1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) phân tích tác động của giá dầu lên cán cân thương mại tại việt nam

63 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 807,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Khung phân tích đa biến trong nghiên cứu này không thể bao gồm toàn bộ các khía cạnh và các nhân tố của tự do hóa thương mại và các cú sốc năng lượng, nhưng giới hạ

Trang 1

PHẠM THỊ ÁNH LY

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU LÊN CÁN CÂN

THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

PHẠM THỊ ÁNH LY

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU LÊN CÁN CÂN

THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính–Ngân hàng Hướng đào tạo: Hướng ứng dụng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả nêu trong đề tài này là trung thực, chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Các số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn của mình

TP Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 12 năm 2019

Phạm Thị Ánh Ly

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÀI PHỤ

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT

ABSTRACT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Giới thiệu chủ đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Kết cấu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT 5

2.1 Các lý thuyết nền tảng liên quan 5

2.1.1 Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa giá dầu và cán cân thương mại 5

2.1.2 Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại 7

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 11

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của giá dầu lên cán cân thương mại 11

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại 16

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Thiết lập mô hình thực nghiệm 24

3.1.1 Lựa chọn biến nghiên cứu 24

3.1.2 Mô hình nghiên cứu 26

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 27

Trang 5

3.3 Phương pháp nghiên cứu 30

3.3.1 Phương pháp ARDL 30

3.3.2 Kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto 31

3.3.3 Các bước thực hiện 33

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ 34

4.1 Kiểm định tính dừng 34

4.2 Kết quả hồi quy mô hình ARDL 35

4.3 Kiểm định nhân quả 38

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 40

5.1 Kết luận chính 40

5.2 Các hàm ý chính sách 41

5.3 Hạn chế của nghiên cứu 42

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ARDL Mô hình tự hồi quy phân phối trễ

VECM Mô hình vectơ sai số hiệu chỉnh SVAR Mô hình vectơ tự hồi quy cấu trúc

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu về tác động của giá dầu lên cán cân thương mại

17

Bảng 2.2 Tóm tắt các nghiên cứu về tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại 22 Bảng 3.1 Các biến nghiên cứu và kỳ vọng dấu (giai đoạn 1987–2018) 28

Bảng 3.2 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 29

Bảng 4.1 Kết quả kiểm định tính dừng PP 34

Bảng 4.2 Kết quả kiểm định ARDL(4,3,4,0) 37

Bảng 4.3 Kết quả kiểm định nhân quả Toda-Yamamoto 39

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Khung lý thuyết giải thích tác động của cú sốc giá dầu lên cán cân thương

mại 8

Hình 2.2 Minh họa hiệu ứng đường cong J 11

Hình 3.1 Khung phân tích trong nghiên cứu 26

Hình 3.2 Xu hướng của các biến nghiên cứu 29

Hình 4.1 Kết quả kiểm định tính ổn định của các hệ số hồi quy 38

Trang 9

TÓM TẮT

Làn sóng cú sốc giá dầu toàn cầu và mất cân bằng thương mại đã gióng lên hồi chuông cảnh báo cho các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới Mục tiêu của nghiên cứu nhằm điều tra tác động của giá dầu lên cán cân thương mại của Việt Nam bằng cách sử dụng phương pháp ARDL Thêm nữa, nghiên cứu tìm hiểu hướng nhân quả giữa cán cân thương mại và cú sốc giá dầu trong bối cảnh Việt Nam, trong giai đoạn 1987–2018 Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ ngược chiều đáng kể giữa giá dầu và cán cân thương mại tại Việt Nam, tức là, nếu giá dầu tăng 1%, cán cân thương mại giảm 0,097% Ngoài ra, kết quả kiểm định nhân quả Granger cho thấy sự tồn tại của quan hệ nhân quả một chiều chạy từ giá dầu đến cán cân thương mại Các phát hiện cung cấp một số khuyến nghị và đề xuất cho các nhà hoạch định chính sách trong nỗ lực nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại Việt Nam

Từ khóa: Mất cân bằng thương mại; giá dầu; đồng liên kết; ARDL

Trang 10

ABSTRACT

Global oil price shock waves and continuous trade imbalance have raised serious alarms among the policy makers around the world The objective of this study is to investigate the impact of oil prices on the trade balance of Vietnam by using ARDL approach Further, this study explores the causality direction between trade balance and oil price shocks in the context of Vietnam over a period of 1987–2018 The result shows that there is a significant negative relationship between oil prices and trade balance in Vietnam, i.e., if there is 1% increase in oil prices, the trade balance decreases by 0,097% In addition, the result of Granger causality indicates that there

is a unidirectional causality running from oil prices to trade balance These findings allow some recommendations and suggestions for policy makers in an effort to reduce negative effects of oil price shocks on Vietnam’s trade balance

Keywords: Trade imbalance; oil prices; cointegration; ARDL

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu chủ đề nghiên cứu

Nghiên cứu thực nghiệm mối liên kết giữa giá dầu thô và hoạt động kinh tế đã trở thành chủ đề tranh luận sôi nổi kể từ giữa những năm 80 của thế kỷ trước Phần lớn các nghiên cứu về chủ đề này tập trung vào việc xác định ảnh hưởng của biến động giá dầu lên các biến số kinh tế vĩ mô trong nước, như tăng trưởng (Lee và cộng sự, 1995; Jones và cộng sự, 2004), lạm phát và lãi suất (Sek và cộng sự, 2015; Abounoori và cộng sự, 2014), giá cổ phiếu (Basher và cộng sự, 2012; Diaz và cộng

sự, 2016), hay tỷ lệ việc làm (Alkhateeb và cộng sự, 2017; Karaki, 2018) Kể từ giữa những năm 1990, xu thế toàn cầu hóa đã lan rộng nhanh chóng trên khắp thế giới Theo Rubin (2009), do toàn cầu hóa hiện nay dựa trên vận tải giá rẻ, nên toàn cầu hóa sẽ đảo ngược khi giá dầu tăng vọt Tác giả cho rằng nếu giá dầu tăng quá cao sẽ làm chi phí vận chuyển đắt đỏ, làm tăng giá xuất khẩu và nhập khẩu, tạo ra trở ngại lớn cho thương mại quốc tế Do đó, thời gian qua xuất hiện ngày càng nhiều nghiên cứu nhìn nhận tầm ảnh hưởng của biến động giá dầu lên cán cân thương mại của một quốc gia (ví dụ Backus và Crucinic, 2000; Kilian và cộng sự, 2009; Bodenstein và cộng sự, 2011; Hassan và Zaman, 2012; Le và Chang, 2013; Rafiq và cộng sự, 2016) Nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này được Backus và Crucini (2000) thực hiện thông qua mô hình cân bằng động của chu kỳ kinh doanh quốc tế (dynamic equilibrium model of international business cycle) dựa trên các đặc tính chu kỳ kinh doanh ở 8 quốc gia phát triển giai đoạn 1955–1990 Nghiên cứu cho thấy dầu thô chiếm phần lớn sự thay đổi trong tỷ lệ trao đổi (terms of trade)1 trong giai đoạn năm 1972–1987 Kết quả dường như vẫn đúng bất kể cấu trúc thị trường tài chính Bằng cách áp dụng phương pháp vectơ tự hồi quy (SVAR) cho 26 quốc gia xuất khẩu dầu và 14 quốc gia nhập khẩu dầu, Kilianvà cộng sự

