1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) phát triển bền vững, phân phối công bằng nguồn lợi nghêu tự nhiên lý luận và thực tiễn pháp lý ở bến tre

59 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 679,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì sự chưa hợp lý đó mà kinh tế thủy sản của Bến Tre phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; các cấp chính quyền và ngành chức năng chưa triển khai hướng dẫn thực hiện đầy đủ những quy

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN VĂN PHONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN VĂN PHONG

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS VÕ TRÍ HẢO

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TÓM TẮT LUẬN VĂN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ KHAI THÁC PHÂN PHỐI NGHÊU TỰ NHIÊN 5

1.1 Phân phối lợi ích công bằng, phát triển bền vững trong khai thác nghêu tự nhiên 5

1.1.1 Phân phối lợi ích công bằng trong khai thác nghêu tự nhiên 5

1.1.1.1 Nguyên tắc công bằng 5

1.1.1.2 Nguyên tắc công bằng trong khai thác nghêu tự nhiên 8

1.1.2 Phát triển bền vững 9

1.1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững 9

1.1.2.2 Nguyên tắc phát triển bền vững nguồn lợi nghêu tự nhiên 10

1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển bền vững và phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên 13

1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển bền vững 13 1.2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên để phát triển bền vững 15

1.2.2.1 Chủ trương, chính sách của Trung ương 15

1.2.2.2 Chủ trương, chính sách của địa phương - tỉnh Bến Tre 16

1.3 Quy định của pháp luật về việc khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC, PHÂN PHỐI NGUỒN LỢI NGHÊU TỰ NHIÊN TẠI BẾN TRE VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 20

2.1 Tổng quan đặc điểm của nghêu tự nhiên tại Bến Tre 20

2.2 Quá trình phát triển các mô hình khai thác nghêu tự nhiên tại Bến Tre 22

2.3 Thực tiễn việc phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên tại Bến Tre 25

2.4 Những vấn đề bất cập phát sinh trong quá trình khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên tại Bến Tre liên quan đến phát triển bền vững 28

2.4.1 Những vấn đề bất cập phát sinh trong quá trình khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tại Bến Tre 28

Trang 4

2.4.1.2 Hạn chế của đặc tính “tập thể”của mô hình Hợp tác xã 31 2.4.1.3 Hạn chế về chính sách khoa học công nghệ và khuyến ngư 32 2.4.1.4 Bất cập trong vai trò của nhà nước đối với việc xúc tiến thương mại, đăng ký chỉ dẫn địa lý 33 2.4.1.5 Bất cập về tình hình an ninh, trật tự 34 2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 34

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ĐỂ PHÂN PHỐI CÔNG BẰNG NGUỒN LỢI NGHÊU TỰ NHIÊN TẠI BẾN TRE, GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 38

3.1 Những vấn đề có liên quan đến quy định của pháp luật và những cơ chế, chính sách của chính quyền địa phương 38 3.2 Phát triển Hợp tác xã khai thác nghêu bền vững 40 3.3 Ổn định tình hình an ninh, trật tự tại các Hợp tác xã nghêu để phát triển bền vững 43

KẾT LUẬN 47 Phụ lục 1

Phụ lục 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Trang 5

Tôi tên là Trần Văn Phong – mã số học viên: 7701270088A, là học viên lớp Cao học Luật Khóa chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh

tế TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Phát triển bền vững, phân phối công bằng nguồn lợi nghêu tự nhiên - Lý luận và thực tiễn pháp lý ở Bến Tre” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)

Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực

Học viên thực hiện

Trần Văn Phong

Trang 7

Thời gian qua, bên cạnh những thành công trong thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, Việt Nam nói chung, Bến Tre nói riêng, còn phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội đặt ra, trong đó có vấn đề phân phối chưa hợp lý của cải, cụ thể ở Bến Tre là phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên Vì sự chưa hợp lý đó mà kinh tế thủy sản của Bến Tre phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; các cấp chính quyền và ngành chức năng chưa triển khai hướng dẫn thực hiện đầy đủ những quy định của pháp luật; người dân vùng ven biển chưa phát huy hết tinh thần, trách nhiệm trong quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên; chưa xác định đúng giá trị con nghêu để giảm nghèo, vươn lên làm giàu

Mặc dù quá trình khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên ở Bến Tre còn những hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau Song, với những chính sách, pháp luật hiện hành và những nguồn lực hiện có tại địa phương, nhất

là khả năng, điều kiện về yếu tố con người và nguồn lực nghêu do thiên nhiên ưu đãi, chắc chắn rằng nguồn lợi nghêu tự nhiên sẽ hướng đến sự phân phối công bằng

và góp phần phát triển kinh tế bền vững

Trang 8

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bến Tre là tỉnh thuộc Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có tổng diện tích

tự nhiên khoảng 2.360 km2, được hợp thành bởi Cù lao An Hóa, Cù lao Bảo và Cù lao Minh, do phù sa của 4 nhánh sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông

Cổ Chiên bồi tụ thành Phía Bắc tỉnh Bến Tre giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, phía Đông hướng ra Biển Đông

Tỉnh Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa rõ rệt: Mùa mưa khoảng từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô khoảng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000mm đến 2.300 mm, nhiệt độ trung bình trong năm từ 260C - 270C Với vị trí nằm tiếp giáp biển Đông, nhưng Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của bão lũ, có khí hậu ôn hòa, mát

mẻ quanh năm, có bờ biển dài trên 65km và vùng lãnh hải rộng hơn 26.000km2… Đây là điều kiện thuận lợi, là thế mạnh để phát triển, sản xuất nông nghiệp, nhất

là ngành thủy sản Đặc biệt, hệ đa dạng sinh học vùng cửa sông ven biển rất phong phú (hơn 280 loài tảo đơn bào, 96 giống loài động vật nổi, 16 nhóm giống loài thủy sinh; với hơn 7.130 ha rừng ngập mặn ven biển có 3.250 ha được bảo tồn …)

là điều kiện thuận lợi để nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản phát triển Cộng đồng dân cư vùng ven biển từ hàng trăm năm qua đã gắn bó với nghề truyền thống này dựa vào nếp sống cộng đồng để sinh kế và làm chỗ dựa cho các hoạt động cách mạng qua các thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước

Với tiềm năng về biển, tỉnh Bến Tre có cơ sở và điều kiện để khai thác, nuôi trồng và phát triển ngành thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi nghêu Hiện nay, Bến Tre

là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về phát triển nuôi nghêu Toàn tỉnh hiện

có 9 Hợp tác xã thủy sản nuôi nghêu với trên 11.042 hộ gia đình tham gia nuôi nghêu Tổng diện tích đưa vào khai thác khoảng 4.878 ha (trong khoảng 7.200 ha

có thể phát triển nuôi nghêu) Việc quản lý, bảo vệ, khai thác, bán sản phẩm nghêu

tự nhiên có sự tham gia của cộng đồng địa phương là tương đối toàn diện Hàng năm, nguồn lợi nghêu tại địa phương cho sản lượng rất lớn (dao động khoảng 5.000

- 15.000 tấn nghêu giống và thương phẩm) Hàng chục năm qua nghề nuôi nghêu

ở tỉnh Bến Tre không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo việc làm và thu nhập

ổn định cho hàng chục ngàn dân nghèo ven biển, góp phần xóa đói giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội, mà còn giúp hồi sinh nhiều vùng đất ven biển… Có thể

