mới thực sự có ích giúp giảm tỉ lệ nghỉ việc của nhân viên, góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ của các ngân hàng TMCP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tác giả quyết định nghiên cứu đề tài này
- Đưa ra hàm ý chiến lược về chính sách nhân sự nhằm giảm tỷ lệ nghỉ việc của nhân viên tại các ngân hàng TMCP tại TP.HCM
Trang 131.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu này được thực hiện ở các ngân hàng TMCP trên địa bàn thành phố
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu này thực hiện thông qua 2 bước: nghiên cứu sơ bộ
và nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua kỹ thuật phỏng vấn tay đôi và thảo luận nhóm Thông tin thu thập được từ quá trình nghiên cứu này nhằm khám phá, điều chỉnh và bổ sung các thang đo về các trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng của nhân viên, cam kết tình cảm, ý định nghỉ việc, cuối cùng là đưa ra bảng câu hỏi
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, dùng phương pháp điều tra thu thập thông tin thông qua việc khảo sát bằng bảng câu hỏi Mục đích của nghiên cứu này nhằm khẳng định lại các thành phần, yếu
tố có giá trị cũng như độ tin cậy của các thang đo, đồng thời trả lời các mục tiêu nghiên cứu Trong phần nghiên cứu này sẽ bao gồm bước điều tra thử trên mẫu nhỏ
và điều chỉnh, sau đó thực hiện điều tra chính thức thông qua việc thực hiện khảo sát các đối tượng khảo sát Đề tài có sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu SPSS 23.0 và AMOS 20.0 để thực hiện các thống kê mô tả, độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích yếu tố khẳng định (CFA), kiểm định mô hình cấu trúc phương trình tuyến tính (SEM)
Trang 141.5 Cấu trúc đề tài
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Giới thiệu về lý do và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp thực hiện và cấu trúc nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình
Giới thiệu về cơ sở lý thuyết của đề tài bao gồm các định nghĩa và các mô hình nghiên cứu có liên quan về sự trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng, sự cam kết tình cảm và ý định nghỉ việc của nhân viên Từ đó, tác giả đưa ra được mô hình nghiên cứu đề xuất
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Giới thiệu phương pháp nghiên cứu được sử dụng để điều chỉnh và đánh giá các thang đo, các khái niệm nghiên cứu và kiểm định mô hình lý thuyết đã đề ra
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
Tổng kết kết quả kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đã đưa ra trong mô hình
Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu:
Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu đã đạt được, đưa ra hàm ý quản trị và các hạn chế của đề tài
Tóm tắt chương 1
Chương 1 trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Ở phần này, tác giả cũng trình bày sơ lược về phương pháp nghiên cứu được sử dụng và tóm tắt cấu trúc của đề tài
Chương 2, tác giả sẽ đi sâu vào tìm hiểu và trình bày cơ sở lý thuyết cũng như
đề xuất mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nhằm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu được nêu ở chương 1
Trang 15CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm trong mô hình
2.1.1 Khái niệm về Trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng
Khái niệm “thương hiệu nhà tuyển dụng” bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm
1990, là sự kết hợp từ cơ sở lý thuyết của hai lĩnh vực Quản trị nhân sự và Marketing thương hiệu Hiện nay, thương hiệu nhà tuyển dụng vẫn còn là khái niệm mới, đang được quan tâm nhiều hơn và có một vài nghiên cứu đề cập đến, tuy nhiên, khái niệm chung cho thương hiệu nhà tuyển dụng thì hiện vẫn chưa có (Bondarouk và Ruel, 2009) Các luồng nghiên cứu về nhận diện tổ chức, danh tiếng công ty, hình ảnh tổ chức, văn hóa doanh nghiệp, xây dựng thương hiệu của công ty và truyền thông trong công ty cung cấp nhiều khái niệm và định nghĩa liên quan đến thương hiệu nhà tuyển dụng và việc xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng (Balmer và Greyser, 2003) Đặc biệt là các khái niệm về danh tiếng công ty và hình ảnh tổ chức luôn được xem xét khi tiếp cận đến chủ đề thương hiệu nhà tuyển dụng và sự thu hút của nhà tuyển dụng (Christiaans, 2013)
Ambler và Barrow được xem là những người đầu tiên đưa ra khái niệm về thương hiệu nhà tuyển dụng trong bài viết “Thương hiệu nhà tuyển dụng” (The Employer Brand) Ambler và Barrow (1996) đã định nghĩa “Thương hiệu nhà tuyển dụng (Employer Brand) là tập hợp những lợi ích về chức năng, kinh tế và tâm lý được tạo ra bởi công việc và được gắn liền với công ty” Khái niệm này muốn chỉ ra rằng kết quả cuối cùng của tất cả các hoạt động liên quan đến thương hiệu là những điều
mà người nhân viên sẽ cảm nhận được Một thương hiệu nhà tuyển dụng mang đến cho nhân viên những lợi ích cũng tương đồng với một thương hiệu sản phẩm mang lại cho khách hàng, đó là: (1) Các hoạt động mang tính phát triển và/ hoặc có ích (lợi ích về chức năng); (2) Các phần thưởng về vật chất hoặc tiền bạc (lợi ích về kinh tế);
Trang 16(3) Các cảm xúc như mong muốn được trở thành một phần của tổ chức, có định hướng
và có mục tiêu (lợi ích về mặt tinh thần) (Ambler và Barrow, 1996)
Thương hiệu nhà tuyển dụng có thể được xem là kết quả cuối cùng của tất cả các hoạt động liên quan đến thương hiệu và việc xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng có thể được mô tả như một quá trình để đạt được kết quả này Sullivan (2004), (trích dẫn bởi Backhaus và Tikoo, 2004) cũng cho rằng xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng là một chiến lược có mục tiêu lâu dài nhằm quản lý những nhận thức của nhân viên hiện tại, ứng viên tiềm năng và các bên có liên quan trong một tổ chức cụ thể Quá trình xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng là những nỗ lực hướng đến những đối tượng bên trong và bên ngoài của tổ chức nhằm tạo ra mong muốn được làm việc tại tổ chức và tạo sự khác biệt so với các đối thủ khác (theo Jenner và Taylor, 2009) Do đó, việc xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng bao gồm tất cả quyết định liên quan đến việc lên kế hoạch, sáng tạo, quản lý và kiểm soát thương hiệu nhà tuyển dụng và các hoạt động tương ứng để ảnh hưởng tích cực đến những mong muốn về nhà tuyển dụng của nhóm đối tượng mà tổ chức đang muốn hướng đến (Christiaans, 2013)