1 Tỷ lệ trao đổi (term of trade–TOT) là chỉ số giá biểu thị tỷ lệ giữa giá xuất khẩu và giá nhập khẩu Nó được tính toán như sau: (1) Tính chỉ số giá hàng xuất khẩu, (2) tính chỉ số giá hàng nhập khẩu, (3) lấy chỉ số thứ nhất chia cho chỉ số thứ hai Khi giá hàng xuất khẩu của một nước tăng nhanh hơn giá hàng nhập khẩu của

nó, nước đó có sự cải thiện tỷ lệ trao đổi

Trang 12

(2009) phân tích tác động của giá dầu lên cán cân thương mại (bao gồm cả cán cân thương mại dầu và các hàng hóa ngoài dầu) Nghiên cứu phát hiện sự biến động của giá dầu dường như đóng vai trò quan trọng để xác định cân bằng đối ngoại (external balance) Nghiên cứu nổi bật của Hassan và Zaman (2012), thông qua phương pháp ARDL, được xem là nghiên cứu đầu tiên khẳng định được rõ mối quan hệ ngược chiều giữa giá dầu và cán cân thương mại ở Pakistan trong giai đoạn 1975–2010 Việt Nam là nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu dầu và do đó, khó thể tránh khỏi hậu quả do các cú sốc dầu mang lại (Nguyễn Khắc Quốc Bảo, 2013) Mặt khác, trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay, thương mại quốc tế đang là động lực và cơ hội cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, và mục tiêu này đạt được chủ yếu bằng các hoạt động xuất nhập khẩu Nói cách khác, ổn định cán cân thương mại sẽ là tiền đề cho sự phát triển bền vững trong tương lai Do đó, việc xem xét các phản ứng của cán cân thương mại Việt Nam đối với những thay đổi của giá dầu thế giới là rất quan trọng và mang lại nhiều ý nghĩa chính sách lẫn thực tiễn

có giá trị Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho các đề xuất về các điều chỉnh phù hợp cho các chính sách kinh tế khi đối mặt với cú sốc giá dầu

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của giá dầu lên cán cân thương mại tại Việt Nam trong khuôn khổ đa biến, thông qua các phân tích đồng liên kết trong giai đoạn 1987–2018 Các mục tiêu cụ thể bao gồm:

1) Kiểm chứng mối quan hệ dài hạn tiềm năng giữa các biến số: cán cân thương mại, tỷ giá hối đoái, lỗ hổng sản lượng và giá dầu;

2) Xác minh hướng nhân quả giữa cán cân thương mại và cú sốc giá dầu.tại Việt Nam trong giai đoạn 1987–2018

3) Do sử dụng khung đa biến, có kết hợp biến cán cân thương mại và tỷ giá, do vậy, tác giả cũng song song kiểm định sự hiện diện của hiệu ứng đường cong J trong mẫu hình thương mại của Việt Nam

Trang 13

Để giải quyết các mục tiêu trên, nghiên cứu tiến hành giải đáp các câu hỏi nghiên cứu thực nghiệm chính sau:

1) Mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa cán cân thương mại và các yếu tố xác định có hiện diện trong trường hợp của Việt Nam giai đoạn 1987–2018 hay không?

2) Nếu quan hệ dài hạn được thiết lập, quan hệ nhân quả giữa cán cân thương mại và giá dầu có tồn tại hay không? Nếu có, hướng nhân quả xuất phát từ cán cân thương mại đến giá dầu, hay ngược lại, hoặc cả hai (quan hệ nhân quả hai chiều)?

3) Sau khi phá giá nội tệ (VND), cán cân thương mại của Việt Nam xấu đi hay cải thiện trong ngắn hạn? Trong dài hạn, phá giá nội tệ có giúp cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam hay không?

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Khung phân tích đa biến trong nghiên cứu này không thể bao gồm toàn bộ các khía cạnh và các nhân tố của tự do hóa thương mại và các cú sốc năng lượng, nhưng giới hạn ở các biến sau:

1) Cán cân thương mại: Giá dầu cao dẫn đến thâm hụt thương mại và hạn chế sự tăng trưởng kinh tế (Hassan và Zaman, 2012) Nghiên cứu của Le (2011) cho thấy các quốc gia xuất khẩu dầu cải thiện cán cân thương mại nhờ vào doanh thu từ dầu tăng; nhưng đối với các quốc gia nhập khẩu dầu, cú sốc giá dầu làm xấu đi cán cân thương mại chung

2) Tỷ giá hối đoái: Nikbakht (2010) xác nhận giá dầu thực là nguồn gốc chi phối các bước đi của tỷ giá hối đoái thực Do đó, tồn tại mối quan hệ dài hạn và cùng chiều giữa giá dầu thực và tỷ giá hối đoái thực

3) Lỗ hổng sản lượng: Tác động của các cú sốc dầu thế giới đã được tìm thấy trong việc tạo ra sai lệch trong sản lượng khỏi sản xuất tiềm năng (Deserres và cộng sự, 1995)

Trang 14

4) Giá dầu: Những thay đổi lớn trong sự tăng trưởng của nền kinh tế, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hóa, lỗ hổng sản lượng, phúc lợi (welfare), các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và thâm hụt thương mại đều do giá dầu mang lại (Sanchez, 2011)

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm thực hiện mục tiêu thứ nhất là kiểm chứng mối quan hệ dài hạn giữa các biến số, tác giả sử dụng khuôn khổ mô hình đồng liên kết ARDL và kiểm định đường bao (bound test) của Pesaran và cộng sự (2001) Phương pháp này cho phép kết hợp các hiệu ứng động ngắn hạn lẫn dài hạn trong cùng một phương trình Đồng thời và cũng là ưu điểm chính của phương pháp, đó là cho phép hỗn hợp tính chất dừng của các biến, cụ thể là I(0), I(1) hoặc kết hợp cả hai Đối với mục tiêu thứ hai, xác định hướng nhân quả giữa các biến, tác giả sử dụng phương pháp kiểm định nhân quả của Toda-Yamamoto (1995) nhằm khắc phục các hạn chế trước đây của phương pháp nhân quả Granger truyền thống–liên quan đến vấn đề đặc tả sai mô hình và lựa chọn độ trễ (Gujarati, 1995)

1.5 Kết cấu nghiên cứu

Kết cấu nghiên cứu bao gồm:

1) Chương 1 giới thiệu chủ đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, xác định rõ mục tiêu nghiên cứu