Trang 9

2

khẳng định rằng, nguồn lợi nghêu tự nhiên đã đóng góp đáng kể cho nền kinh tế -

xã hội của tỉnh Đặc biệt, nghêu của tỉnh Bến Tre đã được Hội đồng Quản lý biển quốc tế MSC (Marine Stewardship Council) thuộc Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn thương hiệu MSC

Tuy nhiên, hiện nay, do cơ chế chính sách và hình thức quản lý, khai thác nghêu còn có những vấn đề chưa hợp lý, hiệu quả mang lại chưa cao, phân phối thu nhập từ nguồn lợi nghêu tự nhiên còn nhiều bất cập; chưa có các văn bản, khung pháp lý hướng dẫn quy trình đồng quản lý trong ngành thủy sản, số lượng phương tiện khai thác nghêu ngày càng nhiều, với đa loại hình ngư, lưới cụ có kích thước mắt lưới không phù hợp, ảnh hưởng đến nguồn sống của nghêu giống, nghêu thương phẩm; nạn “nghêu tặc” còn diễn ra, gây bất ổn định trong quá trình quản

lý, khai thác nguồn lợi nghêu tự nhiên; ý thức bảo tồn nguồn lợi nghêu tự nhiên của người dân để phát triển bền vững còn hạn chế; vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng đang diễn ra là những đe dọa, thách thức phải đối mặt… Những điều đó ít nhiều đã gây tổn thất nguồn lợi thủy sản nói chung và nghêu nói riêng, ảnh hưởng đến chu kỳ phát triển của hệ đa dạng sinh học, mất cân bằng môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội và đời sống kinh tế của người dân…

Thời gian qua, mặc dù các cấp chính quyền đã có nhiều chủ trương, giải pháp để nguồn lợi nghêu tự nhiên được phát huy và đóng góp đúng thực chất cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là việc xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân vùng ven biển Nhưng thực tiễn còn đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến việc bảo đảm quản lý, khai thác nguồn lợi nghêu tự nhiên làm sao thật sự hiệu quả, phân phối bảo đảm thật sự công bằng, để người dân tham gia nghề nuôi nghêu có thể bảo đảm sinh kế bền vững, khai thác và phân phối nguồn lợi nghêu bảo đảm công bằng theo hướng phát triển bền vững và thân thiện với môi trường… Quả thật, đây là vấn đề rất đáng quan tâm và cần phải có những giải pháp thật thiết thực, hiệu quả, kịp hời, để bảo đảm cho việc phát triển bền vững, phân phối công bằng nguồn lợi nghêu tự nhiên ở Bến Tre

Xuất phát từ tình hình nêu trên, người viết chọn đề tài “Phát triển bền vững, phân phối công bằng nguồn lợi nghêu tự nhiên - Lý luận và thực tiễn pháp lý ở Bến Tre” để nghiên cứu làm luận văn Thạc sĩ luật

2 Câu hỏi nghiên cứu

2.1 Nguồn lợi nghêu tự nhiên thuộc sở hữu của ai?

Trang 10

3

2.2 Ai có quyền khai thác, hưởng thụ từ nguồn lợi nghêu tự nhiên?

2.3 Những quy định nào của pháp luật để bảo đảm phân phối công bằng nguồn lợi nghêu tự nhiên và phát triển bền vững?

- Luận văn thạc sĩ, “Phân tích tình hình sản xuất kinh doanh ngành hàng nghêu trắng Bến Tre”, tác giả Lê Tân Thới, bảo vệ tại Đại học Cần Thơ, năm 2010;

- Luận án tiến sĩ, “Phát triển bền vững ngành thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015”, tác giả Lâm Thanh Mẫn;

- Tham luận khoa học, “Đẩy nhanh phát triển nuôi trồng thủy sản phát triển hiện đại, hiệu quả bền vững”, của PGS – TS Hà Xuân Thông – Nguyên Viện trưởng Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản;

- Tham luận khoa học, “Môi trường và vấn đề phát triển bền vững ngành thủy sản”, của Hoàng Hoa Hồng – Trường Đại học Nha Trang

Ngoài ra, còn có một số bài báo khoa học của các tác giả là nhà khoa học, cán bộ thực tiễn trong ngành thủy sản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài

Các công trình và các bài nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý đối với hoạt động khai thác, phân phối nguồn lợi thủy sản (trong đó có nghêu tự nhiên) để phát triển bền vững dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu về những nội dung mà chính sách, pháp luật quy định về việc phát triển bền vững, phân phối công bằng nguồn lợi nghêu tự nhiên và việc áp dụng vào thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bến Tre Do đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài này vừa nhằm kế thừa một số kết luận khoa học của các công trình, báo cáo khoa học nói trên, vừa nhằm bổ sung, làm sáng tỏ những vấn đề chưa được đề cập đến nhưng không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã được công bố, góp phần đưa việc quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới thực hiện đúng quy định của pháp luật và hướng đến mục tiêu công bằng, phát triển bền vững

Trang 11

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Những nội dung về phát triển bền vững, phân phối công bằng theo các chủ trương, chính sách, pháp luật có liên quan (Nghị quyết của Đảng, Luật Đất đai, Luật Thủy sản, Luật Hợp tác xã, Luật Tài nguyên và Khoáng sản, Luật Bảo vệ môi trường…) và tình hình quản lý, khai thác, phân phối nghêu tự nhiên tại Bến Tre

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung:Tập trung nghiên cứu những nội dung về phát triển bền vững, phân phối công bằng và thực trạng tình hình quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên

- Về thời gian: Từ năm 2009 đến 2017

- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Bến Tre

5 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn được viết dựa trên các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn; Phương pháp thống kê và so sánh; Phương pháp chuyên gia…

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Sau khi nghiên cứu, luận văn này góp phần chỉ ra những ưu điểm, hạn chế

và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện pháp luật liên quan đến công tác quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên tại Bến Tre Từ đó, người viết đề xuất, kiến nghị một số giải pháp cơ bản với mong muốn hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật để áp dụng vào việc khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên hướng tới mục tiêu công bằng, phát triển bền vững

Trang 12

5

CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ KHAI

THÁC PHÂN PHỐI NGHÊU TỰ NHIÊN

1.1 Phân phối lợi ích công bằng, phát triển bền vững trong khai thác nghêu tự nhiên

1.1.1 Phân phối lợi ích công bằng trong khai thác nghêu tự nhiên 1.1.1.1 Nguyên tắc công bằng

Công bằng xã hội là một nguyên tắc phân phối lợi ích, thước đo của nó là

sự bình đẳng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, được thực hiện dựa trên

sự tự nguyện của các cá nhân Công bằng xã hội không chỉ có tác động mạnh mẽ, tích cực trong lĩnh vực kinh tế, mà còn đóng vai trò điều chỉnh quan hệ giữa con người với con người trong các lĩnh vực chính trị, xã hội, đạo đức… Do vậy, nó vừa tạo nên trạng thái ổn định của xã hội, vừa tạo nên những điều kiện cần thiết thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ Đồng thời, công bằng xã hội còn là điều kiện để mỗi cá nhân có thể phát huy cao nhất năng lực vốn có cũng như được phát triển ngày càng toàn diện hơn Việc xác định nguyên tắc công bằng để phát triển bền vững là cơ sở quan trọng cho những bước tiếp theo của mỗi quốc gia