Phân biệt thương hiệu nhà tuyển dụng và thương hiệu tổ chức:
Cấu trúc thương hiệu của một công ty được chia làm ba cấp độ thương hiệu: thương hiệu công ty, thương hiệu đơn vị kinh doanh chiến lược và thương hiệu sản phẩm hoặc dịch vụ (Keller, 1998; Christiaans, 2013) Các thương hiệu công ty có tầm quan trọng đặc biệt, vì chúng được thiết kế để hỗ trợ các thương hiệu khác trong danh mục thương hiệu (chẳng hạn như thương hiệu nhà tuyển dụng) và đảm bảo sự nhất quán giữa các thương hiệu (Burmann và cộng sự, 2008; Christiaans, 2013) Trong nhiều nghiên cứu khoa học, các tác giả đã đồng ý rằng việc xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng là một phần trong chiến lược xây dựng thương hiệu của công ty, bởi
vì đối tượng tham chiếu mang thương hiệu trên thị trường lao động chính là công ty (Ewing và cộng sự, 2002; Christiaans, 2013)
Trang 17Việc xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu và mong muốn của nhân viên hiện tại (xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng bên trong) và ứng viên tiềm năng (xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng bên ngoài), do đó việc xây dựng thương hiệu công ty cần phải tính đến tất cả các nhóm có liên quan của một công ty, như được mô tả trong Hình 2.1
Hình 2.1 Các nhóm mục tiêu chính của quản trị thương hiệu công ty
Nguồn: Christiaans (2013)
Riel (2001) đã định nghĩa thương hiệu của công ty như là một “quá trình lập
kế hoạch và thực hiện có hệ thống để tạo ra và duy trì danh tiếng tốt của công ty với các yếu tố cấu thành, bằng cách gửi các dấu hiệu cho các nhóm sử dụng thương hiệu công ty” Thương hiệu nhà tuyển dụng phải được xây dựng đặc biệt để đáp ứng nhu cầu của các nhóm đối tượng mục tiêu trong thị trường lao động Mặt khác, thương hiệu nhà tuyển dụng còn cần phải phù hợp với thương hiệu công ty và thương hiệu người tiêu dùng để đảm bảo duy trì hình ảnh thương hiệu một cách đồng nhất (Christiaans, 2013) Thương hiệu nhà tuyển dụng thường không thể tách rời khỏi
Quản trị thương hiệu công ty
Thị trường người tiêu dùng
Xây dựng thương hiệu người tiêu dùng
Người tiêu dùng, Đại lý bán lẻ
Thị trường đầu tư
Xây dựng thương hiệu
nhà đầu tư
Cổ đông, Nhà phân
tích, Ngân hàng
Thị trường nhà cung cấp
Xây dựng thương hiệu nhà
cung cấp
Nhà cung cấp
Thị trường lao động
Xây dựng thương hiệu người tuyển dụng
Nhân viên hiện tại (nội bộ), Nhân viên tiềm năng (bên ngoài)
Trang 18thương hiệu sản phẩm hoặc dịch vụ, vì các nhân viên tiềm năng có thể là khách hàng tiềm năng cùng một lúc và nhận được những ấn tượng khác nhau của công ty thông qua các kênh truyền thông cũng như sự giao tiếp giữa các cá nhân Do đó, thương hiệu nhà tuyển dụng cần được xây dựng theo hướng hỗ trợ và giúp nâng cao thương hiệu sản phẩm hoặc dịch vụ (Backhaus và Tikoo, 2004) Thương hiệu công ty cần có chức năng bao trùm và tích hợp các thương hiệu của công ty, đại diện cho sự nhận diện tổng thể của một công ty và là nền tảng cho việc triển khai chiến lược và hoạt động của thương hiệu nhà tuyển dụng (Christiaans, 2013)
Từ quan điểm cấu trúc tổ chức, khái niệm thương hiệu nhà tuyển dụng thường
ở giữa Marketing và quản trị nguồn nhân lực Lý tưởng nhất là cả hai chức năng cần kết hợp trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng (Edwards, 2010) Khi phân loại quản trị nguồn nhân lực theo các cấp độ như chiến lược, chiến thuật và hoạt động, việc xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng có thể được thực hiện ở cấp độ chiến lược vì nó tập trung vào các mục tiêu chiến lược của công ty như một tổng thể Để so sánh, các yếu tố chiến thuật tập trung vào các nhóm nhân viên và công việc trong khi các yếu tố hoạt động là nhằm vào từng người lao động và việc làm (Christiaans, 2013) Khái niệm Marketing nhân sự, thường được
sử dụng nhầm lẫn với thương hiệu nhà tuyển dụng, nằm ở cấp độ chiến thuật vì nó liên quan đến việc thực hiện các giải pháp chung để thu hút các ứng viên tương lai và tạo động lực cho nhóm các nhân viên hiện tại Thương hiệu nhà tuyển dụng được xem
là một phần của thương hiệu công ty, được xem xét trong thị trường lao động cụ thể
là các nhân viên hiện tại, ứng viên tiềm năng và cựu nhân viên của công ty Chiến lược xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng cần đồng bộ với chiến lược xây dựng thương hiệu công ty (Christiaans, 2013)
Chức năng của thương hiệu nhà tuyển dụng:
Theo quan điểm của các nhân viên tiềm năng, nhân viên hiện tại và cựu nhân viên, các chức năng của thương hiệu nhà tuyển dụng cũng tương tự như các chức
Trang 19năng của thương hiệu nói chung và bao gồm ba khía cạnh chính: giảm rủi ro, hiệu quả thông tin và lợi ích mang tính biểu trưng (Christiaans, 2013)
Các nhân viên tiềm năng thường không thể đánh giá đầy đủ một nhà tuyển dụng tương lai trước khi có những trải nghiệm làm việc do việc thiếu thông tin Tất nhiên họ có thể thu thập thông tin thông qua các nguồn không chính thức, chẳng hạn như các gợi ý từ người quen hoặc bảng xếp hạng nhà tuyển dụng tốt nhất, hoặc các nguồn chính thức, như các tờ rơi tuyển dụng, các trang web, hội chợ việc làm, nhưng họ không thể so sánh các nhà tuyển dụng như một người tiêu dùng có thể so sánh thương hiệu sản phẩm Hơn nữa, nguy cơ lựa chọn sai nhà tuyển dụng có thể sẽ lớn hơn việc lựa chọn sản phẩm kém Việc chấm dứt sớm mối quan hệ việc làm có thể làm tăng thêm những ảnh hưởng tiêu cực đến hồ sơ việc làm của một người, dẫn đến những bất lợi liên quan đến các việc ứng tuyển sau này Để hiểu rõ hơn và đánh giá một nhà tuyển dụng tiềm năng, nhân viên có thể sử dụng thương hiệu tập đoàn hoặc sản phẩm của một công ty như một sự ủy nhiệm Nếu cam kết với khách hàng của các thương hiệu công ty hoặc thương hiệu sản phẩm phù hợp với những lợi ích được hứa hẹn với nhân viên, thương hiệu nhà tuyển dụng có thể được củng cố bởi sự liên kết này Tuy nhiên, nếu kỳ vọng của người tiêu dùng không được hỗ trợ bởi trải nghiệm việc làm thì có thể xảy ra vấn đề và nhân viên sẽ thất vọng với nhà tuyển dụng hoặc công ty (Christiaans, 2013) Vì vậy, quan trọng là phải tạo ra được một thương hiệu nhà tuyển dụng phù hợp với danh mục thương hiệu đầy đủ của công ty (Moroko và Uncles, 2008)
