1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp ba qua hoạt động làm thủ công nghệ thuật luận

176 18 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu “Phát triển một số năng lực cá nhân cho học sinh tiểu học thông qua tổ chức dạy học ngoài lớp môn Mỹ thuật” 2016 của GV Trần Thị Yến cho rằng việc tổ chức dạy học ngoài l

Trang 1

Nguyễn Thị Mỹ Thơ

RÈN KĨ NĂNG VIẾT CHO HỌC SINH LỚP BA QUA HOẠT ĐỘNG

LÀM THỦ CÔNG – NGHỆ THUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2020

Trang 2

Nguyễn Thị Mỹ Thơ

RÈN KĨ NĂNG VIẾT CHO HỌC SINH LỚP BA QUA HOẠT ĐỘNG

LÀM THỦ CÔNG – NGHỆ THUẬT

Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG THỊ TUYẾT

Thành phố Hồ Chí Minh - 2020

Trang 3

hoạt động làm thủ công – nghệ thuật" do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn

của PGS.TS Hoàng Thị Tuyết - Giảng viên Trường Đại học Mở Thành phố

Trang 4

Tuyết, giảng viên Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh Cô là người

đã truyền thụ cho tôi những kiến thức nền tảng, kĩ năng cơ bản Cô đã tận tình hướng dẫn và đóng góp ý kiến giúp tôi có điều kiện thuận lợi để hoàn tất bài luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Sau Ðại học, các Phòng - Ban chức năng, các thầy giáo, cô giáo là cán bộ giảng viên

và cộng tác viên Trường Ðại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã trực tiếp giảng dạy, đóng góp ý kiến và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi rất mong nhận được những góp ý chân thành của quý thầy cô và các bạn đối với luận văn này

Trân trọng cảm ơn

Nguyễn Thị Mỹ Thơ

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các sơ đồ, biểu đồ

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9

1.1 Kĩ năng viết 9

1.1.1 Kĩ năng viết là gì? 9

1.1.2 Những yếu tố cấu thành của kĩ năng viết 9

1.2 Những kĩ năng viết cần thiết cho học sinh lớp Ba 15

1.2.1 Nội dung chương trình trong phân môn Tập làm văn ở lớp Ba 15

1.2.2 Những yêu cầu về kĩ năng viết cho học sinh lớp Ba 20

1.3 Đặc điểm tâm lí, ngôn ngữ ảnh hưởng đến quá trình viết của học sinh lớp Ba 22

1.3.1 Đặc điểm tâm lí ảnh hưởng đến quá trình viết của học sinh lớp Ba 22

1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ ảnh hưởng đến quá trình viết của học sinh lớp Ba 25

1.4 Cách tiếp cận tích hợp trong dạy ngôn ngữ viết qua hoạt động làm thủ công - nghệ thuật 26

1.4.1 Khái niệm tích hợp 26

1.4.2 Bản chất tích hợp trong quá trình dạy viết 27

1.4.3 Sự tích hợp thủ công - nghệ thuật trong rèn kĩ năng viết 28

1.4.4 Các kiểu hoạt động làm thủ công 30

1.4.5 Các hoạt động làm nghệ thuật 32

1.5 Cách tiếp cận quá trình để rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp Ba 33

Tiểu kết chương 1 40

Trang 6

2.1 Xây dựng tiêu chí đánh giá kĩ năng viết thông qua hoạt động làm thủ

công – nghệ thuật 41

2.1.1 Căn cứ xây dựng 41

2.1.2 Bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng viết của học sinh thông qua hoạt động thủ công – nghệ thuật 41

2.1.3 Xây dựng điều kiện để thực nghiệm quá trình rèn kĩ năng viết cho HS lớp Ba thông qua hoạt động thủ công – nghệ thuật 43

2.2 Tiến trình rèn kĩ năng viết cho HS lớp Ba qua hoạt động làm thủ công- nghệ thuật 46

2.2.1 Hoạt động trước khi viết 46

2.2.2 Hoạt động trong khi viết 49

2.2.3 Hoạt động sau khi viết 51

2.3 Các nguyên tắc xây dựng hoạt động rèn kĩ năng viết dành cho học sinh lớp Ba thông qua hoạt động làm thủ công –nghệ thuật 53

2.3.1 Nguyên tắc tích hợp 53

2.3.2 Nguyên tắc dựa trên quan điểm dạy học theo quá trình 53

2.3.3 Nguyên tắc chú ý đến đặc điểm tâm lí của lứa tuổi tiểu học 54

2.4 Chủ đề viết – Thể loại - Sản phẩm – Nội dung kĩ năng cần rèn 54

2.5 Phương tiện dạy học và hình thức tổ chức lớp học 57

2.6 Kế hoạch bài dạy thực nghiệm rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp Ba thông qua hoạt động làm thủ công – nghệ thuật 58

Tiểu kết chương 2 77

Chương 3 THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 78

3.1 Mục đích thực nghiệm 78

3.2 Tiến trình thực nghiệm 78

3.2.1 Chọn mẫu thực nghiệm 78

3.2.2 Công cụ thực nghiệm 79

3.2.3 Công cụ đánh giá kết quả thực nghiệm 82

3.2.4 Cách thức và tiến trình thực nghiệm 83

Trang 7

3.3.2 Sự thể hiện của HS qua tiết học rèn kĩ năng viết tại lớp 110

Tiểu kết chương 3 121

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 127 PHỤ LỤC

Trang 9

Ba theo chương trình Tiếng Việt hiện hành 16

Bảng 1.2 Mô tả chuẩn kiến thức, kĩ năng trong phân môn Thủ công ở lớp Ba theo chương trình hiện hành 19

Bảng 1.3 Mô tả những yêu cầu cần đạt trong dạy viết ở lớp Ba theo chương trình môn Tiếng Việt hiện hành 20

Bảng 1.4 Mô tả những yêu cầu cần đạt trong dạy viết ở lớp Ba theo chương trình môn Tiếng Việt sau năm 2020 21

Bảng 1.5 Bảng hoạt động của HS khi làm văn viết 38

Bảng 2.1 Bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng viết của HS qua hoạt động thủ công – nghệ thuật 42

Bảng 3.1 Bảng kiểm đánh giá về kĩ năng viết của HS 80

Bảng 3.2 Thể hiện kiến thức về viết của HS A qua 3 bài khảo sát định kì 84

Bảng 3.3 Biểu hiện kĩ năng viết 3 của HS A qua 3 bài khảo sát định kì 84

Bảng 3.4 Biểu hiện thái độ viết của HS A qua 3 bài khảo sát định kì 85

Bảng 3.5 Mô tả kĩ năng xã hội của học sinh A qua 3 bài khảo sát định kì 86

Bảng 3.6 Tổng hợp điểm trung bình kĩ năng viết của HS A qua 3 khảo sát định kì 87

Bảng 3.7 Biểu hiện kiến thức về viết của HS B qua 3 khảo sát định kì 88

Bảng 3.8 Biểu hiện kĩ năng viết của HS B qua 3 khảo sát định kì 89

Bảng 3.9 Biểu hiện thái độ khi viết của HS B qua 3 khảo sát định kì 89

Bảng 3.10 Biểu hiện kĩ năng xã hội khác của HS B qua 3 khảo sát định kì 90

Bảng 3.11 Tổng hợp điểm trung bình kĩ năng viết của HS B qua 3 khảo sát định kì 91

Bảng 3.12 Biểu hiện kiến thức viết của HS C qua 3 khảo sát định kì 92

Bảng 3.13 Biểu hiện kĩ năng viết của HS C qua 3 khảo sát định kì 92

Bảng 3.14 Biểu hiện thái độ khi viết của HS C qua 3 khảo sát định kì 93

Bảng 3.15 Biểu hiện kĩ năng xã hội của HS C qua 3 khảo sát định kì 94

Trang 10

Bảng 3.17 Biểu hiện kiến thức viết của HS D qua 3 khảo sát định kì 96

Bảng 3.18 Biểu hiện kĩ năng viết của HS D qua 3 khảo sát định kì 96

Bảng 3.19 Biểu hiện thái độ viết của HS D qua 3 khảo sát định kì 97

Bảng 3.20 Biểu hiện kĩ năng xã hội của HS D qua 3 khảo sát định kì 98

Bảng 3.21 Tổng hợp điểm trung bình kĩ năng viết của HS D qua 3 bài khảo sát định kì 98

Bảng 3.22 Biểu hiện kiến thức về viết của HS E qua 3 bài khảo sát định kì 100

Bảng 3.23 Biểu hiện kĩ năng viết của HS E qua 3 bài khảo sát định kì 100

Bảng 3.24 Biểu hiện thái độ viết của HS E qua 3 bài khảo sát định kì 101

Bảng 3.25 Biểu hiện kĩ năng xã hội của HS E qua 3 bài khảo sát định kì 102

Bảng 3.26 Tổng kết điểm trung bình kĩ năng viết của HS E qua 3 bài khảo sát định kì 103

