1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa của đài PT TH vĩnh long

129 52 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài, luận văn khảo sát đánh giá thực trạng quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá tại Đài PTTH Vĩnh Long. Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng của vấn đề này trong thời gian sắp tới.

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-QUẢN TRỊ QUY TRÌNH SẢN XUẤT CÁC

CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH XÃ HỘI HÓA

CỦA ĐÀI PT-TH VĨNH LONG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới

sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc, trung thực Các số liệu, những kết luận chính được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Trần Ngọc Minh Nguyệt

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xin được bày tỏ lòng cảm ơn trân trọng tới các giảng viên Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, trường Đại học KHXH và NV – ĐHQG Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa học

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị

Trường Giang, người đã quan tâm, động viên, khích lệ, nhiệt tình hướng dẫn và

tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Học viên

Trần Ngọc Minh Nguyệt

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH XÃ HỘI HÓA 121.1 Những khái niệm, thuật ngữ liên quan 12

trong lĩnh vực báo chí 17

hóa và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả của hoạt động này 191.4 Mục đích, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá 23

CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH XÃ HỘI HÓA CỦA ĐÀI PT-TH VĨNH LONG TỪ THÁNG 1 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2019 39

tại Đài 39

2.2 Quản trị quy trình sản xuất chương trình truyền hình thuộc mô hình liên kết “Giao quyền sản xuất và khai thác” 48

kết sản xuất và khai thác” 57

kết sản xuất, độc quyền khai thác” 65

LƯỢNG QUẢN TRỊ QUY TRÌNH SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH XÃ HỘI HÓA 783.1 Những thành công, hạn chế và nguyên nhân của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa tại đài PT-TH Vĩnh Long 783.2 Những vấn đề đặt ra 88

Trang 6

3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa 94KẾT LUẬN 103TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Sơ đồ tổ chức Đài PT-TH Vĩnh Long 40Bảng 2.2 Bảng tóm tắt lịch sử phát triển của đài PT-TH Vĩnh Long 40Bảng 2.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ban quản lý các chương trình liên kết của Đài PT-

TH Vĩnh Long 44Bảng 2.4 Sơ đồ quy trình sản xuất các chương trình truyền hình thuộc mô hình liên kết “Giao quyền sản xuất và khai thác” 48Bảng 2.5 Sơ đồ quy trình sản xuất các chương trình truyền hình thuộc mô hình liên kết “Liên kết sản xuất và khai thác” 57Bảng 2.6 Sơ đồ quy trình sản xuất các chương trình truyền hình thuộc mô hình liên kết “Liên kết sản xuất, độc quyền khai thác” 66Bảng 3.1 Bảng rating khung phim Việt 20h tại thị trường TP Hồ Chí Minh (Nguồn Kantar Media) 79Bảng 3.2 Bảng rating khung phim Việt 20h tại thị trường TP Cần Thơ (Nguồn Kantar Media) 79Bảng 3.3 Bảng rating các chương trình Gameshow – Giải trí truyền hình tại thị trường TP Cần Thơ (Nguồn Kantar Media) 81

Trang 8

Trong quá trình đó, tự chủ sản xuất các chương trình giải trí vẫn luôn là một bài toán khó đối với đài PT-TH Vĩnh Long

Nếu như tất cả các đài truyền hình nằm trong top dẫn đầu đều có trụ sở hoạt động ở những thành phố lớn, nơi được xem là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế,

xã hội lớn của cả nước và có được nhiều điều kiện nhân lực, vật lực khá tốt cho việc sản xuất các chương trình truyền hình (phim trường, thiết bị, công nghệ hãng phim riêng ) thì với đài PT-TH Vĩnh Long, mọi khâu trong quy trình sản xuất đều có thể dùng hai từ “khó khăn” để hình dung Không chỉ thiếu thốn về máy móc, nhân lực, Đài còn gặp phải cách trở về địa lý nếu muốn tiếp cận những điều kiện sản xuất nội dung tốt nhất vốn chỉ có ở những thành phố lớn (trường quay, đạo diễn, chuyên gia, nghệ sĩ, MC )

Và chủ trương của Đảng và Nhà nước về khuyến khích xã hội hóa truyền hình được cụ thể hóa bằng các văn bản qui phạm pháp luật nhằm định hướng và tạo điều kiện cho báo chí nói chung và ngành truyền hình nói riêng chính là giải pháp,

là lời giải hiệu quả nhất cho bài toán chủ động, nâng cao chất lượng, hiệu quả khâu sản xuất chương trình truyền hình của đài PT-TH Vĩnh Long Đặc biệt trong sản xuất các chương trình giải trí – mảng nội dung chủ chốt giúp tạo nên sức thu hút và mang lại doanh thu cao cho đơn vị Vì lẽ đó, đài PT-TH Vĩnh Long đã tham gia vào hoạt động xã hội hóa truyền hình một cách tích cực, mạnh mẽ và đạt được những

Trang 9

thành tựu đáng kể khi trở thành đài truyền hình có doanh thu cao thứ 2 cả nước (sau VTV) năm 2018

Nhưng bất cứ vấn đề nào cũng có tính hai mặt Bên cạnh những thành tựu không thể phủ nhận khi giải quyết khó khăn về mặt nhân sự, máy móc, nội dung, kỹ thuật thì xã hội hóa truyền hình cũng gợi lên những băn khoăn trong việc giải quyết các khúc mắc liên quan đến mối quan hệ tác động giữa đài truyền hình, công

ty truyền thông tư nhân và công chúng; liên quan đến quản trị, định hướng nội

dung, thể loại chương trình Từ đó, vấn đề được đặt ra là: Làm thế nào để khai thác,

tận dụng có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình song lại không bị chi phối, thao túng bởi chính các đối tác tham gia vào hoạt động đó? Hay nói cách khác là: Làm thế nào để “quản trị” một cách hiệu quả nhất quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa để mỗi chương trình xã hội hóa khi lên sóng truyền hình luôn là những sản phẩm chỉnh chu, đẹp về hình thức, tốt về nội dung theo đúng tinh thần, mục đích, tôn chỉ của một cơ quan báo hình?

Đã hơn 10 năm kể từ khi đài PT-TH Vĩnh Long bắt đầu thực hiện xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình Từ những ngày đầu bỡ ngỡ, cho đến nay, có thể nói Đài đã có được những kinh nghiệm quý giá từ hoạt động này và thực hiện nó ngày một tích cực, hiệu quả hơn Tuy nhiên, đạt được thành quả đã khó, duy trì và phát triển lại là một quá trình khó hơn rất nhiều lần Đặc biệt trong tình hình việc cạnh tranh mảng các chương trình giải trí truyền hình càng trở nên gay gắt hơn với những đối thủ mới đến từ các nền tảng giải trí đa phương tiện, từ mạng xã hội và từ chính sự “thay lòng” của khán giả Họ không ngừng tìm thấy sự thỏa mãn về nhu cầu giải trí ở nhiều kênh thông tin khác, không còn cảm thấy truyền hình mới là sự lựa chọn duy nhất Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải nhìn lại con đường thành công

trong quá khứ, hệ thống một cách toàn diện nhất về “Quản trị quy trình sản xuất

các chương trình truyền hình xã hội hóa của Đài PT-TH Vĩnh Long” Từ đó

nhận ra những ưu điểm, hạn chế, những điểm phù hợp và chưa phù hợp và tiến tới

đề xuất những giải pháp mới nhằm có được hướng đi, sự thích nghi tốt nhất giúp

Trang 10

mảng các chương trình truyền hình xã hội hóa của Đài tiếp tục là “con át chủ bài” quan trọng và then chốt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tăng trưởng về doanh thu lẫn thị phần khán giả giữa bối cảnh đầy thách thức nhưng cũng không ít cơ hội này

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở cấp độ giảng dạy, các giáo trình, nghiên cứu ở các trường đại học, đáng

chú ý có sách chuyên khảo “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt

Nam hiện nay” của Đinh Thị Xuân Hòa, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội

2014 Cuốn sách làm rõ cơ sở lý luận và một số vấn đề thực tiễn về xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình như: làm rõ khái niệm, những yếu tố thúc đẩy sự ra đời và phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình; các hình thức xã hội hóa chương trình truyền hình [14]

Ở cấp độ nghiên cứu, có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lý luận

và thực tiễn trong lĩnh vực tổ chức sản xuất, xã hội hoá sản xuất các chương trình truyền hình và quản lý báo chí Cụ thể:

- Nhóm đề tài khoa học nghiên cứu về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực tổ chức sản xuất, xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình:

Hoạt động xã hội hoá sản xuất chương trình của Đài Truyền hình Thành phố

Hồ Chí Minh Định hướng và phát triển – Dương Thanh Tùng (2012) Luận văn

Thạc sĩ Báo chí học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xã hội hoá truyền hình Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện các mô hình liên kết sản xuất phù hợp với định hướng phát triển báo chí theo quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước

Vấn đề xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình trên hệ thống truyền hình cáp của Đài PTTH Hà Nội (Khảo sát 5 kênh xã hội hoá của HCATV từ năm

2010 – 2013) – Tô Thị Nhàn (2015) Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Đại học Khoa

học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã nêu rõ các khung

Trang 11

khái niệm về xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình và vai trò của nó trong hoạt động sản xuất chương trình truyền hình Tuy nhiên việc khảo sát chỉ mới dừng lại ở việc phân tích các hình thức, mức độ xã hội hoá của Đài PTTH Hà Nội, chưa chỉ ra một cách rõ ràng các phương thức quản lý các chương trình xã hội hoá cũng như chưa đề cập đến hoạt động xã hội hoá trên truyền hình

Đảm bảo định hướng chính trị trong xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình trả tiền – Nguyễn Đình Hải (2015) Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Học viện

