Công ty bánh kẹo Hải Hà gọi tắt là HAIHACO, địa chỉ 25 đường Trương Định – Hà Nội, là một doanh nghiệp Nhà nước chuyên sản xuất và tiêu thụ các loại bánh kẹo để phục vụ cho mọi tângf lớp
Trang 1PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM Ở CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ.
A: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ Ở CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC ỔN ĐỊNH VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG.
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN Ở CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ
1 Giới thiệu chung về công ty.
Công ty bánh kẹo Hải Hà gọi tắt là (HAIHACO), địa chỉ 25 đường Trương Định – Hà Nội, là một doanh nghiệp Nhà nước chuyên sản xuất và tiêu thụ các loại bánh kẹo để phục vụ cho mọi tângf lớp nhân dân và xuất khẩu sang một số nước Hải Hà là một công ty nằm trong kế hoạch Phát triển lâu dài của nghành bánh kẹo Việt Nam Sản phẩm của công ty đã trở thành người bạn quen thuộc của nhiều thành phố và địa phươngar các tỉnh phía bắc nước ta Bên cạnh đó, một số sản phẩm của công ty đã có mặt ở một số nước như: Liên Xô cũ, Hungari, Tiệp Khắc, Mông cổ
Từ khi nền kinh te nước ta chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nề kinh te thị trường có sự quản lý của nhà nước, công ty bánh kẹo Hải Hà đã kịp thời thích ứng và phát huy mọi khả năng để giữ vững uy tín trên thị trường, đông thời thực hiện tốt công tác quản lý sản xuất, đổi mới công nghệ, cải tiến cách thức bán hành đã từng bước đưa công ty lớn mạnh và đứng vữngtrên thị trường Một điều chắc chắn là các sản phẩm của công ty bánh kẹo Hải Hà với nhiều mẫu
mã đẹp, hấp dẫn chủng loại và mặt hàng phong phú, chất lượng cao sẽ có mặt ở nhiều nới trong nước và nước ngoài
2 Các giai đoạn hình thành và phát triển.
2.1 Giai đoạn 1960 –1970.
Trang 2Công ty bánh kẹo Hải Hà thành lập ngày 25/12/1960, lúc đầu là xí nghiệp sản xuất miến Hoàng Mai thuộc tổng công ty thổ sản miền bắc ( sau này thuộc bộ công nghiệp nhẹ), sau đó, xí nghiệp đã sản xuất thành công các loại mặt hàng khác như xì dầu và thành lập phân xưởng sản xuất chế biến tinh bột ngô, cung cấp nguyên liệu cho nhà máy in văn điển.
Thực hiện chủ trương của bộ công nghiệp nhẹ, từ năm 1966 Viện thực phâm trung ương lấy đây làm cơ sở vừa sản xuất vừa thực nghiệm các đề tài thực phẩm
để từ đó phổ biến cho các địa phương để giải quyết vấn dề hạu phương tại chỗ Từ đây nhà máy mang tên mới Nhà máy thực ghiệm thực phẩm Hải Hà Ngoài ra nhà máy còn sản xuất các mặt hàng như sản suất viên đạm, cháo, tương, nước chấm lên men và bước đầu sản xuất mạch nha
Đến năm 1968 nhà máy trực thuộc bộ lương thực thực phẩm và đên tháng 6/1970 nhà máy chính thức tiếp nhận phân xưởng kẹo của Hải Châu bàn giao sang với công suất 900 tấn/1 năm với số công nhân viên là 555 người
2.2 Giai đoạn 1970 – 1985.
Thực hiện nền kuinh tế kế hoạch hoá tập trung quan lưu bao cấp, do vậy ở Công ty từ việc mua nghuyên vật liệu đến tiêu thụ sản phẩm đều thực hiện theo chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước giao Trong thời kỳ này, có những năm (1981 – 1983) sản xuất của Công ty gặp tình trạng đình đốn, sản xuất bị ứ đọng, kém phẩm chất Nguyên nhân gây ra tình trạng khó khăn đó là hệ thống quản lý còn nặng về hình thức, sản xuất chỉ thực hiện theo chỉ thiêu của nhà nước, công ngệ sản xuất thì lạc hậu Tuy nhiên công ty đã nhận được sự giúp đỡ từ nhà nướcvà các nước xã hội chủ nghĩa tạo điều kiện cho Công ty không ngừng cải tiến kỹ thuật, từng bước mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường và đa dạng hoá sản phẩm Những điều kiện đó được thể hiện ở một số kết quả sau: Tháng 12/1976mở rộng nhà máy với công suất thiết kế là 600 tấn / năm Năm 1978 lần đầu tiên xuất khẩu được 38 tấn kẹo sang các nước Liên Xô (cũ), Mông cổ, Cộng hoà Dân chủ đức, Pháp, Italy Năm 1982
Trang 3mặt hàng sản xuất của công ty được mở rộng, ngoài sản xuất các loại kẹo, công ty còn sản xuất các loại bánh.