Bảng 3.27 Biểu hiện kiến thức về viết của HS F qua 3 bài khảo sát định kì 104

Bảng 3.28 Biểu hiện kĩ năng viết của HS F qua 3 bài khảo sát định kì 105

Bảng 3.29 Biểu hiện thái độ viết của HS F qua 3 bài khảo sát định kì 106

Bảng 3.30 Biểu hiện kĩ năng xã hội của HS F qua 3 bài khảo sát định kì 106

Bảng 3.31 Tổng hợp điểm trung bình kĩ năng viết của HS F qua 3 bài khảo sát định kì 107

Bảng 3.32 Thể hiện kiến thức viết của từng HS qua 3 giai đoạn rèn kĩ năng viết tại lớp 111

Bảng 3.33 Mô tả điểm trung bình về kĩ năng viết của 3 nhóm HS qua 3 giai đoạn 113

Bảng 3.34 Mô tả mức độ về thái độ khi viết của 3 nhóm HS qua 3 giai đoạn 116

Trang 11

sát định kì 87 Biểu đồ 3.2 Tổng hợp điểm trung bình kĩ năng viết của HS B qua 3 khảo

sát định kì 91 Biểu đồ 3.3 Tổng hợp điểm trung bình kĩ năng viết của HS C qua 3 khảo

sát định kì 95 Biểu đồ 3.4 Tổng hợp điểm trung bình kĩ năng viết của HS D qua 3 bài

khảo sát định kì 99 Biểu đồ 3.5 Tổng kết điểm trung bình kĩ năng viết của HS E qua 3 bài khảo

sát định kì 103 Biểu đồ 3.6 Tổng hợp điểm trung bình kĩ năng viết của HS F qua 3 bài

khảo sát định kì 107 Biểu đồ 3.7 Tổng hợp điểm trung bình kĩ năng viết của 6 HS qua 3 khảo

sát định kì 108 Biểu đồ 3.8 Mô tả mức độ về kiến thức viết của HS qua 3 giai đoạn 111 Biểu đồ 3.9 Mô tả mức độ về kĩ năng viết của 3 nhóm HS qua 3 giai đoạn 113

Trang 12

Hình 2.2 Bảng checklist kĩ năng trong quá trình viết 45

Hình 2.3 Hình minh họa về cách thể hiện ý tưởng bằng sơ đồ 48

Hình 2.4 Poster về quá trình viết nháp 49

Hình 2.5 Poster về quá trình sửa đổi và chỉnh sửa 50

Hình 2.6 Poster dùng trong quá trình chỉnh sửa 51

Hình 2.7 Hình minh họa về một học sinh chia sẻ trước lớp về bài viết của mình 52

Trang 13

để các em nhận thức được sâu hơn, tâm hồn được phát triển và đây cũng chính là công cụ để các em học tập, tiếp thu nền văn hóa xã hội loài người làm cho trí tuệ ngày càng được mở mang

Nhưng trong thực tế giảng dạy phân môn này thì người GV bị thiếu đi sự đầu

tư trong việc vận dụng các phương pháp và chưa thật sự sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động học tập dành cho HS Việc cung cấp vốn sống, vốn hiểu biết cho các

em qua các phân môn của Tiếng Việt và các môn học khác chưa được chú trọng Mặt khác, do đặc điểm tâm lý lứa tuổi của HSTH còn ham chơi, khả năng tập trung chú ý và nhận thức các sự vật còn hạn chế, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa thật sự phát triển nên việc học tập ở phân môn TLV còn gặp nhiều khó khăn Trong đó có thể kể đến một thực trạng đáng quan tâm hiện nay là việc sử dụng văn mẫu Chính

vì điều này, vốn từ của trẻ ngày càng bị bó hẹp trong khuôn khổ bài văn mẫu, khi gặp những đề bài khác mà HS chưa được đọc, được làm thì các em không biết triển khai như thế nào hoặc viết rất ngô nghê Từ đó, việc học tập làm văn đối với các em mất đi sự hứng thú và động lực tự học của chính các em không được hình thành Bên cạnh đó, theo thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018, Chương trình giáo dục phổ thông mới, trong đó đối với cấp tiểu học được định hướng vừa hình thành kiến thức vừa phát triển năng lực, phẩm chất học sinh tiểu học, dạy học không chỉ cung cấp kiến thức mà phải phát triển hài hòa cả phẩm chất và năng lực Trong đó mục tiêu chương trình nhấn mạnh việc phát triển những năng lực cốt lõi nhằm giúp HS áp dụng những điều mình hiểu vào thực tế học tập và giao tiếp

Ngoài ra, việc vận dụng sự tích hợp STEAM (tích hợp hoạt động thủ công - nghệ thuật) vào trong quá trình giảng dạy cũng được đề cập đến trong định hướng

Trang 14

chương trình mới Mục tiêu được đặt ra là nhằm tạo sự trải nghiệm, sự hứng thú , giúp cho HS có động lực trong quá trình học tập hơn Khi đó, các em sẽ trở thành chính chủ thể trong việc học của mình cũng như HS có thể trau dồi được những KN cần thiết để phục vụ cho những lớp cao hơn

Vậy làm sao có thể tìm được một công cụ để học tập môn Tập làm văn cho các

em HS được diễn ra một cách dễ dàng, chân thật và mang đặc trưng riêng của từng

cá nhân HS Liệu rằng, chúng ta đã từng nghĩ đến việc sử dụng những hoạt động làm thủ công - nghệ thuật vào dạy học Tập làm văn chưa?

Từ đây, chúng tôi nhận thấy được tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng viết dành cho các em HS là hết sức quan trọng Đồng thời, chúng tôi hi vọng trong nghiên cứu này sẽ định hướng một con đường mới giúp các em có một tâm thế học tập tích cực "nghĩ mới hơn, viết khác đi" so với những cách học thông thường mà các em vẫn làm và không mắc phải các lỗi thường gặp hiện nay khi viết văn Do đó,

chúng tôi đã nghiên cứu và phát triển đề tài: “Rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp Ba

qua hoạt động làm thủ công – nghệ thuật”

Vnexpress với nhan đề “Lợi ích từ giáo dục nghệ thuật” có chia sẻ “Một số phụ

huynh, giáo viên và học sinh coi giáo dục nghệ thuật không quan trọng, đặc biệt là khi so sánh với các môn như Tiếng Việt, Toán và khoa học”

Bài nghiên cứu “Phát triển một số năng lực cá nhân cho học sinh tiểu học thông qua tổ chức dạy học ngoài lớp môn Mỹ thuật” (2016) của GV Trần Thị Yến cho rằng việc

tổ chức dạy học ngoài lớp môn Mỹ thuật nhằm tạo cơ hội để HS phát triển các năng lực cá nhân trong các trường tiểu học là một công việc không dễ dàng Từ những trải nghiệm - sự quan sát, hứng thú tìm tòi và xử lý hình ảnh đến các kĩ năng và kĩ

Trang 15

thuật đặc thù môn học - vẽ tranh, nặn đồ vật, cắt, xé dán…, những phương thức biểu hiện - cách nhìn và lối nghĩ về thế giới để học sinh được phát triển năng lực biểu đạt cảm xúc, suy nghĩ, cách nhìn của mình về gia đình, bạn bè, nhà trường và thế giới xung quanh là những yếu tố cơ bản cần được hình thành ngay ở trường tiểu học Đây được xem là hoạt động mang tính đáp ứng nhu cầu cấp bách, quan trọng đảm bảo chất lượng cho cả giáo dục tiểu học và giáo dục phổ thông nói chung

Là một giáo viên trẻ - cô giáo Trịnh Thị Hồng Anh (2019) đã có sáng kiến

kinh nghiệm về “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết Tập làm văn cho học sinh lớp 3” Cô nhận định rằng phân môn TLV lớp Ba nói riêng và phân môn TLV ở Tiểu

học nói chung có nhiệm vụ rèn cho học sinh kĩ năng biết tạo lập văn bản, rèn bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Do đó, TLV có thể xem là một phân môn thực hành và rèn luyện tổng hợp, có tính chất tích hợp các phân môn khác như Tự nhiên xã hội, Đạo đức, Luyện từ và câu,… Qua tiết TLV, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản nói hoặc viết phù hợp với đề tài đưa ra

Riêng bản thân người viết thì trong quá trình giảng dạy các em thật sự còn thiếu sót rất nhiều về kĩ năng viết Các câu văn mà các em thể hiện chủ yếu dựa vào

hệ thống câu hỏi gợi ý là chính, do đó số lượng câu thể hiện còn hạn chế, chủ yếu là các câu đơn Trong cách diễn đạt thì các em chưa đào sâu được những suy nghĩ, những liên hệ bản thân nên câu văn chưa được trau chuốt và sinh động