Báo chí và Tuyên truyền Luận văn đã hệ thống hoá các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến vấn đề định hướng chính trị của hoạt động báo chí nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng Từ việc khảo sát, phân tích, đánh giá những chương trình đang được hợp tác, luận văn chỉ ra được những mặt hạn chế và nêu ra được những kiến nghị, giải pháp có tính khả thi nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của vấn đề đảm bảo định hướng chính trị trong quá trình xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình trả tiền hiện nay

Vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí của các đài PT-TH khu vực Đông Bắc hiện nay (Khảo sát các đài Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh năm 2015) – Nguyễn Xuân Bằng (2018) Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Học viện

Báo chí và Tuyên truyền Luận văn tìm hiểu công tác tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình như một hình thức báo chí mới xuất hiện, những thế mạnh của nó trong việc thu hút khán giả truyền hình Trên cơ sở khảo sát một số chương trình truyền hình đã và đang phát sóng trên các đài PT-TH Bắc Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh để đưa ra những nhận định, phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình truyền hình nói chung

- Nhóm đề tài nghiên cứu về lĩnh vực quản lý báo chí:

Quản lý các chương trình xã hội hoá trên hệ thống VTVCab, Đài Truyền hình Việt Nam – Hán Việt Linh (2017) Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Học viện

Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Tác giả luận văn thông qua hệ thống những vấn

đề lý luận liên quan và khảo sát thực tiễn đã chỉ ra thực trạng, ưu, nhược điểm của việc quản lý các chương trình xã hội hoá trên hệ thống truyền hình trả tiền

Trang 12

VTVCab Từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị phù hợp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả việc quản lý các chương trình truyền hình xã hội hoá của Đài

Quản lý các chương trình xã hội hoá trên kênh VTV2 Đài Truyền hình Việt Nam (Khảo sát từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2018) – Nguyễn Dương Chân (2019)

Luận văn Thạc sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Từ việc

hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quản lý các hoạt động xã hội hoá và quản lý các chương trình xã hội hoá trên truyền hình; khảo sát đánh giá thực trạng quản lý các chương trình xã hội hoá trên kênh VTV2, tác giả đã đề xuất định hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý các chương trình xã hội hoá của Đài Truyền hình Việt Nam trong thời gian tới

Các công trình nghiên cứu khoa học trên đều có những đóng góp hết sức giá trị khi hệ thống rõ nét một số vấn đề lý luận và đề xuất những giải pháp thiết thực tăng cường hiệu quả của xã hội hoá sản xuất và quản lý các chương trình truyền hình xã hội hoá Tuy nhiên các công trình khoa học chỉ phân tích về lý luận và thực tiễn quản lý sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá mà chưa đi vào nghiên cứu ở một mức độ rộng lớn hơn là quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình đó, nhất là những chương trình của Đài PT-TH Vĩnh Long Cùng tham gia xã hội hoá sản xuất chương trình nhưng bằng những nét riêng trong quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá, cụ thể là chủ động nâng cao vai trò, trách nhiệm của Đài nhưng vẫn đặt trong mối quan hệ tương tác với các công ty truyền thông, qua đó đạt được những thành tựu đáng kể trong xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình Đó chính là nét mới về lý luận và thực tiễn

để đề tài tập trung nghiên cứu Để làm rõ về khung lý thuyết trong vấn đề quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá của Đài PT-TH Vĩnh Long, trong luận văn này, tác giả đã kế thừa ý tưởng của những nghiên cứu đi trước

và coi đó là tiền đề lý luận và thực tiễn để triển khai đề tài nghiên cứu của mình

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài, luận văn khảo sát đánh giá thực trạng quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá tại Đài PT-TH Vĩnh Long Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng của vấn

đề này trong thời gian sắp tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích, tác giả xác định những nhiệm vụ nghiên cứu chính sau: - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa: những khái niệm, thuật ngữ liên quan; chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về xã hội hoá trong lĩnh vực báo chí; vai trò của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả của hoạt động này; mục đích, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá…

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa của Đài PT-TH Vĩnh Long

- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu: Các chương trình truyền hình xã hội

hoá của đài PT-TH Vĩnh Long bao gồm: Chương trình khoa giáo- giải trí ngắn,

Phim truyện Việt Nam, Truyền hình thực tế - Gameshow Lý do tác giả luận văn lựa

chọn những chương trình này vì đây là những chương trình truyền hình chủ lực thuộc mảng giải trí được lãnh đạo Đài quan tâm đầu tư về mọi mặt, và là những

Trang 14

chương trình truyền hình được tiến hành xã hội hóa sớm nhất, có tuổi thọ lâu dài nhất đồng thời cũng là những chương trình đã góp phần đáng kể nhất về mặt chỉ số khán giả và doanh thu cho Đài

Thời gian khảo sát: từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 6 năm 2019

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

5.1 Cơ sở lý luận:

Đề tài tiếp cận mục tiêu và các nội dung nghiên cứu dựa trên những cơ sở lý luận sau đây: Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về hoạt động xã hội hóa truyền hình; về đạo đức người làm báo; truyền thông đại chúng; truyền hình…

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sẽ được thực hiện theo các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tìm hiểu nội dung các tài liệu, công trình

nghiên cứu của các nhà khoa học, học giả, học viên đã thực hiện trước đây và các chương trình xã hội hóa truyền hình để tích lũy thông tin và kiến thức thuộc lĩnh vực đang nghiên cứu, từ đó làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình

- Phương pháp ph ng vấn s u: đưa ra những câu hỏi phỏng vấn ý kiến các

nhà quản lý báo chí là tổng biên tập, trưởng ban biên tập, các nhà quản lý, điều hành của các công ty đối tác để có thêm dẫn chứng thuyết phục để làm rõ các luận điểm

- Phương pháp khảo sát bằng bảng h i: từ yêu cầu làm rõ hiệu quả của các

chương trình truyền hình xã hội hoá được quản trị quy trình sản xuất thể hiện qua cảm nhận, đánh giá, nhận xét của khán giả xem đài đối với các chương trình này, người viết đưa ra mẫu khảo sát và tiến hành thăm dò ý kiến khoảng 200 khán giả ở

độ tuổi, giới tính khác nhau…Kết quả thống kê thực tế khảo sát dư luận xã hội là dẫn chứng xác đáng để khẳng định các luận điểm trong quá trình phân tích

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: khảo sát các chương trình xã hội hóa

ở mảng giải trí của Đài PT-TH Vĩnh Long để thu được các số liệu cụ thể phản ánh thực trạng quản trị quy trình sản xuất các chương trình xã hội hóa truyền hình của đơn vị từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 6 năm 2019

Trang 15

Ngoài ra trong luận văn này tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như

so sánh, phân tích, đối chiếu…để góp phần làm rõ đặc điểm, ưu và hạn chế của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá tại Đài PT-TH Vĩnh Long nói chung và giai đoạn 6 tháng đầu năm 2019 nói riêng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn góp phần bổ sung thêm vào hệ thống lý luận về quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá, trong chủ trương phát triển nền kinh tế báo chí của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị các chương trình truyền hình xã hội hoá, đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình xã hội hóa theo hướng vừa hấp dẫn, vừa đảm bảo nhiệm vụ tuyên truyền của một cơ quan báo chí

Kết quả đạt được của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích về vấn

đề quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá cho các đơn

vị, cá nhân làm truyền hình, tham gia công tác xã hội hoá truyền hình

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa

Chương 2: Thực trạng quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa của đài PT-TH Vĩnh Long từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 6 năm

2019

Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN TRỊ QUY TRÌNH SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH XÃ HỘI HÓA

1.1 Những khái niệm, thuật ngữ liên quan

1.1.1 Quản trị

Khi nói về quản trị, người ta thường đặt nó trong mối liên hệ so sánh với

“quản lý” Theo từ điển tiếng Việt, quản lý là “trông nom, chịu trách nhiệm trước

một công việc” [29, tr.98] và quản trị được biết đến với tính chất rộng lớn hơn

Có rất nhiều quan niệm về quản trị Trong giáo trình “Quản trị học căn bản”

do T.S Trần Đăng Thịnh chủ biên, đã đưa ra hai khái niệm về quản trị của hai nhà nghiên cứu khoa học quản trị:

Theo F.W.Taylor (1856-1915), tác giả của học thuyết “Quản trị khoa học”,

“Quản trị là nghệ thuật của sự hiểu rõ mình muốn làm gì và sau đó thấy được cách

để làm việc đó một cách rẻ và tốt nhất” [39, tr.10]

Còn theo H.Fayol (1841-1925), tác giả của học thuyết “Quản trị hành chính”,

“Quản trị là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát” [39,

tr.10]

Trong quyển “Quản trị ngành công tác xã hội” do Trịnh Thị Chinh chủ biên,

đã đề cập đến khái niệm về quản trị của một số học giả nước ngoài:

James H.Donnelly, JR James L.Gibson và John M.Ivancevich cho rằng:

“Quản trị là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được những kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được” [5, tr.13]

Hai tác giả là James Stoner và Stephen Robbins vào những năm 80 của thế

kỷ XX cho rằng: “Quản trị là một tiến trình bao gồm việc hoạch định, tổ chức, quản

trị con người và kiểm tra các hoạt động trong một đơn vị một cách có hệ thống nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị đó” [5, tr.14]

Từ hai khái niệm trên, tác giả Trịnh Thị Chinh cũng đã đưa ra nhận định khái

quát: “Quản trị là một phương pháp, một tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo,

Trang 17

điều khiển, kiểm tra và đánh giá các hoạt động của một hay nhiều người nhằm hoàn thành mục tiêu và kết quả mong đợi” [5, tr.14]