2.3 Giai đoạn 1986 đến nay.
Nền kinh tế đất nước trong những năm gần đây có sự phát triển mạnh mẽ cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế Nhà máy đã có những thay đổi mới để phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế Theo quyết định 379 của bộ công nghiệp nhẹ 15/4/94 nhà máy đổi tên thành Công ty bánh kẹo Hải Hà, là một doanh nghiệp Nhà nước đầu tư vốn và quản lý Công ty hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh độc lập Các xí nghiệp trực thuộc gồm có:
1 Xí nghiệp kẹo
2 Xí nghiệp bánh+
3 Xí nghiệp thực phẩm Việt trì
4 Xí nghiệp phụ trợ
5 Xí nghiệp dinh dưỡng Nam định
Trong quá trình phát triển Công ty đã liên doanh với các công ty nước ngoài:
- Năm 1993 Công ty đã liên doanh với Công ty Kotobuki (Nhật bản) thành lập liên doanh Hải Hà - Kotobuki
Với tỷ lệ vốn góp như sau: + Bên Việt Nam 30%(12 tỷ đồng)
Thực hiên nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của ban chấp hành Trung ương Đản cộng sản Việt Nam đề ra vấn dề “ công nghiệp hoá hiện đại hoá đát nước”
Trang 4Công ty bánh kẹo Hải Hà đã xác định được phương hướng và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong thời kỳ này như sau:
+ Tăng cường đầu tư chiều sâu với mục đích không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, đa dạng hoá chủng loại sản phẩm nhằm
mở rộng thị trường từ thành thị đến nông thôn, từ trong nước đến thị trường nước ngoài, đủ sứccạnh tranh với các đối thủ trên thị trường, phát triển các loại mặt hàng mới nhất là các loại mặt hàng có chất lượng cao
+ Xây dựng chiến lược công nghệ sản xuất bánh kẹo và một số sản phẩm khác đến năm 2001 – 2020 Tăng cường công tác cải tiến đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng sức cạnh tranh
+ Xác định rõ thị trường chính, thị trường phụ, tập trung nghiên cứu mở rộng thêm thị trường mới, chú trọng hơn nữa đến thị trường xuất khẩu, đặc biệt là thị trường các nước láng riềng Củng cố và Phát triển thị trường Trung Quốc và tiếp cận một số thị trường Quốc tế khác
+ Nghiên cứu sắp xếp lại bộ máy sản xuất cơ cấu và các bộ phận trong doanh nghiệp Hoàn thành bộ máy quản lý từ trên xuống dưới vận hành nhanh thông suốt
+ Trước mắt phải khai triển bộ phận Marketing riêng biệt, hoạt động nghiên cứu thị trường
+ Không ngừng nâng cao công tác quy hoạch đào tạo cán bộ thông qua các cuộc thi tay nghề và cử đi học các lớp trong và ngoài nước
+ Tăng cường công tác xây dựng Đảng trong doanh nghiệp, thường xuyên thực hiện nghị quyết của các cán bộ, kiểm tra Đảng viên chấp hành điều lệ Đảng Phấn đấu tổ Đảng, chi bộ Đảng và Đảng bộ vững mạnh và tổ chức Đảng phải thực
sự lãnh đạo kiểm tra được các hoạt đôngj kinh doanh, đảm bảo cho việc thực hiện đúng các đường lối của Đảng, chủ trương và chính sách của nhà nước
Trang 5+ Quản lý và sử dụng nguồn vốn Nhà nước giao có hiệu quả, không ngừng Phát triển nguồn vốn này, ngoài ra, công ty phải huy động vốn từ các nguồn khác như vay các tổ chức Ngân hàng,các tổ chức tài chính trong vàa ngoài nước, huy động nguồn vốn vay trong cán bộ công nhân viên công ty và nguồn vốn của Nhân dân, tiến tới tăng tỷb trọng vốn chủ sở hữu.
+ thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhà nước: nộp ngân sách đầy đủ, tham gia các công tác xã hội
+ Không ngừng chăm lo đời sống vật chất tinh thần và đảm bảo phúc lợi xã hội cho cán bộ, công nhân viên của công ty
3 Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh và quản lý kinh doanh.
3.1 Cơ cấu tổ chức sản xuất công ty
Hiện nay công ty bánh kẹo Hải Hà gồm 5 xí nghiệp: xí nghiệp bánh, xí nghiệp kẹo, xí nghiệp phụ trợ, xí nghiệp thực phẩm Việt trì, xí nghiệp bột dinh dưỡgn Nam định và hai liên doanh: Hải Hà Kotobuki, công ty MIWON Việt Nam
Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất của công ty bánh kẹo Hải Hà
Công ty bánh kẹo Hải HàCác công ty liên doanhHải H - Kotobukyà
Miwon Việt Nam
XN bánh
XN kẹo
XN phụ trợXN
th nh phà ốViệt Trì
Trang 6XN đinh dường Nam Định
Trang 7- Xí nghiệp Nam địn có phân xưởng sản xuất kem xốp các loại.
- Liên doanh Hải Hà Kotobki chuyên sản xuất các loại kẹo cao cấp như Socola, Cookies bơ, kẹo cao su
- Liên doanh Miwon Việt nam có trụ sở tại Việt trì chuên sản xuất bột ngọt
3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Năm 1995 công ty tiến hành đổi mới mô hình bộ máy quản lý nhằm đảm bảo
sự linh hoạt, năng động và phản ứng nhanh chóng trước các tình huống xảy ra
Trang 8Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Tổng Giám đốcPhó tổng Giám đốc điều h nh sà ản xuất kỹ thuậtPhó tổng Giám đốc điều h nh thà ương mại
Liên doanh Hải H - KotobukiàLiên doanh Hải H - Miwonà
Nh à ăn cơm caBan bảo vệPhòng t i và ụVăn phòngPhòng kỹ thuật
Hệ thống cửa h ngà
Trang 9Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được bố trí theo kiểu trực tuyến – chức năng Theo đó tổng giám đốc được sự giúp đỡ của giám đốc điều hành sản xuất kỹ thuật và giám đốc điều hành thương mại trong việc nghiên cứu bàn bạc tìm kiếm các giải pháp tối ưu cho những vấn đề phức tạp, thuy nhiên quyền quyết đinh các vấn đề này thuộc về tổng giám đốc.
- Những quyết định quản lý do các phòng chức năng nghiên cứu đề xuất khi được thủ trưởng thông qua biến thành mệnh lệnh được truyền đạt từ trên xuống theo tuyến đã định Các phòng chức năng có trách nhiệm tham mưu
- Phòng kinh doanh có nhiệm vụ:
+ Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và xây dựng giá thành sản phẩm ( Quý, năm )
+ Điêù độ sản xuất và thực hiện kế hoạch
+ Cung ứng vật tư sản xuất, cân đối kế hoạch thu mua ký hợp đồng thu mua vật tư thiết bị
+ Ký hợp đồng và theo dõi thực hiện hợp đồng tiêu thụ sản phẩm
+ Tổ chức hoạt động Marketing từ quá trình sản xuất đến quá trình tiêu thụ, thăm dò thị trường quảng cáo
+ Lập kế hoạch phát triển những năm sau
- Phòng kỹ thuật sản xuất có nhiệm vụ
+ nghiên cứu ký thuật cơ điện, công nghệ
+ nghiên cưu chế tạo sản phẩm mới
+ theo dõi và thực hiện các quy trình công nghệ
+ Đẩm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm
Trang 10+ Phục vụ tiếp khách
- Phòng tài vụ có nhiệm vụ
+ Huy động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh
+ Trả lương cho cán bộ công nhân viên
- Ban bảo vệ, nhà ăn y tế có nhiệm vụ bảo vệ cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức bữa ăn giữa ca và chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ công nhân viên
- Ngoài ra công ty còn có hệ thống cửa hàng có chức năng giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm Hệ thống nnhà kho có chức năng sự trữ nguyên vật liệu, trang thiết
Bánh kẹo được sản xuất chủ yếu từ đường, mật nha, bột mỳ, sắn, sữa, bơ, tin dầu và hương liệu các loại mối một sản phẩm có một định mức tiêu hao khác nhau
và thường xuyên thay đổi theo hướng không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm
Do đó công tác quản lý định mức nguyên vật liệu gặp nhiều khó khăn, Công ty phải thường xuyên chú ý đến sự thay đổi định mức Bánh kẹo là các đồ ăn ngọt nên sản phẩm được chế biến từ các nguyên liệu hữu cơ dễ bị vi sinh vật phá huỷ nên thời gian bảo quản ngắn thông thường thông thường là 90 ngày Do đó công tác bảo quản thường được chú trọng, nhằm giảm bớt hao hụt, mất mát trong quá trình
Trang 11bảo quản, đồng thời việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty phải được tiến hành nhanh chóng, không được ế thừa, tồn kho.