Việc giảng dạy tích hợp thủ công – nghệ thuật vào trong phân môn TLV ở nền giáo dục nước nhà còn nhiều điều mới mẻ Tuy nhiên, ngay tại Trung tâm phát triển Văn hóa đọc và Kĩ năng sống Hướng Dương Việt đã mạnh dạn triển khai phương pháp này Với phương châm: “Nơi HS khai thác vận hành não bộ với mức cao nhất thông qua hệ thống chiến lược phát triển các năng lực then chốt Nơi HS vun trồng niềm yêu thích học tập, động cơ mục đích học tập và niềm tự tin bền vững Nơi học sinh trau dồi những phẩm chất cá nhân để có thể khai thác tốt nhất các năng lực lí trí Nơi phương pháp tổ chức hoạt động đa dạng tạo cơ hội cho người học biểu

lộ tiềm năng bản thân…” Trong đó, với những nội dung bài dạy vừa hình thành văn hóa đọc sách vừa rèn một số kĩ năng cần thiết cho học sinh từ nấu ăn, thí nghiệm khoa học, sản phẩm dự án… đến việc lồng ghép kĩ năng viết dành cho học sinh

Trang 16

Đây được xem là một bước chuyển mình trong việc áp dụng các phương pháp mới trong giai đoạn chuẩn bị thay sách giáo khoa

2.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài về rèn kĩ năng viết cho học sinh qua hoạt động làm thủ công – nghệ thuật

Trên thế giới, những nghiên cứu về dạy viết thông qua hoạt động làm thủ công

- nghệ thuật đã được nghiên cứu bài bản từ rất lâu

Graves (1994) coi vẽ là một phần tự nhiên của sự tiến bộ của trẻ em bằng văn bản Ông gọi việc vẽ là một buổi diễn tập vô thức của HS cho bài viết của họ Ông nói rằng việc vẽ cho phép HS suy nghĩ về những gì các em muốn nói trước khi phải viết nó và cũng giúp trẻ có bối cảnh khi chúng đọc lại các văn bản viết của chính mình

Tooley và đồng sự (2009), các nhà nghiên cứu này đã quan tâm đến các khía

cạnh về việc khám phá cách vẽ có thể được sử dụng như một công cụ học tập trong

các giai đoạn khác nhau của quá trình viết

Một chương trình được hỗ trợ nghiên cứu có tên là Viết hình (Olshansky,

2003) cho HS tạo ra các tác phẩm nghệ thuật và sử dụng chúng làm bàn đạp để truyền cảm hứng viết Những phát hiện từ nghiên cứu này chỉ ra rằng việc kết nối hình ảnh bằng lời nói và hình ảnh hỗ trợ cho HS thể hiện bản thân là một điều đúng đắn

Một nghiên cứu dành cho HS lớp Ba (Norris et al, 2011) cung cấp bằng chứng

về sự tác động tích cực mà bài vẽ mang lại trong bài viết của HS Trong nghiên cứu thực nghiệm này, HS đã viết về các chủ đề tự chọn trong ba lần Các buổi viết này kéo dài 30 phút và mỗi lần cách nhau khoảng một tuần Tổng hợp lại các sản phẩm

từ phía HS rồi đưa ra những đánh giá ban đầu về khả năng viết và sự sáng tạo Qua kết quả nghiên cứu trên cho thấy, việc sử dụng vẽ như một hoạt động trước khi viết

có tác động tích cực đến việc viết HS Các em trong nhóm vẽ thể hiện nhiệt tình hơn với việc viết và sử dụng thời gian của họ tốt hơn

Walsh-Piper (2002) một nhà giáo dục bảo tàng nghệ thuật và là tác giả

của Image to Word: Art and Creative Writing, đã mô tả những lợi ích của việc viết

thông qua nghệ thuật Cô ấy nói, nghệ thuật không chỉ cung cấp cảm hứng cho nhà

Trang 17

văn mà nó còn khiến người xem chậm lại, phân tích và phản hồi công việc và nhận thức được quá trình tìm kiếm

Theo quỹ Giáo dục (Mỹ) chia sẻ một số lợi ích của giáo dục nghệ thuật với người học Đầu tiên có thể kể đến là việc cải thiện thành tích học tập cho các em

HS Đó là một trong những lợi ích lớn nhất của giáo dục nghệ thuật vì giúp cải thiện

các kỹ năng học tập, kỹ năng tư duy phản biện và sáng tạo Tất cả những điều này đều cần thiết để có thành tích học tập xuất sắc Phát triển sự sáng tạo, tưởng tượng

và tự tin ở trẻ cũng là một trong những lợi ích được mang lại trong dạy nghệ thuật vì

không có gì có thể khám phá, phát triển sáng tạo và trí tưởng tượng tốt hơn giáo dục nghệ thuật Không phải ai cũng thích khoa học, ngôn ngữ hoặc toán học Nhiều học sinh đang thực sự quan tâm nhiều hơn và có kỹ năng trong các hình thức nghệ thuật

Quỹ Giáo dục giải thích: “Giáo dục nghệ thuật sẽ trở thành cầu nối chia sẻ, chất keo định hình sự hiểu biết về cách chúng ta nhìn nhận bản thân và người khác”

Gardener xây dựng một danh sách bảy trí thông minh mà con người sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của họ Nhiều trí thông minh bao gồm trí thông minh ngôn ngữ, trí tuệ toán học logic, trí thông minh âm nhạc, trí thông minh cơ thể, trí thông minh không gian, trí thông minh giữa các cá nhân và trí thông minh thuộc về

cá nhân Bảy trí thông minh này hiếm khi hoạt động độc lập và có xu hướng bổ sung cho nhau khi mọi người phát triển các kỹ năng hoặc giải quyết các vấn đề Vì thế, việc tích hợp dạy nghệ thuật vào giảng dạy viết là một điều cần được chú trọng

Vào năm 2011, Nicole Harris đã báo cáo trong luận văn “The Benefits of Writing through Art in the Classroom” cho rằng nghệ thuật như một phương pháp

thành công cho việc dạy viết trong lớp học tiểu học Đề tài này nhấn mạnh tầm quan trọng của HS tạo ra nghệ thuật trước khi viết một đoạn tiểu thuyết hay thơ

Theo nghiên cứu của Trainin, Andrzejczak và Poldberg (2006), sáng tạo nghệ thuật trực quan sẽ giúp tăng cường quá trình viết Dựa trên ý kiến đó, ông Mary A Beningo ở trường Đại học Western Michigan, ông đã tiến hành nghiên cứu trong chương trình giáo dục hiện hành phải làm thế nào để có sự tương quan giữa chương trình tiểu học nghệ thuật với chương trình giảng dạy bằng văn bản bởi vì ông ấy muốn tìm hiểu những cách thức mới để kết hợp viết vào nghệ thuật thị giác bằng

Trang 18

cách nghiên cứu những quan điểm trong cách xây dựng chương trình ở cấp tiểu học để tìm nét tương đồng và lồng ghép quá trình học nghệ thuật sao cho thuận tiện nhất

Có nhiều người đề xuất rằng việc tích hợp nghệ thuật dẫn đến tăng thành tích học sinh Tác giả Eric Jensen (2001) đã đề xuất nghệ thuật là phương tiện tốt nhất

để giúp học sinh thành công Jensen tuyên bố rằng nghệ thuật có thể làm nhiều hơn bất kỳ ngành học nào khác ở chỗ họ tạo ra những người học sự chu đáo, suy nghĩ và sáng tạo hơn

3 Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là xây dựng các cách thức rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp

Ba qua hoạt động làm thủ công - nghệ thuật

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lý luận, làm tiền đề để xây dựng các cách thức rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp Ba qua hoạt động làm thủ công - nghệ thuật

- Xây dựng các cách thức rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp Ba qua hoạt động làm thủ công - nghệ thuật

- Tiến hành thực nghiệm các cách thức rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp Ba qua hoạt động làm thủ công - nghệ thuật

- Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm

5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Những hoạt động rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp Ba qua hoạt động làm thủ công - nghệ thuật

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và rèn kĩ năng viết dành cho học sinh lớp Ba

Trang 19

- Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu từ tuần 19 của chương trình môn Tập làm văn,

1 tuần 3 tiết, mỗi tiết 35 phút, từ giữa tháng 02 đến tháng 05 năm 2019

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra như trên, chúng tôi

sử dụng các phương pháp sau đây:

Phương pháp nghiên cứu lý luận: Chúng tôi tiến hành đọc, phân tích, tổng

hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá trong nghiên cứu các nguồn tài liệu lí luận có liên

quan đến đề tài nhằm tạo cơ sở luận cứ khoa học cho nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case – study): nghiên cứu một cách có

hệ thống biểu hiện của từng trường hợp cụ thể tham gia nghiên cứu Nhờ vậy tạo nên các dữ liệu giúp người nghiên cứu phát hiện ra bản chất của vấn đề

Phương pháp nghiên cứu bán thực nghiệm (randomized experiments): Khi

thực hiện đề tài này, tôi chọn ngay lớp mà hiện tại tôi đang giảng dạy nhằm tạo sự thuận tiện về thời gian tác động và nắm rõ được sự tiến bộ trong năng lực học sinh hơn để điều chỉnh những hoạt động triển khai sao cho phù hợp trong quá trình thực nghiệm Mẫu nghiên cứu gồm 6 bạn HS lớp Ba Trường Quốc tế Canada, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh Khi chọn mẫu, chúng tôi xây dựng bài kiểm tra đầu vào theo tiêu chí được chọn lọc sẵn, từ đó xây dựng các hoạt động rèn kĩ năng viết thông qua hoạt động làm thủ công - nghệ thuật và thực nghiệm kiểm chứng