Sau khi tham khảo qua một số định nghĩa về quản trị, có thể rút ra một định

nghĩa riêng được sử dụng trong luận văn này: “Quản trị là quá trình hoạch định, tổ

chức, lãnh đạo, kiểm soát những hoạt động trong một đơn vị, tổ chức một cách có

hệ thống nhằm hoàn thành mục tiêu và kết quả mong đợi của đơn vị, tổ chức đó”

Như vậy, khi đặt trong sự so sánh đơn giản, có thể nhận thấy quản trị có quy

mô và tính chất rộng lớn hơn quản lý Quản lý thể hiện sự trông nom, chịu trách nhiệm trước một công việc, một nhiệm vụ cụ thể trong khi quản trị lại có trách nhiệm dự báo, lập kế hoạch, và triển khai thực hiện một nhiệm vụ trước khi kiểm soát, giải quyết các vấn đề phát sinh khi thực hiện và đánh giá hiệu quả của nhiệm

vụ đó

Các chương trình truyền hình xã hội hóa hiện nay là sản phẩm truyền hình được sản xuất bởi sự liên kết giữa đài truyền hình và các đơn vị, tổ chức, cá nhân ngoài ngành thường được biết đến một cách phổ biến là các công ty truyền thông

Khi tham gia vào hoạt động liên kết này, đài truyền hình không chỉ “trông nom” quá trình sản xuất và “chịu trách nhiệm” kiểm tra sản phẩm mà đài truyền hình cần

tham gia với một vai trò to lớn, linh hoạt và quan trọng hơn là quản trị các quy trình sản xuất Theo đó, đài truyền hình sẽ thực hiện các chức năng cơ bản của quản trị trong dự báo, hoạch định, định hướng các mục tiêu kế hoạch cần thực hiện; tổ chức, quản lý, giám sát quy trình sản xuất; lãnh đạo giải quyết các vấn đề phát sinh và kiểm tra, đánh giá thành phẩm của các chương trình liên kết thông qua quá trình làm việc, trao đổi, bàn bạc cùng các công ty truyền thông Từ đó đi đến sự đồng thuận, thống nhất chung nhằm đảm bảo hoàn thành có hiệu quả quy trình sản xuất

đã đề ra Tất cả các chương trình truyền hình xã hội hoá khi lên sóng truyền hình đều là những chương trình chất lượng, hội đủ tiêu chí về nội dung, tư tưởng, hình thức…đáp ứng những yêu cầu khắt khe về nhiều mặt đối với các sản phẩm truyền hình theo quy định của Đảng và Nhà nước

Trang 18

1.1.2 Quy trình sản xuất

Theo từ điển tiếng Việt, quy trình “là trình tự phải tu n theo để tiến hành

một công việc nào đó” [29,tr.107] Còn sản xuất là “hoạt động tạo ra vật phẩm cho

xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động lên đối tượng lao động”

[29,tr.810]

Như vậy có thể hiểu quy trình sản xuất là trình tự các bước tiến hành có tính

chất bắt buộc theo một trình tự nhất định, cần phải trải qua để làm ra một sản phẩm nào đó Ở mỗi quy trình sản xuất, người ta phải quan tâm và xác định rõ ràng

các yếu tố: nguyên liệu đầu vào là những gì? ở trạng thái như thế nào? Quy trình sản xuất gồm những công đoạn nào? Theo trình tự ra sao? Làm gì và làm như thế nào tại mỗi công đoạn? Thành phẩm của quá trình sản xuất ấy là gì? Mức độ đạt được thế nào?

Từ quan niệm về quy trình như trên, đối với quy trình sản xuất chương trình

truyền hình được hiểu là: các công đoạn thao tác, xử lý chuyên môn, nghiệp vụ bắt

buộc để sản xuất ra một chương trình truyền hình (như chương trình thời sự, chuyên mục, giải trí, phim truyện…) bắt đầu từ khâu sáng tạo tác phẩm cho đến khi sản phẩm được công chúng tiếp nhận, thưởng thức…theo một trình tự các bước nhất định Do các chương trình truyền hình luôn phong phú, đa dạng về thể loại nên quy trình sản xuất sản phẩm được đưa ra là khác nhau để phù hợp với đặc trưng của từng thể loại

1.1.3 Xã hội hóa truyền hình

Thuật ngữ “Xã hội hóa” xuất hiện vào những năm đầu của thế kỷ XX Từ đó đến nay, thuật ngữ này được dùng trong nhiều lĩnh vực với nhiều ý nghĩa và cách hiểu không hoàn toàn giống nhau

Theo J Macionis John: “Xã hội hóa là một khái niệm của nhân loại học và

xã hội học được định nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời qua

đó cá nh n phát triển khả năng con người và học h i các mẫu văn hóa của mình”

[26,tr.154] Đây là quan điểm, khái niệm được đưa ra từ cách phân tích quá trình vận động, biến đổi nhận thức, hành động của con người Tuy đã đề cập được đặc

Trang 19

điểm của xã hội hoá nhưng khái niệm này chưa xác định được nội hàm trọng tâm của thuật ngữ xã hội hoá

Theo từ điển tiếng Anh: “socialize: act in a sociable manner” với nghĩa “làm một việc gì đó theo cách hoà đồng, hoà mình vào cách chung của xã hội” hay

“make social”: làm thành của chung của tập thể, hoặc “organize on socialistic principles” tổ chức theo cách chung của xã hội [34,tr1036]

Còn theo từ điển tiếng Việt, “xã hội hoá” là: “Làm cho trở thành của chung

của xã hội” [29,tr.1051]

Dù mỗi dân tộc về mặt ngôn ngữ có định nghĩa khác nhau về cụm từ “xã hội hoá” nhưng nhìn chung có sự tiệm cận ở việc cho rằng: xã hội hoá đó là biến một hoạt động hay một sự vật nào đó thành của chung, mang tính quần chúng rộng rãi

Ở nước ta, cụn từ xã hội hoá xuất hiện vào khoảng cuối thập niên 90 của thế

kỷ trước và trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, phổ biến và được hiểu là huy động các nguồn lực của cả xã hội vào một lĩnh vực, một hoạt động nào đó mà trước kia chỉ có đơn vị nhà nước tham gia, thực hiện trên cơ sở các quy định, các quy chuẩn theo yêu cầu của nhà nước

Khi nghiên cứu về “Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở

Việt Nam hiện nay”, tác giả Đinh Thị Xuân Hòa quan niệm: “Xã hội hóa quá trình

huy động mọi nguồn lực của xã hội vào một hay nhiều lĩnh vực hoạt động nào đó,

mà trước đ y do một tổ chức có chức năng quản lý và thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho cộng đồng” [13, tr.11] Có thể nói đây là quan niệm có nội dung được xem

là gần gũi với cách hiểu phổ biến về “xã hội hóa” hiện nay và cũng là cơ sở cho quá trình nghiên cứu về vấn đề xã hội hóa của luận văn này

Với cách hiểu trên, xã hội hóa truyền hình thực chất là “sự tham gia vào quá

trình sản xuất chương trình từ bên ngoài ngành truyền hình” Nếu như trước kia,

các chương trình truyền hình lên sóng đều là những sản phẩm của cán bộ, viên chức thuộc đài truyền hình, được tổ chức sản xuất bằng vốn, thiết bị kỹ thuật và các điều kiện khác của chính đài truyền hình đó thì hiện nay, các đơn vị “bên ngoài ngành truyền hình” gồm các công ty truyền thông tư nhân, các đơn vị cung ứng thiết bị, kỹ

Trang 20

thuật đều có thể tham gia từ một phần đến toàn phần trong quy trình sản xuất, tạo

ra các sản phẩm phát sóng, các chương trình truyền hình đặt dưới sự quản trị một phần hoặc toàn phần của các đài truyền hình

Tại Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 (Nha Trang - Khánh Hòa), Ông Trần Đăng Tuấn - Phó Tổng giám đốc thường trực Đài truyền hình Việt Nam

khẳng định: “Bản chất của xã hội hoá không phải là vì tiền, mà là việc lôi kéo nhiều

đơn vị, tổ chức tham gia vào quá trình sản xuất chương trình, nhằm giảm tải cho nhà Đài cũng như tạo ra hiệu quả tốt nhất cho các chương trình truyền hình Và nó

sẽ thu hút được sự quan tâm và ủng hộ của công chúng”

Mang nội hàm đó, khái niệm xã hội hóa truyền hình đã hàm chứa trong nó cả mục tiêu xây dựng một nền truyền hình hiện đại nhờ phát huy tối đa các nguồn lực của xã hội Đây cũng là con đường để việc sản xuất các chương trình truyền hình đi theo hướng chuyên môn hóa, chất lượng và năng suất cao hơn

1.1.4 Chương trình truyền hình xã hội hóa

Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn “Chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay

nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng tương đối ổn định và được phát theo định kỳ” [37,tr.142]

Ở Việt Nam, chương trình truyền hình được hiểu theo dạng phổ biến là những tiết mục được phát sóng trên truyền hình Trong quá trình hoạt động, các đài truyền hình sẽ xây dựng một khung phát sóng với nhiều tiết mục, chương trình truyền hình khác nhau liên kết lại và được sắp xếp theo những vị trí, thứ tự đa dạng tùy vào quan điểm, mục đích, ý đồ khai thác của từng đơn vị

Có rất nhiều thể loại chương trình truyền hình, tên gọi, sự phân chia, khu biệt các thể loại chương trình có sự thay đổi qua các thời kỳ, tùy thuộc vào tính chất và

xu hướng của các chương trình truyền hình Nếu như ở thời kỳ đầu của ngành truyền hình, về cơ bản, có các loại chương trình truyền hình phổ biến sau: chương trình thời sự - chính luận, chương trình khoa giáo và chương trình giải trí thì hiện nay, đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí ngày càng cao của khán giả, chương trình