Sản phẩm bánh kẹo là sản ohẩm có chu kỳ sản xuất ngắn chỉ khoảng từ 3-4 giờ nên không có sản phẩm dở dang Quy trình công nghệ càng hiện đại thì sản phẩm tạo ra có chất lượng càng cao, mẫu mã đep, tỷ lệ phế phẩ giảm, sẽ làm giảm được giá thành sản phẩm Bên cạnh đó, sản phẩm bánh kẹo còn có đặc điểm là chỉ cần thay đổi một só thành phẩm về hương vị chất phụ gia, khuôn mẫu là có thể tạo
ra được sản phẩm mới Do đó dẫn đến một đặc điểm là sản phẩm dễ hoà nhập vào thị trường cũng dễ rút lui chuyển hướng tạm ngừng sản xuất chuyển sang sản xuất mặt hàng khác Đồng thời bánh kẹo là loại sản phẩm mà cần phải có mẫu mã bao
bì đẹp, màu sắc tươi đẹp để giúp Công ty chiếm ưu thế trên thị trường góp phần lấp đầy khoảng trống và gia tăng mức độ tiêu thụ sản phẩm trên thị trừơng
1 Đặc điểm về máy móc quy trình công nghệ
1.1 Đặc điểm về máy móc.
Mặt hàng chính của Công ty là bánh và kẹo Trong đó xí nghiệp kẹo gồm ba phân xưởng : phân xưởng kẹo cứng, phân xưởng kẹo mềm và phan xưởng kẹo gôm Còn xí nghiệp bánh gồm ba phân xưởng bánh BisCuit, phân xưởng bánh kem xốp , phân xửng bột gạo
Trước năm 1993, phần lớn máy móc thiết bị trong các phân xưởng sản xuất
là nhập từ các nước Đông âu , do đó năng suất lao động chưa cao, chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, gặp khó khăn trong cạnh tranh với các Công ty sản xuất trong và ngoài nước Trước thực tế đó từ trước năm 1993, Công
ty đã nhập các dây chuyền hiện đại đưa vào sản xuất đó là :
- Năm 1993 Công ty ký hợp đồng nhập một dây chuyền sản xuất bánh Biscuits của Đan mạch trị giá 1000000 USD
- Năm 1994 nhập một dây chuyền sản xuất bánh Cracker của ý trị giá
950000 USD
Trang 12- Năm 1995 nhập hai máy gói kẹo mềm trị giá 400000 USD và hai máy gói kẹo của Đài loan vào sản xuất kẹo cuứng nhãn Tây du ký
Thống kê năng lực sản xuất của Công ty Bánh kẹo Hải Hà
(tấn/năm)
Trình độ trang bị1
Dây truyền sản xuất kẹo cứng
Dây truyền sản xuất kẹo mền chất
lượng cao
Dây truyền sản xuất kẹo mền khác
Dây truyền bánh kem xốp
Dây truyền sản xuất glucoza phục
vụ cho sản xuất kẹo
1.6002.300
1.4001.200
6.7001501500
Thiết bị mới, cơ giới hoá +
tự động hoá
Cơ giới hoá + tự động hoá
Cơ giới hoá + một phần
Cơ giới hoá + tự động hoá
Cơ giới hóa + thủ công hoá
Cơ giới hoá + thủ công
Cơ giới hoá + thủ công
Cơ giới hoá
Mặc dù Hải hà là một doanh nghiệp có một hệ thống máy móc thiêt bị vào dạng khá trong ngành Bánh Kẹo cuả nước ta nhưng so với thế giới thì vẫn là yếu kém Hiên nay Công ty vẫn đanh còn sử dụng một số loại máy móc quá cũ kỹ và lạc hậu
Máy móc thiết bị của Công ty còn đang được sử dụng
Trang 134 Máy cắt 2 Việt Nam 1960
14 Dây truyền sản xuất kẹo cứng có nhân 1 Ba Lan 1980
1.2 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
Do đa dạng hoá sản phẩm, mỗi chũng loại bánh, kẹo có một chu trình sản xuất thích hợp , mặc dù có nhiều chũng loại nhưng có thể gộp thành 3 chủng loại chính là: Kẹo cứng, Kẹo mềm và Bánh các loại
Trang 14Sơ đồ 1: Quy trình công nghệ sản xuất kẹo mềm
Đường kính, mật, tinh bột
Ho tanàLọcNấu kẹo Đánh trộn Phụ liệu, hương liệu
L m nguà ộiQuạt kẹo
Chặt miếng Lăn con
Cán kẹoSắt kẹo Vuốt kẹo
S ng kà ẹoGói tay Gói máy