2) Chương 2 cung cấp các lý thuyết nền tảng cùng các nghiên cứu thực nghiệm

có liên quan

3) Chương 3 mô tả phương pháp ARDL và dữ liệu nghiên cứu

4) Chương 4 trình bày các kết quả thực nghiệm

5) Chương 5 cung cấp các kết luận

Trang 15

CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT 2.1 Các lý thuyết nền tảng liên quan

2.1.1 Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa giá dầu và cán cân thương mại

Tác động của cú sốc giá dầu lên tài khoản đối ngoại (external account) của một nền kinh tế hoạt động thông qua 2 kênh chính là kênh thương mại (trade channel) và kênh tài chính (financial channel) Kênh thương mại hoạt động thông qua những thay đổi về số lượng và giá cả hàng hóa trao đổi trong khi kênh tài chính hoạt động thông qua thay đổi vị thế danh mục đầu tư đối ngoại và giá tài sản (Kilian

và cộng sự, 2009) Nghiên cứu này tập trung vào trình bày kênh thương mại và thảo luận về các cơ chế theo đó giá dầu dự kiến sẽ thúc đẩy cán cân thương mại Cú sốc giá dầu có tác động kinh tế trực tiếp và gián tiếp lên cả nền kinh tế nhập khẩu và xuất khẩu dầu Tác động gián tiếp là việc truyền dẫn cú sốc thông qua thương mại quốc tế Đầu tiên, giá dầu thế giới tăng thường được cho là mang lại áp lực lạm phát

và gia tăng giá cả tại các quốc gia đối tác thương mại Điều này đến lượt làm tăng giá nhập khẩu trong nước ở cả nền kinh tế nhập khẩu và xuất khẩu dầu Cơ quan tiền tệ của các nền kinh tế đối tác thương mại có thể tăng lãi suất trong nỗ lực kiềm chế lạm phát, dẫn đến giảm tiêu dùng, đầu tư và do đó hạ nhiệt tăng trưởng kinh tế Điều này đến lượt làm giảm nhu cầu đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu từ nền kinh

tế trong nước của cả quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu dầu

Đối với nền kinh tế xuất khẩu dầu ròng, tác động trực tiếp của cú sốc tăng giá dầu thế giới được dự kiến là dương (tích cực), xuất phát từ gia tăng doanh thu xuất khẩu Tuy nhiên, các tác động gián tiếp được dự kiến là âm (tiêu cực) Đầu tiên, như

đã đề cập, giá dầu toàn cầu tăng làm tăng giá nhập khẩu trong nước ở cả quốc gia nhập khẩu và xuất khẩu dầu Thứ hai, sự gia tăng ngoại sinh của giá dầu thế giới tạo

ra cú sốc cung cho các quốc gia nhập khẩu dầu ròng, dẫn đến sự hạ nhiệt tăng trưởng kinh tế trong nước của quốc gia nhập khẩu dầu ròng và làm giảm xuất khẩu dầu và xuất khẩu khác từ các quốc gia xuất khẩu dầu Vì thế, lợi ích cho nền kinh tế

Trang 16

xuất khẩu dầu không lớn như chúng ta nghĩ Tác động ròng của cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại của nền kinh tế xuất khẩu dầu phụ thuộc vào độ lớn của doanh thu xuất khẩu dầu cao so với giá nhập khẩu tăng Lập luận này củng cố mối quan tâm chung rằng biến động lớn của giá dầu thế giới không chỉ mang lại tác động bất lợi cho nền kinh tế nhập khẩu dầu mà còn đặt ra thách thức cho các nhà hoạch định chính sách trong các nền kinh tế xuất khẩu dầu Đối với các quốc gia xuất khẩu dầu, doanh thu từ dầu đặt ra những thách thức tài khóa xuất phát từ thực tế là dầu thô đang dần cạn kiệt, dễ bốc hơi và phần lớn phụ thuộc vào cầu từ bên ngoài Tăng giá dầu có thể gây thêm bất ổn, đặc biệt đối với những nền kinh tế rủi ro như các thị trường mới nổi Tài khoản vốn cũng có thể chịu ảnh hưởng bất lợi do sự suy giảm danh mục đầu tư nước ngoài và đầu tư trực tiếp vào trong nước, hoặc thậm chí là một cú cất cánh vốn (capital flight) Do đó, mặc dù giá dầu toàn cầu tăng vọt nên được coi là có lợi đối với các quốc gia xuất khẩu dầu ròng và gây bất lợi đối với các quốc gia nhập khẩu dầu ròng, nhưng thực tế không đơn giản Đành rằng, các nền kinh tế xuất khẩu dầu ròng vẫn có thể được hưởng lợi từ giá dầu cao hơn nhờ khả năng cải thiện tỷ lệ trao đổi TOT và tăng doanh thu xuất khẩu dầu, có thể được sử dụng cho cả tiêu dùng và đầu tư (Korhonen và Ledyaeva, 2010)

Đối với nền kinh tế nhập khẩu dầu ròng, sự gia tăng ngoại sinh trong giá dầu thô nhập khẩu thường được coi là cú sốc tỷ lệ trao đổi TOT tiêu cực thông qua các tác động của chúng lên các quyết định sản xuất (xem, Backus và Crucini, 2000; Kim và Loungani, 1992) Dầu nhập khẩu được coi là đầu vào trung gian trong sản xuất trong nước và do đó, giá dầu tăng dẫn đến sự gia tăng trực tiếp chi phí đầu vào

và dẫn đến giảm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực Các doanh nghiệp và hộ gia đình sẽ phải cắt giảm kế hoạch chi tiêu và đầu tư Sản lượng thực giảm ít nhất là tạm thời trong các nền kinh tế nhập khẩu dầu Nền kinh tế trong nước của các quốc gia nhập khẩu dầu ròng sẽ sản xuất ít hơn và do đó xuất khẩu ít hơn, nhưng có thể không tiêu thụ tương ứng ít sản phẩm nhập khẩu Tác động của việc tăng giá ngoại sinh lên cán cân thương mại chung của các quốc gia nhập khẩu dầu ròng dự kiến sẽ

là tiêu cực

Trang 17

Hình 2.1 trình bày khung lý thuyết giải thích tác động của cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại của một quốc gia Theo đó, giá dầu tăng sẽ góp phần làm tăng giá năng lượng dẫn đến tăng chi phí sản xuất Sự tăng giá của hàng hóa nông nghiệp

và công nghiệp dẫn đến thu nhập quốc gia giảm theo cấp số nhân (phụ thuộc vào hệ

số nhân) Kết quả là giá nhập khẩu sẽ tăng (chủ yếu do biến động tỷ giá), có thể gây

ra sự mất cân bằng thương mại, tạo ra nhiều hệ lụy vĩ mô, chủ yếu là khủng hoảng tài chính toàn cầu; lạm phát và thất nghiệp làm giảm chất lượng sống của người dân; nền kinh tế phát triển không bền vững (Hassan và Zaman, 2012)