Phương pháp quan sát: Người nghiên cứu dùng phương pháp này để quan sát

và ghi lại hành vi, biểu hiện, lời nói của HS trong suốt quá trình thực nghiệm

Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp: dựa vào những số liệu

thu thập được để thống kê, so sánh, đưa ra tỉ lệ phần trăm, biểu đồ Qua đó rút ra kết luận và một số đề xuất

8 Giả thuyết nghiên cứu

Hiện nay, việc giảng dạy phân môn Tập làm văn ở lớp Ba còn nhiều hạn chế,

HS chưa thật sự hứng thú và chủ động trong quá trình học tập của mình Nếu người dạy nắm vững được định hướng tích hợp STEAM ( có hoạt động thủ công - nghệ thuật) vào quá trình viết thì sẽ giúp các em tự tin hơn khi viết các đề bài Tập làm văn ở lớp Ba

Trang 20

9 Ý nghĩa của luận văn

(1) Đóng góp xây dựng một số cách thức rèn kĩ năng viết cho HS lớp Ba thông qua hoạt động làm thủ công – nghệ thuật

(2) Tạo một tài liệu tham khảo cho giáo viên phục vụ trong quá trình giảng dạy

(3) Góp phần nâng cao kĩ năng viết và sự hứng thú của HS khi viết

10 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Xây dựng các hoạt động rèn kĩ năng viết thông qua hoạt động làm thủ công - nghệ thuật và tiến trình dạy viết thông qua hoạt động làm thủ công - nghệ thuật

Chương 3: Thực nghiệm và kết quả thực nghiệm

Trang 21

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Kĩ năng viết

1.1.1 Kĩ năng viết là gì?

Kĩ năng viết gồm viết chữ, viết văn bản (viết chính tả) và làm văn bản (tập làm văn) Kĩ năng viết mà đề tài đề cập là kĩ năng làm văn bản hay tạo lập văn bản dưới dạng viết, cũng là kĩ năng quan trọng nhất trong dạy học viết Trong tiến trình tạo lập văn bản, HS nảy sinh ý nghĩ, hình thành và tổ chức ý nghĩ của mình để trao đổi giao tiếp, đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của cuộc sống (Hoàng Thị Tuyết, 2012)

Do vậy, kỹ năng viết là một phần quan trọng của giao tiếp và cho dù bạn là ai hay bạn làm trong bất kỳ lĩnh vực nào, sẽ có nhiều khi bạn phải sử dụng đến kỹ năng viết của mình Khi nhắc đến kỹ năng viết, hẳn rất nhiều người sẽ nghĩ ngay đến các nhà báo, nhà văn, Tuy nhiên đó là một sai lầm, vì viết là một phương tiện

để lưu giữ, truyền và trao đổi thông tin, do đó nên ai cũng cần có kỹ năng viết Ngoài ra, kỹ năng viết không chỉ giúp ta phô được suy nghĩ bằng chữ viết, mà còn giúp ta nhiều điều khác:

– Phát triển tư duy logic

– Phát triển khả năng trình bày bằng văn bản

– Khi bạn viết một điều gì đó xuống, nó sẽ thực tế hơn so với những gì bạn chỉ

để trong đầu

– Giúp người đọc dễ hiểu ý nghĩa của bài viết

– Cách bạn viết sẽ nói cho người khác biết về sự hiểu biết và thông thạo của bạn

1.1.2 Những yếu tố cấu thành của kĩ năng viết

Có thể nói, kĩ năng viết là một kĩ năng khó vì tổng hợp nhiều kĩ năng khác : kĩ năng viết chữ, viết chính tả, kĩ năng dùng từ, đặt câu, kĩ năng liên kết câu, tạo lập văn bản Nhìn tổng quan về các mối tương quan giữa các kĩ năng này, chúng ta có

thể thấy rằng kĩ năng viết chữ, viết chính tả, dùng từ, đặt câu, liên kết câu đều là kĩ năng bộ phận của kĩ năng tạo lập văn bản Do vậy, muốn thành thạo kĩ năng viết

Trang 22

văn đòi hỏi HS cần trải qua quá trình luyện tập các kĩ năng bộ phận thường xuyên, kiên trì

Viết có chức năng phát triển ở người viết khả năng vận dụng viết vào giải quyết nhiệm vụ học tập và các vấn đề của cuộc sống Do đó, viết không chỉ là kĩ năng mà còn là một phần trong năng lực - năng lực viết Trong đó bao gồm các yếu

tố cấu thành như sau:

- Kiến thức về các quy tắc viết câu, cách sử dụng dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, chấm phẩy và chiến lược viết

- Kĩ năng thực hiện các hoạt động, hành động, thao tác viết

- Thái độ khi hoàn thành những nhiệm vụ trong quá trình liên quan đến hoạt động viết

a) Kiến thức

Quy tắc viết câu

Trên cơ sở HS đã được các quy tắc về dấu câu từ các khối lớp dưới và rất gần gũi trong những đoạn văn, đoạn thơ trong các tiết Tập đọc, Luyện từ và câu cùng một số môn khác Vì thế, việc vận dụng chúng vào quá trình viết của các bạn HS là hết sức dễ dàng Song, một số HS khi viết vẫn quen văn nói hằng ngày của mình nên khi dùng đôi lúc cũng còn hay quên

Mở rộng vốn từ

Bởi từ ngữ là chất liệu quan trọng của một văn bản nên vốn từ càng phong phú, đa dạng thì văn bản sẽ càng hay hơn và hoàn thiện hơn Dựa trên kinh nghiệm sẵn có từ những khối lớp dưới cùng một số thông tin mà HS tự chắt lọc được trên sách, báo, kênh hình, kênh chữ ở SGK ở từng chủ đề được viết Ngoài ra, GV có thể cung cấp thêm những trường từ vựng, những văn bản thông tin để hỗ trợ cho các em trong quá trình viết

Thể loại, chiến lược viết

Trible (1990), kiến thức về viết hay kiến thức về thể loại văn, về chiến lược viết là những hiểu biết về nội dung, ngữ cảnh (ngữ cảnh xã hội mà bài viết sẽ được đọc cùng với ngữ cảnh ấy), ngôn ngữ (từ vựng, ngữ pháp, chính tả), thể loại văn bản

và tiến trình viết (cách thức chuẩn bị thích hợp cho việc làm một văn bản viết)

Trang 23

b) Kĩ năng

Một số ý kiến chia sẻ trên trang vantieuhoc.com cũng đã đề cập, bên cạnh việc

sử dụng các kĩ năng đã được hình thành và phát triển từ các môn học khác như: nghe, nói, đọc, viết (phân môn tập đọc); giải nghĩa từ, dùng từ, đặt câu (phân môn luyện từ và câu); viết đúng chính tả, chính âm (phân môn chính tả)…thì phân môn TLV còn hình thành và phát triển một hệ thống các kĩ năng riêng Trong đó có thể chia thành các nhóm sau đây:

a Nhóm kĩ năng giúp học sinh tiếp cận, chuẩn bị cho việc sản sinh ra văn bản

gồm có: kĩ năng phân tích đề bài, kĩ năng tìm ý và lựa chọn ý, kĩ năng xây dựng dàn ý

b Nhóm kĩ năng viết văn bản, gồm có các kĩ năng: dùng từ, đặt câu, viết

đoạn, liên kết đoạn văn thành bài văn Trong bốn kĩ năng này thì kĩ năng viết đoạn

văn và kĩ năng liên kết đoạn thành bài văn là hai kĩ năng đặc trưng, chủ yếu của phân môn Tập làm văn

c Nhóm kĩ năng kiểm tra kết quả (được dùng trong giai đoạn kiểm tra kết quả

bài làm của học sinh), gồm có các kĩ năng sau: kĩ năng phát hiện lỗi, từ lỗi về cách dùng từ, lỗi chính tả, lỗi đặt câu đến lỗi viết văn bản, lỗi về nội dung, cảm xúc…được thể hiện rõ nét trong bài làm của học sinh

Như vậy, bài tập làm văn của HS là một sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiến thức và kĩ năng tiếp nhận được trong quá trình học tập các môn học nói chung Do đó, từ việc nắm ý tới việc diễn đạt thành văn, từ văn nói đến văn viết có một khoảng cách khá xa Vì thế, bên cạnh việc bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn văn, tư tưởng, vốn sống cho học sinh qua các bài học ở các phân môn tiếng Việt thì mỗi quý thầy giáo, cô giáo còn phải chú trọng rèn luyện kĩ năng viết bài văn cho các em theo những yêu cầu từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với đặc điểm

tâm sinh lí và khả năng tư duy của trẻ

Một số kĩ năng xã hội cần thiết dành cho học sinh lớp Ba

Kỹ năng xã hội không phải là điều mà HS tự nhiên sinh ra đã có Đó là những

kỹ năng cần được rèn luyện trong suốt quá trình mà các em lớn lên Việc giáo dục các kỹ năng này cho HS đòi hỏi sự kết hợp nhịp nhàng bền chặt giữa gia đình và

Trang 24

nhà trường để tạo điều kiện cũng như cơ hội cho trẻ có thể tự phát triển bản thân trong học tập cũng như cuộc sống

Tại sao phải rèn luyện kĩ năng xã hội cho trẻ thông qua dạy viết?