Đóng góiĐóng thanh kiệnNhập kho
Trang 15Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất kẹo cứng
Tạo dịch nhân Sàng, làm nguội Lựa chọn Bao gói
Thành phẩm
Nhập kho
Trang 16Sơ đồ 3: Quy trình công nghệ sản xuất bánh biscuit
Shortening Magarin
Đánh trộn bông xốp
Bổ sung gluco lecithin
Đường xay, bột mì hương liệu
Trang 17cung ứng sử dụng nguyên liệu thay thế để giảm bớt chi phí sản xuất mà chất lượng vẫn đảm bảo như dùng váng sữa thay cho sữa để chất lượng kẹo vẫn cao nhưng giá thành lại hạ Hải hà đã xây dựng đươc hệ thống định mức nguyên liệu, cố gắng đảm bảo về mặt chất lượng sản phẩm và giảm tối đa chi phí cần thiết.
Sự năng động sáng tạo của đội ngũ cán bộ kinh doanh đã đảm bảo vật tư đúng, đủ và kịp thời cho sản xuất là một yếu tố quan trọng làm cho sản phẩm của Hải hà luôn có đủ chủng loại và số lượng
Tuy vậy do do đặc điểm của hầu hết của các loại nguyên liệu là dễ hư hỏng nguyên vật liệu hoặc làm kém chất lượng, đòi hỏi Công ty phải đặc biệt quan tâm đến công tác bảo quản Nừu không làm tốt công tác này sẽ gây hao hụt hư hỏng nguyên vật liệu hoặc làm kém chất lượng sản phẩm, khó được khách hàng chấp nhận
Mỗi yếu tố trên đây có tác động với mức độ khác nhau tới khả năng ổn định
và mở rộng thị trường của Công ty Bánh kẹo Hải hà
đề nghỉ việc như thai sản, con ốm bệnh tật
Để phù hợp với tình hình sản xuất, với dây chuyền máy móc thiết bị ngày càng được đổi mới, cải tiến theo kịp với tiến độ khoa học kỹ thuật, lực lượng lao động của Công ty không ngừng được cũng có về số lượng và chất lượng Cùng với việc phát triển và mở rộng thị trường, mở rộng sản xuất số lượng lao động của Công ty không ngừng tăng lên từ lúc công ty chỉ có hơn 1000 lao động đến nay số lượng lao dộng của Công ty gần 2000 người trong đó có 106 người có trình độ đại
Trang 18học, 42 người có trình độ trung cấp, bậc thợ trung bình của toàn Công ty là 4/7 Nhằm nâng cao tay nghề kiến thức chuyên môn cho công nhân, Công ty thường xuyên mở cáclớp đào tạo tại doanh nghiệp và gửi đi học bên ngoài về quản lý kinh
tế , an toàn lao động , vệ sinh công nghiệp, nâng cấp và nâng bậc cho công nhân
Số lượng lao động trong Công ty được bố trí như sau
Cơ cấu lao động theo chức năng
XN bánh XN
phụ trợ
XNNam Định
XN Việt TrìLao động dài hạn
Lao động (1-5năm)
Lao động thời vụ
Tổng
105363144
387190103680
696951189
4331-74
566466
398153149722
Cơ câu lao động theo trình độ
Trang 19Thu nhập bình quân của công nhân tăng lên qua các năm, năm 1998 là
680000 đ/ tháng , năm 1990 là 730000 đ/ tháng, năm 2000 là 8000000đ/ tháng
Qua đó ta thấy Công ty luôn chú trọng đến việc nâng cao đời sống cho người lao động, cân đối với kết quả sản xuất kinh doanh, thường xuyên tổ chức các hoạt động giải trí như tổ chức thi đấu thể thao , tham quan nghỉ mát Nhằm khuyến khích tinh thần lao động, tạo sự gắn bó của công nhân của Công ty và sự hiểu biết lẫn nhau trong đội ngũ lao động của công ty
2 Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm
1.3 Thị trường;
Thị trường tiêu thụ của công ty bao gồm thị trường trong nước và thị trường ngoài nước
* Thị trường trong nước:
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty có thể chuia thành 3 khu vực thị trường là thị trường miền Bắc, miền Trung và miền Nam Trong đó miền Bắc là thị trường chính cuỉa Công ty, sản phẩm Bánh kẹo của Hải hà rất quen thuộc với người dân miền Bắc Miền Trung và Nam mặc dù dân cư đông nhưng lượng tiêu thụ lại ít hơn so với miền Bắc Nguyên nhân của sự khác biệt là khả năng tiêu thụ ở các thị trường bao gồm các yếu tố cạnh tranh, sự xa cách về địa lý và quan trọng hơn là do đặc điểm tânm lý, thị hiếu , thói quen tiêu dùng của cácvùng khác nhau,
Trang 20* Thị trường nước ngoài;
Trước đây Công ty có một thị trường rộng lớn là Liên Xô ( Cũ ) và các nước Đông âu cũ Tuy nhiên từ khi hệ thống các nước XHCN tan rã, thị trường này của Công ty cou như bị mất Hiện nay, Công ty mới chỉ thiết lập được một số thị trường mới như Mông cổ, Trung quốc, Lào, Campuchia
1.4 Khách hàng của Công ty.
Sản phẩm của Công ty Bánh kẹo Hải hà được sản xuất ra nhằm phục vụ mọi tầng lớp nhân dân Tuy nhiên, ở các vùng địa lý khác nhau thì khách hàng cũng như nhu cầu của họ khác nhau
* Miền bắc: Về mặt tâm lý, người miền Bắc khi mua kẹo thường quan tâm đến mặt trọng klượng do thu nhập của người miền Bắc thấp hơn so với người miền Nam nên nhu cầu Bánh kẹo chỉ tập trung ở các thành phố thị xã là chủ yếu, còn nông thông thì rất ít Tại thị trường này, nhu cầu tiêu thụ Bánh kẹo lớn vào mùa lạnh, các dịp lễ tết, sinh nhật cưới hỏi Còn về mùa nóng người ta ít dùng đồ ngọt
* Miền Trung: Thị trường miền Trung do thu nhập của người miền Trunng thấp hơn hẵn miền Nam và miềm Bắc nên nhu cầu tiêu dùng Bánh kẹo rất ít Chủ yếu họ chỉ dùng những loại Bánh kẹo chất lượng vừa phải, giá thành rẻ và đặc biệt
họ ít quan tâm đến hình thức, mẫu mã của sản phẩm
* Miền Nam là thị trường khác hẵn miền Bắc và miền Trung Mức sống của người dân miền Nam nhìn chung là cao vì thế Bánh kẹo là một nhu cầu thường xuyên của người dân đặc biệt là đối với trẻ em Tuy nhiên, ở thị trường này có rất nhiều công ty sản xuất Bánh kẹo nổi tiếng có sản phẩm phong phú, đa dạng và nắm bắt tốt nhu cầu, thị hiếu cuả người tiêu dùng miền Nam Đây là cản trở lớn của Hải hà khi thức hiện việc ổn định và mở rộng thị trường, thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình ở miền Nam
Trang 212 Đặc điểm về vốn.
Đảm bảo đủ vốn sẽ giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và giúp cho Công ty chủ động trong quá trình sản xuất Nguồn vố của công ty Bánh kẹo Hải hà được huy động từ nhiều nguồn khác nhau chủ yếu là do ngân sách cấp và đi vay, hình thức huy động vốn từ bán cổ phiếu chưa được áp dụng cho công ty chưa cổ phần hoá
Trang 22Tình hình vốn của Công ty bánh kẹo Hải hà
để mở rộng thị trường là cần thiết, nhưng nếu tỷ lệ vốn vay quá lớn sẽ ảnh hưởng tới viêc tiêu thụ sản phẩm và cạnh tranh trên thị trường Hơn nữa, trong trường hợp ngân hàng hạn chế cho vay hoặc cho vay với điều kện khắt khe hơn công ty sẽ gặp khó khăn hoặc là chấp nhận điều kiện vay mới hoặc giảm quy mô khinh doanh
Vốn ít, khả năng cho các đại lý trả chậm sẽ bị hạn chế hơn so với các đối thủ cạnh tranh có tiềm lực lớn hơn, điều này cũng phần nào ảnh hưởng tới việc ổn định và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Hải hà