2.1.2 Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại

2.1.2.1 Điều kiện Marshall-Lerner

Về mặt lý thuyết, tỷ giá hối đoái có tác động đến cán cân thương mại Một trong các cách để chứng minh liên kết này là thảo luận điều kiện Marshall-Lerner (điều kiện ML) Độ co giãn của cầu xuất khẩu và nhập khẩu không chỉ quan trọng trong việc xác định tỷ lệ trao đổi TOT của một quốc gia, tác động lên hạn ngạch và thuế quan, và tác động đến tăng trưởng kinh tế mà còn đóng vai trò chính trong việc đánh giá tác động của sự phá giá (định giá thấp) tiền tệ trong việc cải thiện vị thế cán cân thương mại của nền kinh tế Phá giá tiền tệ chủ yếu nhằm mục đích thay đổi giá cả tương đối, từ đó khuyến khích xuất khẩu và không khuyến khích nhập khẩu Phá giá là sự gia tăng có chủ ý của đồng nội tệ so với ngoại tệ, do đó làm tăng giá nhập khẩu trong nước Tuy nhiên, liên quan đến mức tăng của giá cả trong nước, hiệu ứng chỉ phụ thuộc vào độ co giãn cầu Cụ thể, khi độ co giãn cầu cao hơn 1, khi đó sự mất giá sẽ gây ra sự sụt giảm tương đối lớn khối lượng nhập khẩu trong nền kinh tế và sẽ đạt được hiệu quả như mong muốn Ngược lại, nếu độ co giãn thấp hơn 1, mặc dù mất giá sẽ gây ra một số mức giảm trong nhập khẩu, khối lượng giảm có thể không đủ để bù đắp cho sự tăng giá của đồng nội tệ Do đó, để đạt được hiệu quả như mong muốn, là cải thiện cán cân thương mại, độ co giãn cầu phải tương đối cao

Trang 18

Nguồn: Sắp xếp lại của tác giả từ nghiên cứu của Hassan và Zaman (2012)

Hình 2.1 Khung lý thuyết giải thích tác động của cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại

Sản xuất công nghiệp giảm

Sản xuất của nền kinh tế giảm

Lỗ hổng sản lượng

tăng

Mất cân bằng thương mại

GDP giảm

Khủng hoảng kinh

tế

Phát triển không bền vững

Chất lượng cuộc sống giảm

Chi phí nhập khẩu tăng

Thâm hụt thương

mại

Trang 19

Hơn nữa, độ co giãn còn phụ thuộc vào mức độ của hiệu ứng thay thế (substitution effect) và thu nhập (income effect) Liên quan hiệu ứng thay thế, nếu khối lượng thay thế hàng nhập khẩu trong thị trường nội địa tương đối lớn, thì hiệu ứng thay thế sẽ mạnh mẽ, hàm ý sự sụt giảm lớn trong nhập khẩu Ngược lại, nếu nhập khẩu trong nước chủ yếu để tạo ra nhu yếu phẩm, trong nước có ít hoặc không

có sản phẩm thay thế, thì hiệu ứng thay thế đối với hàng nhập khẩu sẽ tương đối nhỏ, hàm ý triển vọng kém của mục đích phá giá Đôi khi, những trường hợp như vậy được xác nhận ở các quốc gia đang phát triển, kể cả các quốc gia phát triển như Pháp, Nhật Bản, Đức và Mỹ, khi không có sản phẩm thay thế cho một số hàng hóa nhập khẩu chính như dầu mỏ (Dunn và Mutii, 2000) Mặt khác, hiệu ứng thu nhập được coi là mạnh hơn nếu nhập khẩu chiếm phần đáng kể trong ngân sách trung bình của một công dân Đây là lý do tại sao phá giá không phổ biến trong tình huống này Khi phá giá làm cho giá của hàng hóa trong nước như nhiên liệu và thực phẩm trong ngân sách của người tiêu dùng tăng lên, làm cho thu nhập thực giảm và

do đó làm giảm việc mua hàng hóa khác bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu Cùng với xuất khẩu, sự mất giá của đồng nội tệ sẽ gây ra cả việc giảm giá cả ngoại tệ và tăng giá cả nội tệ, với độ co giãn tương đối của cung và cầu quyết định kết quả Trong tình huống giá nội tệ của xuất khẩu không đổi, hàm ý hàm cung co giãn vô hạn, vì giá cả ngoại tệ giảm do phá giá, do đó khiến người nước ngoài phải mua thêm hàng xuất khẩu trong nước Ngược lại, nếu giá ngoại tệ của xuất khẩu không đổi, hàm ý cầu nước ngoài co giãn vô hạn đối với hàng hóa đó, giá nội tệ của xuất khẩu tăng (kết quả từ phá giá) và do đó sẽ làm tăng xuất khẩu trong nước trên thị trường quốc

tế

Khi độ co giãn của cầu xuất khẩu và nhập khẩu tương đối thấp, sự mất giá của đồng nội tệ có thể làm giảm cán cân thương mại thay vì cải thiện nó Nếu giá của hàng hóa là cố định trong tiền tệ của các nhà xuất khẩu, một điều kiện cần được thỏa mãn để đạt được phản ứng mong muốn của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại Điều kiện nêu rõ, tổng độ co giãn cầu của xuất khẩu và nhập khẩu dài hạn phải nhiều hơn 1 Điều này có nghĩa là trung bình của cả xuất khẩu và nhập khẩu nên

Trang 20

nhiều hơn 1 Nếu tổng độ co giãn chính xác bằng 1, thì sẽ không có thay đổi trong cán cân thương mại khi phá giá tiền tệ Tác động bất lợi của phá giá lên cán cân thương mại xảy ra nếu tổng độ co giãn cầu của xuất khẩu và nhập khẩu nhỏ hơn 1 Điều kiện được gọi là điều kiện Marshall-Lerner, được chứng minh bởi Alfred Marshall và Abba Lerner

2.1.2.2 Hiệu ứng đường cong J

Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại cũng có thể được giải thích thông qua hiệu ứng đường cong J Nội dung đằng sau hiệu ứng đường cong J

là, cán cân thương mại có thể xấu đi tạm thời trong ngắn hạn do sự phá giá tiền tệ Tương tự như vậy, sự mất ổn định tỷ giá có thể chỉ là một vấn đề trong ngắn hạn