Các nhà nghiên cứu khoa học từ Đại học bang Pennsylvania và Đại học Duke, Hoa Kỳ cho rằng, kĩ năng xã hội là giúp trẻ làm chủ bản thân, ứng xử phù hợp với cộng đồng và xã hội, thích nghi, học tập hiệu quả, nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất, ứng phó tích cực trong các tình huống của cuộc sống

Theo bài viết của cô Hương (2017) cho rằng việc rèn luyện kỹ năng xã hội sẽ giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập và khẳng định vị trí của mình trong tập thể Cho dù trẻ có tài giỏi, thông minh đến đâu nhưng thiếu kỹ năng xã hội, trẻ cũng khó tiếp cận với môi trường xung quanh, hòa nhập cũng như khẳng định mình Chính vì thế, việc rèn luyện kỹ năng xã hội cho trẻ là điều rất cần thiết, là yếu tố quyết định đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của trẻ

Trong đó có thể kể đến một số kĩ năng xã hội cần thiết dành cho HS lớp Ba trong quá trình dạy viết, cụ thể như sau:

1 Tư duy phản biện

Tư duy phản biện hay còn gọi là tư duy phân tích, đề cập đến khả năng suy nghĩ rõ ràng và có lập luận đúng đắn về niềm tin mà bạn tin tưởng hay những gì mà

bạn đang làm Nó bao gồm khả năng vận dụng suy nghĩ độc lập (independent

thinking) và suy nghĩ phản chiếu (reflective thinking)

Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng

tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề Trong quá trình dạy viết, HS có tư duy phản biện tốt sẽ nắm vững được nội dung bài học hoặc chủ đề Tập làm văn đưa

ra Các em sẽ vận dụng những điều mình hiểu để thuyết phục, biện chứng theo chính những dòng suy nghĩ, chính ngôn từ của mình để chia sẻ cho thầy cô và các

em cùng theo dõi Từ đó, HS sử dụng những điều mà mình vừa trình bày được để đưa vào bài văn của mình sao cho thuyết phục và sinh động hơn

Trang 25

2 Ý thức về tinh thần hợp tác

Hợp tác không chỉ cần thiết trong cuộc sống thường ngày mà ngay cả trong học tập, nó cũng đóng vai trò hết sức quan trọng Dạy học theo hướng hợp tác là hình thức đặt HS vào môi trường học tập tích cực, trong đó HS được phân thành các nhóm để cùng hợp tác học tập lẫn nhau Học hợp tác giúp các em rèn luyện và phát triển kĩ năng làm việc, kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho HS học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tích cực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác Nhờ có hoạt động hợp tác mà các em HS có thể cùng nhau làm những công việc mà một mình bản thân các em không tự làm được trong một thời gian nhất định Đối với bậc tiểu học, việc giáo dục

và rèn luyện các kĩ năng hợp tác cho HS là hết sức cần thiết, tạo điều kiện để các em có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau và đặc biệt là góp phần vào việc rèn luyện kĩ năng cho HS Và trong quá trình dạy viết cũng thế, các em thể hiện sự hợp tác của chính các em qua các hoạt động nhóm để tìm hiểu đề bài, các hoạt động tìm kiếm ý tưởng hay chỉnh sửa hoàn thiện bài viết cho nhau Chính sự hợp tác này sẽ đem lại hiệu quả học tập cho chính các em và cho những người bạn xung quanh

3 Sự kiên trì

Kiên trì được xem là một trong những đức tính đáng quý của con người Đó chính là khả năng chúng ta dấn thân để đạt được thứ mình mong muốn bất kể khó khăn hay thất bại Kiên trì không chỉ là kỹ năng, đó còn là thái độ sống, theo đuổi

mục đích mà mình đã đề ra Đó chính là sự nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ, dù

có gian nan thử thách nhưng vẫn nhất quyết làm đến cùng Và trong quá trình học tập của HSTH thì đều này hết sức cần thiết Các em kiên trì khi làm các sản phẩm thủ công - nghệ thuật đưa ra Các em kiên trì trong việc bám sát các tiêu chí khi viết một bài văn trọn vẹn mà GV đặt ra ngay từ đầu Các em kiên trì trong việc tìm kiếm

từ ngữ, ý tưởng và sắp xếp chúng thành một bài văn hoàn chỉnh mang màu sắc của chính mình Chỉ khi các em thật sự kiên trì theo đuổi mục tiêu đưa ra thì những khó khăn trong quá trình viết sẽ diễn ra một cách dễ dàng và suôn sẻ

Trang 26

4 Sự tự tin

Tự tin là cách nhận biết được giá trị của bản thân Cảm nhận bản thân được yêu, có năng lực tự tin, có trách nhiệm, được chấp nhận, có giá trị và những tư tưởng khác mà mình tạo ra cho chính bản thân mình Các yếu tố này là những yếu tố

cơ bản của sự tự tin Việc hình thành sự tự tin cần được trang bị những hiểu biết và rèn luyện những kỹ năng cần thiết để phát triển bản thân, khẳng định giá trị, nhận biết những thế mạnh và đam mê của bản thân để phát triển, áp dụng những kỹ năng

về tư duy sáng tạo, quản lý thời gian, lập kế hoạch, xác định mục tiêu, giao tiếp, lựa chọn sáng suốt để phát huy bản thân thành công trong các hoạt động thảo luận ở lớp hay những khi giáo viên yêu cầu sự chia sẻ từ chính các em Đây được xem là một tính cách không thể thiếu trong quá trình rèn kĩ năng viết cho HS lớp Ba

5 Trách nhiệm

Đây được xem là một trong những kỹ năng quan trọng để thể hiện giá trị của bản thân trong cộng đồng xã hội với những giá trị cốt lõi của một nhân cách tốt đẹp: trách nhiệm với cộng đồng, tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác và bảo vệ thế giới tự nhiên, môi trường, sự tuân thủ quy định, những nguyên tắc và những yêu cầu đặt ra, trung thực, chia sẻ và đoàn kết…là một trong những biểu hiện của tinh thần trách nhiệm trong quá trình rèn kĩ năng viết nói chung và trong cuộc sống của trẻ nói riêng

c) Thái độ

Hứng thú viết

Hứng thú có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú M.Gorki từng nói: Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp HS học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo

Học sinh có sự hứng thú trong giờ học cũng phần nào giúp cho các thầy cô giáo có cảm hứng, say mê trong mỗi giờ lên lớp Khổng Tử từng nói: “Biết mà học, không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui mà học." Niềm vui và sự ham thích sẽ là một động lực lớn giúp học sinh vượt qua khó khăn để vươn lên trong

Trang 27

học tập Xuất phát từ những cơ sở đó, thầy cô giáo phải có những nỗ lực nhất định

để phát huy khả năng của mình Trong mỗi giờ lên lớp các thầy cô giáo không ngừng tự học tập và nghiên cứu để tìm ra những giải pháp giảng dạy nhằm gây hứng thú cho HS để các học sinh yêu thích, say mê môn học

Để HS thích thú với hoạt động viết, việc này phải gắn liền với việc tạo động cơ viết cho các em, biến việc viết trở thành một hoạt động gần gũi, quen thuộc, gắn liền với những nhu cầu của các em Đó là một điểm quan trọng mà đề tài muốn hướng tới để giúp cải thiện tình hình viết hiện nay cho hầu hết các cấp lớp ở trường Tiểu học

Tự tin thể hiện ý kiến cá nhân

Một trong những vấn đề thường gặp ở HS hiện nay đó là các em vẫn còn lúng túng hoặc e ngại khi trình bày ý kiến của bản thân trước mọi người Hoặc đôi lúc, một số phụ huynh còn sử dụng văn mẫu để “mớm” cho các em nên việc phát triển quan điểm cá nhân của các em còn nhiều hạn chế Do đó, là một người nghiên cứu - tôi hi vọng sẽ mở ra những định hướng mới hỗ trợ GV trong quá trình dạy viết cho các em HS

1.2 Những kĩ năng viết cần thiết cho học sinh lớp Ba

1.2.1 Nội dung chương trình trong phân môn Tập làm văn ở lớp Ba

Trong buổi trưng cầu ý kiến về dự thảo chương trình tiểu học từ ngày 29/3 đến 15/5/2001, Bộ GD&ĐT đã chỉ rõ mục tiêu giáo dục trong việc xây dựng chương trình nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học trung học

cơ sở

Từ đó, Bộ GD&ĐT cũng đưa ra những hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức,

kĩ năng các môn học ở lớp Ba Trong đó ở phân môn Tập làm văn thể hiện cụ thể như sau