Trong giai đoạn lựa chọn, sau khi tham gia quá trình phỏng vấn với nhà tuyển dụng và xem xét các công việc khác nhau, nguy cơ nhận thức có thể được giảm thêm bởi trải nghiệm của ứng cử viên đã thu được với các công ty có liên quan Do đó, tầm quan trọng của chức năng giảm rủi ro được giảm đi trong giai đoạn này, trong khi chức năng của hiệu suất thông tin trở nên quan trọng hơn Về sự phức tạp ngày càng tăng của các thông tin có sẵn, thương hiệu nhà tuyển dụng có thể được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thông tin chính thức, tạo ấn tượng chung cho ứng viên trước khi họ
Trang 20đưa ra quyết định (Christiaans, 2013) Hơn nữa, chức năng của lợi ích biểu tượng có tầm quan trọng vì quyết định của nhà tuyển dụng hiện tại trở nên rõ ràng hơn và các ứng viên tiềm năng bây giờ cũng xem xét các giá trị truyền đạt của công ty Ứng viên có thể liên kết thương hiệu nhà tuyển dụng với nhân viên mà họ đã gặp Ứng viên sẽ
so sánh cá tính và giá trị với nhà tuyển dụng và quyết định có thể hợp tác được với công ty hay không Chức năng của lợi ích biểu tượng được hỗ trợ bởi thực tế là các ứng cử viên đang cố gắng để đánh giá ‘giá trị thị trường của họ’ Thông qua việc nhận một đề nghị tuyển dụng từ một nhà tuyển dụng với một hình ảnh nổi tiếng và hấp dẫn, hình ảnh công ty trong mắt ứng viên sẽ củng cố, được nhận thức là phù hợp với tính cách thương hiệu nhà tuyển dụng (Christiaans, 2013)
Xét về phía nhân viên hiện tại, những lợi ích mang tính biểu tượng của thương hiệu nhà tuyển dụng ngày càng trở nên quan trọng (so với nhân viên tiềm năng) Nhân viên đã đưa ra quyết định sẽ làm việc tại công ty hiện tại và đã có được thông tin qua quá trình trải nghiệm của họ, và hình thành một ấn tượng đối với nhà tuyển dụng Các chức năng về giảm rủi ro và hiệu quả thông tin có xu hướng ít quan trọng hơn, nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng (Christiians, 2013) Ví dụ, thông qua hiệu quả của thông tin, việc xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng cung cấp cho nhân viên các chi tiết về những mong muốn, các chỉ tiêu làm việc và các sự kiện cần thiết cho sự nghiệp và sự thăng tiến trong công ty (Backhaus và Tikoo, 2004) Tuy nhiên, lợi ích biểu tượng đóng một vai trò quan trọng hơn, vì sự nhận diện của nhân viên với nhà tuyển dụng của họ là điều cần thiết Việc trở thành một phần của tổ chức có thể được xem là cách nhân viên tự nhận biết và tự thể hiện Chức năng của lợi ích mang tính tượng trưng cũng quan trọng đối với các nhân viên cũ, vì sự nhận diện với công ty và cảm giác về
uy tín vẫn là 2 yếu tố thúc đẩy các gợi ý tích cực của nhân viên Là đại sứ thương hiệu, những nhân viên lâu năm trở thành nguồn thông tin cho những nhóm mục tiêu khác, sự nhận diện của nhà tuyển dụng đối với nhân viên lâu năm càng cao thì sự giới thiệu của nhân viên về nhà tuyển dụng càng tích cực hơn (Christiians, 2013)
Trang 21 Mục tiêu của việc xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng
Theo Singh và Rokade (2014), “Xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng là một chiến lược dài hạn nhằm quản lý nhận thức và ý thức của nhân viên hiện tại, các ứng viên tiềm năng và các cổ đông có liên quan trong một tổ chức cụ thể Thương hiệu nhà tuyển dụng là hình ảnh của tổ chức trong tâm trí của nhân viên hiện tại như một nơi tốt nhất để làm việc Hiện nay, xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng là một quá trình quản lý thương hiệu trong quan điểm nhân sự để đạt được, thu hút, gắn kết và duy trì nhân viên của tổ chức Thương hiệu nhà tuyển dụng là một chiến lược giúp duy trì nguồn nhân lực và cố gắng giảm thiểu sự tiêu hao nhân sự trong một tổ chức.”
Mục tiêu của thương hiệu nhà tuyển dụng là giúp thu hút đúng nhân viên thích hợp và duy trì cam kết của nhân viên hiện tại dẫn đến năng suất làm việc cao, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hỗ trợ thương hiệu công ty và thương hiệu đối với người tiêu dùng Khi đã làm việc với công ty, với niềm tự hào, họ chia sẻ danh tiếng bên ngoài công ty giúp duy trì lòng trung thành và sự cam kết của họ với công ty
Tại Việt Nam, khái niệm về thương hiệu nhà tuyển dụng cũng bắt đầu được quan tâm Anphabe (2015) cho rằng “Thương hiệu nhà tuyển dụng là hình ảnh về một công ty dưới góc độ một ‘nơi làm việc’ trong mắt của nhân viên hiện tại và tương lai.” Thương hiệu nhà tuyển dụng có thể được xem là “lớp áo” của doanh nghiệp Một “chiếc áo” giá trị không chỉ được đánh giá qua kiểu dáng và màu sắc mà còn phụ thuộc vào chất lượng bên trong Cụ thể, thương hiệu nhà tuyển dụng được thể hiện qua mức độ hài lòng, gắn kết và tác động lên hành động của người đi làm Do đó, để xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng hiệu quả phải được bắt đầu từ những chính sách nội bộ dành cho nhân viên, vì chính họ sẽ trở thành những đại sứ thương hiệu nhà tuyển dụng tốt nhất của công ty (Anphabe, 2015)
Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về tác động của trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng của các nhân viên hiện tại trong tổ chức,
Trang 22không nghiên cứu đối tượng các ứng viên tiềm năng chưa phải là nhân viên chính thức của tổ chức và các nhân viên đã rời bỏ tổ chức, do đó, nhà tuyển dụng trong nghiên cứu này, mang ý nghĩa như tổ chức mà nhân viên đang công tác và làm việc Tác giả sử dụng định nghĩa về thương hiệu nhà tuyển dụng của Singh và Rokade (2014) và của Anphabe (2015), cho rằng “Thương hiệu nhà tuyển dụng là hình ảnh của công ty trong mắt nhân viên hiện tại và tương lai và được cho là ‘nơi tốt nhất để làm việc’ và được thể hiện qua mức độ hài lòng, gắn kết và tác động lên các hành động của nhân viên.”
Trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng
Trải nghiệm là cách mà chúng ta tương tác với môi trường thông qua nhận thức của chúng ta về các tác động về vật lý, cảm giác, cảm xúc, suy nghĩ và hành động (Dubé và LeBel, 2003)
Trong Marketing, những trải nghiệm quan trọng nhất theo truyền thống là mua
và tiêu dùng (Holbrook và Hirschman, 1982), tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy nhiều tác động mà trải nghiệm người dùng có được từ thương hiệu của nó (Brakus và cộng sự, 2009) Brakus và cộng sự (2009) đã định nghĩa sự trải nghiệm thương hiệu là “những phản ứng nội tại và chủ quan của khách hàng (tình cảm, nhận thức và cảm xúc), và những phản ứng hành vi được kích hoạt bởi các tác nhân liên quan đến thương hiệu bao gồm một phần của thiết kế và nhận diện thương hiệu, bao
bì, truyền thông và môi trường
Trong nghiên cứu về trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng ảnh hưởng đến cam kết tình cảm của nhân viên, Fernadez-Lores và cộng sự (2015) đã cho rằng “Trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng bao gồm nhiều nhân tố kích thích mà người nhân viên cảm nhận được xuất phát từ nơi làm việc, nơi những trải nghiệm xảy ra, từ sự hài lòng trong công việc có được thông qua quá trình thực hiện các nhiệm vụ với các giá trị được thể hiện bởi thương hiệu trong mắt nhân viên” Theo Minchington và cộng sự (2015), sự trải nghiệm của nhân viên phải là trọng tâm chính của chiến lược
Trang 23xây dựng thương hiệu của nhà tuyển dụng và nên được xem xét một cách toàn diện hơn là một chức năng độc lập Khi một nhân viên nghĩ về thương hiệu nhà tuyển dụng, những suy nghĩ đầu tiên của anh ta có liên quan đến cách anh ấy trải nghiệm thương hiệu trong công việc hàng ngày của mình Trải nghiệm của họ bị ảnh hưởng phần lớn bởi phong cách quản lý, hoạt động về quản trị nhân sự, và những sự kết hợp chéo giữa các phòng ban (Kimpakorn và Tocquer, 2009)
Tương tự như trải nghiệm thương hiệu tiêu dùng, trải nghiệm thương hiệu của nhà tuyển dụng bao gồm ba thành phần: trải nghiệm cảm giác, trải nghiệm nhận thức
và trải nghiệm cảm xúc (Fernadez-Lores và cộng sự, 2015)
Trải nghiệm cảm giác:
Trải nghiệm cảm giác đề cập các yếu tố tác động đến cảm giác của một nhân viên mà thương hiệu nhà tuyển dụng mang lại thông qua quá trình tiếp xúc với thương hiệu nhà tuyển dụng tại nơi làm việc, điều này tạo nên sự trải nghiệm trong quá trình làm việc (Pine và Gilmore, 1999) Nơi làm việc là nơi mà các đặc điểm nhận diện của thương hiệu được nhận thấy Một trải nghiệm cảm giác về thương hiệu nhà tuyển dụng tích cực sẽ giúp tổ chức trở thành một nơi làm việc mang cảm giác hạnh phúc
và tạo nên mối liên kết tình cảm giữa nhân viên và thương hiệu (Fernandez-Lores và Gavilan, 2015)
Trải nghiệm nhận thức:
Trải nghiệm nhận thức về thương hiệu nhà tuyển dụng là những gì nhân viên đã được học hỏi và tiếp thu từ giá trị thương hiệu (King và Grace, 2010) Nhiều nghiên cứu cho thấy một sự quản lý hiệu quả của những giá trị đó có thể giúp các nhân viên nhận diện và có sự gắn kết với thương hiệu (Harris, 2007, dẫn theo Fernandez-Lores
và Gavilan, 2015) Một trải nghiệm về các giá trị thương hiệu tốt sẽ hình thành sự cam kết tình cảm của nhân viên đối với thương hiệu nhà tuyển dụng khi người nhân viên xác định chặt chẽ mối quan hệ với nó
Trải nghiệm cảm xúc
Trang 24Thành phần cảm xúc của trải nghiệm nhà tuyển dụng liên quan đến các trải nghiệm về tình cảm trong công việc Một nhân viên thích công việc của mình nhiều bao nhiêu sẽ ảnh hưởng đến cách mà người đó nhận thức như thế nào về công việc
và môi trường làm việc Những nhân viên tận hưởng công việc của họ, thì làm việc tốt hơn, đánh giá chất lượng cuộc sống - công việc của họ tích cực hơn và thường tự
họ có được động lực làm việc tốt hơn Động lực nội tại này tạo ra một sự mong muốn thắt chặt mối quan hệ giữa cá nhân người nhân viên và thương hiệu (Bakker, 2008) Bằng cách này, việc tận hưởng trải nghiệm của một thương hiệu đóng vai trò như một tiền đề cho sự cam kết tình cảm
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng định nghĩa của Fernadez-Lores
và cộng sự (2015), “Trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng bao gồm nhiều nhân tố kích thích mà nhân viên cảm nhận được xuất phát từ nơi làm việc, nơi những trải nghiệm xảy ra, từ sự hài lòng trong công việc có được thông qua quá trình thực hiện các nhiệm vụ với các giá trị được thể hiện bởi thương hiệu trong mắt nhân viên”
2.1.2 Cam kết tình cảm
Khái niệm Cam kết tình cảm
Cam kết là nền tảng của tất cả các mối quan hệ Nó đã được nghiên cứu từ nhiều góc nhìn khác nhau trong nhiều hoàn cảnh khác nhau (Fernandez-Lores và Gavilan, 2015) Theo Meyer và Herscovitch (2001), cam kết có thể được định nghĩa là “ảnh hưởng ràng buộc một cá nhân vào một quá trình hành động liên quan đến một hoặc nhiều mục tiêu” Trong nghiên cứu về sự cam kết của nhân viên trong lĩnh vực dịch
vụ, Kimpakorn và Tocquer (2009) định nghĩa về cam kết thương hiệu nhà tuyển dụng của nhân viên là mức độ mà nhân viên nhận định và có liên quan đến thương hiệu dịch vụ của họ, sẵn sàng nỗ lực để đạt được mục tiêu của thương hiệu và quan tâm đến những việc còn lại với tổ chức
Trang 25Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trình và kết quả làm việc của nhân viên chính là sự cam kết của nhân viên với tổ chức (Mowday và cộng sự, 1982; Allen và Meyer, 1990; Meyer và Herscovitch, 2002; Shaw và cộng