Kể từ nửa cuối thập niên 1980, hiệu ứng đường cong J đóng vai trò là lý thuyết quan trọng trong việc giải thích vấn đề tạm thời gây ra trong cán cân thương mại do

sự phá giá của tiền tệ Thông thường, các cá nhân mất một thời gian để điều chỉnh

sở thích của mình đối với hàng hóa thay thế Các nhà kinh tế tin rằng điều này là do, thực tế trong ngắn hạn, cầu không co giãn hơn so với dài hạn Điều này đặc biệt đúng đối với độ co giãn cầu nhập khẩu, bởi vì đường cầu nhập khẩu suy ra từ chênh lệch giữa đường cung và đường cầu của sản phẩm trong nước; với cả cung và cầu không co giãn trong ngắn hạn hơn so với trong dài hạn, sự khác biệt giữa cung và cầu sẽ không co giãn hơn trong ngắn hạn Điều này hàm ý rằng, khi mất giá tiền tệ, gây ra sự gia tăng giá nhập khẩu, cư dân của quốc gia đó có thể tiếp tục mua hàng nước ngoài vì chưa điều chỉnh sở thích của mình sang hàng hóa thay thế sản xuất trong nước (đường cầu không co giãn) và cũng vì sản phẩm thay thế trong nước có thể không được sản xuất (đường cung trong nước không co giãn) Do đó, nhập khẩu chỉ có thể giảm hoàn toàn sau khi người tiêu dùng quyết định điều chỉnh sở thích của mình sang mua hàng hóa được sản xuất trong nước có sẵn tại thời điểm đó Tương tự như vậy, xuất khẩu trong nước cũng mở rộng do phá giá nếu sản xuất trong nước tăng để tạo hàng hóa nhiều hơn cho xuất khẩu với cả nếu người tiêu dùng nước ngoài mua các sản phẩm này

Trang 21

Phá giá tiền tệ sẽ làm xấu đi cán cân thương mại của một nền kinh tế trong ngắn hạn nhưng sẽ cải thiện nếu cả cầu nhập khẩu và cung xuất khẩu không co giãn hơn trong ngắn hạn so với dài hạn Mẫu thời gian thay đổi trong cán cân thương mại

có thể trông như trong Hình 2.2 Phá giá được giả định xảy ra tại thời điểm 0 và cán cân thương mại xấu đi ngay sau khi phá giá vì các cá nhân tạm thời chi nhiều hơn cho nhập khẩu và cũng vì xuất khẩu không tăng đủ Nhưng sau một thời gian, khi

độ co giãn của cả nhập khẩu và xuất khẩu tăng lên, cán cân thương mại cuối cùng được cải thiện Điều này có thể thấy rõ trong Hình 2.2 Do mẫu hình phản ứng của cán cân thương mại theo thời gian giống chữ J, nên có tên gọi là hiệu ứng đường cong J

Nguồn: Minh họa của tác giả

Hình 2.2 Minh họa hiệu ứng đường cong J

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của giá dầu lên cán cân thương mại

Các nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của cú sốc giá dầu đã được tiến hành từ khá sớm Các cú sốc dầu vào giữa và cuối những năm 1970 kéo theo hệ lụy lên tăng trưởng, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát ở hầu hết các quốc gia phát triển (Blanchard và Gali, 2007) Có nhiều quan điểm trái ngược nhau về tác động của giá dầu đến cán cân thương mại Một số ý kiến cho rằng giá dầu có tác động tích cực lên cán cân

Trang 22

thương mại trong khi một số khác cho là tiêu cực hoặc không có tác động (Akpan, 2007) Hanson và cộng sự (1993) nghiên cứu ảnh hưởng của cú sốc giá dầu lên ngành nông nghiệp Mỹ trong giai đoạn năm 1973–1991 Sử dụng mô hình đầu ra–đầu vào (mô hình I–O), các tác giả phân tích mối liên kết chi phí trực tiếp và gián tiếp giữa năng lượng và nhiều ngành kinh tế Các mô hình cân bằng tổng thể khả tính (computable general equilibrium–CGE) được sử dụng để phân tích hiệu ứng ngành với 3 điều chỉnh vĩ mô khác nhau, gồm lên nông nghiệp liên quan đến chi phí năng lượng, và điều chỉnh tỷ giá hoặc vay nước ngoài khi chi phí nhập khẩu dầu cao hơn và các chương trình hỗ trợ của chính phủ cho nông nghiệp Kết quả cho thấy mối quan hệ cùng chiều và đáng kể giữa giá dầu thấp và phát triển ngành nông nghiệp Mussa (2000) nghiên cứu tác động của giá dầu cao lên nền kinh tế toàn cầu bằng cách sử dụng các mô hình kinh tế vĩ mô toàn cầu trong giai đoạn 1970–2000 Các quốc gia nhập khẩu dầu, gồm Ấn Độ, Hàn Quốc, Pakistan, Philippines, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ được đề cập trong nghiên cứu này Kết quả cho thấy giá dầu tăng dẫn đến tăng chi phí sản xuất hàng hóa và dịch vụ tại các quốc gia, dẫn đến tăng giá đầu vào năng lượng tương đối và gây áp lực lên biên lợi nhuận Nghiên cứu cũng xác nhận tồn tại tác động dài hạn lên thị trường tài chính do các thay đổi giá dầu Phát hiện cho thấy việc tăng giá dầu dai dẳng sẽ dẫn đến hiện tượng chuyển dời khoảng 0,25% GDP từ các quốc gia nhập khẩu dầu sang các quốc gia xuất khẩu dầu; đồng nghĩa tồn tại sự chuyển giao thu nhập từ nơi tiêu thụ dầu sang nơi sản xuất dầu

Otto (2003) ước tính mô hình VAR cấu trúc cho 55 nền kinh tế mở nhỏ, bao gồm 15 quốc gia OECD nhỏ và 40 quốc gia đang phát triển Mẫu quan sát trong giai đoạn 1960–1997 Kết quả nghiên cứu tìm thấy quan hệ cùng chiều giữa giá dầu và

tỷ lệ trao đổi TOT, đó là cú sốc giá dầu tích cực lên tỷ lệ trao đổi Phát hiện này gần như được tìm thấy ở cả các quốc gia đang phát triển và các quốc gia OECD nhỏ Ahmed và Donoghue (2010) nghiên cứu tác động của các thay đổi trong cán cân đối ngoại của Pakistan trong giai đoạn 1998–2002 Kết quả cho thấy, việc tăng giá xăng dầu nhập khẩu, nguyên liệu thô và các mặt hàng sản xuất khác đã làm giảm đáng kể