Trang 28

Bảng 1.1 Mô tả chuẩn kiến thức, kĩ năng trong phân môn Tập làm văn ở lớp

Ba theo chương trình Tiếng Việt hiện hành

Nghe và kể lại được câu chuyện Chàng trai làng Phù Ủng

Viết lại được câu trả lời cho câu hỏi

Nói về người trí thức được vẽ trong tranh và công việc họ đang làm

Nghe kể được câu chuyện Nâng niu từng hạt giống

Kể được vài điều về người lao động trí óc theo gợi ý từ SGK

Viết vài điều vừa kể thành đoạn văn ngắn (khoảng 7 câu)

Kể được vài nét về buổi biểu diễn

Chủ đề

Nghệ thuật

24

Nghe - kể : Người bán quạt may mắn

Nghe và kể lại được câu chuyện

Chủ đề

Lễ hội

25

Kể về Lễ hội Bước đầu kể lại được quang cảnh và

hoạt động của những người tham gia

lễ hội trong một bức tranh

Không

Chủ đề Kể về một Bước đầu biết kể về một ngày hội

Trang 29

Tuần Tên bài dạy Yêu cầu cần đạt Ghi chú

Lễ hội

26

Ngày hội theo gợi ý cho trước

Viết được những điều vừa kể thành một đoạn văn ngắn (khoảng 5 câu)

Bước đầu kể được một số nét chính của một trận thi đấu thể thao đã được xem, được nghe tường thuật từ gợi ý

Viết được 1 tin thể thao

GV yêu cầu HS đọc bài Tin thể thao (SGK tr 86-87) trước khi học bài TLV

Chủ đề

Thể Thao

29

Viết về một trận thi đấu thể thao

Dựa vào bài tập làm văn miệng tuần trước, viết được mộ đoạn văn ngắn (Khoảng 6 câu) kể lại một trận thi đấu thể thao

Bước đầu trao đổi ý kiến về chủ đề

em cần làm gì để bảo vệ môi trường ?

Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 câu) thuật lại ý kiến của các bạn

Không

Trang 30

Tuần Tên bài dạy Yêu cầu cần đạt Ghi chú

Biết kể lại việc tốt mà em đã làm bảo

vệ môi trường theo gợi ý SGK

Viết được đoạn văn ngắn (khoảng 7 câu) kể lại việc làm trên

Ghi chép sổ tay Hiểu nội dung, nắm được ý chính

của bài báo : A lô, Đô-rê-mon thần thông đây ! để ghi những ý chính trong các câu trả lời của Đô-rê-mon

Ghi chép sổ tay Nghe –kể : Vươn tới các vì sao ?

Ghi vào sổ tay ý chính của 1 trong 3 nội dung nghe được

Không

Nguồn:Chuẩn kiến thức kĩ năng trong phân môn Tập làm văn ở chương trình hiện hành

Chương trình dạy học Tập làm văn trong học kì 2 của lớp Ba có 15 tiết thực học và 2 tiết ôn tập Những tiết thực học được xây dựng dựa trên các chủ đề khác nhau (2 tuần/chủ đề) Nội dung đưa ra chủ yếu trang bị một số kiến thức và kĩ năng phục vụ trong học tập và đời sống hằng ngày như báo cáo hoạt động, kể về buổi biểu diễn nghệ thuật, kể về lễ hội và ngày hội, kể về trận thi đấu thể thao, bàn về vấn đề bảo vệ môi trường,… Mỗi bài học được trình bày từ 1 đến 2 bài tập - gồm bài tập rèn luyện kỹ năng nói và bài tập rèn kỹ năng thực hành viết

Trang 31

Bảng 1.2 Mô tả chuẩn kiến thức, kĩ năng trong phân môn Thủ công ở lớp Ba theo chương trình hiện hành

19,20

Ôn tập Cắt dán chữ cái đơn giản

- Kẻ, cắt, dán được một số chữ cái đơn giản có nét thẳng, nét đối xứng Trình bày đẹp

- Có thể sử dụng các chữ cái đã cắt được để ghéo thành chữ đơn giản khác

21, 22

Đan nong mốt - Kẻ, cắt được các nan đều nhau

- Đan được tấm đan nong mốt Các nan đan khít nhau Nẹp được tấm đan chắc chắn Phối hợp màu sắc của nan dọc, nan ngang trên tấm đan hài hòa

- Có thể sử dụng tấm đan nong mốt để tạo thành hình đơn giản

23,24

Đan nong đôi - Đan được tấm đan nong đôi Các nan đan

khít nhau Nẹp được tấm đan chắc chắn.Phối hợp màu sắc của nan dọc, nan ngang trên tấm đan hài hòa

- Có thể sử dụng tấm đan nong đôi để tạo thành hình đơn giản

25,26,27

Làm lọ hoa gắn tường

- Làm được lọ hoa gắn tường Các nếp gấp đều, thẳng, phẳng Lọ hoa cân đối

Theo phân phối chương trình môn Thủ công lớp Ba trong học kì 2 có 15 tiết thực học và 1 tiết ôn tập Những tiết thực học được xây dựng dựa trên các sản phẩm

Trang 32

thủ công khác nhau (2 tuần - 3 tuần/chủ đề) Nội dung đưa ra chủ yếu là một số sản phẩm gần gũi với các em học sinh như cắt chữ cái, các kĩ thuật đan, làm đồng hồ, làm lọ hoa trang trí hay làm quạt giấy tròn Nhìn chung, cách phân phối chương trình khá phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học các thao tác thực hiện

đi từ dễ đến khó, các sản phẩm mang tính ứng dụng thực tế cao

1.2.2 Những yêu cầu về kĩ năng viết cho học sinh lớp Ba

Chương trình môn Tiếng Việt sau năm 2002 là chương trình tiểu học thống nhất cả nước và được sử dụng đến hiện nay Chương trình được xây dựng theo hướng lấy HS làm trung tâm, hình thành năng lực giao tiếp nói chung và năng lực viết nói riêng cho từng HS Chương trình thông qua các mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ, trong đó nhấn mạnh phần kĩ năng được gắn liền với thực tiễn

Bảng 1.3 Mô tả những yêu cầu cần đạt trong dạy viết ở lớp Ba theo chương trình môn Tiếng Việt hiện hành

Những yêu cầu cần đạt trong dạy viết ở lớp Ba

1 Viết chữ

- Viết đúng và nhanh các kiểu chữ thường và chữ hoa

- Viết rõ ràng, đều nét một đoạn văn ngắn

2 Viết chính tả

- Viết một số cặp từ có nguyên âm và bán âm i/ y, một số vần khó hoặc ít dùng

- Viết hoa tên người và địa danh nước ngoài

- Trình bày bài chính tả theo đúng quy định

- Lập sổ tay chính tả; tự phát hiện và sửa lỗi chính tả

- Chính tả phương ngữ

3 Viết bài văn

+ Viết đơn, viết tờ khai theo mẫu

+ Viết một bức thư ngắn để báo tin tức, hỏi thăm người thân hoặc kể lại một việc đơn giản đã làm

+ Viết đoạn văn ngắn kể và bày tỏ ý kiến, thái độ, tình cảm cá nhân về một bức tranh đã xem, một văn bản hoặc một truyện đã đọc, một việc đã chứng kiến

+ Liên kết các câu trong đoạn văn

Nguồn : Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học (2006)

Trang 33

Kế thừa và phát huy chương trình giáo dục hiện hành đã và đang được sử dụng Vào ngày 19 tháng 01 năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất chương trình dự thảo môn Ngữ Văn Trong đó, nội dung ý kiến đưa ra chú trọng lấy các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả 3 cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp/lớp Cụ thể, ở chương trình Tiếng Việt lớp Ba vạch ra những yêu cầu cần đạt cho kĩ năng viết như sau :

Bảng 1.4 Mô tả những yêu cầu cần đạt trong dạy viết ở lớp Ba theo chương trình môn Tiếng Việt sau năm 2020

Những yêu cầu cần đạt trong dạy viết ở lớp Ba

1 Kĩ thuật viết

1 Viết thành thạo các kiểu chữ thường và chữ in hoa Viết chữ rõ ràng, đủ nét, liền mạch và thẳng hàng Biết viết hoa tên người, tên địa điểm Việt Nam và tên một số nhân vật, địa điểm nước ngoài nổi tiếng theo mẫu

2 Biết quy tắc ghi dấu thanh ở âm chính và vận dụng để viết đúng

3 Biết viết đúng những từ phát âm giống nhau nhưng cách viết khác nhau (ví dụ: (cái) gì và (cô) dì, dấu (vết) và giấu (giếm), dày (dặn) và giày (dép)