Sự phát triển của một quốc gia không chỉ thể hiện ở sự phát triển về kinh

tế, mà còn thể hiện ở sự phát triển về xã hội Sự phát triển về kinh tế và sự phát triển về mặt xã hội có liên quan mật thiết với nhau Công bằng xã hội là một nội dung quan trọng trong sự phát triển về mặt xã hội Trong một xã hội có tình trạng bất công bằng, người bị đối xử bất công sẽ không thể phát huy hết tính tích cực của mình; mặt khác, họ luôn đấu tranh đòi công bằng, cuộc đấu tranh này không tránh khỏi gây bất ổn định xã hội Vì vậy, nếu quốc gia nào chỉ chú trọng phát triển

về kinh tế mà không chú trọng bảo đảm công bằng xã hội, thì sự phát triển về kinh

tế của quốc gia đó sẽ không bền vững

Nguyên tắc phân phối lợi ích được hình thành trong mối quan hệ lợi ích giữa người với người, là thước đo để phân chia lợi ích chung của xã hội Thước đo này được quy định bởi điều kiện kinh tế - xã hội của một phương thức sản xuất nhất định, trước hết là quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất Nguyên tắc phân phối lợi ích dựa trên cơ sở địa vị của các cá nhân trong quan hệ sở hữu đối với tư

liệu sản xuất trở thành nguyên tắc phân phối chung của mọi phương thức sản xuất

Trong khi đó, công bằng xã hội cũng là một nguyên tắc phân phối lợi ích Khác với nguyên tắc phân phối nói chung, thước đo của nguyên tắc phân phối lợi ích

Trang 13

6

công bằng chính là sự bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ tương ứng giữa cống hiến và hưởng thụ với tiêu chí cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau Hơn nữa, nếu nguyên tắc phân phối nói chung được thực hiện bằng cách không dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện chung thì ngược lại, nguyên tắc phân phối lợi ích công bằng lại được thực hiện dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện của những cá nhân cùng tham gia vào một quan hệ lợi ích Vì thế, tác động của nguyên tắc phân phối công bằng tới hoạt động của con người không mang tính cưỡng bức,

mà có tính tích cực Điều đó càng kích thích sự cống hiến tự nguyện của mỗi cá nhân vào hoạt động chung của xã hội vì lợi ích của mình và của cả cộng đồng Nói cách khác, nguyên tắc phân phối công bằng mà nội dung của nó là sự bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ đã khiến cho không một cá nhân nào cảm thấy mình bị thiệt thòi, mà còn thúc đẩy mỗi người tự nguyện làm việc nhiều hơn nữa Chính sự tự nguyện làm việc nhiều hơn nữa đó của mọi thành viên đã thúc đẩy xã hội tiếp tục vận động và phát triển Theo nghĩa

đó, công bằng xã hội là một động lực tích cực tạo nên sự vận động và phát triển

mạnh mẽ của xã hội

Có thể nói, công bằng xã hội với tư cách động lực phát triển kinh tế - xã hội hoàn toàn mang tính khách quan, phổ biến và tất yếu Bởi vì, xã hội là kết quả hoạt động của những con người có nhu cầu, lợi ích và mục đích riêng của mình, mà nhu cầu, lợi ích và mục đích đó của con người đều bị quy định bởi hoàn cảnh bên ngoài, trước hết là hoàn cảnh kinh tế (đặc biệt là quan hệ kinh tế hay quan hệ lợi ích giữa người với người) Ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể với một hoàn cảnh kinh tế - xã hội nhất định, bao giờ cũng có một thước đo của công bằng xã hội tương ứng làm căn cứ để xác định một tỷ lệ tương ứng cụ thể giữa cống hiến và hưởng thụ cho mọi chủ thể cùng tham dự vào hoạt động của nền sản xuất xã hội Ph.Ăngghen khẳng định: “Phương thức phân phối về căn bản là phụ thuộc vào chỗ số lượng nào của sản phẩm được phân phối, và số lượng này, dĩ nhiên thay đổi tùy theo sự tiến bộ của sản xuất và của tổ chức xã hội, do đó cả phương thức phân phối

ắt phải thay đổi theo”

Thước đo nêu trên của công bằng xã hội còn là căn cứ cho các chủ thể tự đối chiếu với khả năng của bản thân mình để điều chỉnh nhu cầu và lựa chọn những lợi ích phù hợp với lợi ích chung của xã hội Nếu mỗi cá nhân đều nhận thức được nguyên tắc của công bằng xã hội theo nghĩa trên thì xã hội luôn được ổn định và phát triển Hơn nữa, vì công bằng xã hội luôn được thực hiện bằng một thước đo

Trang 14

7

về mối quan hệ lợi ích giữa người với người trong xã hội, cho nên thước đo ấy cũng chính là cái để điều chỉnh hành vi của những cá nhân vi phạm quan hệ lợi ích chung của xã hội Tóm lại, thước đo của công bằng xã hội vừa là yếu tố kích thích

sự cống hiến của con người, vừa là công cụ để bảo vệ lợi ích chung của xã hội và lợi ích của mỗi cá nhân trong xã hội ấy Mặt khác, xã hội có công bằng sẽ động viên, kích thích sự cống hiến của các cá nhân, nghĩa là huy động được nhiều hơn

nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Công bằng xã hội không chỉ có tác động mạnh mẽ, tích cực trong lĩnh vực kinh tế mà còn đóng vai trò điều chỉnh quan hệ giữa người và người trong các lĩnh vực chính trị, xã hội, đạo đức,… để đảm bảo sự tương xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi của các cá nhân hay các nhóm xã hội Nếu sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ của con người được thực hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo cho mọi người đều được đối xử ngang bằng nhau, phù hợp với những cống hiến, tài năng, phẩm giá, trách nhiệm… của họ, không ai bị thiệt thòi, không ai bị rơi vào cảnh bị đối xử bất công thì sự công bằng xã hội sẽ không chỉ tạo ra trạng thái ổn định - điều kiện hết sức cần thiết cho

sự phát triển theo hướng tiến bộ của xã hội, mà còn tạo ra tâm lý xã hội lành mạnh, phấn khởi, có tác dụng kích thích tính tích cực, năng động của con người trong hoạt động thúc đẩy sự phát triển xã hội theo hướng tiến bộ Việc con người được tôn trọng, được đối xử công bằng sẽ hình thành ở họ một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội, làm cho các quan hệ xã hội của con người ngày càng

trở nên tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn

Đây là nét khác biệt cơ bản giữa vai trò động lực của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội và vai trò động lực của nguyên tắc trao đổi ngang giá trong nền kinh

tế thị trường (với tính cách là công bằng trong lĩnh vực kinh tế) Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khiến cho quan hệ trao đổi ngang giá ngày càng có tính công bằng hơn Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng tạo ra nhiều cơ hội bình đẳng hơn cho tất cả mọi người

có thể phát huy được tính năng động của mình, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh

tế - xã hội; đồng thời, cho phép thực hiện các hình thức phân phối tương xứng với

sự cống hiến của mỗi cá nhân trong xã hội Điều đó sẽ làm cho việc phân phối ngày càng trở nên công bằng hơn Nhưng, việc tạo ra một xuất phát điểm bình đẳng cho mọi cá nhân lại là công việc của cả cộng đồng, trong đó Nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng Sự điều tiết của Nhà nước mới thực sự là “chìa khoá