Trang 23

hiệu suất tăng trưởng của nền kinh tế, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và đe dọa đến lợi ích quốc gia Mô hình cân bằng tổng thể khả tính (CGE) với mô hình mô phỏng vi mô được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng của các thay đổi trong tiết kiệm và giá nhập khẩu nước ngoài mà Pakistan phải đối mặt Phát hiện cho thấy sự gia tăng của tiết kiệm nước ngoài dẫn đến tăng nhập khẩu và giảm xuất khẩu Hơn nữa, nghiên cứu còn tìm thấy mối liên hệ ngược chiều dài hạn giữa giá dầu và xuất khẩu, cụ thể là sự gia tăng giá nhập khẩu xăng dầu hoặc nguyên liệu thô công nghiệp dẫn đến giảm xuất khẩu Mohammad (2010) nghiên cứu tác động của biến động giá dầu lên thu nhập xuất khẩu ở Pakistan trong giai đoạn 1975–2008 Thông qua mô hình vectơ sai số hiệu chỉnh lỗi (VECM), nghiên cứu mô tả mối tương quan đáng kể giữa thu nhập xuất khẩu với nhiều biến số kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, mức sống, cán cân thương mại, biến động giá dầu và cung tiền M2 Phát hiện cho thấy giá dầu có mối tương quan ngược chiều (âm) với thu nhập xuất khẩu Nghiên cứu tiếp tục chỉ ra rằng việc tăng giá dầu có tác động tiêu cực đến tài khoản vãng lai của Pakistan và đồng thời tác động tiêu cực đến xuất khẩu và do đó, chi phí sản xuất tăng

Islam (1981) nghiên cứu hệ quả vĩ mô của giá dầu cao đối với Bangladesh trong giai đoạn 1972–1979 Nghiên cứu phân tích tác động của việc giá dầu tăng mạnh diễn ra từ năm 1973 lên tỷ lệ trao đổi TOT và cán cân thương mại Bằng cách tính toán thông qua chỉ số của Laspeyre, Paasche hoặc Fisher, nghiên cứu chỉ ra những thay đổi cấu trúc đáng kể do giá dầu tăng Giá dầu cao làm suy giảm nghiêm trọng tỷ lệ trao đổi TOT, ảnh hưởng sâu sắc đến xuất khẩu Nghiên cứu tiếp tục cho thấy sự gia tăng đáng kể gấp đôi hoặc gấp ba về giá của các mặt hàng nhập khẩu quan trọng như gạo, sợi bông, phân bón và xi măng Ngoài ra, tác động bất lợi dài hạn lên thu nhập ngoại hối được quan sát thấy Hassan và Zaman (2012) điều tra tác động của giá dầu tăng lên cán cân thương mại của Pakistan trong giai đoạn 1975–

2010, bằng cách sử dụng phương pháp ARDL Ngoài ra, nghiên cứu còn tìm hiểu hướng nhân quả giữa cán cân thương mại và cú sốc giá dầu Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ ngược chiều đáng kể giữa giá dầu, tỷ giá hối đoái và cán cân thương

Trang 24

mại ở Pakistan, tức là, nếu giá dầu và tỷ giá tăng 1%, cán cân thương mại giảm lần lượt 0,382% và 0,342% Điều này cho thấy giá dầu và tỷ giá hối đoái gây mất cân bằng thương mại ở Pakistan Ngoài ra, tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa lỗ hổng sản lượng và cán cân thương mại, phản ánh việc phân bổ và sử dụng tài nguyên trong sản xuất không hiệu quả Kilian và cộng sự (2009) sử dụng mô hình SVAR cho 26 quốc gia xuất khẩu dầu và 14 quốc gia nhập khẩu dầu trong giai đoạn 1970–

2005, nhằm cung cấp các ước tính về tác động của cú sốc cung và cầu trên thị trường dầu thô toàn cầu lên các thước đo cân bằng đối ngoại, bao gồm cán cân thương mại dầu (oil trade balance), cán cân thương mại không dầu (non-oil trade balance), tài khoản vãng lai, thu nhập vốn (capital gain) và những thay đổi trong tài sản nước ngoài ròng (NFA) Các phát hiện có thể được tóm tắt như sau: (1) Nghiên cứu cho thấy tác động của cú sốc cung và cầu dầu lên cán cân thương mại hàng hóa

và tài khoản vãng lai, tùy thuộc vào nguồn gốc sốc, có thể lớn, tùy thuộc rất lớn vào phản ứng của cán cân thương mại các sản phẩm ngoài dầu Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng về mức độ trung gian của hội nhập tài chính quốc tế (2) Nghiên cứu ghi nhận sự hiện diện của các hiệu ứng định giá (valuation effect) lớn

và có hệ thống để phản ứng với những cú sốc này Hiệu ứng định giá nói chung có

xu hướng làm giảm bớt ảnh hưởng của cú sốc cầu dầu và cú sốc cung lên vị thế NFA của các nhà xuất khẩu và nhập khẩu dầu (3) Nghiên cứu định lượng tầm quan trọng chung của các cú sốc cầu chu kỳ kinh doanh toàn cầu cũng như cú sốc cung

và cầu cụ thể của thị trường dầu mỏ đối với các cân bằng đối ngoại

Le và Chang (2013) kiểm tra xem liệu phần lớn sự thay đổi của cán cân thương mại và các cấu thành dầu (oil component) và không dầu (non-oil component) có liên quan đến biến động giá dầu hay không Quan hệ nhân quả dài hạn chạy từ giá dầu đến cán cân thương mại dầu, không dầu và cán cân chung; cùng động lực ngắn hạn của chúng được điều tra bằng cách áp dụng phương pháp nhân quả Toda–Yamamoto (1995) và các hàm phản ứng đẩy tổng quát hóa (GIRFs), tương ứng với dữ liệu hàng tháng kéo dài từ tháng 1/1999 đến tháng 11/2011 Ba nền kinh tế châu Á đại diện cho ba đặc điểm khác biệt về dầu được chọn: Malaysia

Trang 25

là quốc gia xuất khẩu dầu, Singapore là nơi lọc dầu và Nhật Bản là quốc gia xuất khẩu dầu Dựa trên các kết quả thu được từ việc phân tích ba nền kinh tế nghiên cứu rút ra các kết luận như sau: (1) Sự cải thiện trong cán cân thương mại của quốc gia xuất khẩu dầu (Malaysia) dường như liên quan đến doanh thu từ dầu tăng (2) Đối với một nền kinh tế lọc dầu như Singapore, cú sốc giá dầu dường như có tác động dài hạn không đáng kể đến cán cân thương mại chung và các cấu thành dầu và không dầu Tuy nhiên, cú sốc giá dầu có thể có tác động đáng kể trong ngắn hạn (3) Đối với quốc gia nhập khẩu dầu ròng, tác động của giá dầu toàn cầu tăng lên thâm hụt thương mại dầu (oil trade deficit) phụ thuộc vào bản chất của nhu cầu về dầu Nếu nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào dầu nhưng không có khả năng sản xuất, nhu cầu dầu sẽ rất không co giãn Đối với các nền kinh tế nhập khẩu dầu và tiêu thụ dầu lớn kết hợp phụ thuộc dầu cao như Nhật Bản, giá dầu tăng dường như làm tăng mạnh thâm hụt thương mại dầu và có thể dẫn đến thâm hụt thương mại chung Tuy nhiên, tác động ngắn hạn đối với cán cân thương mại không dầu có thể là tích cực, điều này cuối cùng có thể chuyển thành tác động thuận lợi lên cán cân thương mại chung, nếu cú sốc giá dầu tăng đến nền kinh tế bắt nguồn từ phía cầu

Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác cũng tìm hiểu về tác động của giá dầu lên cán cân thương mại Điển hình như Tsen (2009) thông qua mô hình VAR cho các quốc gia châu Á (Nhật Bản, Hồng Kông và Singapore) trong giai đoạn 1960–2006, khám phá ra rằng các biến tỷ lệ trao đổi TOT, cú sốc giá dầu ảnh hưởng đến cán cân thương mại cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn Cùng chung phương pháp nghiên cứu với Tsen (2009), nghiên cứu của Ozlale và Pekkurnaz (2010), cho mẫu dữ liệu giai đoạn 1999–2009 lại chỉ ra, mối quan hệ giữa giá dầu và cán cân thương mại Thổ Nhĩ Kỳ

là một hiện tượng ngắn hạn thay vì dài hạn Có phần tương đồng với Hassan và Zaman (2012), nghiên cứu của Tiwari và Olayeni (2013) rút ra một kết luận quan trọng: trong giai đoạn 1980–2011, giá dầu tác động ngược chiều với cán cân thương mại của Ấn Độ Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2013) được xem là nghiên cứu duy nhất tính đến hiện nay, đánh giá trực tiếp tác động của

cú sốc giá dầu thế giới lên cán cân thương mại của Việt Nam Sử dụng khung đồng

Trang 26

liên kết ARDL cho dữ liệu giai đoạn quý I/1999 đến quý IV/2011, nghiên cứu khám phá mối quan hệ ngược chiều giữa giá dầu, tỷ giá và cán cân thương mại tại Việt Nam Cụ thể, 1% gia tăng giá dầu và tỷ giá hối đoái lần lượt dẫn đến sự sụt giảm 0,12% và 0,79% trong cán cân thương mại dài hạn Tuy vậy, trong ngắn hạn, tỷ giá quốc tế và giá dầu tương quan cùng chiều với cán cân thương mại

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại

Anning và cộng sự (2015) sử dụng phân tích đồng liên kết và mô hình VECM

để tìm hiểu tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại của Ghana Các tác giả sử dụng dữ liệu hàng năm giai đoạn 1980–2013 về các yếu tố quyết định kinh tế

vĩ mô như tỷ giá hối đoái và GDP để giải thích mối tương quan giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái Nghiên cứu phát hiện ra cán cân thương mại giảm trong ngắn hạn sau khi phá giá tiền tệ Điều này là do các điều khoản hiệp định thương mại mà quốc gia này đã ký với các đối tác thương mại Các tác giả khuyến nghị Ghana nên phá giá tiền tệ để có được vị thế thương mại mong đợi vì mất giá tiền tệ có thể dẫn đến cán cân thương mại thuận lợi trong dài hạn Ngoài ra, người dân Ghana nên chuyển từ tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu và tập trung vào tiêu thụ hàng hóa trong nước Maehle và cộng sự (2013) nghiên cứu các chính sách cải cách kinh tế thực hiện ở các nền kinh tế châu Phi cận Sahara, và rút ra kết luận về tính hiệu quả của việc thực thi chính sách Thời kỳ những cải cách này được thực hiện đã đánh dấu sự kết thúc của nhiều thập kỷ khủng hoảng và suy giảm kinh tế Khi những cải cách này được duy trì, các quốc gia bắt đầu trải qua sự mở rộng kinh tế mạnh mẽ và bền vững Một yếu tố cơ bản cho sự thành công của nỗ lực cải cách của các quốc gia này là tự do hóa tỷ giá hối đoái Giảm thâm hụt tài khóa, mở rộng tiền tệ, hỗ trợ bên ngoài và cải cách cấu trúc cũng rất quan trọng trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng

Trang 27

Bảng 2.1

Tóm tắt các nghiên cứu về tác động của giá dầu lên cán cân thương mại

1973–1991 Mối quan hệ cùng chiều và đáng kể giữa giá dầu thấp và

phát triển ngành nông nghiệp Mỹ

Tsen (2009) Nhật Bản,

Hồng Kông

và Singapore

Mô hình VAR, phân tích đồng liên kết

1960–2006 (1) Giá dầu và cán cân thương mại có quan hệ đồng liên

Thổ Nhĩ Kỳ Mô hình SVAR 1999–2009 Mối quan hệ giữa giá dầu và cán cân thương mại là một

hiện tượng ngắn hạn thay vì dài hạn

1999–2011 Mối quan hệ ngược chiều giữa giá dầu và cán cân thương

mại Cụ thể, 1% gia tăng giá dầu dẫn đến sự sụt giảm 0,12% trong cán cân thương mại dài hạn

1975–2010 Tồn tại mối quan hệ ngược chiều đáng kể giữa giá dầu và

cán cân thương mại, tức là, nếu giá dầu tăng 1%, cán cân thương mại giảm 0,382% Điều này cho thấy giá dầu gây mất cân bằng thương mại ở Pakistan

Le và Chang Malaysia, Phương pháp 1999–2011 (1) Sự cải thiện trong cán cân thương mại của quốc gia xuất

Trang 28

(2013) Nhật Bản và

Singapore

nhân quả Toda–

Yamamoto, hàm phản ứng đẩy tổng quát

khẩu dầu (Malaysia) có liên quan đến doanh thu từ dầu tăng

(2) Đối với một nền kinh tế lọc dầu (Singapore), cú sốc giá dầu có tác động dài hạn không đáng kể đến cán cân thương mại chung và các cấu thành dầu và không dầu

(3) Đối với quốc gia nhập khẩu dầu ròng (Nhật Bản), giá dầu tăng làm tăng mạnh thâm hụt thương mại dầu và có thể dẫn đến thâm hụt thương mại chung

Kilian và

cộng sự

(2009)

26 quốc gia xuất khẩu dầu và 14 quốc gia nhập khẩu dầu

Mô hình SVAR 1970–2005 (1) Tác động của cú sốc cung và cầu dầu lên cán cân

thương mại hàng hóa và tài khoản vãng lai tùy thuộc vào nguồn gốc sốc

(2) Sự hiện diện của các hiệu ứng định giá (valuation effect) làm giảm bớt ảnh hưởng của cú sốc cầu dầu và cú sốc cung lên vị thế tài sản nước ngoài ròng của các nhà xuất khẩu và nhập khẩu dầu

Trang 29

Christensen (2011) đánh giá tác động của tỷ giá USD/Peso và GDP của Mỹ và Mexico lên cán cân thương mại giữa Mỹ và Mexico Tác giả sử dụng dữ liệu hàng quý giai đoạn 1994–2010 Các biến độc lập trong nghiên cứu gồm GDP trong nước, GDP nước ngoài và tỷ giá hối đoái thực Tác giả phát hiện sự gia tăng GDP Mexico gây ra thặng dư thương mại với tác động nhỏ hơn GDP Mỹ Đồng đô la Mỹ có tác động tích cực đến cán cân thương mại trong giai đoạn nó mất giá Hiện tượng này

có khả năng làm giảm thâm hụt thương mại giữa Mỹ với Mexico Petrović và Gligorić (2010) khám phá mối tương quan giữa cán cân thương mại và định giá thấp tiền tệ ở Serbia Mục tiêu của nghiên cứu nhằm tìm hiểu liệu định giá thấp tiền

tệ có cải thiện cán cân thương mại hay định giá cao sẽ làm cán cân xấu đi Các tác giả sử dụng cả phân tích đồng liên kết Johansen và phương pháp tự hồi quy phân phối trễ (ADRL) trong việc ước tính tác động dài hạn của định giá thấp tiền tệ lên cán cân thương mại Dữ liệu chuỗi thời gian với tần suất hàng tháng trong giai đoạn 2002–2007 được sử dụng cho mục đích phân tích thực nghiệm Các tác giả phát hiện tác động tích cực của sự mất giá tiền tệ lên cán cân thương mại của Serbia trong dài hạn Mặc dù trong ngắn hạn cán cân thương mại xấu đi lúc đầu nhưng sẽ cải thiện sau này trong dài hạn Ước tính từ mô hình sai số hiệu chỉnh được sử dụng cho thấy chuyển động ngắn hạn của cán cân thương mại, do đó chứng minh hiệu ứng đường cong J

Nghiên cứu của Hsing (2005) sử dụng hàm phản ứng đẩy tổng quát từ mô hình vectơ sai số hiệu chỉnh (VECM) để kiểm tra xem hiệu ứng đường cong J có tồn tại

ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trong giai đoạn 1980–2001 hay không Cả hai trường hợp thương mại song phương (với Mỹ) và tổng hợp (với phần còn lại của thế giới) đều được xem xét Hiện tượng đường cong J thông thường chỉ có thể được quan sát trong trường hợp thương mại tổng hợp của Nhật Bản, trong khi Hàn Quốc

và Đài Loan không cho thấy sự hiện diện của hiện tượng này Tác giả cho rằng điều này có thể xuất phát từ hiệu ứng kinh tế mở nhỏ Trong nền kinh tế mở nhỏ như Hàn Quốc và Đài Loan, cả nhập khẩu và xuất khẩu được xuất hóa đơn bằng ngoại tệ

và kết quả là, ảnh hưởng ngắn hạn của sự mất giá thực không đáng kể và cán cân

Trang 30

thương mại vẫn không chịu ảnh hưởng Stucka (2004) tìm thấy bằng chứng về hiệu ứng đường cong J trong cán cân thương mại ở Croatia Nghiên cứu sử dụng mô hình dạng rút gọn để ước tính tác động của cú sốc vĩnh viễn lên cán cân thương mại hàng hóa Kết quả thực nghiệm tìm thấy rằng phá giá 1% làm cải thiện cán cân thương mại trong khoảng 0,94% đến 1,3% và phải mất 2,5 năm để cân bằng được thiết lập

Bahmani-Oskooee và Ratha (2007) điều tra ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại của Thụy Điển Mục tiêu chính của nghiên cứu là điều tra xem liệu đường cong J có tồn tại ở dữ liệu phân tách song phương giữa Thụy Điển và 17 đối tác thương mại hay không, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng quý từ 1980–

2005 Dữ liệu được phân chia theo nghĩa là có một phân tích riêng đối với từng đối tác thương mại của Thụy Điển Mô hình thực tế cũng nắm bắt những ảnh hưởng của thu nhập trong và ngoài nước đối với cán cân thương mại Các tác động ngắn hạn và dài hạn của thay đổi tỷ giá hối đoái được phân tích theo phương pháp kiểm định đường bao từ mô hình ARDL Ở cấp độ song phương, bằng chứng về mối quan hệ ngắn hạn giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại đã được tìm thấy ở 14 trong số

17 đối tác thương mại của Thụy Điển Nhưng bằng chứng của đường cong J chỉ được tìm thấy trong mối quan hệ song phương với 5 quốc gia Áo, Đan Mạch, Ý, Hà Lan và Anh Trong 5 mối quan hệ thương mại song phương khác của Thụy Điển, hiệu ứng tiêu cực ngắn hạn của mất giá tiền tệ dường như vẫn tồn tại ngay cả trong dài hạn Nhìn chung, sự mất giá của đồng tiền Thụy Điển đã dẫn đến sự cải thiện dài hạn trong cán cân thương mại Waliullah và cộng sự (2010) cố gắng kiểm tra mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa cán cân thương mại, thu nhập, cung tiền và tỷ giá hối đoái thực trong trường hợp nền kinh tế Pakistan Thông qua phương pháp ARDL cho dữ liệu theo năm giai đoạn 1970–2005, nghiên cứu khám phá mối quan

hệ dài hạn ổn định giữa cán cân thương mại với thu nhập, cung tiền và tỷ giá hối đoái Kết quả hồi quy cho thấy định giá thấp tiền tệ có liên quan cùng chiều đến cán cân thương mại trong dài hạn và ngắn hạn, phù hợp với điều kiện Marshall-Lerner

Trang 31

Nghiên cứu gần đây của Le Hoang Phong và cộng sự (2017) xác minh sự tồn tại của các tác động ngắn hạn và dài hạn của tỷ giá hối đoái thực lên cán cân thương mại tại Việt Nam bằng cách sử dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ (ARDL), sử dụng dữ liệu theo quý trong giai đoạn từ 2000Q1–2015Q4 Trong ngắn hạn, mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) dựa trên phương pháp ARDL chỉ ra rằng phá giá thực nội tệ có tác động tiêu cực đến cán cân thương mại; trong dài hạn, phá giá thực nội tệ có tác động tích cực đến cán cân thương mại, hàm ý sự hiện diện của mẫu hình đường cong J tại Việt Nam, vốn cũng được xác nhận trong hàm phản ứng đẩy (IRF) Thi Xuan Thom (2017) phân tích các bước đi của tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại trong giai đoạn 2001–2015 và điều tra xem liệu sự mất giá sẽ ảnh hưởng cán cân thương mại theo mẫu hình hiệu ứng đường cong J hay không Phát hiện của nghiên cứu là sau khi mất giá, cán cân thương mại xấu đi trong hai quý đầu tiên và sau đó bắt đầu cải thiện cho đến quý thứ sáu Sau sáu quý, cán cân thương mại lại rơi vào tình trạng thâm hụt và tiếp tục tăng giảm đột ngột Với các câu trả lời được minh họa từ phân tích, phản ứng cán cân thương mại mang dáng dấp của mẫu hình đường cong J trong các quý đầu nhưng dấu hiệu này mờ dần trong các quý sau Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng có khả năng sau cú sốc tỷ giá hối đoái, cán cân thương mại sẽ phản ứng theo đường cong S, thay vì đường cong J

Ngày đăng: 30/12/2020, 16:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w