4 Biết viết đúng những từ dễ viết sai do đặc điểm phát âm địa phương

5 Viết đúng chính tả đoạn thơ, đoạn văn theo hình thức nghe – viết hoặc nhớ viết một bài có độ dài khoảng 65 – 70 chữ, tốc đ ộ khoảng 65 – 70 chữ/15 phút (chú trọng các tiếng có vần khó hoặc dễ viết sai do đặc điểm của chữ quốc ngữ

và ảnh hưởng của cách phát âm địa phương)

2 Viết đoạn văn, văn bản

1 Dựa vào gợi ý, biết thực hiện quy trình viết gồm các bước: xác định nội dung viết (viết về cái gì); thu thập thông tin cho bài viết (từ suy nghĩ, quan sát, trải nghiệm của cá nhân; thông qua thảo luận nhóm hoặc lớp); hình thành một vài

ý lớn; viết nháp; chỉnh sửa lỗi dùng từ, đặt câu, lỗi dấu câu, viết hoa; hoàn thiện bài viết dựa vào nhận xét, góp ý của giáo viên và bạn bè

2 a Biết viết đoạn văn ngắn kể lại câu chuyện đã đọc

Trang 34

2 b Biết viết đoạn văn ngắn kể lại một việc làm mà bản thân cảm thấy thích thú

3 Biết viết đoạn miêu tả ngắn, tả thực người hoặc sự vật, địa điểm

4 Dựa vào gợi ý, biết viết đoạn văn ngắn chia sẻ cảm xúc, tình cảm (từ cuộc sống hay từ bài thơ, truyện kể)

5 Biết viết đoạn văn ngắn nêu lí do vì sao mình thích hoặc không thích một nhân vật trong câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe

6 Biết viết đoạn văn ngắn giới thiệu về bản thân, nêu được những thông tin quan trọng như: họ và tên, ngày sinh, nơi sinh, sở thích, sở trường của bản thân, những việc đã từng làm có ích đối với gia đình hay cộng đồng

Biết viết thông báo hay bản tin ngắn theo mẫu; điền vào tờ khai in sẵn; viết thư cho người thân hay bạn bè (thư viết tay hoặc thư điện tử)

Từ hai bảng 1.2 và 1.3 cho thấy, nếu ở chương trình Tiếng Việt lớp Ba hiện

hành chú trọng hình thành năng lực giao tiếp nói chung và năng lực viết nói riêng

cho từng HS Trong đó, những mục tiêu chính mà chương trình đưa ra chủ yếu về những quy tắc chính tả và năng lực viết theo từng thể loại Ngược lại, chương trình Tiếng Việt lớp Ba sau năm 2020 chú trọng lấy các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói

và nghe) làm trục chính : xác định nội dung viết (viết về cái gì); thu thập thông tin cho bài viết (từ suy nghĩ, quan sát, trải nghiệm của cá nhân; thông qua thảo luận nhóm hoặc lớp); hình thành một vài ý lớn; viết nháp; chỉnh sửa lỗi dùng từ, đặt câu, lỗi dấu câu, viết hoa; hoàn thiện bài viết dựa vào nhận xét, góp ý của giáo viên và bạn bè

Do đó, bảng 1.3 cho thấy mục tiêu về kĩ năng thể hiện rõ hơn và có nhiều yếu tố được kế thừa từ chương trình 2002

1.3 Đặc điểm tâm lí, ngôn ngữ ảnh hưởng đến quá trình viết của học sinh lớp Ba

1.3.1 Đặc điểm tâm lí ảnh hưởng đến quá trình viết của học sinh lớp Ba

Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi Đây là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Ở mỗi trẻ em đều tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định Chính

Trang 35

những yếu tố này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tiếp cận kiến thức lẫn kĩ năng làm văn của HS

Hầu hết HSTH có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp Một bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp Ba thì ngôn ngữ viết mới thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả, viết câu và viết đoạn Do đó, những chủ đề viết trong giai đoạn này có đạt được những yêu cầu đưa ra hay không cũng phần nào chịu ảnh hưởng của một số yếu tố về tâm lí, cụ thể như sau:

Theo nghiên cứu của Trần Trọng Thủy, Viện Khoa học Giáo dục, Trung tâm Tâm lí học - Sinh lí lứa tuổi, Hà Nội - 1990 : So với trẻ mẫu giáo và lớp Một, HS lớp Hai trở lên đang dần hoàn thiện và phát triển hơn về cơ thể : não bộ, cơ xương, thắt lưng Sự cốt hóa của các đốt ngón tay, cổ tay cũng đang trong giai đoạn kết

thúc Đây chính là tiền đề quan trọng tạo điều kiện cho HS

Sự ảnh hưởng của tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định Ở đầu tuổi tiểu học, tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác mới bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các

sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, lúc ấy tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng Vì thế, nhằm tạo sự dẫn dắt cho học sinh trong quá trình viết nhằm hình dung rõ được yêu cầu đề bài đưa ra thì kênh hình trong SGK sẽ đưa ra vài hình ảnh minh họa Và trong quá trình giảng dạy, người GV sẽ nắm bắt được những đặc trưng về lứa tuổi lớp Ba này mà lồng ghép bổ sung những hình minh họa gần gũi, cụ thể để HS tri nhận kịp thời ý tưởng cho quá trình tìm kiếm chi tiết Ngoài cách tương tác trực tiếp qua kênh hình như vừa nêu trên thì GV

có thể sử dụng những video tham khảo Và đôi khi, còn có thể là những chuyến tham quan hoặc cho học sinhtrải nghiệm bên ngoài lớp học cũng là một trong những cách kích thích sự tri giác của trẻ

Sự ảnh hưởng của chú ý

Trong giáo trình « Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm tiểu học »,

Nguyễn Thị Bích Hạnh, Trần Thị Thu Mai (2007) cho rằng sự tập trung chú ý của học sinh tiểu học còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị

Trang 36

phân tán trong quá trình học tập Do đó, để nắm bắt được nội dung và yêu cầu đưa

ra thì điều tiên quyết là HS phải có được kiến thức nền tảng hoặc yêu cầu cần thực hiện chính là sự chú ý Ở đầu tiểu học thì sự chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế, đôi lúc giáo viên vẫn cần nhắc nhở việc lắng nghe và sự chủ động khi đọc kĩ yêu cầu đề bài Có thể nói, ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Đó là lí do vì sao khi được GV hỏi bất kì học sinh nào thì cũng sẽ có đâu đó vài bạn chưa theo kịp yêu cầu đề bài dù trước đó GV đã nhắc nhở các bạn rất nhiều về sự tập trung, chú ý nghe giảng Tóm lại, sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học Chỉ khi đến cuối tiểu học thì trẻ mới dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình

Sự ảnh hưởng của tư duy

Theo Piaget (1980) cho rằng trẻ từ 7 - 10 tuổi là giai đoạn của những thao tác

tư duy cụ thể, chiếm ưu thế về tư duy trực quan hành động Trong giai đoạn này, khả năng khái quát hóa đã dần phát triển theo lứa tuổi Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông HSTH Và tư duy của các em còn mang đậm màu sắc xúc cảm, trong đó chiếm ưu thế là tư duy trực quan hành động Thường thì tư duy của các bạn học sinh mang tính chất trực tiếp, HS dựa vào những câu hỏi gợi ý hay những hình ảnh hoặc từ đưa ra và diễn đạt thành câu văn một cách đơn giản mang đậm những cảm xúc hay suy nghĩ của các em Do đó, cách viết của

HS vẫn còn lủn củn và chỉ trả lời câu hỏi là chính, chưa có những đào sâu về suy nghĩ hay nêu dẫn chứng minh họa nếu cần

Sự tư duy trong giai đoạn lớp Ba đang dần chuyển từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Vì thế, trong sách giáo khoa người biên soạn luôn hiển thị vài hình minh họa cùng một số câu hỏi dẫn dắt cho các bạn HS đi kèm theo để hỗ trợ phần nào trong quá trình tư duy của các em nhiều hơn

Sự ảnh hưởng của tưởng tượng

Cũng như tư duy, tưởng tượng của HSTH đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dạn Các

em thỏa sức bay bổng với một đề tài đưa ra với nhiều điều phi thường trong những

Trang 37

tình tiết của các em Để có những sự liên tưởng như vậy, đó là một phần của sự đọc sách, trải nghiệm thực tế hay đó là kết quả của quá trình tự tìm tòi trên các kênh thông tin điện tử hoặc qua các cuốn sách, quyển truyện mà các em đã được đọc Tuy nhiên, đâu đó sự tưởng tượng của các em vẫn còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi Đôi lúc, em nhìn nhận vấn đề với một khía cạnh bất kì nhưng sau đó em lại không chấp nhận và chuyển đổi ý tưởng ấy sang một hướng khác Song đôi lúc, một vài học sinh lớp Ba cũng có cố gắng bám sát vào yêu cầu đề bài nhưng hướng đi của các em lại đi sai hướng, bị lạc đề Hoặc nội dung tưởng tượng còn mang tính chất chưa rõ ràng, nhất quán với yêu cầu đề bài đưa ra