Trang 15

8

để đáp ứng những nhu cầu phức tạp và trái ngược nhau của xã hội” Sự điều tiết của Nhà nước phải được thực hiện bằng các chủ trương, chính sách phù hợp với thước đo của công bằng xã hội, chứ không phải là được áp đặt một cách chủ quan Điều này thể hiện ở chỗ, Nhà nước phải dùng những chính sách kinh tế - xã hội khác nhau để điều chỉnh và tạo đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt là dùng các chính sách thu hút những nguồn lực về vốn, tài sản, hay lao động có chất lượng cao Bên cạnh đó, cần phải kết hợp chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội Có như vậy mới thực sự làm cho công bằng xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trở nên đầy đủ hơn Ngược lại, sẽ là bất hợp lý và phản tác dụng nếu Nhà nước can thiệp quá sâu vào sự vận hành của nền kinh tế bằng mệnh lệnh chủ quan hay điều tiết bằng cách phân phối mang tính cào bằng, bình quân chủ nghĩa Những can thiệp hoặc điều

tiết như vậy chỉ dẫn đến chỗ làm triệt tiêu động lực của sự phát triển kinh tế

Phân phối lợi ích một cách công bằng là yếu tố kích thích trực tiếp các chủ thể tích cực tham gia vào những hoạt động cống hiến, đóng góp để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Nói cách khác, nếu thước đo công bằng xã hội phù hợp với lợi ích chung của xã hội - lợi ích được cấu thành từ những nhân tố chủ đạo của sự phát triển kinh tế - xã hội, sẽ góp phần rất quan trọng trong việc huy động mọi nguồn lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội Công bằng xã hội còn

là điều kiện cho mỗi cá nhân phát huy cao nhất năng lực của mình, phát triển ngày càng toàn diện và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ

1.1.1.2 Nguyên tắc công bằng trong khai thác nghêu tự nhiên

Hiện nay, qua nghiên cứu chưa thấy có quy định riêng hay một quy định cụ thể nào về nguyên tắc công bằng trong khai thác nghêu tự nhiên Tuy nhiên, đã có những quy định liên quan đến công tác quản lý, khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản nói chung (trong đó có nguồn lợi nghêu tự nhiên), cụ thể là các quy định về đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản và quy chế quản lý khu bảo tồn biển

Việc đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản được quy định tại Điều

10 của Luật Thủy sản sửa đổi năm 2017 Quy định này nhằm tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước giao quyền quản lý cho tổ chức cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản - một phương thức quản lý mới được nhiều quốc gia tiếp cận để quản lý hoạt động thủy sản đặc biệt trong hoạt động quản lý nguồn lợi thủy sản Theo đó, người dân, Hội, Hiệp hội… tham gia cùng với chính quyền cơ sở quản lý hoạt động bảo

vệ nguồn lợi thủy sản, đồng thời nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân

Trang 16

lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

1.1.2 Phát triển bền vững

1.1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững

Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong

ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên

và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987, nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Futur) của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới - WCED (nay là Ủy Ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh

tế hiệu quả, xã hội công bằng, văn hóa và con người phát triển, môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 5 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - văn hóa - con người - môi trường Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy

mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường

Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi

là Hội nghị Rio+10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của hơn 170 quốc gia đã tổng kết lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết

Trang 17

10

sách liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự

đa dạng sinh thái Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tại Johannesburg, Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này bao gồm xóa đói nghèo, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005 Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động với Dự

án VIE/01/021 “Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt

Nam”

Như vậy, khái niệm “Phát triển bền vững” được đề cập trong báo cáo Brundtland với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hòa giải kinh tế và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Nội dung khái niệm còn bao hàm những khía cạnh chính trị, xã hội, đặc biệt là bình đẳng, công bằng xã hội Với ý nghĩa này, nó được xem là “tiếng chuông” hay nói cách khác là “tấm biển hiệu” cảnh báo hành vi của loài người trong thế giới đương đại Kể từ khi khái niệm này xuất hiện, nó đã gây được sự chú ý và thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại (các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, đảng phái chính trị, các nhà tư tưởng, các phong trào xã hội và đặc biệt là giới khoa học)

1.1.2.2 Nguyên tắc phát triển bền vững nguồn lợi nghêu tự nhiên

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X

về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 xác định: “… phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển…; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển”

Tại Quyết định số 1445/2012/QĐ-TTg về “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2020” của Thủ tướng Chính phủ cũng nêu: “thủy sản phải phấn đấu trở thành một ngành sản xuất hàng hoá lớn, tiếp tục phát triển vừa nhanh

Trang 18

hệ thống sinh thái có tầm quan trọng quyết định đối với sự phát triển ngành thuỷ sản nói chung và nguồn lợi nghêu tự nhiên nói riêng, ở thời điểm hiện nay và trong tương lai; Phát triển nghề nuôi nghêu thật hiệu quả, bảo đảm lợi ích lâu dài và có trách nhiệm mà nước ta đã cam kết với cộng đồng quốc tế về các tiêu chí của ngành thủy sản nói chung, nghêu tự nhiên nói riêng; Bảo đảm lợi ích của các cộng đồng dân cư - những người có quyền hưởng thụ nguồn lợi nghêu tự nhiên, góp phần xoá đói giảm nghèo cho ngư dân; Tối ưu hoá việc sử dụng đa mục tiêu các hệ thống tài nguyên biển và đất ngập nước liên quan tới hoạt động nuôi, quản lý, khai thác nghêu tự nhiên, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích và các tác động của các ngành khác đến tính bền vững của nguồn lợi nghêu tự nhiên; Tăng cường tính cạnh tranh của nghêu tự nhiên với các sản phẩm thủy sản, góp phần bảo đảm an ninh thực phẩm cho đất nước nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng, đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ sản phẩm nghêu

Để bảo vệ nguồn lợi thủy sản nói chung, nghêu tự nhiên nói riêng, góp phần phát triển kinh tế -xã hội Điều tất yếu phải đặc biệt chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường, trong đó có môi trường ven bờ biển; công tác kiểm soát môi trường phải phát huy được hiệu quả, để góp phần làm cho ngành nuôi thủy sản nói chung, nghêu tự nhiên nói riêng phát triển bền vững cũng như cung cấp sản phẩm sạch phục vụ đời sống con người Muốn làm được những điều đó, cần phải quam tâm làm tốt các vấn đề như:

Dựa vào cộng đồng: Tổ chức và cá nhân những người nuôi nghêu phải xây

dựng nội quy đánh bắt trong vùng nhằm đảm bảo khai thác không cạn kiệt; hàng năm, không khai thác hết lượng nghêu hiện có (chỉ nên khai thác khoảng 80%),

mà phải giữ lại một phần để duy trì sản lượng và khả năng tái tạo nguồn lợi hiệu quả Thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản cùng

Trang 19

12

với sự hỗ trợ tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ngư dân; tổ chức tuyên truyền, đào tạo nâng cao ý thức của cộng đồng trước những tác động của môi trường đến nguồn lợi nghêu tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Ngư dân tự giác loại bỏ các phương tiện cơ giới trong khai thác, hạn chế hủy diệt nguồn lợi nghêu tự nhiên

Có thể nói rằng, vấn đề bảo vệ môi trường và nguồn lợi giống không chỉ là nguyên tắc trong sản xuất mà còn là yếu tố quyết định thị trường và thu nhập của cộng đồng ngư dân Môi trường hiện nay được hiểu ở một phạm trù rất rộng, liên quan đến đa dạng sinh học Đó là việc bảo tồn được tính đa dạng sinh học, bao gồm hệ động vật thủy sinh và tất cả các hệ động thực vật cộng sinh với con giống được nuôi hoặc đánh bắt