sự, 2003; Yousef, 2000) Có rất nhiều quan điểm và cách đo lường sự cam kết đối với tổ chức, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất Những quan điểm đo lường này tạo nên sự khác biệt trong cách tiếp cận về cam kết tổ chức của những tác giả Những khác biệt liên quan chủ yếu đến các thành phần như: trạng thái tâm lý thể hiện trong cam kết đối với tổ chức, các điều kiện ảnh hưởng có tính quyết định đến sự phát triển cam kết, các hành vi được mong đợi là kết quả của cam kết đối với tổ chức Do đó,
số lượng thành phần và ý nghĩa của từng thành phần trong sự cam kết đối với tổ chức
là rất khác biệt trong các nghiên cứu trước đây
Meyer và Allen (1991) đã phát triển mô hình 3 dạng cam kết và công bố nó trong “Tổng quan quản trị nhân sự” Mô hình này giải thích rằng sự cam kết của nhân viên với một tổ chức là một trạng thái tâm lý, và nó có ba thành phần khác nhau ảnh hưởng đến cách nhân viên cảm thấy về tổ chức mà họ làm việc Bao gồm: Cam kết bằng tình cảm, cam kết duy trì và cam kết chuẩn mực
- Cam kết tình cảm: Cảm xúc gắn bó, đồng nhất và mong muốn được cống hiến
cho tổ chức, tình cảm tự nguyện muốn gắn kết với tổ chức (hay còn gọi là sự gắn kết
vì tình cảm)
- Cam kết duy trì: Nhân viên nhận thấy sẽ mất mát chi phí khi rời khỏi tổ chức
do đó cần phải cam kết với tổ chức (hay còn gọi là sự gắn kết vì lợi ích)
- Cam kết về chuẩn mực: Cảm giác có nghĩa vụ tiếp tục công việc
Ba loại cam kết này có thể có những ảnh hưởng khác nhau đối với hành vi của nhân viên, vì vậy cần phải nghiên cứu chúng một cách riêng biệt Trong ba loại cam kết, cam kết tình cảm đã cho thấy đem lại lợi ích lớn nhất cho tổ chức (Meyer và cộng
sự, 2002, Meyer và Maltin, 2010) Cam kết tình cảm cũng cho thấy có sự liên quan chặt chẽ hơn với các hành vi về mong muốn được làm việc (Meyer và Herscovitch,
Trang 262001), chẳng hạn như nỗ lực để trở thành một thành viên tốt trong tổ chức (Ambler
và Barrow, 1996; Burmann và cộng sự, 2009)
Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sử dụng định nghĩa của Meyer và Allen (1991) về cam kết tình cảm để tập trung nghiên cứu và đo lường, theo đó, cam kết tình cảm là những cảm xúc gắn bó, đồng nhất và mong muốn được cống hiến cho tổ chức, tình cảm tự nguyện muốn gắn kết với tổ chức
Mối quan hệ giữa trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng và cam kết tình cảm
Nghiên cứu của Allen và Meyer (1991) được áp dụng nhiều trong nhiều lĩnh vực khác nhau, không chỉ về quản lý nhân sự, mà còn được sử dụng trong Marketing Trong Marketing dành cho người tiêu dùng, nhiều tác giả nghiên cứu đã thừa nhận rằng sự thành công của thương hiệu phụ thuộc vào việc hứa hẹn mang lại giá trị cho khách hàng Trong những năm gần đây, những hứa hẹn này đã mang lại những cảm xúc mạnh mẽ (Schmitt, 1999; Thomson và cộng sự, 2005; Gobé, 2010) Cảm xúc củng cố sự gắn bó và có thể thôi thúc khách hàng mua sản phẩm, ngay cả khi nó có giá cao Tương tự như chiến lược Marketing dành cho người tiêu dùng, việc xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng cũng đã chuyển hướng tới việc mang lại những lợi ích cảm xúc để đạt được cam kết của nhân viên (Kimpakorn và Tocquer, 2009) Cam kết tình cảm này sau đó có thể dẫn đến các hành vi mong đợi như sẵn sàng giúp đỡ hoặc muốn được phát triển hơn nữa tại công ty (Burmann và cộng sự, 2009) Theo nghĩa này, việc xây dựng thương hiệu đối với người tiêu dùng và xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng có mối liên quan mật thiết với nhau
Theo Kimpakorn và Tocquer (2009), hầu hết các nghiên cứu về cam kết của nhân viên đều nhấn mạnh về yếu tố tình cảm, đó được cho là mức độ trải nghiệm của nhân viên về cảm giác nhận diện và tham gia đối với giá trị thương hiệu của công ty
mà họ đang làm việc Họ sẵn sàng nỗ lực để cùng đạt được mục tiêu công ty và quan tâm đến việc ở lại với công ty Trong nghiên cứu về sự cam kết đối với thương hiệu
Trang 27nhà tuyển dụng, khái niệm cam kết tình cảm của Allen và Meyer (1991) được tập trung nghiên cứu và áp dụng (Kimpakorn và Tocquer, 2009; Hanin, Stinglhamber và Delobbe, 2013; Fernandez-Lores, Gavilan, 2015; Harikumar và Susha, 2016)
Từ những cơ sở lý thuyết trên, tác giả tập trung nghiên cứu và đo lường sự tác động của trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng đối với yếu tố cam kết tình cảm của nhân viên
2.1.3 Ý định nghỉ việc của nhân viên
Khái niệm Ý định nghỉ việc của nhân viên
Ý định nghỉ việc theo Mobley, Horner, và Hollinsgsworth (1978) định nghĩa là một nhân viên có suy nghĩ từ bỏ công việc của mình và ý định tìm kiếm một công việc khác bên ngoài tổ chức Theo Jehanzeb và Rasheed (2013) cho rằng ý định nghỉ việc là suy nghĩ và dự định của nhân viên về việc tự nguyện rời khỏi một tổ chức Đây là giai đoạn cuối cùng trong quá trình đi đến hành động nghỉ việc thực tế và là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định ra đi hay ở lại của nhân viên (Masri, 2009) Các yếu tố hình thành nên ý định nghỉ việc của người lao động thường có mối liên hệ đến môi trường mà họ đang làm việc như tính chất công việc, mối liên
hệ với cấp trên, với đồng nghiệp, văn hóa doanh nghiệp, hoặc những kỳ vọng của người lao động đối với tổ chức Ngược lại với khái niệm ý định nghỉ việc là ý định ở lại (Costen và Salazar, 2011) Trong khi sự thỏa mãn công việc và sự cam kết tổ chức thuộc về tâm lý của nhân viên đối với công việc và tổ chức thì ý định ở lại tổ chức thuộc về hành vi của nhân viên, mong muốn tiếp tục duy trì là thành viên của tổ chức (James, 1997)
Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa của Jehanzeb và Rasheed (2013): “Ý định nghỉ việc là những suy nghĩ và dự định của nhân viên về việc tự nguyện rời khỏi một tổ chức.”