Trang 21

truyền hình cũng vì thế mà trở nên phong phú, đa dạng hơn với sự xuất hiện của các thể loại chương trình mới, chủ yếu là thông tin kinh tế, văn hóa thể thao và du lịch, các chương trình truyền hình thực tế và gameshow

Chương trình truyền hình vốn là những sản phẩm thuộc ngành truyền hình, được thực hiện bởi chính nhân lực, vật lực, tài lực của một đài truyền hình Tuy nhiên, với số lượng đông đảo các đài truyền hình từ Trung ương đến địa phương cùng hàng trăm kênh truyền hình khác, vấn đề sản xuất những chương trình truyền hình phong phú, hấp dẫn trở thành một thách thức lớn đối với những người làm truyền hình Nếu các đài tự sản xuất là lấp đầy thời lượng phát sóng sẽ khiến tổng chi phí đội lên rất cao nhưng chưa chắc sẽ đảm bảo được chất lượng chương trình Theo xu hướng xã hội hóa truyền hình, các đài truyền hình sẽ tận dụng những nguồn lực trong xã hội (nguồn lực vật chất, nguồn lực sáng tạo) thông qua các hình thức liên kết, hợp tác với các tổ chức, đơn vị, cá nhân ngoài ngành truyền hình để từ

đó có được những chương trình truyền hình ngày một phong phú, đa dạng hơn Và những chương trình phát sóng truyền hình có yếu tố tận dụng nguồn lực, liên kết hợp tác với các đơn vị, tổ chức, cá nhân bên ngoài ngành truyền hình sẽ được gọi là

các “chương trình truyền hình xã hội hóa”

Như vậy, “quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội

hoá” thực chất là tiến trình mà đài truyền hình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm

soát quy trình sản xuất gồm trình tự các bước cần phải trải qua để có được những chương trình phát sóng truyền hình có yếu tố tận dụng nguồn lực, liên kết hợp tác với các đơn vị, tổ chức, cá nhân bên ngoài ngành truyền hình Từ đó vừa nâng cao chất lượng, số lượng các chương trình phát sóng truyền trình, vừa đáp ứng nhu cầu

đa dạng của công chúng, vừa thúc đẩy sự phát triển của chính đài truyền hình nói riêng và ngành truyền hình nói chung

1.2 Chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí

Tư tưởng về “xã hội hóa” được Đảng đề cập đến từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII và được cụ thể hóa trong Văn

Trang 22

kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng thông qua nhấn mạnh một

lần nữa chủ trương các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã

hội hóa

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục cụ thể hóa

“đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo” và “xúc tiến xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin với bước đi thích hợp cho từng loại hình, từng vùng”

Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 16-6-2008, của Bộ Chính trị khóa IX, về “Tiếp tục

xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” chỉ rõ, xây dựng và

thực hiện có hiệu quả kế hoạch xã hội hóa các hoạt động văn học - nghệ thuật, làm

rõ các lĩnh vực cần xã hội hóa, lĩnh vực của Nhà nước và nhân dân cùng làm, lĩnh vực Nhà nước phải đầu tư, bảo tồn, xây dựng và phát triển

Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số

90/NQ-CP, ngày 21-8-1997, về “Phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt

động giáo dục, y tế và văn hóa”; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP, ngày 19-8-1999, về

“Chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y

tế, văn hóa, thể thao”; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP, ngày 18-4-2005, về “Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao” Nghị

quyết số 05 khẳng định, xã hội hóa nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng ban hành Chỉ thị số

32/2008/CT-BVHTTDL, ngày 08-4-2008, về “Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả

hoạt động xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch” với mục tiêu phát

huy tiềm năng trí tuệ, sự sáng tạo, cơ sở vật chất, công sức của nhân dân và các lực lượng xã hội cùng Nhà nước góp phần chăm lo cho sự nghiệp phát triển văn hóa, thể thao và du lịch của đất nước

Xuất phát từ yêu cầu, nhu cầu thực tiễn phát triển xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình, cho đến năm 2009, Bộ Thông tin - Truyền thông mới chính thức ban hành Thông tư liên quan đến xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình Cụ thể là Thông

tư số 19/2009/ TT-BTTTT ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ Thông tin và Truyền

Trang 23

thông quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình Đây là văn bản pháp lý đầu tiên cho phép các đài phát thanh, truyền hình thực hiện hoạt động xã hội hóa với các nội dung quy định khá cụ thể về phạm

vi điều chỉnh và đối tượng; các hình thức, nguyên tắc hoạt động liên kết; các chương trình không được tham gia liên kết; điều kiện liên kết; quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên kết Có thể nói, Thông tư số 19/2009/ TT-BTTTT được xem là văn bản tiên phong, mở đường cho hoạt động liên kết một cách công khai, hợp pháp của các đài phát thanh, truyền hình với các đơn vị khác ngoài ngành

1.3 Vai trò của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả của hoạt động này

1.3.1 Vai trò của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình

Với sự phát triển của xã hội hoá sản xuất chương trình, các chương trình truyền hình xã hội hoá ngày càng chiếm số lượng lớn trong tổng số chương trình truyền hình nói chung và trong khung chương trình của từng kênh, đài truyền hình nói riêng Trong khi đó, các chương trình truyền hình xã hội hoá đa số tập trung ở mảng giải trí nên dễ dàng thu hút lượng lớn khán giả xem truyền hình, có sức lan tỏa mạnh mẽ và nhanh chóng trong xã hội khi phát sóng Do đó, việc kiểm soát chất lượng, nội dung tư tưởng của những chương trình này là hết sức cần thiết và phải được thực hiện một cách chặt chẽ

Trang 24

Quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá, đài truyền hình có nhiều cơ hội và sự chủ động để đảm bảo định hướng chính trị của chương trình, từ khâu hoạch định sản xuất, tổ chức, lãnh đạo sản xuất cho đến kiểm soát thành phẩm trước phát sóng Làm tốt vai trò này, các đài truyền hình không chỉ hoàn thành nhiệm vụ của một cơ quan báo chí mà còn nâng cao uy tín của đơn vị trong lòng khán giả bởi sau cùng, những chương trình truyền hình có chất lượng tốt, tạo được hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, tích cực trong xã hội mới có được chỗ đứng và sức sống bền vững trong lòng công chúng

Quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá giúp nhà đài có thêm nguồn chương trình phong phú, đa dạng, chất lượng phục vụ công chúng

Bản chất của hoạt động xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình là mở rộng sự tham gia của các cá nhân hay đơn vị bên ngoài cùng sản xuất chương trình truyền hình phục vụ công chúng Nhu cầu thưởng thức chương trình truyền hình của khán giả trong xã hội thông tin hiện đại ngày càng lớn về số lượng và chất lượng Đáp ứng tốt nhu cầu đó không phải là một vấn đề đơn giản Vì vậy, xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình có ý nghĩa rất lớn trong việc làm phong phú hơn số lượng chương trình phát sóng truyền hình, tạo ra cơ hội tăng thêm lượng chương trình thoả mãn nhu cầu nắm bắt thông tin, thưởng thức truyền hình của khán giả

Một chương trình truyền hình có chất lượng tốt không chỉ thu hút được khán giả, tạo ra nguồn doanh thu cho đơn vị mà còn góp phần thực hiện chủ trương tuyên truyền, định hướng xã hội mà Đảng và Nhà nước đã giao phó cho các cơ quan báo chí Sự phong phú trong nội dung và hình thức chương trình truyền hình không chỉ đáp ứng tốt nhu cầu thông tin, giải trí, làm phong phú hơn đời sống tinh thần của người thưởng lãm mà còn mang đến những giá trị nhân văn, thẩm mỹ, nâng cao dân trí, mở mang tầm nhìn

Quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá giúp nhà đài định hình phong cách và bản sắc thông qua sự chủ động trong định hướng nội dung, thể loại chương trình

Trang 25

Cả nước có hơn 60 đài truyền hình và trong xu thế xã hội hóa truyền hình, hàng trăm kênh truyền hình ra đời Giữa bạt ngàn kênh sóng và mênh mông chương trình, phải làm sao để khán giả chú ý nhận diện được thương hiệu và bản sắc của một đài truyền hình thông qua những chương trình mà họ có? Hòa vào xu hướng chung nhưng tạo ra nét riêng độc đáo, đầy sức hút chính là một mục tiêu quan trọng của những người làm truyền hình Với quản trị quy trình sản xuất chương trình truyền hình xã hội hoá, đài truyền hình sẽ phải phát huy vai trò của mình trong định hướng thể loại, nội dung chương trình cần liên kết sản xuất dựa trên những nhận định, nhu cầu riêng về thị hiếu khán giả và mục tiêu của đơn vị

Quản trị tốt quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá góp phần giảm tải gánh nặng cho nhà đài về mặt kỹ thuật và nhân sự

Xã hội hoá chương trình truyền hình giúp các đài truyền hình huy động nhiều nguồn lực về con người và kỹ thuật để phục vụ việc sản xuất chương trình truyền hình Sau hơn 10 năm xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình, có một thực tế phải thừa nhận rằng nếu không có sự tham gia của các công ty truyền thông, các đơn vị sản xuất bên ngoài, bản thân các đài truyền hình sẽ không thể tự sản xuất ra một lượng lớn chương trình truyền hình như đã có Thậm chí, với một số đài truyền hình, dù đã có trong tay hàng chục chương trình đặc sắc đủ sức làm nên thương hiệu riêng nhưng chính bản thân đơn vị sẽ không thể tự mình sản xuất được những chương trình có chất lượng tương tự

Quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá tạo điều kiện nâng cao chất lượng đội ngũ người làm báo