Bảo tồn các hệ sinh thái quan trọng phục vụ phát triển thủy sản lâu dài Tiến hành xây dựng các khu bảo tồn biển cũng như bảo tồn vùng nước nội địa nhằm không làm thoái hoá và tổn hại đến đa dạng sinh học thuỷ sinh vật Bảo tồn nguồn gen và các hệ sinh thái nhạy cảm Bảo tồn các hệ sinh thái quan trọng phục vụ phát triển thủy sản lâu dài Đưa các vấn đề môi trường vào giai đoạn quy hoạch của quá trình phát triển thuỷ sản, xúc tiến quản lý tổng hợp và tăng cường phối hợp liên ngành để giảm thiểu các tác động từ ngành khác vào nguồn lợi nghêu tự nhiên Đẩy mạnh sản xuất sạch hơn trong các hoạt động sản xuất thủy sản; tiến hành chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong khai thác thủy sản theo hướng giảm dần các nghề tiêu tốn nhiều nhiên liệu, các nghề khai thác hủy diệt, không thân thiện với môi trường sang các nghề tiến bộ hơn; cấp giấy phép khai thác thủy sản cho các vùng nước và các loại nghề của các địa phương nhằm duy trì năng lực khai thác thủy sản hợp lý Áp dụng các công cụ giám sát kiểm soát môi trường trong các hoạt động khai thác nguồn lợi nghêu tự nhiên (quan trắc cảnh báo môi trường, đánh giá tác động môi trường, đánh giá tính bền vững của các nghề kinh tế thủy sản )

Đảm bảo nguồn lợi: Từ việc xác định đúng ý nghĩa của môi trường trong

khai thác thủy sản, bằng mọi nỗ lực của mình, chính quyền các cấp và ngành chức năng phải có giải pháp giúp cộng đồng thực hiện chiến lược nuôi trồng khai thác nguồn lợi nghêu tự nhiên bền vững, có giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái đa dạng sinh học ven bờ biển và tổ chức thực hiện có hiệu quả các biện pháp vừa bảo tồn và ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm tránh thất thoát thấp nhất nguồn lợi nghêu tự nhiên; đồng thời, thực hiện tốt việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường ven bờ biển, điều quan trọng là có những giải pháp hữu hiệu hơn để vừa

Trang 20

13

giảm tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản, vừa không tác động đến cuộc sống của ngư dân Điều đó góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương trong tương lai

Năm 2009, con nghêu Bến Tre được Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF), Hội đồng Bảo tồn biển quốc tế (MSC) cấp chứng nhận MSC, chứng chỉ MSC có giá trị như một giấy thông hành, đảm bảo phát triển thủy sản an toàn và

là thương hiệu bảo hộ cho các sản phẩm thủy sản Việt Nam Khi sản phẩm được khai thác, có bảo vệ môi trường thì giá cả bán ra sẽ được tăng lên Nghêu Bến Tre

đã trở thành biểu tượng con nghêu của Việt Nam trên thương trường quốc tế, bởi

vì nghêu có kích cỡ thương phẩm lớn, chất lượng thơm ngon, đảm bảo an toàn thực phẩm, đặc biệt đã được Hội đồng bảo tồn biển quốc tế (Marine Stewardship Council) cấp chứng nhận tiêu chuẩn MSC Vì thế, nghêu thịt chẳng những được tiêu thụ trong nước mà còn được xuất khẩu đi nhiều thị trường lớn trên thế giới như: EU, Bắc Mỹ, Hàn Quốc,…mang về giá trị lớn ngoại tệ Để bảo vệ và phát triển con nghêu bền vững hơn nữa, trong thời gian tới cần tập trung tiếp tục duy trì chứng nhận MSC cho con nghêu Bến Tre đảm bảo phát triển ổn định và bền vững; hằng năm, đều có các khuyến cáo về kích cỡ, thời điểm khai thác đối với Hợp tác

xã nghêu, tăng cường quản lý khai thác nghêu giống tại các Hợp tác xã; phối hợp với các viện, trường xây dựng các mô hình nuôi nghêu bền vững, hạn chế tình trạng nghêu chết xảy ra hàng loạt như những năm trước đây

1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển bền vững

và phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên

Phát triển bền vững là khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia

sẽ dựa vào đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định

chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó

1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển bền vững

Tuy quan điểm phát triển nhanh và bền vững mới được chính thức công bố gần đây, nhưng tư tưởng của nó được thể hiện xuyên suốt trong đường lối phát triển của Việt Nam Cụ thể là, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (năm 1951) và

lần thứ VI (năm 1986) của Đảng đã đặt ra mục tiêu: “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”

Trang 21

14

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) của Đảng đã thông qua

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1991 - 2000, nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa

và bảo vệ môi trường”; theo đó, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng

Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 187-CT về việc triển khai thực hiện kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000

Ngày 25 tháng 6 năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW về

“Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng tiếp tục khẳng định:

“Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) và chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội chỉ rõ: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”

Đồng thời, qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII quan điểm trên tiếp tục được khẳng định và trở thành những định hướng chủ trương, chính sách quan trọng về phát triển bền vững cho các ngành, các cấp (trong đó có ngành nông nghiệp - nuôi trồng thủy sản) Đặc biệt, ngày 17 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 153/2004/QĐ-TTg về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (VA21Vietnam Angeda 21) - Đây là văn kiện khung, thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam trong thế kỷ XXI Theo đó, quan điểm tổng

quát về phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước ta đó là: “Phát triển bền vững

là sự phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ cao liên tục trong thời gian dài dựa trên việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, nhưng phải bảo đảm sự cân bằng và bảo vệ môi trường sinh thái, nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội hiện tại nhưng không làm tổn hại đến thế hệ tương lai”

Có thể khẳng định rằng, phát triển bền vững là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ của thế giới và cũng là mục tiêu hàng đầu cho phát triển của Việt Nam Việc xác định nguyên tắc phát triển bền vững nói chung và việc xác định bền vững trong nuôi trồng thủy sản nói riêng là cơ sở quan trọng cho những bước tiếp theo của ngành nông nghiệp nước ta Tuy nhiên, phát triển bền vững không phải dễ dàng đạt được trong thực tế, vì yếu tố phát triển luôn thay đổi, thậm chí

Trang 22

15

thay đổi rất nhanh so với khả năng điều chỉnh của con người và các chủ thể quản

lý Do vậy, phát triển bền vững không chỉ là mục tiêu mong đợi mà còn là nhu cầu

và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, của các ngành kinh tế, vùng lãnh thổ và các địa phương Trong đó, phát triển bền vững sẽ tập trung vào các vấn đề chính, đó là: Phát triển kinh tế để cải thiện chất lượng cuộc sống con người (cuộc sống lành mạnh và hiệu quả trong sự hài hoà với thiên nhiên); Phát triển phù hợp về mặt môi trường (sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ các quá trình sinh thái quan trọng, các hệ thống hỗ trợ cuộc sống con người và đa dạng sinh học); Phát triển công bằng trong phân phối lợi ích từ sự phát triển (trong xã hội, giữa các thế hệ, giữa các quốc gia…)

Như vậy, tính bền vững trong các hoạt động thủy sản (trong đó có nghêu tự nhiên) chính là thước đo về mức cân bằng giữa phúc lợi kinh tế, xã hội và môi trường; độ đo về trách nhiệm của các thế hệ hôm nay đối với các thế hệ mai sau