Trang 28 Mối quan hệ giữa cam kết tình cảm và ý định nghỉ việc của nhân viên
Hewitt (2004) cho rằng ý định ở lại phản ánh mức độ cam kết của nhân viên đối với tổ chức và sẵn sàng duy trì là thành viên của tổ chức Hành vi ở lại bị ảnh hưởng bởi ý định ở lại, và ý định ở lại hoặc rời khỏi là một chỉ số tốt để dự báo những hành động thực tế của nhân viên
Ý định nghỉ việc là một trong các nghiên cứu rộng nhất về kết quả của sự thỏa mãn công việc và sự cam kết tổ chức, dựa trên mối quan hệ này, các nhà nghiên cứu tạo ra mối quan hệ giữa thái độ và hành vi của nhân viên (Mowday và cộng sự, 1982; Shore, Newton và Thornton, 1990) Có nhiều yếu tố thúc đẩy nhân viên có ý định rời khỏi tổ chức của họ, một trong những yếu tố có tác động đến ý định rời khỏi tổ chức được biết đến nhiều nhất đó là cam kết tổ chức (Sow và cộng sự, 2015)
Các tài liệu về phát triển nguồn nhân lực đã xác nhận rằng cam kết tình cảm sẽ giảm bớt ý định rời khỏi tổ chức của nhân viên (ví dụ như Bluedorn, 1982; Koch và Steers, 1978, Lee và Bruvold, 2003, Hollenbeck và Williams, 1986, Sturman và cộng
sự, 2006, Meyer và Allen, 1997) Có thể nói rằng sự cam kết tình cảm của nhân viên với tổ chức là yếu tố cần thiết để giảm bớt ý định nghỉ việc (theo Talat, 2015)
2.2 Các kết quả nghiên cứu có liên quan
2.2.1 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng và cam kết tình cảm của nhân viên
Hình 2.2 là mô hình nghiên cứu của Kimpakorn và Tocquer (2009, tr.537) về mối quan hệ giữa các yếu tố của thương hiệu nhà tuyển dụng đối với cam kết của nhân viên đối với thương hiệu, trường hợp nghiên cứu chuỗi khách sạn cao cấp ở Thái Lan Kết quả cho thấy, trong 5 yếu tố được đưa ra, yếu tố trải nghiệm của nhân viên đối thương hiệu nhà tuyển dụng cho thấy có mối quan hệ tích cực đối với sự cam kết của nhân viên Trải nghiệm của nhân viên với thương hiệu nhà tuyển dụng được
Trang 29tác giả chứng minh là một trong những chức năng quan trọng và hiệu quả nhất để phát triển cam kết thương hiệu của nhân viên Nghiên cứu cho thấy sự trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng của nhân viên có sự tác động đối với sự cam kết thương hiệu
Hình 2.2 Mô hình “Cam kết của nhân viên với thương hiệu trong ngành dịch
vụ: nghiên cứu tại chuỗi khách sạn cao cấp tại Thái Lan”
Nguồn: Kimpakorn và Tocquer, 2009
Nghiên cứu của Iglesias và cộng sự (2011) nhằm tìm hiểu mối quan hệ trực tiếp
và gián tiếp giữa trải nghiệm thương hiệu và sự trung thành của thương hiệu Các tác giả đề xuất rằng mối quan hệ này được tác động bởi nhân tố trung gian là cam kết tình cảm Cách tiếp cận định lượng dựa trên khảo sát được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết dựa trên mô hình đề xuất mô tả các mối quan hệ giữa trải nghiệm thương hiệu, cam kết tình cảm và lòng trung thành của thương hiệu (Hình 2.3) Trong đó yếu
tố trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng được tác giả đo lường bằng thang đo với
12 biến quan sát (Brakus và cộng sự, 2009), bao gồm 4 thành phần: trải nghiệm cảm giác, trải nghiệm nhận thức, trải nghiệm cảm xúc và trải nghiệm hành vi
Kiến thức của nhân viên về
Trải nghiệm của nhân viên về
thương hiệu nhà tuyển dụng
Cam kết về thương hiệu của
nhân viên
Sự khác biệt của các khách sạn
H2
H4 H5
Trang 30Kết quả nghiên cứu cho thấy cam kết tình cảm là nhân tố trung gian giữa mối quan hệ giữa trải nghiệm thương hiệu và sự trung thành của thương hiệu
(1) Trải nghiệm thương hiệu càng cao thì cá nhân càng có nhiều cam kết về tình cảm với thương hiệu đó,
(2) Sự cam kết tình cảm của một cá nhân với một thương hiệu càng cao, sự trung thành của cá nhân đối với thương hiệu đó càng cao,
(3) Trải nghiệm thương hiệu không có ảnh hưởng trực tiếp đến lòng trung thành thương hiệu mà gián tiếp thông qua cam kết tình cảm
Hình 2.3 Mô hình “Vai trò của kinh nghiệm thương hiệu và cam kết tình cảm
trong việc xác định lòng trung thành của thương hiệu”
Nguồn: Iglesias và cộng sự, 2011
Nghiên cứu của Fernandez-Lores và Gavilan (2015) về sự ảnh hưởng của trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng đối với sự cam kết tình cảm, đồng thời, nghiên cứu nhằm xây dựng một thang đo đáng tin cậy, có thể được áp dụng dễ dàng giúp các công ty thu hút, duy trì và đánh giá những cam kết cảm xúc với thương hiệu nhà tuyển dụng từ những nhân viên xuất sắc trong một môi trường cạnh tranh toàn cầu Đối tượng khảo sát của nghiên cứu là nhân viên của các công ty tư nhân trong nhiều lĩnh vực khác nhau (như ngân hàng, bảo hiểm, công nghiệp tự động, giáo dục, tư vấn) Hình 2.4 là mô hình nghiên cứu được đề xuất, yếu tố trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng của nhân viên sử dụng 3 thành phần bao gồm: trải nghiệm cảm giác, trải nghiệm nhận thức và trải nghiệm cảm xúc đối với thương hiệu nhà tuyển dụng Tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của từng thành phần trải nghiệm thương hiệu đối với
Trải nghiệm
thương hiệu
Lòng trung thành thương hiệuCam kết
tình cảm
Trang 31yếu tố cam kết tình cảm của nhân viên Kết quả cho thấy cả ba thành phần của trải nghiệm đều có ảnh hưởng tích cực đến cam kết tình cảm của nhân viên
Hình 2.4 Mô hình “Ảnh hưởng của trải nghiệm thương hiệu đến cam kết tình
cảm của nhân viên đối với thương hiệu nhà tuyển dụng”
Nguồn Fernandez-Lores và cộng sự, 2015
2.2.2 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa yếu tố cam kết tình cảm và
ý định nghỉ việc của nhân viên
Có nhiều lý do thúc đẩy nhân viên có ý định rời khỏi tổ chức của họ Sự cam kết về tổ chức đã được nhiều tác giả nghiên cứu và cho rằng đây là một trong những nguyên nhân khiến nhân viên có ý định nghỉ việc (Rashid và Raja, 2011; Yücel, 2012; Alniacik và cộng sự, 2013) Những nhân viên có sự gắn kết với công ty có thể sẽ ở lại lâu hơn với các tổ chức sử dụng lao động của họ (Sow và cộng sự, 2015)
Nghiên cứu của Meyer và cộng sự (2001) đã tiến hành phân tích tổng hợp để đánh giá (a) mối quan hệ giữa các cam kết về tình cảm, duy trì và chuẩn mực đối với
tổ chức và (b) quan hệ giữa ba hình thức cam kết và các biến được xác định là tiền
Trải nghiệm cảm giác