Xã hội quá sản xuất chương trình truyền hình giúp nhà đài giảm gánh nặng

về nhân sự nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu bức thiết về nâng cao chất lượng đội ngũ làm nghề Quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá, nhà đài có trách nhiệm định hướng thể loại nội dung chương trình; đánh giá, lựa chọn những ý tưởng, kịch bản, format tiềm năng và nghiệm thu chất lượng thành phẩm Để làm được điều đó, đòi hỏi năng lực vượt trội và không ngừng được nâng cao của đội ngũ biên tập lẫn các nhà quản lý Đội ngũ người làm báo của đài

Trang 26

truyền hình không chỉ phải có bản lĩnh lãnh đạo để quản trị quy trình sản xuất một cách hiệu quả mà còn phải có năng lực chuyên môn tương ứng để tham gia vào hoạt động quản trị đó trong vai trò, trách nhiệm được phân công Ví dụ một biên tập viên truyền hình không phải là một biên kịch nhưng phải đánh giá được chất lượng kịch bản, chỉ ra những ưu nhược điểm của kịch bản và đề xuất phương án chỉnh sửa hợp

lý, tạo cơ sở dữ liệu, tham mưu hiệu quả cho cấp cao hơn

Ngoài ra, tham gia vào quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá cùng các công ty truyền thông được xem là sở hữu lực lượng và hạ tầng kỹ thuật tiên tiến, mỗi cá nhân có liên quan phía đài truyền hình sẽ có cơ hội tiếp xúc, học hỏi những ưu điểm, thành tựu của đối tác trong suốt quá trình liên kết Đây là quá trình trao đổi hai chiều, đôi bên cùng có lợi Ở phía ngược lại, đội ngũ nhân lực của các công ty truyền thông cũng sẽ nhận thức được những tiêu chí, yêu cầu cơ bản của một sản phẩm truyền hình hay một tác phẩm báo chí Hiểu được giá trị của truyền hình, sức lan tỏa cùng hiệu ứng liên quan của một chương trình truyền hình

để từ đó có những định hướng tốt hơn, phù hợp hơn trong hoạt động nghề nghiệp của họ

1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa

Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, khán giả hiện nay đang đứng trước rất nhiều sự chọn lựa để phục phụ nhu cầu giải trí, nắm bắt thông tin Nhu cầu thưởng thức chương trình truyền hình của khán giả cũng vì thế mà ngày thêm đa dạng nhưng lại có dấu hiệu bão hoà Một chương trình giải trí truyền hình trước đây có thể dễ dàng thu hút được sự quan tâm chú ý của khán giả thì nay lại trở nên khó khăn hơn bởi “món ngon ăn quá cũng nhàm” Vì vậy, nhiệm vụ bắt buộc đối với truyền hình là phải mang đến những món ăn tinh thần “ngon hơn, độc đáo hơn nữa”

Yêu cầu về chất lượng chương trình truyền hình mỗi lúc một nâng cao là vậy nhưng nguyên liệu sản xuất thì đang ngày một cạn kiệt Những ý tưởng hay, những format tốt đang ngày càng trở nên khan hiếm Để cải thiện tình hình, các đài truyền

Trang 27

hình không thể cứ giao phó việc sáng tác, tìm kiếm ý tưởng cho các công ty truyền thông mà phải tham gia vào định hướng, sáng tạo ý tưởng thông qua vai trò quản trị của mình

Lượng chương trình xã hội hóa ngày càng nhiều, lĩnh vực tham gia, các hạng mục ngày càng phong phú, đa dạng đòi hỏi quản trị phải ngày càng sát sao, hiệu quả hơn nhằm tránh tối đa mọi sơ sót cũng như đưa ra được phương án chỉnh sửa, cải tạo hợp lý trong những trường hợp quan trọng, cần thiết

Số lượng chương trình truyền hình xã hội hoá vẫn đang tăng nhưng không tỉ

lệ thuận với chất lượng Những chương trình mang tính đột phá thì ít ỏi, đa phần là những chương trình na ná, tương tự nhau được khai thác trùng lắp, giẫm chân lên nhau giữa các đài truyền hình Sự cạnh tranh giữa các đài truyền hình với nhau, giữa đài truyền hình với các nền tảng nội dung số ngày một gay gắt… đòi hỏi đài truyền hình phải tham gia vào hoạt động quản trị một cách tích cực, hiệu quả hơn nhằm vừa có thể tận dụng ý tưởng, tiềm lực từ các đối tác; vừa định hướng, dẫn dắt, đưa ra những yêu cầu, ý tưởng mang tính đột phá, đủ sức tạo ra những chương trình

có hiệu quả khai thác cao nhưng vẫn mang đậm bản sắc, nét riêng của đơn vị

Một lượng không nhỏ các chương trình xã hội hóa đang vấp phải sự phản ứng tiêu cực từ khán giả khi sa đà vào những nội dung gây sốc, phản cảm, có tính chất câu dẫn nhằm tăng lượng người xem Do đó, cần có sự kiểm soát gắt gao hơn nữa từ những người làm báo trong vai trò quản trị nhằm đảm bảo định hướng, chất lượng, tôn chỉ, mục tiêu của các chương trình truyền hình xã hội hoá, mang đến những chương trình vừa có đủ sức hút đối với người xem, vừa gây dựng, bảo toàn

uy tín cho đơn vị nói riêng và nghề báo nói chung

1.4 Mục đích, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá

1.4.1 Mục đích

Quản trị là một khái niệm thường được sử dụng trong lĩnh vực kinh doanh Tuy nhiên đối với quản trị quy trình sản xuất, thì mục đích của quản trị về cơ bản vẫn không có nhiều khác biệt Theo đó, trong quản trị quy trình sản xuất các chương

Trang 28

trình truyền hình xã hội hóa, mục đích của đài truyền hình là tập hợp các nguồn lực lại với nhau, bao gồm nguồn lực về con người để hoàn thành các mục tiêu mong muốn và sử dụng các nguồn lực sẵn có một cách hiệu quả

Thông qua quản trị, nhà quản trị cần đảm bảo rằng mọi khâu trong quy trình đều đi đúng hướng, đều hướng đến việc cung cấp những chương trình mà khán giả cần về mặt đạo đức đồng thời hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền đặc thù của đơn vị

Trong bất kỳ mối quan hệ liên kết, hợp tác nào cũng tiềm ẩn và dễ dàng phát sinh những vấn đề, rủi ro do những sự khác biệt trong nhận thức, mục tiêu và quyền lợi của các bên Đặc biệt khi đó là mối quan hệ hợp tác sản xuất chương trình giữa một cơ quan báo chí thuộc nhà nước như đài truyền hình và công ty truyền thông tư nhân Quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình, mục đích của đài truyền hình là đặt ra hệ thống những nguyên tắc, thoả thuận và ràng buộc đối tác của mình tuân theo dưới hình thức của những bản cam kết, hợp đồng tương ứng và

từ đó hạn chế tối đa những rủi ro, những vấn đề phát sinh trong suốt quá trình hợp tác, hoàn thành những mục tiêu mà đài truyền hình mong muốn đạt được

Ngoài ra, với chức năng hoạch định của quản trị, nhà quản trị là đài truyền hình có thể thực hiện mục đích sản xuất được nhiều chương trình truyền hình có chất lượng cao vừa thoả mãn thị hiếu khán giả, vừa mang lại doanh thu đồng thời đảm bảo chức năng tuyên truyền của một cơ quan báo hình Tuy nhiên, mục đích này đạt được trong sự chủ động, thông qua những tác động tích cực vào các khâu của quy trình sản xuất mà không phải thụ động trông chờ vào năng lực của đối tác liên kết sản xuất trong quy trình này

Bên cạnh đó, quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình còn giúp đài truyền hình đạt được các mục đích quan trọng khác:

Phát huy, vai trò năng lực của cơ quan báo chí trong định hướng, tổ chức sản xuất và kiểm soát chất lượng chương trình truyền hình

Tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng doanh thu, nâng cao giá trị thương hiệu bằng những chương trình hiệu quả cao, chi phí sản xuất hợp lý và thu được quảng cáo

Trang 29

Hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền mà Đảng và nhà nước giao phó đồng thời đóng góp vào sự phát triển của xã hội trong vai trò một đơn vị sự nghiệp có nguồn thu tốt

1.4.2 Chủ thể

Chủ thể của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa là đài truyền hình Tuy nhiên, nhà đài sẽ chịu sự quản lý của những cấp cao hơn Ví dụ Đài ở cấp Trung ương thì có Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý; các đài địa phương thì có Ủy ban nhân dân và Sở thông tin và Truyền thông quản lý Các chủ thể quản lý này có những tác động về mặt định hướng đối với đài truyền hình, từ đó có những tác động gián tiếp đến quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa thông qua chủ thể trực tiếp quản trị các quy trình này là đài truyền hình

Để quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa, đài truyền hình sẽ căn cứ vào quy định, chuyên môn, nhiệm vụ của mỗi cá nhân, mỗi phòng ban để từ đó có sự phân chia hợp lý Khi đó, mỗi vị trí sẽ được phân tầng và đảm nhiệm những vai trò khác nhau, từ các biên tập viên cho đến các nhà quản lý

Về cơ bản, quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa sẽ có

sự liên quan mật thiết giữa 3 yếu tố: nội dung, tài chính và quảng cáo Theo đó, tham gia quản trị quy trình sản xuất là các phòng chuyên môn thuộc các yếu tố này như: phòng tài chính, phòng quảng cáo và phòng nội dung Tất cả đặt dưới sự quản

lý và chịu trách nhiệm cao nhất của chủ thể chính: người đứng đầu đài truyền hình Như vậy, cơ cấu tham gia quản trị quy trình sản xuất của đài truyền hình cơ bản như sau:

Giám đốc: chủ thể quản trị chính, chịu trách nhiệm chính về tất cả các vấn đề

liên quan đến các quy trình sản xuất mà đài truyền hình tham gia quản trị

Phòng dịch vụ quảng cáo: tham mưu, tư vấn và thực hiện tất các các vấn đề,

nhiệm vụ liên quan đến quảng cáo: hợp đồng quảng cáo, doanh thu quảng cáo, đối tác quảng cáo