Có thể nói, nhìn từ góc độ môi trường, thủy sản “vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm”;

từ góc độ kinh tế, thủy sản “vừa đem lại hiệu quả kinh tế lớn, vừa chịu rủi ro cao”

và từ góc độ xã hội, thủy sản “vừa là công cụ xóa đói giảm nghèo hữu hiệu, vừa tác động phân hoá giàu nghèo nhanh” Cho nên, phát triển thủy sản bền vững cũng chính là triển khai giải quyết đồng bộ ba mảng vấn đề: người dân tham gia hoạt động thủy sản (xã hội), ngư nghiệp (kinh tế thủy sản) và ngư trường (môi trường

và nguồn lợi thủy sản) Tiềm năng phát triển thủy sản có thể còn rất lớn nếu cơ sở nguồn lợi và các hoạt động sản xuất thủy sản được quản lý và điều hành theo hướng hiệu quả và bền vững

1.2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên để phát triển bền vững

1.2.2.1 Chủ trương, chính sách của Trung ương

Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Hội nghị lần thứ

tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về chiến lược biển Việt Nam đến

năm 2020 xác định: “… phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển…; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển”

Trang 23

16

Ngày 17 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định

số 153/2004/QĐ-TTg về Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) Tại Phần 2 của Chương trình đã xác định rõ: Thủy sản là một trong những ngành kinh tế được xác định cần phải ưu tiên nhằm phát triển bền vững Tại Quyết định số 1445/2012/QĐ-TTg về “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2020” của Thủ tướng Chính phủ cũng

nêu: “thủy sản phải phấn đấu trở thành một ngành sản xuất hàng hóa lớn, tiếp tục phát triển vừa nhanh vừa bền vững”

Trên cơ sở các nghị quyết và quyết định nói trên, quan điểm chung về quản

lý, khai thác thủy sản (có nghêu tự nhiên) để phát triển bền vững là: nguồn lợi thủy sản phải được sử dụng lâu dài để vừa thỏa mãn được nhu cầu trước mắt, vừa duy trì được nguồn lợi cho các kế hoạch phát triển kinh tế thủy sản trong tương lai và cho các thế hệ mai sau Theo đó phải: Duy trì chất lượng môi trường và bảo toàn chức năng của các hệ thống sinh thái có tầm quan trọng quyết định đối với sự phát triển ngành thủy sản hiện nay và trong tương lai; Phát triển một ngành kinh tế thủy sản hiệu quả, bảo đảm lợi ích lâu dài và có trách nhiệm mà nước ta đã cam kết với cộng đồng quốc tế; Bảo đảm lợi ích của các cộng đồng dân cư - những người có quyền hưởng dụng nguồn lợi thủy sản, góp phần xoá đói giảm nghèo cho những người tham gia kinh tế thủy sản, cân bằng hưởng dụng nguồn lợi giữa các thế hệ; Tối ưu hóa việc sử dụng đa mục tiêu các hệ thống tài nguyên biển và đất ngập nước liên quan tới thủy sản, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích và các tác động của các ngành khác đến tính bền vững của nguồn lợi thủy sản; Tăng cường tính cạnh tranh của các sản phẩm thủy sản, góp phần bảo đảm an ninh thực phẩm, đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản

1.2.2.2 Chủ trương, chính sách của địa phương - tỉnh Bến Tre

Quán triệt những chủ trương của Đảng và Chính phủ, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, xác định rõ mục tiêu và định hướng những nhiệm vụ trọng tâm cho ngành thủy sản tỉnh nhà phát

triển trong thời gian tới phù hợp với điều kiện của địa phương Về chính sách: Ủy ban nhân dân tỉnh đã quyết định các chính sách về giao đất, giao rừng cho các Hợp

tác xã thủy sản quản lý, khai thác và ban hành cơ chế phân phối lợi nhuận, nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng, ban hành các quyết định về quản lý và

Trang 24

17

khai thác có chú ý yếu tố bảo tồn nguồn lợi, bảo vệ môi trường và môi sinh…; Các ngành chức năng phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các huyện tham mưu cho Ủy

ban nhân dân tỉnh xây dựng các chính sách, chủ trương phù hợp với yêu cầu bảo

vệ và tái tạo nguồn lợi nghêu tự nhiên, môi trường, môi sinh và phát triển của cộng đồng (hướng dẫn áp dụng các cơ chế quản lý, nhất là cơ chế đồng quản lý; hướng dẫn, tập huấn về nghiệp vụ chuyên môn quản lý kiểm soát thu hoạch, quản lý bệnh, quản lý môi trường, quản lý tài chính và thực hiện các chính sách khuyến ngư, hỗ

trợ thiên tai…); Ủy ban nhân dân các xã tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực

hiện chủ trương, chính sách Nhà nước đối với các Hợp tác xã, ổn định tình hình trật tự xã hội, thực hiện cơ chế đồng quản lý nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân

cư tham gia quản lý khai thác nguồn lợi nghêu tự nhiên; Ban chủ nhiệm các Hợp tác xã thủy sản tổ chức quản lý, khai thác nguồn lợi theo qui định pháp luật và các

văn bản hướng dẫn của các cơ quan chuyên ngành; tổ chức phân phối lợi nhuận và quản lý lao động theo cơ chế đồng quản lý, thực hiện nhiệm vụ được phân cấp của

cơ quan chuyên ngành và đảm bảo nguyên tắc hợp pháp, công bằng, công khai, dân chủ

1.3 Quy định của pháp luật về việc khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên

Liên quan đến việc khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên (một trong những nguồn lợi thủy sản), Quốc hội đã ban hành Luật Thủy sản, Luật tài nguyên và khoáng sản, Luật Hợp tác xã ; Chính phủ và các bộ, ngành cũng đã có những văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề này, đây là điều kiện thuận lợi để chính quyền địa phương và những người dân tham gia có cơ sở pháp

lý để vận dụng thực hiện trong thực tiễn

Luật Thủy sản năm 2017 (trước đây là Luật Thủy sản năm 2004 và các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Thủy sản 2004), đây là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất của ngành thủy sản, điều chỉnh toàn diện các lĩnh vực hoạt động thủy sản bao gồm: Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; Khai thác thủy sản; Nuôi trồng thủy sản; Quản lý tàu cá và cơ sở dịch vụ hoạt động thủy sản; Chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; Hợp tác quốc tế về hoạt động thủy sản; Quản lý nhà nước về thủy sản… Luật Thủy sản là cơ sở pháp lý để phân định trách nhiệm, tránh chồng chéo và có cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành

có liên quan như: giữa ngành Thủy sản với ngành Du lịch, Bộ Giao thông vận tải,

Trang 25

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành phê duyệt Đề án phát triển toàn diện 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và các Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh số 20/2010/QĐ-UBND ngày 07/7/2010 quy định về sản xuất giống, ương giống, khai thác nghêu giống, nghêu tự nhiên và nuôi nghêu thương phẩm trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Quyết định số 29/2010/QĐ-UBND ngày 21/10/2010 quy định về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Bến Tre và Quyết định số 31/2012/QĐ-UBND, ngày 22/10/2012 quy định phân công, phân cấp quản lý hoạt động thủy sản trên địa bàn tỉnh Bến Tre… Đây là những cơ sở lý luận, căn cứ pháp

lý quan trọng để xác định chủ trương, biện pháp quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Có thể khẳng định rằng, việc áp dụng các Luật Thủy sản, Luật Hợp tác xã, Luật tài nguyên và khoáng sản, Luật môi trường và các nghị định của Chính phủ, các thông tư hướng dẫn của các Bộ quản lý chuyên ngành… đã có tác dụng nâng cao ý thức chấp hành pháp luật hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, nhưng đồng thời cũng chỉ ra một số quyền căn bản của tổ chức kinh tế hợp tác được vận dụng trong quá trình sản xuất nhằm khuyến khích và bảo vệ quyền lợi của cộng đồng