Trải nghiệm nhận thức
Trải nghiệm cảm xúc
Cam kết tình cảm
+
+
+
Trang 32đề, sự tương quan và hệ quả trong “Mô hình 3 thành phần” của Meyer và Allen (1991) Tác giả nhận thấy rằng ba hình thức cam kết liên quan đến nhau nhưng vẫn có thể phân biệt được với nhau, cũng như từ sự hài lòng công việc, sự tham gia của công việc và cam kết nghề nghiệp Kết quả cho thấy, cả ba hình thức cam kết có mối liên quan đến sự nhận thức rút lui và quyết định nghỉ việc, trong đó, cam kết tình cảm có mối tương quan mạnh và thuận lợi nhất với các biến liên quan đến tổ chức (sự hiện diện, kết quả công việc, hành vi của các thành viên trong tổ chức) và các biến liên quan đến nhân viên (stress và sự mất cân bằng giữa công việc – cuộc sống) Như vậy, yếu tố cam kết tình cảm có mối quan hệ đối với ý định nghỉ việc của nhân viên
Hình 2.5 Mô hình “Ba thành phần của sự cam kết trong tổ chức”
Nguồn Meyer và cộng sự, 2001
Nghiên cứu của Alniacik và cộng sự (2013) kiểm tra tác động điều tiết của yếu
tố phù hợp giữa tổ chức và cá nhân với mối quan hệ giữa cam kết tình cảm, sự hài lòng công việc và ý nghỉ việc của nhân viên Các giả thuyết nghiên cứu được kiểm tra với dữ liệu từ một mẫu thuận tiện của 200 nhân viên làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học ở Thổ Nhĩ Kỳ Kết quả nghiên cứu trước hết cho thấy có mối quan hệ giữa yếu tố cam kết tình cảm và ý định nghỉ việc, cũng như mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc với ý định nghỉ việc Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra mức
Trang 33độ phù hợp giữa cá nhân và tổ chức làm giảm đáng kể ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đối với các ý định nghỉ việc Tuy nhiên, không có ảnh hưởng như vậy được quan sát trên mối quan hệ giữa cam kết tình cảm với tổ chức và ý định nghỉ việc Như vậy, yếu tố cam kết tình cảm có sự tác động trực tiếp đến ý định nghỉ việc (Hình 2.6)
Hình 2.6 Mô hình “Nghiên cứu ảnh hưởng của cam kết tình cảm và sự hài lòng trong công việc đến ý định nghỉ việc của nhân viên và sự điều tiết của yếu
tố sự phù hợp giữa cá nhân và tổ chức”
Nguồn Alniacik và cộng sự, 2013
Trong nghiên cứu của Talat (2015) về sự ảnh hưởng của văn hóa học tập của tổ chức và sự hỗ trợ tổ chức đối với cam kết tình cảm và ý định nghỉ việc của nhân viên Nghiên cứu được thực hiện dựa trên các nhân viên đang công tác tại lĩnh vực ngân hàng ở Pakistan với cỡ mẫu 1,340, gồm các nhân viên đến từ các ngân hàng cổ phần trên khắp nước Một trong những giả thuyết của nghiên cứu nhằm khẳng định lại mối quan hệ giữa yếu tố cam kết tình cảm và ý định nghỉ việc của nhân viên Tác giả hy vọng rằng các chính sách hỗ trợ tổ chức có thể tạo ra một nơi làm việc hấp dẫn đối với nhân viên, làm tăng mức độ cam kết của họ đối với tổ chức và giảm ý định rời bỏ
tổ chức (Perryer và cộng sự, 2010, Ahmed và cộng sự, 2014) Kết quả nghiên cứu
Sự hài lòng trong công việc
Cam kết tình cảm
Ý định nghỉ việc
Sự phù hợp giữa
cá nhân và tổ chức
Trang 34cho thấy, có một mối quan hệ âm giữa yếu tố cam kết tình cảm và ý định nghỉ việc của nhân viên trong ngành ngân hàng tại Pakistan
2.3 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
2.3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài và các mô hình nghiên cứu có liên quan, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài như hình 2.7, dựa trên kết quả các công trình nghiên cứu của Iglesias và cộng sự (2011), nghiên cứu của Fernandez-Lores và Gavilan (2015) và nghiên cứu Meyer và cộng sự (2001) để nghiên cứu sự ảnh hưởng của yếu tố trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng đối với ý định nghỉ việc của nhân viên, thông qua yếu tố cam kết tình cảm Trong mô hình, yếu tố trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng là một biến đa hướng, bao gồm 3 thành phần là trải nghiệm cảm giác, trải nghiệm nhận thức và trải nghiệm cảm xúc, mỗi thành phần được đo lường bằng các biến quan sát
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Ý định nghỉ việc
Trải nghiệm thương
hiệu nhà tuyển dụng
(+)
H1
(-) H2
Trang 352.3.2 Các giả thuyết nghiên cứu
Trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng và cam kết tình cảm
Theo nghiên cứu của Iglesias và cộng sự (2011) về trải nghiệm thương hiệu người tiêu dùng, yếu tố trải nghiệm thương hiệu là một biến đa hướng, được mô hình hóa bằng 4 yếu tố trải nghiệm: cảm giác, nhận thức, cảm xúc và hành vi Tuy nhiên, trong nghiên cứu về thị trường lao động, dựa trên kết quả nghiên cứu của Fernandez-Lores và Gavilan (2015), tác giả lựa chọn yếu tố trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng bao gồm ba thành phần là trải nghiệm cảm giác của nhân viên đối với nơi làm việc, trải nghiệm nhận thức của nhân viên đối với giá trị thương hiệu và trải nghiệm cảm xúc trong quá trình làm việc Do đó, trong phạm vi nghiên cứu đề tài của mình, tác giả sử dụng khái niệm trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng của Fernandez-Lores và Gavilan (2015) gồm có 3 thành phần:
Trải nghiệm cảm giác:
Trải nghiệm cảm giác đề cập đến các yếu tố tác động đến cảm giác của một nhân viên mà thương hiệu nhà tuyển dụng mang lại thông qua quá trình tiếp xúc và cảm giác của họ với thương hiệu nhà tuyển dụng ở tại nơi làm việc, điều này tạo nên trải nghiệm trong quá trình làm việc (Pine và Gilmore, 1999)
Trải nghiệm nhận thức:
Trải nghiệm nhận thức về thương hiệu nhà tuyển dụng có nghĩa là nhân viên đã học hỏi và tiếp thu được những giá trị nhất định trong quá trình trải nghiệm thương hiệu (King và Grace, 2010) Các yếu tố nhận thức bao gồm sự tự hào về giá trị doanh nghiệp, sự suy nghĩ và tư duy liên tục về công việc, khả năng tư duy và học hỏi của nhân viên (Cacioppo và Petty, 1982) Nhiều nghiên cứu cho thấy một sự quản lý hiệu quả của những giá trị đó có thể giúp các nhân viên nhận diện và cam kết với thương hiệu (Harris, 2007, dẫn theo Fernandez-Lores và Gavilan, 2015)
Trải nghiệm cảm xúc
Thành phần tình cảm của trải nghiệm nhà tuyển dụng liên quan đến các trải nghiệm về tình cảm trong công việc Một nhân viên thích công việc của mình nhiều