Trang 30

Phòng tài chính kế toán: tham mưu, tư vấn và thực hiện tất các các vấn đề,

nhiệm vụ liên quan đến chi phí sản xuất và doanh thu

Các phòng chuyên môn: với đội ngũ biên tập viên lành nghề, cách phòng

chuyên môn chịu trách nhiệm đánh giá chất lượng các kịch bản, format mà đối tác chào Tham mưu tư vấn trở lại đối với lãnh đạo phòng, sau nữa là giám đốc Khi hoạt động liên kết sản xuất được chấp thuận, biên tập viên của các phòng chuyên môn sẽ chịu trách nhiệm theo dõi, đánh giá chất lượng các chương trình thành phẩm; đề xuất phương án chỉnh sửa, nghiệm thu hoặc không nghiệm thu và chịu trách nhiệm trực tiếp đối với các chương trình được phân công phụ trách giai đoạn trước phát sóng, trong sự quản lý, chấp thuận của người đứng đầu đài truyền hình

Ưu điểm của các chủ thể quản trị này ở chỗ họ đều là những nhà báo, nhà quản lý có thời gian hoạt động và kinh nghiệm đối với lĩnh vực báo chí Họ được đào tạo trình độ lý luận chính trị Họ am hiểu, nắm vững nguyên tắc hoạt động của một cơ quan báo chí, đạo đức, lý tưởng nghề báo Đặc biệt là các tiêu chí cần có đối với một chương trình truyền hình Khi tham gia quản trị quy trình sản xuất chương trình truyền hình xã hội hoá, họ vừa là những người “gác cổng” khó tính nhưng đồng thời cũng là những người tham gia sáng tạo nội dung theo định hướng chung của đơn vị

Tóm lại, chủ thể quản trị quy trình sản xuất chương trình truyền hình xã hội hoá trong nghiên cứu này chính là đài PT-TH Vĩnh Long Dù chương trình do THVL liên kết sản xuất với đối tác bên ngoài thì Đài vẫn là chủ thể quản trị quy trình sản xuất từ khâu hoạch định, xác lập mục tiêu cho đến kiểm soát, đánh giá chất lượng của chương trình thành phẩm Điều này được thực hiện dựa trên quy định của pháp luật, đặc biệt là luật Báo chí về nhiệm vụ và quyền hạn của các đài phát thanh, truyền hình Theo đó, luật đã quy định cụ thể trách nhiệm của các tổng giám đốc, giám đốc các đài phát thanh, truyền hình đối với mọi hoạt động của cơ quan báo chí, trong đó có chịu trách nhiệm về nội dung chương trình Nếu người đứng đầu các đài phát thanh, truyền hình buông lỏng trách nhiệm này sẽ dẫn đến tình trạng bị

Trang 31

đối tác thao túng, kiểm soát và chi phối hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình

1.4.3 Đối tượng

Đối tượng của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá chính là các yếu tố tham gia vào quy trình đó, từ con người, nguyên liệu sản xuất, cách thức sản xuất cho đến sản phẩm sau cùng Để quản trị các đối tượng này, nhà quản trị sẽ thông qua lực lượng nhân sự có liên quan, cụ thể là đội ngũ biên tập viên, các quản lý dưới quyền phía nhà đài và các đối tác tham gia vào hoạt động sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá

Trong hoạt động sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá, chủ thể quản trị và đối tượng có mối quan hệ qua lại, gắn bó hữu cơ Quản trị là hoạt động giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người, mà cụ thể ở đây là giữa lãnh đạo nhà đài với những người làm nên những chương trình xã hội hoá trên truyền hình

Quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá là hoạt động liên quan giữa chủ thể và đối tượng quản trị Đây là mối quan hệ thường được gọi tên là hợp tác, liên kết sản xuất nhưng thực chất không phải là mối quan hệ ngang quyền khi chủ thể quản trị với vai trò và trách nhiệm được giao phó sẽ tác động bằng quyền lực đến đối tượng quản trị nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra là những chương trình truyền hình chất lượng cao Tuy nhiên, đây là một hoạt động không dễ dàng khi trong quá trình đó sẽ luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra những mâu thuẫn bởi sự khác biệt về nhận thức, quan điểm, mục tiêu của các bên tham gia Để

có một sản phẩm hoàn hảo từ quy trình trình sản xuất được quản trị, đòi hỏi công tác quản trị của nhà đài đối với các quy trình này cần phải liên tục, chặt chẽ và mang tính hệ thống cao

1.4.4 Nội dung

Quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá là một hoạt động phức tạp và kéo dài Hoạt động này có thể bắt đầu từ lúc nhà quản trị chỉ mới đưa ra dự báo và định hướng sản xuất chương trình chứ không phải chỉ bắt đầu

Trang 32

từ lúc thật sự bắt tay vào liên kết sản xuất Nhằm đạt được mục đích chủ yếu là có được những chương trình truyền hình chất lượng cao, quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình về cơ bản là thực hiện các bước của hoạt động quản trị với những đặc thù gắn với sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa

Hoạch định 1.4.4.1.

Đã làm truyền hình, đơn vị nào cũng đều muốn có được những chương trình hay nhất, chất lượng nhất và đạt hiệu quả phát sóng cao nhất Nhưng lại không dễ

để xác định cụ thể đó là chương trình thuộc thể loại nào, có nội dung, hình thức ra sao? Việc dự báo thị hiếu, nhu cầu khán giả, quy hoạch chương trình mà khán giả đang cần và đài truyền hình có đủ năng lực đáp ứng là hết sức quan trọng và là yêu cầu tiên quyết của đài truyền hình trong vai trò quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá Tiếp theo là xác định chất lượng của nguyên liệu đầu vào, năng lực của đơn vị hợp tác, cụ thể là các công ty truyền thông Nguyên liệu này có có chất lượng, tiềm năng đến đâu? Công ty này có năng lực, kinh nghiệm sản xuất ra sao? Phù hợp thế nào với dạng chương trình mà đài đang

có nhu cầu? là những câu hỏi quan trọng cần phải dự báo, đánh giá chính xác

Để có thể trả lời được những câu hỏi phục vụ cho việc hoạch định một quy trình sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa, nhà quản trị cần nắm vững, nắm

rõ những thông tin liên quan Đó là những nghiên cứu, khảo sát đáng tin cậy về thị hiếu khán giả, xu hướng nội dung, thể loại chương trình Là số liệu cụ thể về nhu cầu chương trình, sự sắp xếp khung chương trình, các khung giờ, chất lượng nhân sự…từ đó đánh giá được cần có bao nhiêu chương trình truyền hình xã hội hóa, phát sóng vào khung giờ nào, thời lượng bao nhiêu để vừa có một lượng chương trình phong phú nhưng đồng thời cũng không để xảy ra tình trạng các chương trình

xã hội hóa vốn thường thuộc thể loại giải trí xuất hiện ở tất cả các khung giờ vàng cũng như chiếm thời lượng lớn trong tổng khung chương trình của một đài truyền hình

hình xã hội hóa Trong đó, quan trọng nhất là yếu tố liên quan đến nội dung Xã hội

Trang 33

hóa sản xuất chương trình truyền hình là hoạt động không của riêng một đài truyền hình nào Thậm chí, khi có nhiều đài truyền hình tham gia mạnh mẽ vào hoạt động này, sự cạnh tranh gay gắt đã xuất hiện Các đài truyền hình vẫn thường cùng nhau cạnh tranh ở một mảng chương trình với cùng thể loại, đặc biệt là các thể loại chương trình phổ biến, có khả năng thu hút khán giả cao Ví dụ như phim truyền hình Việt và các chương trình giải trí truyền hình Khi đó, chương trình nào có nội dung tốt hơn sẽ dễ thu hút được khán giả hơn

Hoạch định, định hướng nội dung là một khâu rất quan trọng đối với quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa Đây là điều cần phải có nhưng lại không giống nhau giữa các đài truyền hình bởi mỗi đài đều có một quan điểm, nhu cầu khác nhau đối với nội dung chương trình Và quan điểm về nội dung chương trình của đài truyền hình lại có sự khác biệt với đối tác sản xuất là công ty truyền thông Trong sự khác biệt đó, sự chủ động, khả năng định hướng nội dung của đài truyền hình là rất quan trọng

Tổ chức 1.4.4.2.

Một sản phẩm tốt chỉ có thể được sản xuất từ một quy trình tốt Tổ chức, xây dựng quy trình sản xuất phù hợp với hình thức xã hội hoá được lựa chọn, thể loại chương trình muốn sản xuất và tình hình nguyên liệu đầu vào là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng của nhà quản trị Việc xây dựng này bao gồm việc thiết lập những quy định, cam kết cụ thể về vai trò, nhiệm vụ, tài chính và quyền lợi của các bên tham gia nhằm bảo đảm rằng nếu tuân thủ đúng quy trình thì sẽ có được sản phẩm như dự đoán Nói cách khác đó là việc thiết lập một quy trình sản xuất cụ thể với sự phân chia công việc, trách nhiệm giữa đài truyền hình – đơn vị sản xuất và giữa các bộ phận khác nhau trong nội bộ đài truyền hình Ở những quy trình sản xuất khác nhau, việc phân chia này cũng sẽ có những điểm khác nhau

Việc tổ chức quy trình sản xuất sẽ là trách nhiệm của nhà quản trị dựa trên đặc điểm của mô hình xã hội hóa sản xuất chương trình Từ đó sẽ có sự phân công nhiệm vụ, trách nhiệm của nhà sản xuất, của nhà đài và của các bộ phận có liên quan trong nội bộ đài truyền hình Trong đó điều cần thiết là phải xác định, phân

Trang 34

chia trách nhiệm giữa các khâu biên tập, phối hợp với đối tác, phối hợp trong nội bộ theo quy trình Từ việc lập hợp đồng, giao nhận, thẩm định kịch bản, demo, format cho tới phần hậu kỳ, chỉnh sửa thành phẩm, kiểm soát lịch phát sóng, theo dõi, đánh giá hiệu quả chương trình sau phát sóng…Việc tổ chức, phân công càng rõ ràng, hợp lý thì quy trình càng vận hành trơn tru, hiệu quả quản trị càng cao, tránh được

sự chồng chéo, giẫm chân, đổ trách nhiệm giữa các bên trong quá trình hợp tác sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa

Lãnh đạo:

1.4.4.3.