Như vậy, từ những cơ sở lý luận nêu trên khẳng định rằng, nguồn lợi thuỷ sản nói chung, nguồn lợi nghêu tự nhiên nói riêng là tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Tổ chức, cá nhân có quyền khai thác nguồn lợi nghêu tự nhiên theo quy định của pháp luật Nguyên tắc hoạt động quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên là phải bảo đảm phát triển bền vững

và có trách nhiệm Khai thác phải gắn với bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi nghêu tự nhiên, gắn với bảo vệ môi trường; đồng thời, phải thích ứng với biến đổi khí hậu; chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ tác hại của thiên tai, phòng chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn thực phẩm Bảo đảm chia sẻ lợi ích, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng nguồn lợi nghêu tự

Trang 26

19

nhiên hoặc hoạt động các ngành nghề có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi nghêu

tự nhiên Hoạt động quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên phải kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia khu vực biên giới biển; tuân theo quy định của pháp luật có liên quan, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 27

20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC, PHÂN PHỐI NGUỒN LỢI NGHÊU TỰ NHIÊN TẠI BẾN TRE VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chẳng những Bến Tre đứng đầu về diện tích nuôi nghêu, mà chất lượng con nghêu ở Bến Tre cũng không nơi nào sánh bằng1 Đó là lợi thế cho Bến Tre phát triển mạnh nghề nuôi nghêu để xuất khẩu, mang lại nguồn ngoại tệ không nhỏ cho địa phương; đồng thời, đây cũng là nghề xóa đói, giảm nghèo và giải quyết công ăn, việc làm cho hàng ngàn người dân có thu nhập thấp ở địa phương, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà Tuy nhiên, hiện nay Bến Tre chỉ khai thác được trên 50% tiềm năng diện tích hiện

có, nếu được khai thác một cách triệt để, sản lượng nghêu thương phẩm ở Bến Tre

có thể đạt hàng trăm ngàn tấn/năm, mang lại nhiều lợi ích cho địa phương

2.1 Tổng quan đặc điểm của nghêu tự nhiên tại Bến Tre

Bến Tre là tỉnh có diện tích nuôi nghêu và bãi nghêu giống tự nhiên đứng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước Theo đánh giá của Sở Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre: “Trữ lượng nghêu của toàn tỉnh Bến Tre ước tính khoảng 216.000 - 456.000 tấn, khả năng khai thác là 150.000 - 312.000 tấn/năm, trong đó sản lượng chủ yếu là khai thác tự nhiên, còn sản lượng nuôi chỉ khoảng 20.000 - 50.000 tấn/năm” 2 Có thể thấy, Bến Tre là một tỉnh có nguồn trữ lượng nghêu hết sức dồi dào, nhưng việc khai thác nghêu tự nhiên hiện nay toàn tỉnh chỉ khoảng trên 15.000 ha là chưa tương xứng với tiềm năng, trong

đó huyện Bình Đại (xã Thới Thuận và xã Thừa Đức) có diện tích lớn nhất là khoảng 5.400 ha, huyện Ba Tri (xã Bảo Thuận và xã An Thủy) gần 5.000 ha, huyện Thạnh Phú (xã Thạnh Phong và xã Thạnh Hải) trên 3.700 ha Diện tích bãi nghêu bố, mẹ chủ yếu nằm ở các cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, khoảng 389 ha

Với lợi thế nằm sát bờ biển Đông, có chiều dài bờ biển khoảng 65 km, hình thành nên bãi bồi rộng lớn trải dài từ hyện Bình Đại, Ba Tri đến Thạnh Phú với diện tích trên 15.000 ha nằm trong vùng Plume nhiều phù sa, dưỡng chất của Sông

1 ngheu.html

www.vca.org.vn/tin /13187-ben-tre-tim-giai-phap-phat-trien-vung-nuoi-2 Tham luận của ông Huỳnh Văn Cung, CCT Chi cục Thủy sản Bến Tre

Trang 28

có 9 Hợp tác xã thủy sản nuôi nghêu và 35 tập đoàn (Tổ hợp tác) nuôi nghêu, tập trung chủ yếu ở ba huyện ven biển là Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú, có trên 11.042 hộ gia đình tham gia nuôi nghêu

Hàng năm, nguồn lợi nghêu tại địa phương cho sản lượng rất lớn Sản lượng thu hoạch bình quân khoảng 9.000 tấn/năm đối với nghêu thịt, cao điểm lên đến 37.000 tấn/năm; nghêu giống bình quân dao động từ 400 - 500 tấn/năm, cao điểm trên 1.000 tấn/năm và ngày càng phát triển với mật độ dày và quy mô rộng hơn, sản lượng nghêu giống trong tỉnh có chiều hướng ngày càng tăng là do quá trình khai thác có chú trọng đến việc bảo tồn đàn nghêu bố mẹ Việc quản lý, bảo vệ, khai thác, bán sản phẩm nghêu tự nhiên có sự tham gia của cộng đồng địa phương

là tương đối toàn diện

Nghêu Bến Tre là một trong những loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, được xuất khẩu và ưa chuộng trên nhiều thị trường thế giới, không chỉ bởi giá trị dinh dưỡng mà còn là sản phẩm sạch, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm của EU; đặc biệt, từ năm 2009, các vùng nuôi nghêu ở Bến Tre được Hội đồng bảo tồn biển quốc tế cấp chứng nhận thương hiệu MSC (Marine Stewardship Council), đây là điều kiện thuận lợi để nâng vị thế con nghêu Bến Tre lên tầm cao mới, đồng thời

là điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư phát triển nhanh và bền vững ngành chế biến hải sản của Bến Tre Kể từ khi được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn thương hiệu MSC (nghề cá đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á được cấp chứng nhận này), nghề nuôi nghêu Bến Tre đã đạt được những lợi ích to lớn về môi trường, sinh thái, quản lý và cả về lợi ích kinh tế, đây cũng là cơ sở cho việc xác định mục tiêu và các phương pháp phát triển bền vững nghề nuôi nghêu Tuy nhiên, trước áp lực cạnh tranh trên con đường thâm nhập vào thị trường EU và các nước, vùng lãnh thổ ở khu vực Châu Á (Nhật Bản, Singapore, HongKong…) con nghêu Bến Tre đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức mới