Trang 36bao nhiêu sẽ ảnh hưởng đến cách mà người đó nhận thức như thế nào về công việc
và môi trường làm việc Những nhân viên tận hưởng công việc của họ, thì làm việc tốt hơn, đánh giá chất lượng cuộc sống - công việc của họ tích cực hơn và thường tự
họ có được động lực làm việc tốt hơn Động lực nội tại này tạo ra một sự mong muốn thắt chặt mối quan hệ giữa nhân viên và thương hiệu (Bakker, 2008)
Theo Kimpakorn và Tocquer (2009), sự cam kết của nhân viên đối với thương hiệu nhà tuyển dụng là mức độ trải nghiệm của nhân viên về cảm giác nhận diện và tham gia đối với giá trị thương hiệu của công ty mà họ đang làm việc Họ sẵn sàng
nỗ lực để cùng đạt được mục tiêu công ty và quan tâm đến việc ở lại với công ty tức
là sự trải nghiệm thương hiệu của nhân viên là tiền đề cho sự cam kết của nhân viên
H1: Nhân viên có trải nghiệm tích cực về thương hiệu nhà tuyển dụng sẽ chứng tỏ mức độ cam kết tình cảm cao hơn đối với thương hiệu đó
Sự cam kết tình cảm và ý định nghỉ việc của nhân viên
Meyer và Allen (1991) tổng hợp các nghiên cứu trước đó và đưa ra một mô hình cam kết tổ chức kết hợp ba thành phần: cam kết tình cảm, cam kết duy trì và cam kết chuẩn mực Trong số ba thành phần của cam kết tổ chức, cam kết mang tính tình cảm
đã được kết luận là một tiền đề có ý nghĩa quan trọng đối với ý định nghỉ việc của nhân viên (Joarder và cộng sự, 2011; Maertz và cộng sự, 2007; Newman và cộng sự, 2012)
Meyer và cộng sự (2001) cũng đã chỉ ra rằng một nhân viên có cam kết tình cảm cao sẽ có ý định ở lại với nhà tuyển dụng của họ và được cho là có tác động mạnh mẽ nhất so với các loại cam kết còn lại Nghiên cứu của Perryer và cộng sự (2010) thấy rằng có một mối quan hệ mạnh mẽ giữa cam kết tình cảm và ý định nghỉ việc Lee và cộng sự (2010) đã kết luận rằng nhân viên cảm nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn từ tổ chức của họ có thể làm tăng tâm trạng tích cực trong công việc, điều này có thể dẫn đến mối liên hệ tình cảm tích cực với tổ chức
Trang 37Một số nghiên cứu trong quá khứ đã được tiến hành để xác định chính xác nguyên nhân của ý định nghỉ việc (Talat, 2015) Trong số nhiều công trình nghiên cứu, đa số các nghiên cứu đã tìm thấy yếu tố cam kết của tổ chức có ảnh hưởng làm giảm ý định rời khỏi tổ chức của nhân viên (Jo và Park, 2010; Jo và Joo, 2011; Islam
và cộng sự, 2014; Lee-Kelly và cộng sự, 2007; Lee và Bruvold, 2003) Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về cam kết tình cảm cũng ảnh hưởng đến ý định nghỉ việc (Joo, 2010; Talat, 2015), đặc biệt là cam kết tình cảm đối với thương hiệu nhà tuyển dụng Vì vậy, nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng:
H2: Cam kết tình cảm của nhân viên đối với thương hiệu nhà tuyển dụng càng cao thì ý định nghỉ việc của nhân viên đó càng thấp
Trang 38Tóm tắt chương 2
Ở chương 2, tác giả đã trình bày khái quát cơ sở lý thuyết về trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng, cam kết tình cảm của nhân viên và ý định nghỉ việc của nhân viên đối với tổ chức Chương này cũng trình bày sơ lược các lý thuyết và mô hình nghiên cứu trước đây về trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng, mối quan hệ giữa các yếu tố trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng đối với cam kết tình cảm và ý định nghỉ việc của nhân viên Từ cơ sở các lý thuyết và nghiên cứu trước đây, tác giả đã giới thiệu mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết được nêu
Chương 3 sẽ tiếp tục trình bày về phương pháp nghiên cứu
Trang 39PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 đã giới thiệu về cơ sở lý thuyết có liên quan đến mô hình và đề xuất
mô hình nghiên cứu cho đề tài, giả thuyết nghiên cứu Chương 3 sẽ trình bày về quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, xây dựng thang đo, bảng câu hỏi, cách thu thập dữ liệu và các bước phân tích dữ liệu
3.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu sơ bộ định tính
Nghiên cứu sơ bộ định lượng
Kết quả nghiên cứu
Kiểm định độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha Kiểm định giá trị của các thang đo bằng
EFA
Kiểm định lại độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha Kiểm định lại giá trị các thang đo bằng
EFA
Kiểm định CFA, SEM
Trang 40Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu, hình thành mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu về mối quan hệ giữa yếu tố trải nghiệm thương hiệu nhà tuyển dụng, sự cam kết tình cảm của nhân viên và ý định nghỉ việc của nhân viên dựa trên cơ sở các nghiên cứu trước đây Từ đó tác giả hình thành nên mô hình
và các giả thuyết nghiên cứu đề xuất
Bước 2: Nghiên cứu sơ bộ
Thang đo sơ bộ được hình thành từ cơ sở lý thuyết và các mô hình nghiên cứu trước đây để thực hiện nghiên cứu sơ bộ định tính Nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua phương pháp thảo luận tay đôi và thảo luận nhóm bằng dàn bài thảo luận Kết quả thu được sẽ dùng để hình thành bảng câu hỏi nghiên cứu Tác giả dùng bảng câu hỏi này để phỏng vấn thử một số đáp viên, và sử dụng phương pháp nghiên cứu sơ bộ định lượng nhằm kiểm định thang đo Phân tích hệ số Cronbach’s Alpha với yêu cầu các biến quan sát có hệ số Cronbach’s Alpha ≥ 0.6 và hệ số tương quan biến tổng ≥ 0.3, phân tích EFA với yêu cầu các biến quan sát có trọng số ≥ 0.5 Các biến quan sát không đạt yêu cầu sẽ bị loại bỏ, các biến còn lại được đưa vào bảng câu hỏi dùng để nghiên cứu định lượng chính thức
Bước 3: Nghiên cứu định lượng chính thức
Tất cả dữ liệu thu thập từ nghiên cứu định lượng sẽ được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0, sau đó tiến hành các bước mô tả mẫu, kiểm định lại thang đo
và mô hình nghiên cứu thông qua phân tích Cronbach’s Alpha, EFA, CFA và SEM Các kết quả thu được sau khi xử lý sẽ được phân tích và kết luận mục tiêu nghiên cứu có đạt được hay không
3.2 Nghiên cứu sơ bộ
Trên cơ sở tôn trọng thang đo gốc từ những công trình nghiên cứu trước đây, tác giả tiến hành nghiên cứu sơ bộ để phát triển và điều chỉnh thang đo sao cho phù hợp với ngữ cảnh tại thị trường lao động trong ngành ngân hàng ở Việt Nam Trước