Sản xuất chương trình truyền hình là một quá trình dài với vô vàn sự thay đổi

và những vấn đề phát sinh Sự biến đổi đó bao gồm cả khách quan và chủ quan, từ

sự thay đổi của những yếu tố bên ngoài cho đến những yếu tố bên trong mối quan

hệ hợp tác Một quy trình sản xuất chặt chẽ sẽ hạn chế phần lớn những thay đổi không mong muốn này nhưng không thể hạn chế toàn bộ Lãnh đạo quy trình sản xuất chính là thông qua sự giám sát đối với quy trình sản xuất đó sẽ có những quyết định, phương án kịp thời và phù hợp đối với những thay đổi, phát sinh trong quá trình sản xuất Bảo đảm quy trình sản xuất được thực hiện đúng với những tiêu chí

về chương trình, cam kết, điều khoản về sản xuất đã được thiết lập ở khâu tổ chức trước đó

Khi quy trình sản xuất đã vận hành, lãnh đạo quy trình còn là sự tác động vào lực lượng tham gia nhằm đạt được mục tiêu sản xuất mong muốn Nếu như trong khâu tổ chức là sự sắp xếp, phân công nhân sự theo đúng năng lực, vị trí, trách nhiệm thì ở khâu lãnh đạo là sự thúc đẩy, tác động vào hệ thống nhân sự đó để quy trình được hoàn thành đúng kế hoạch và mục tiêu Như vậy, lãnh đạo quy trình không chỉ là am hiểu đối tác, cơ cấu tổ chức, chất lượng nguồn nhân lực mà còn đòi hỏi nghệ thuật dùng người khi cần chú trọng việc lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến của người lao động thuộc quy trình và đưa ra những giải pháp hợp tình hợp lý, thúc đẩy năng suất, chất lượng lao động ở tất cả các khâu trong quy trình

Lãnh đạo sản xuất chương trình truyền hình thông thường hay chương trình truyền hình xã hóa đều cần nhà quản trị có chuyên môn và trình độ văn hóa cao,

Trang 35

đồng thời phải am hiểu nhiều lĩnh vực từ tài chính đến nhân sự, từ các chương trình chính luận cho đến các thể lại giải trí để có thể nắm bắt công việc cũng như dự báo những vấn đề sẽ nảy sinh trong quá trình điều hành quy trình sản xuất và kiểm soát nội dung Trong xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình, với vai trò quản trị, đài truyền hình sẽ được quyền quyết định trong nhận xét, đánh giá chất lượng chương trình truyền hình bởi nó liên quan đến trách nhiệm của đài về các chương trình đó trước cơ quan chủ quản, trước khán giả truyền hình Trong khi đó, từ những xuất phát điểm khác nhau, giữa đài truyền hình và công ty truyền thông tư nhân sẽ

có những góc nhìn khác nhau đối với chất lượng nội dung chương trình Thay vì áp đặt, nhà quản trị cần có sự thuyết phục mềm dẻo để đối tác thấu hiểu vấn đề và chấp nhận thay đổi theo những đề xuất từ phía đài truyền hình Đó phải là những đề xuất hợp lý về mặt chuyên môn, lẫn về tình về lý Đơn phương thay đổi chỉ là giải pháp bắt buộc sau cùng Quản trị một quy trình thay vì quản lý chính là để có được sự bàn bạc, đồng thuận, thấu hiểu lẫn nhau thay vì ra lệnh, áp đặt một chiều đối với đối tác, với cấp dưới Và để đạt được điều đó, đòi hỏi kỹ năng lãnh đạo của nhà quản trị trong hoạt động chung là quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa

Kiểm soát:

1.4.4.4.

Biên tập, kiểm soát nội dung, chất lượng các sản phẩm truyền hình là nhiệm

vụ quan trọng của cơ quan báo chí nói chung và đài truyền hình nói riêng Do đó, công tác kiểm soát nội dung phải được xây dựng và thực hiện theo một quy trình chặt chẽ và khoa học Liên kết sản xuất chương trình truyền hình có ưu điểm là đài truyền hình được giảm tải hoàn toàn trong quá trình sản xuất Nhưng lại dồn gánh nặng về về phía kiểm soát chất lượng các chương trình này

Từ khâu hoạch định sản xuất cho đến lúc có được thành phẩm là một quá trình dài Nếu chỉ đợi đến khi có chương trình thành phẩm rồi mới kiểm tra thì đã là quá muộn Khi đó, mọi sự sửa chữa, thay đổi gần như đều mang tính chất chữa cháy hoặc buộc phải hủy bỏ phát sóng đối với những chương trình không đạt chất lượng

Do đó, để tăng cường hiệu quả kiểm soát chất lượng chương trình, đài truyền hình

Trang 36

phải tham gia vào hoạt động này càng sớm càng tốt Theo đó, quy trình kiểm soát không phải chỉ bắt đầu thực hiện từ khâu nhận thành phẩm mà phải được thực hiện

từ trước đó rất lâu, từ lúc bắt đầu thẩm định format, kịch bản cho đến giám sát sản xuất, nghiệm thu và duyệt phát sóng Việc kiểm soát này phải được tiến hành nhịp nhàng, chặt chẽ từ mỗi biên tập cho đến lãnh đạo bộ phận và cao hơn là tổng biên tập – người đứng đầu cơ quan báo chí đồng thời là người chịu trách nhiệm cao nhất đối với chất lượng các chương trình truyền hình xã hội hóa Trong đó, sự lơ là ở bất

cứ khâu nào của quá trình kiểm soát nội dung cũng có thể gây ra những sai sót nghiêm trọng đối với chất lượng của chương trình và ảnh hưởng đến uy tín của chính cơ quan báo chí phát sóng chương trình đó

Mục tiêu của đài truyền hình là chất lượng chương trình, đích đến của công

ty truyền thông là lợi nhuận Sự khác biệt không thể phủ nhận này có ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng chương trình truyền hình xã hội hóa Hiện tượng thường thấy trong các chương trình liên kết sản xuất là những chiêu trò câu khách, những hành

vi quảng cáo trá hình, những thông tin thiếu tin cậy trên nhiều lĩnh vực mà khán giả quan tâm, xuất hiện nhan nhản dưới nhiều hình thức một cách khéo léo Phát hiện, ngăn chặn, thay đổi những nội dung tiêu cực này là trách nhiệm thuộc về đài truyền hình Thời gian gần đây, việc kiểm soát này càng trở nên khó khăn hơn đối với một

số đài truyền hình Số lượng các chương trình truyền hình xã hội hóa không ngừng tăng lên trong khi số lượng nhân sự tham gia giám sát, kiểm duyệt lại ít ỏi dẫn đến việc kiểm soát chất lượng chương trình truyền hình xã hội hóa phần nào bị buông lỏng

Quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá, nhà đài phải luôn giữ thế chủ động Không chỉ định hướng và thiết lập một quy trình sản xuất hiệu quả, phù hợp với kế hoạch, mục tiêu, tiêu chí, năng lực của bản thân đài truyền hình lẫn đối tác mà còn phải đủ sáng suốt trong đánh giá quá trình hợp tác, chất lượng thành phẩm, phương án xử lý Từ đó, sẵn sàng, quyết đoán khi đưa ra quyết định tiếp tục hay dừng lại việc hợp tác sản xuất khi đối tác không đáp ứng

Trang 37

được yêu cầu của nhà đài, sản phẩm truyền hình có chất lượng không đảm bảo theo tiêu chí mà đài đưa ra trước đó

Như vậy, để quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá, đài truyền hình cần tuân thủ các quy định có liên quan đến hoạt động này để từ

đó áp dụng vào các hình thức liên kết sản xuất cũng như đề ra các tiêu chí cụ thể trong sản xuất và kiểm soát chất lượng các chương trình Cụ thể như sau:

Thông tư số 19/2009/TT-BTTTT quy định về “Liên kết trong hoạt động sản

xuất chương trình phát thanh, truyền hình” gồm 3 chương, 13 điều có quy định

chung về: phạm vi, đối tượng, các hình thức hợp tác, nguyên tắc trong hoạt động liên kết

Trong Nghị định số 06/2016/NĐ-CP quy định về “Quản lý, cung cấp và sử

dụng dịch vụ phát thanh và truyền hình” cũng đã có thêm những quy định đối với

“Liên kết sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình” Tại điều 16 của nghị định

này quy định: đơn vị có giấy phép sản xuất kênh chương trình trong nước được lựa chọn đối tác để liên kết sản xuất một phần hoặc toàn bộ chương trình, kênh chương trình và quyết định nội dung phát sóng của chương trình, kênh chương trình liên kết

Trang 38

Điều 9, chương I của luật Báo chí năm 2016 quy định các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có một số quy định cần lưu ý áp dụng trong kiểm duyệt nội dung các chương trình truyền hình: Thông tin cổ suý các hủ tục mê tín, dị đoan, thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội Kích động bạo lực, miêu tả tỉ

mỉ những hành động dâm ô, hành vi tội ác, thông tin không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam Thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em

Điều 7 và điều 9 chương I của luật Quảng cáo năm 2013 quy định về “sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cấm quảng cáo” và “hành vi cấm trong hoạt động quảng cáo” cũng đề ra những lưu ý quan trọng cần áp dụng trong kiểm duyệt nội dung các chương trình truyền hình: Cấm quảng cáo đối với: thuốc lá, rượu có nồng độ cồn từ

15 độ trở lên Cấm hành vi quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Cấm hành vi quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng lại của tổ chức, cá nhân khác

Phương thức quản trị dựa trên mô hình xã hội hoá 1.4.5.2.