Sự ảnh hưởng của nhận thức

Usinxki (1949) khuyên rằng : « Trong học tập, không phải tất cả đều có thể trở thành lí thú, mà nhất định sẽ có những điều buồn tẻ Vậy, hãy rèn luyện cho trẻ không chỉ quen làm cái gì mà trẻ hứng thú, mà còn quen làm cả những cái không hứng thú nữa »

Có thể nhìn nhận rằng, HSTH đang trong giai đoạn hình thành và phát triển sự nhận thức về bản thân và về người khác, tức là phát triển kĩ năng nhận ra những xúc cảm, những động cơ và những ý định Khả năng này được gia tăng theo độ tuổi và kinh nghiệm được tích lũy Vì thế, trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học cần cân nhắc trong việc lựa chọn hoạt động và những phương pháp tích cực nhằm xây dựng một tiết học sinh động, kích thích động cơ học tập của chính các em - thể hiện đúng quan điểm lấy HS làm trung tâm

1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ ảnh hưởng đến quá trình viết của học sinh lớp Ba

Ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp, của tư duy và có ảnh hưởng quan trọng đến toàn bộ hoạt động nhận thức, đời sống tình cảm cũng như quá trình hình thành nhân cách của trẻ Trong đó, ngôn ngữ của HSTH phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng

Nhìn chung, đến giai đoạn lớp Ba thì các bạn đã khá thành thạo về ngữ âm, chỉ còn vài bạn còn lúng túng khi gặp những âm vần khó hoặc do ảnh hưởng của phương ngữ ở nơi đang sống Tuy nhiên, về mặt ngữ pháp và từ vựng các bạn HS vẫn cần có thời gian trau dồi thêm theo từng chủ đề được tích lũy trong các phân

Trang 38

môn Tập đọc và Luyện từ và câu Có thể nói, kĩ năng hiểu nghĩa từ ngày càng phát triển hơn, các em có thể nắm bắt những nội dung chú giải và tự giải tỏa những điều còn chưa hiểu của chính mình

Tóm lại, để đáp ứng những đặc điểm tâm lí vừa nêu trên, các hoạt động dạy viết trong thực nghiệm của tôi luôn chú ý đến nguyên tắc trực quan và cách tiếp cận từng cá thể nhằm tạo nên những hoạt động đa giác quan hỗ trợ HS kết nối, phát hiện

và hiểu biết nội dung, từ ngữ cùng các ý tưởng quan trọng trong quá trình rèn kĩ năng viết cho các em

1.4 Cách tiếp cận tích hợp trong dạy ngôn ngữ viết qua hoạt động làm thủ công - nghệ thuật

1.4.1 Khái niệm tích hợp

Tích hợp là một xu thế, một trào lưu dạy học và giáo dục phổ biến trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua Quan điểm dạy học tích hợp được xem là định hướng lí luận của chương trình tiểu học Việt Nam hiện hành và những năm sắp tới

Nguyễn Trí (2003) nhấn mạnh đa số các nước đã tiến hành xây dựng chương trình tiểu học theo hướng tích hợp, do đó số lượng các môn học giảm đi Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm gần đây, quan điểm này mới được tiếp nhận về mặt lí luận và được áp dụng ở mức độ thấp, lồng ghép một số tri thức (như đưa nội dung giáo dục dân số, môi trường, phòng chống AIDS,…) vào nội dung các môn Toán,

Tự nhiên và Xã hội, Tiếng Việt,… Do vậy, xây dựng chương trình tiếng mẹ đẻ cần vận dụng quan điểm tích hợp

Sau đây là một số cách nhìn nhận về tích hợp xét dưới nhiều góc độ khác nhau như sau:

Xét về cấu tạo nội dung chương trình, tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa

nhập, sự kết hợp các nội dung giáo dục có liên quan với nhau…

Xét theo mục đích học tập, tích hợp có nghĩa là sử dụng kiến thức hay kĩ năng

học được ở môn học này hay một phần học của môn học đó như những công cụ để nghiên cứu hay học tập trong các môn học khác hoặc trong các phần học khác nhau của cùng một môn học

Trang 39

1.4.2 Bản chất tích hợp trong quá trình dạy viết

Trong báo cáo đề dẫn: Dạy học tích hợp ở Tiểu học – Hiện tại và Tương lai, cô

Vũ Thị Ân, (2012) khẳng định “Dạy học tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục tích cực đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học ở nhà trường và trong việc xây dựng chương trình trong nhiều năm nay”, “ở tiểu học, nhiều môn, nhiều nội dung có thể dạy tích hợp” “Việc tích hợp các môn học, tích hợp nhiều nội dung của một môn học một mặt giảm được áp lực học, thi, giải quyết được vấn đề giảm tải các môn học, tránh được sự trùng lặp về nội dung; mặt khác nâng cao chất lượng dạy và học, phát huy được năng lực của học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức và vận dụng kiến thức vào cuộc sống hàng ngày, tránh kiểu lĩnh hội kiến thức một cách thụ động, thiếu sự năng động sáng tạo ở học sinh

Trần Thanh Bình (2017) cho rằng tính tích hợp được hiểu là sự gắn kết phối

hợp các lĩnh vực trí thức gần nhau của các phân môn Tiếng Việt với kĩ năng làm văn nhằm hình thành và rèn luyện tốt các kỹ năng: đọc, nói, nghe, viết cho học sinh

Roegies (1996), hầu hết các kĩ năng học tập là kĩ năng xuyên môn Kĩ năng viết cũng không ngoại lệ Sản phẩm làm văn của HS còn là kết quả vận dụng tổng hợp nhiều kiến thức và kĩ năng đạt được từ các môn học khác Do đó, quá trình viết không chỉ dừng lại trong giới hạn của môn Tiếng Việt, mà nó còn được thực hiện trong những môn học khác Nói cách khác, kĩ năng viết là một hoạt động mang tính tích hợp Vì thế, việc rèn luyện kĩ năng này cho HS không thể thực hiện đơn lẻ, độc lập mà nhất thiết phải được thực hiện xuyên suốt, nhất quán trong quá trình dạy các

kĩ năng ngôn ngữ trong phân môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung Do đó, để rèn kĩ năng viết một cách nhuần nhuyễn thì rất cần sự tích hợp một cách linh hoạt các nội dung bài học

Từ đây cho chúng ta một cách nhìn nhận rằng, việc tích hợp dạy viết hiện tại chỉ mang tính chất bàn luận từ các công trình nghiên cứu và chưa đưa vào áp dụng thực tế nhiều Nhận thấy việc tích hợp chỉ gói gọn trong những môn phụ có tính chất liên quan với nhau Xét về các phân môn quan trọng thì việc tích hợp chỉ được thể hiện qua hoạt động liên hệ thực tế ở cuối những nội dung bài giảng của giáo

Trang 40

viên như tích hợp tình yêu quê hương đất nước, bảo vệ bản thân, rèn ý thức bảo vệ môi trường,

Nắm bắt những yêu cầu về quan điểm tích hợp vừa nêu trên, khi chúng tôi xây dựng các kế hoạch bài dạy thì chúng tôi sẽ luôn chú trọng việc dạy học liên môn

giữa Tiếng Việt, Thủ Công và Nghệ thuật Bước đầu, luận văn đã phải xác định các

nội dung kiến thức có sự tương đồng từ hai hay nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học đi học lại nhiều lần một nội dung kiến thức ở nhiều môn học không giống nhau

1.4.3 Sự tích hợp thủ công - nghệ thuật trong rèn kĩ năng viết

Trên trang robotsteam.vn cho rằng hiện nay, giáo dục STEAM là một phương pháp giáo dục đang được chú ý rất nhiều STEAM được lồng ghép của nhiều môn học như Khoa học (SCIENCE), Công nghệ (TECHNOLOGY), Kỹ thuật (ENGINEẺING), Nghệ thuật (ART) và Toán (MATH) Giáo dục STEAM không đơn giản là liên kết năm chủ đề trên với nhau mà nó còn là một triết lý của giáo dục bao gồm nhiều kỹ năng giảng dạy và lồng ghép các môn học gắn liền với cuộc sống thực tế Như vậy, phương pháp giáo dục STEAM đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục Chúng ta cần phải khai thác những điểm mạnh của giáo dục STEAM

Trong đó, bản chất của giáo dục STEAM được hiểu là trang bị cho HS những kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học Các kiến thức và kỹ năng này phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp HS không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày Giáo dục STEAM sẽ phá đi khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn, tạo ra những con người

có năng lực làm việc một cách sáng tạo Việc lồng ghép yếu tố A trong mô hình giáo dục STEAM vào trong quá trình rèn kĩ năng viết là hoạt động đầy mới mẻ đối với nền giáo dục của nước nhà Đây được xem là một phương thức tổ chức giáo dục mới nhằm tạo sự trải nghiệm mới và có động lực khi viết hơn

Quá trình tiếp cận dạy ngôn ngữ viết thông qua các hoạt động của STEAM như việc cắt, dán, vẽ tranh, làm mô hình,…dưới sự hướng dẫn của giáo viên giúp

Ngày đăng: 30/12/2020, 16:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w