3 phat-trien-ben-vung.html

Trang 29

http://www.thesaigontimes.vn/164812/DBSCL-truoc-nhung-thach-thuc-ve-22

Những năm qua, tỉnh Bến Tre đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thủy sản, trong đó có quản lý, khai thác nguồn lợi từ con nghêu, như: ưu đãi thuế suất, miễn giảm tiền thuê đất, mặt nước trong thời gian xây dựng dự án; cam kết sẽ tạo môi trường đầu tư thuận lợi, an toàn và tin cậy cho các nhà đầu tư Thực tế đã triển khai các dự án liên quan đến con nghêu như: Trại sản xuất giống tập trung mở rộng tại xã Thới Thuận, huyện Bình Đại; khu sản xuất giống thủy sản tập trung tại xã Thừa Đức, huyện Bình Đại; khu sản xuất giống thủy sản tập trung tại Cồn Bửng, thuộc xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú… Đặc biệt, để đạt mục đích phát triển nghề nuôi nghêu hiệu quả và bền vững, khai thác tốt tiềm năng đất đai, bãi bồi ven biển, đồng thời đảm bảo an toàn giống các loại nhuyễn thể hai mãnh vỏ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 16/2009/QĐ-UBND ngày 10 tháng 9 năm 2009, quy định về việc sản xuất, ương giống và nuôi nghêu thương phẩm trên địa bàn tỉnh Bến Tre; quy định này cũng

đã chỉ rõ từ khâu khai thác con giống đến việc ương nuôi con giống, cũng như việc nuôi nghêu thương phẩm và có những quy hoạch cụ thể cho cả địa bàn nuôi, nhằm phát triển bền vững con nghêu của tỉnh trong tương lai, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích kinh tế và môi trường

2.2 Quá trình phát triển các mô hình khai thác nghêu tự nhiên tại Bến Tre

Từ năm 1980 trở về trước, người dân nơi đây chỉ dựa vào các bãi nghêu giống tự nhiên thu nhặt về làm thực phẩm hoặc mang đi bán lẻ ở các chợ nông thôn để đổi lấy mắm, muối và một ít lương thực, thực phẩm về trang trải cho cuộc sống gia đình Cuối những năm 1980 một số thương gia Hồng Kông, Đài Loan thông qua các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản trong nước đến khảo sát đặt quan hệ mua bán nghêu nhưng chỉ ở qui mô nhỏ lẻ theo dạng buôn chuyến thì phong trào nuôi nghêu bằng con giống tự nhiên mới bắt đầu phát triển Từ các bãi nghêu giống tự nhiên ở xã Thạnh Phong - huyện Thạnh Phú, xã Thới Thuận và xã Thừa Đức - huyện Bình Đại người ta thu nhặt và mang đi rải nuôi ở các khu vực lân cận với quy mô, sản lượng phát triển lớn dần theo nhu cầu của thị trường tiêu thụ ở một vài quốc gia của Châu Á dưới dạng sản phẩm nghêu luộc cấp đông

Do đặc điểm con nghêu là nguồn tài nguyên sinh học có khả năng tái tạo nhưng rất dễ bị tổn thương, nguồn lợi có thể bị cạn kiệt, môi trường thiên nhiên sẽ suy thoái nếu cộng đồng ngư dân không gắn liền việc khai thác sử dụng với bảo

vệ nguồn lợi Mặt khác, con nghêu còn là mặt hàng thủy sản xuất khẩu có giá trị

Ngày đăng: 30/12/2020, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (4/2009), “Quy hoạch và phát triển nuôi trồng thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy hoạch và phát triển nuôi trồng thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015, định hướng đến năm 2020
5. Các tổ chức Liên Hợp quốc tại Việt Nam: Tài liệu thảo luận số 1, “Hội nhập kinh tế quốc tế, khả năng cạnh tranh và đời sống nông thôn ở Việt Nam”. Hà Nội, tháng 4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hội nhập kinh tế quốc tế, khả năng cạnh tranh và đời sống nông thôn ở Việt Nam”
6. Dự án VIE/07/030, “Hướng dẫn phát triển quản lý nuôi trồng thủy sản dựa vào cộng đồng tự quản”. Hà Nội, tháng 7/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn phát triển quản lý nuôi trồng thủy sản dựa vào cộng đồng tự quản”
8. Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, “Báo cáo tổng kết và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre”, từ năm 2010 đến 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổng kết và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre”
9. Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre (2007), “Đề án phát triển toàn diện ba huyện ven biển tỉnh Bến Tre đến năm 2020”, Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đề án phát triển toàn diện ba huyện ven biển tỉnh Bến Tre đến năm 2020”
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre
Năm: 2007
10. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, “Báo cáo tổng kết thực hiện kế hoạch công tác năm”, từ năm 2010 đến 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổng kết thực hiện kế hoạch công tác năm”
11. Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre (2010), “Quy hoạch nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020”, Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy hoạch nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020”
Tác giả: Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre
Năm: 2010
12. Lê Xinh Nhân (2010), “Tiềm năng và định hướng phát triển bền vững thủy sản Bến Tre”, Luận văn Thạc sĩ Địa lý học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiềm năng và định hướng phát triển bền vững thủy sản Bến Tre”
Tác giả: Lê Xinh Nhân
Năm: 2010
13. Trần Thị Thu Nga (11/2008), “Quá trình phát triển và định hướng của ngành thủy sản Bến Tre sau khi gia nhập WTO”, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quá trình phát triển và định hướng của ngành thủy sản Bến Tre sau khi gia nhập WTO”
14. PGS. TS Hà Xuân Thông (2007), “Đẩy nhanh phát triển nuôi trồng thủy sản phát triển hiện đại, hiệu quả bền vững”, Viện kinh tế và Quy hoạch thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đẩy nhanh phát triển nuôi trồng thủy sản phát triển hiện đại, hiệu quả bền vững”
Tác giả: PGS. TS Hà Xuân Thông
Năm: 2007
15. PGS. TS Nguyễn Thị Kim Anh – CN Trần Thị Thu Nga (2009), “Khai thác và phát triển nguồn lợi nhuyễn thể vùng ven biển theo mô hình Hợp tác xã kiểu mới – Trường hợp của vùng nghêu Bến Tre”, Trường Đại học Nha Trang – Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khai thác và phát triển nguồn lợi nhuyễn thể vùng ven biển theo mô hình Hợp tác xã kiểu mới – Trường hợp của vùng nghêu Bến Tre”
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Thị Kim Anh – CN Trần Thị Thu Nga
Năm: 2009
16. Đỗ Văn Thông (2012), “Thủy sản Bến Tre – xứng đáng với quê hương đồng khởi”, Tạp chí Thương mại Thủy sản, số (149) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thủy sản Bến Tre – xứng đáng với quê hương đồng khởi”
Tác giả: Đỗ Văn Thông
Năm: 2012
1. Trung ương Đảng (02/2007), Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Khác
2. Tỉnh ủy Bến Tre (4/2007), Chương trình hành động số 11-CTr/TU ngày 19/4/2007 của Tỉnh ủy Bến Tre thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Khác
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (11/2009), “Chương trình hành động quốc gia về phát triển bền vững ngành thủy sản trong điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới Khác
17. Báo cáo số 692/BC-CAH ngày 23/6/2014 của Công an huyện Bình Đại về tình hình liên quan công tác quản lý, khai thác con nghêu Khác
18. Báo cáo số 88/BC-CAH ngày 19/6/2014 của Công an huyện Thạnh Phú về tình hình, kết quả công tác quản lý, khai thác nghêu và công tác đảm bảo an ninh, trật tự Khác
19. Báo cáo số 377/BC-CAH ngày 16/6/2014 của Công an huyện Ba Tri về tình hình liên quan công tác quản lý, khai thác con nghêu trên địa bàn huyện Ba Tri Khác
20. Báo cáo số 88/BC ngày 20/6/2014 của Phòng An ninh kinh tế về tình hình liên quan đến công tác quản lý, khai thác con nghêu từ năm 2009 đến nay Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w