Cùng là hoạt động liên kết sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hoá, nhưng với những loại chương trình khác nhau, khung giờ phát sóng khác nhau mà đài truyền hình có sự tính toán và đưa ra những mô hình hợp tác, liên kết sản xuất cũng như những quy trình sản xuất khác nhau Đối với những mô hình không giống nhau thì vai trò, cách thức quản trị của đài truyền hình cũng có một số điểm khác nhau Có thể nhận thấy các đài truyền hình tồn thường tại một số mô hình xã hội hoá sản xuất chương trình truyền hình như sau:

Giao quyền sản xuất và khai thác: hình thức này còn được gọi là xã hội hoá

khung giờ Đài truyền hình sẽ lựa chọn một số khung giờ mà họ muốn thực hiện xã hội hoá và kêu gọi đối tác sản xuất chương trình cho khung giờ đó Với hình thức này, đài truyền hình sẽ thu một số tiền cố định theo thỏa thuận, các chi phí sản xuất

Trang 39

chương trình và lợi nhuận thu được từ việc phát sóng sẽ do đối tác toàn quyền phụ trách

Liên kết sản xuất và khai thác: nhà đài và công ty truyền thông cùng liên kết

sản xuất chương trình và khai thác hiệu quả chương trình thông qua kinh doanh lợi nhuận từ quảng cáo Doanh thu được chia theo tỉ lệ thỏa thuận, chi phí sản xuất được trả bằng quảng cáo Trong mô hình này và “trao quyền sản xuất, khai thác”, đơn vị xã hội hoá phải tự tìm kiếm tài trợ và chào bán quảng cáo nhằm bù đắp càng nhiều càng tốt chi phí sản xuất chương trình mà họ bỏ ra

Liên kết sản xuất, độc quyền khai thác: đối với phương thức này, đơn vị xã

hội hoá được hiểu là đơn vị sản xuất gia công cho đài truyền hình Họ hoặc là chào bán sản phẩm của mình theo giá mong muốn hoặc là sản xuất theo đơn đặt hàng của đài truyền hình và thu phí sản xuất Sau khi nghiệm thu thành phẩm và thanh toán chi phí cho đơn vị sản xuất, đài truyền hình toàn quyền khai thác đối với chương trình truyền hình xã hội hoá này

Phương thức quản trị dựa trên đặc điểm quy trình sản xuất chương 1.4.5.3.

trình truyền hình

Các chương trình liên kết sản xuất được gọi chung là chương trình truyền hình xã hội hoá nhưng thực chất các chương trình này lại có những quy trình sản xuất khác nhau, tùy theo đặc điểm, tính chất của mô hình xã hội hoá đi kèm

Đối với quy trình sản xuất các chương trình thuộc mô hình “giao quyền sản xuất và khai thác” Trong mô hình này, công ty truyền thông chủ động hoàn toàn

trong khâu sản xuất Phía đài truyền hình ngoài việc đánh giá, góp ý và chấp thuận format chung của chương trình lúc ban đầu thì không can thiệp vào khâu sản xuất

Do đó, đối với mô hình xã hội hoá này, quy trình sản xuất cũng chỉ gói gọn trong các khâu như: hoạch định giờ phát sóng, thời lượng, số lượng chương trình, duyệt format tổng và kiểm soát chất lượng thành phẩm và bỏ qua khâu giám sát sản xuất

Đối với quy trình sản xuất các chương trình thuộc mô hình “liên kết sản xuất

và khai thác” Trong quy trình này, do có liên quan đến quyền lợi nên đài truyền

hình sẽ chủ động hơn trong quản trị nội dung, bao gồm khâu giám sát sản xuất để

Trang 40

hạn chế tối đa những rủi ro gây ảnh hưởng đến chất lượng chương trình thành phẩm Ngoài đài truyền hình, công ty truyền thông cũng chịu ảnh hưởng liên quan đến hiệu quả khai thác chương trình nên họ cũng sẽ giữ vai trò chủ động trong tìm kiếm format và chăm chút cho khâu sản xuất Từ đó, hoạt động quản trị của đài truyền hình ở quy trình này sẽ phong phú hơn, trách nhiệm nhiều hơn khi có sự tham gia ở mức độ nhất định đối với quá trình sản xuất chương trình

Đối với quy trình sản xuất các chương trình thuộc mô hình “liên kết sản xuất, độc quyền kinh doanh” Vai trò, trách nhiệm quản trị của đài truyền hình trong

quy trình này là vô cùng quan trọng khi so sánh với các quy trình khác Vì là đơn vị đặt hàng sản xuất, đài truyền hình không chỉ phải chủ động hơn trong khâu hoạch định mà còn tích cực và tỉ mỉ hơn trong khâu giám sát sản xuất, kiểm soát thành phẩm bởi chất lượng chương trình liên quan trực tiếp đến quyền lợi của đài truyền hình ở cả mặt nội dung và lợi nhuận

Phương thức quản trị dựa trên các công cụ khảo sát và thống kê 1.4.5.4.

Trong sản xuất chương trình truyền hình, việc có thể trả lời được câu hỏi

“Sản xuất chương trình gì, có nội dung ra sao” là rất quan trọng Nó đặc biệt quan trọng trong khâu định hướng sản xuất chương trình – một trong những khâu chủ chốt của quản trị quy trình sản xuất chương trình truyền hình Cần rất nhiều nguồn thông tin cùng với khả năng phán đoán của nhà quản trị để có thể trả lời câu hỏi này một cách chính xác Trong đó, dữ liệu đáng tin cậy, hiệu quả nhất là những kết quả thăm dò về xu hướng, thị hiếu của khán giả đối với nội dung và thể loại các chương trình truyền hình được thực hiện thông qua nhiều công cụ khác nhau Phổ biến nhất hiện nay là khảo sát thông qua kết quả rating được đo lường bởi công ty Kantar Media

Có thể nói, chỉ số khán giả - rating là số liệu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với đài truyền hình trong dự báo, hoạch định nội dung, thể loại chương trình khi bắt đầu một quy trình liên kết sản xuất mới Giữ vai trò định hướng sự phát triển của chương trình truyền hình nói riêng và ngành truyền hình nói chung

Ngày đăng: 30/12/2020, 15:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Thông tin và Truyền thông, Thông tƣ số 19/2009/TT-BTTTT ngày 28/5/2009, Quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình
3. Lê Thanh Bình (2009) Một số vấn đề về quản lý Nhà nước kinh tế, văn hóa, giáo dục trên thế giới và Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản lý Nhà nước kinh tế, văn hóa, giáo dục trên thế giới và Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
4. Lê Thanh Bình (2009) Quản lý Nhà nước về pháp luật và báo chí, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về pháp luật và báo chí
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
5. Trịnh Thị Chinh (2012), Quản trị ngành công tác xã hội, NXB Lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngành công tác xã hội
Tác giả: Trịnh Thị Chinh
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2012
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh x y dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Cổng thông tin điện tử Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh x y dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020, Cổng thông tin điện tử Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020
10. Hoàng Đình Cúc - Đức Dũng (2007) Những vấn đề của báo chí hiện đại, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
11. Đức Dũng (2010), Báo chí và đào tạo báo chí, NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và đào tạo báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2010
12. Vũ Thị Thu Hà (2007), Vấn đề xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình hiện nay, Luận văn Cao học, Khoa Báo chí và truyền thông, Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Thu Hà
Năm: 2007
14. Đinh Thị Xuân Hòa (2014), Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đinh Thị Xuân Hòa
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền thông
Năm: 2014
15. Học viện Hành chính Quốc gia (2005) Quản lý Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực
Nhà XB: NXB Giáo Dục
16. Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2006) Tác phẩm báo chí, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
17. Đinh Văn Hường (2006) Các thể loại báo chí thông tấn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí thông tấn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
18. Đặng Thị Thu Hương (2002) Quản lý và kinh doanh báo chí trong cơ chế thị trường, Tạp chí Người làm báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và kinh doanh báo chí trong cơ chế thị trường
19. Đặng Thị Thu Hương (2009), Phát thanh trong cuộc cạnh tranh truyền thông đại chúng, Đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát thanh trong cuộc cạnh tranh truyền thông đại chúng
Tác giả: Đặng Thị Thu Hương
Năm: 2009
20. Đặng Thị Thu Hương (2010), Chức năng, nhiệm vụ của báo chí cách mạng Việt Nam trong tình hình mới, Tạp chí Người làm báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng, nhiệm vụ của báo chí cách mạng Việt Nam trong tình hình mới
Tác giả: Đặng Thị Thu Hương
Năm: 2010
21. Trần Bảo Khánh (2003) Sản xuất chương trình truyền hình, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất chương trình truyền hình
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
22. Trần Bảo Khánh (2007), Đặc điểm công chúng truyền hình Việt Nam giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sỹ khoa học báo chí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm công chúng truyền hình Việt Nam giai đoạn hiện nay
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Năm: 2007
23. Khoa Báo chí (2005), Báo chí:Những vấn đề Lý luận và Thực tiễn (T1-6), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí:Những vấn đề Lý luận và Thực tiễn (T1-6)
Tác giả: Khoa Báo chí
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2005
24. Khoa Báo chí và Truyền thông (2006) Thể loại báo chí (viết chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể loại báo chí (viết chung
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm