Trong bối cảnh đó, đề tài ―Vấn đề phát triển nội dung số của đài Phát thanh Truyền hình Vĩnh Long‖ có tính thời sự, rất cần thiết để nghiên cứu.Từ việc nghiên cứu thực tiễn hoạt động phá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN THỊ HẢI ĐĂNG
VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG SỐ CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH VĨNH LONG
(Khảo sát tháng 6/2018 đến tháng 6/2019)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Vĩnh Long - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN THỊ HẢI ĐĂNG
VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG SỐ CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH VĨNH LONG
(Khảo sát tháng 6/2018 đến tháng 6/2019)
Chuyên ngành Báo chí học Định hướng ứng dụng
Mã số: 8320101.01(UD)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn Người hướng dẫn khoa học thạc sĩ khoa học
PGS.TS ĐINH VĂN HƯỜNG TS TRẦN BẢO KHÁNH
Vĩnh Long - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS TRẦN
BẢO KHÁNH Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày
trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Phan Thị Hải Đăng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
"Để hoàn thành được bài luận văn thạc sĩ này, tôi xin bày tỏ sự cảm kích đặc biệt tới cố vấn của tôi, Tiến sĩ TRẦN BẢO KHÁNH - người đã định hướng, trực tiếp dẫn dắt và cố vấn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học Đồng thời, thầy cũng là người luôn cho tôi những lời khuyên vô cùng quý giá về cả kiến thức chuyên môn cũng như định hướng phát triển sự nghiệp Một lần nữa, tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy bằng tất cả tấm lòng và sự biết ơn của mình
Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô trong Viện đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học quốc gia Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành trong suốt thời gian học tập để tôi có được nền tảng kiến thức hỗ trợ rất lớn cho tôi trong quá trình làm luận văn thạc sĩ
Cảm ơn bạn bè và đồng nghiệp công tác tại Đài PTTH Vĩnh Long vì
đã luôn sẵn sàng hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi tham gia và hoàn thành chương trình đào tạo sau đại học, đồng thời cung cấp tư liệu cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Trong quá trình thực hiện, đề tài luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp chân thành
và quý báu của Hội đồng Khoa học để luận văn hoàn thiện tốt hơn và có ý nghĩa thiết thực áp dụng trong thực tiễn cuộc sống Chân thành cảm ơn."
Học viên
Phan Thị Hải Đăng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do lựa chọn đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 8
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Cơ sở lý luận vàphương pháp nghiên cứu 13
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài 14
7 Kết cấu của luận văn 15
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG SỐ TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH 16
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 16
1.1.1 Nội dung số 16
1.1.2 Công nghiệp nội dung số 17
1.1.3 Phát thanh và nội dung số về phát thanh 17
1.1.4 Truyền hình và nội dung số về truyền hình 20
1.2 Quan điểm phát triển nội dung số tại Việt Nam 24
1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nội dung số 24
1.2.2 Phát triển nội dung số dưới góc nhìn từ đài PTTH Vĩnh Long 26
1.3 Tiêu chuẩn một chương trình để chuyển đổi thành nội dung số 29
1.3.1.Tiêu chí nội dung 29
1.3.2 Tiêu chí hình thức thể hiện 30
1.3.3 Tiêu chí về công nghệ 31
1.4.Vai trò của việc phát triển nội dung số 32
1.4.1 Thực hiện nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền 32
1.4.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu khán giả trên mạng internet 32
1.4.3 Khả năng đáp ứng hiệu quả kinh tế 34
Tiểu kết Chương 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NỘI DUNG SỐ TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH VĨNH LONG 37
2.1.Khái quát chung về vấn đề phát triển nội dung số của Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long 37
2.1.1 Bối cảnh ra đời 37
2.1.2 Mục tiêu và ý nghĩa của việc xây dựng hệ thống nội dung số 40
2.1.3 Công tác lựa chọn, biên tập chương trình trên hệ thống nội dung số 43
2.1.4 Các nền tảng kĩ thuật số mà Đài PTTH Vĩnh Long tham gia phân phối nội dung48 2.2 Khảo sát việc phát triển nội dung số của Đài PTTH Vĩnh Long 61
2.2.1.Thực trạng nội dung 61
2.2.2 Thực trạng hình thức 62
2.2.3 Thực trạng về kết cấu 64
2.3 Đánh giá thành công và hạn chế 70
2.3.1.Thành công 70
2.3.2.Hạn chế và những nguyên nhân của hạn chế 79
Trang 6Tiểu kết Chương 2 83
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂNHIỆU QUẢ NỘI DUNG SỐ Ở ĐÀI PTTH VĨNH LONG 84
3.1 Những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn 84
3.1.1 Những yêu cầu trong công tác tuyên truyền 84
3.1.2 Những đòi hỏi từ các đối tượng công chúng chuyên biệt 85
3.1.3 Thách thức trong sự phát triển của truyền thông mới 86
3.2 Đề xuất các giải pháp 87
3.2.1 Những thuận lợi, khó khăn của việc khai thác các kênh Youtube hiện nay 87
3.2.2.Giải pháp chính sách 88
3.2.3 Giải pháp nội dung 89
3.2.4.Giải pháp về con người 94
3.2.5.Giải pháp công nghệ 95
3.3 Một số khuyến nghị 96
3.3.1 Đối với Bộ Thông tin và Truyền thông 96
3.3.2 Đối với Đài Truyền hình Vĩnh Long 96
Tiểu kết Chương 3 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT : Công nghệ thông tin CNNDS : Công nghiệp nội dung số HTV : Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh OTT : Over the top
PTTH : Phát thanh - Truyền hình THVL : Đài Truyền hình Vĩnh Long VTV : Đài Truyền hình Việt Nam IPTV : Internet Protocol Television
Trang 8DANH MỤC CÁC ẢNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1: Bảng tổng hợp các văn bản pháp luật có liên quan trong lĩnh vực nội dung số Nguồn: Bộ Thông tin và truyền thông 26 Ảnh 2.1: Hình vẽ khái quát các kênh phân phối của THVL trên các hạ tầng truyền dẫn Nguồn: THVL 39 Ảnh 2.2: Sơ đồ quy trình lựa chọn, biên tập của Đài PT&TH Vĩnh Long Nguồn: Đài PT&TH Vĩnh Long, năm 2019 44 Ảnh 2.3: Giao diện trang Thông tin điện tử của Đài Phát thanh và truyền hình Vĩnh Long 49 Ảnh 2.4: Giao diện Youtube Việt Nam với một số gợi ý cho người dùng 53 Ảnh 2.5: Giao diện kênh Youtube VinhlongTV 55 Bảng 2.1: Bảng thống kê thứ hạng của các kênh youtube THVL tính theo lượt theo dõi Nguồn: Youtube 55 Bảng 2.2: Bảng thống kê thứ hạng các kênh youtube THVLtính theo lượt xem Nguồn: Youtube 56 Bảng 2.3: Bảng tổng hợp số lượt xem trên các kênh dailymotion Nguồn: Dailymotion 58 Ảnh 2.6: Giao diện Fanpage Facebook THVL, có hiển thị lượt like và follow Nguồn: Facebook 59 Ảnh 2.7: Giao diện youtube Phim hiển thị các clip liên quan đến phim Lời nguyền lúc 0 giờ Nguồn: Youtube 64 Bảng 2.4: Bảng thống kê các chỉ số của các kênh youtube HTV Nguồn: Youtube 66 Ảnh 2.8: Giao diện youtube giải trí của THVL 67 Ảnh 2.9: Giao diện youtube giải trí của HTV Nguồn Youtube 68 Biểu đồ 2.1: Biểu đồ so sánh từ Socialblade.com đối với HTV và THVL đối với 2 kênh tiêu biểu là phim và giải trí 70 Ảnh 2.10: Thống kê số lượng chọn thích và không thích các video trên kênh THVL Giải trí Nguồn Youtube 72 Ảnh 2.11: Tỷ lệ độ tuổi và giới tính của người xem youtube THVL Nguồn Youtube75 Ảnh 2.12: Top các quốc gia có tỷ lệ người xem nhiều nhất trên youtube THVL Nguồn Youtube 76 Bảng 2.5: Doanh thu tổng hợp của 6 kênh youtube THVL Nguồn: Từ hệ thống CMS của các kênh Youtube THVL 77
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Chúng ta đang ở thời điểm mà cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang diễn ra sâu, rộng trong tất cả các lĩnh vực và mọi mặt của đời sống xã hội, mọi quốc gia trên thế giới Một trong ba xu hướng chính thay đổi cách thức tổ chức và hoạt động của các địa phương, ngành, đơn vị …trong cuộc cách mạng công nghiệp này là ―Số hóa‖ Riêng với ngành phát thanh truyền hình, việc ―số hoá‖ được thực hiện đồng bộ cả về hạ tầng kỹ thuật và nội dung
và là xu thế phát triển tất yếu
Theo thống kê của Công ty We Are Social, Việt Nam có 96,96 triệu người thì có đến 64 triệu người sử dụng Internet (chiếm 66% dân số) Mỗi ngày, người dân Việt Nam dành 6 giờ 42 phút cho internet; trong đó, có 2 giờ
31 phút dành cho việc xem các nội dung chương trình truyền hình qua internet Đây là một minh chứng rõ ràng rằng, Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng cho các dịch vụ truyền hình trên internet và số hóa là xu hướng tất yếu của các đài truyền hình
Thêm vào đó, Internet bùng nổ và có tốc độ tăng trưởng người dùng chóng mặt qua từng năm Số liệu tổng kết vào tháng 1/2020 được thực hiện bởi Hootsuite và We Are Social cho thấy, người dùng kết nối internet tiếp tục phát triển với tốc độ ấn tượng trên toàn thế giới Hiện có 4.54 tỷ người dùng internet, chiếm tỷ lệ 59% dân số trên toàn thế giới[33]
Những con số trên cho thấy, đời sống con người hiện nay ngày càng gắn chặt vào các thiết bị và ứng dụng công nghệ Con người hiện đại, đặc biệt tại các đô thị lớn, giới trí thức, nghệ sĩ, giới trẻ, viên chức nhà nước hầu như không thể tách rời các hoạt động của đời sống cá nhân và công việc khỏi các thiết bị công nghệ và nền tảng số hoá Chỉ cần ngồi trước màn hình máy tính, hoặc mở máy tính bảng, smartphone, người dùng có thể thoả mãn mọi nhu
Trang 10cầu của mình, từ tiếp nhận thông tin, giao tiếp xã hội, giải trí và thực thi các nhu cầu cá nhân Với các điều kiện trên, khán giả không có nhu cầu bắt buộc phải tìm đến các nhà cung cấp truyền thống về mặt thông tin như phát thanh qua radio, truyền hình xem qua tivi hay đọc báo quan báo giấy Thách thức đặt ra với phát thanh, truyền hình, báo chí truyền thống trong thời đại số là phải làm thế nào để giữ chân khán giả trong xu thế cạnh tranh khốc liệt như hiện tại?
Truyền hình Vĩnh Long (sau này gọi là THVL) từng là ―ngôi sao‖ trong
hệ thống các cơ quan báo chí và truyền thông, đặc biệt là trong lĩnh vực cả nước Đây là một trong số ít đài luôn nằm trong top ―nghìn tỷ‖ về nguồn thu quảng cáo Tuy nhiên, khi phạm vi phủ sóng analog không còn là một lợi thế
vì các hạ tầng truyền hình đã phát triển vượt bậc thì một câu hỏi lớn đặt ra là làm thế nào để đài THVL tiếp tục duy trì vị thế củ mình trong làng truyền hình Thay đổi hay là ―chết‖ đó là quyết tâm đối với nhiều cơ quan báo chí hiện nay, trong đó có THVL.Vậy nên, tháng 11/2014, đài Vĩnh Long tập trung phát triển kênh Youtube của mình với nội dung là tổng hợp tất cả các chương trình lên môi trường Internet Với bước đi này, Đài Vĩnh Long trở thành đài truyền hình địa phương đầu tiên gia nhập lĩnh vực giải trí kỹ thuật số.Trên kênh này, truyền hình Vĩnh Long đăng tải những clip quay lại, được qua biên tập kỹ càng của các chương trình đã chiếu trên Tivi Nhờ sức hút sẵn
có của nội dung các chương trình, các clip này thu hút tới hàng triệu - chục triệu lượt xem, một con số tương tự như những clip của các vlogger nổi tiếng
ở Việt Nam
Cho đến thời điểm hiện tại, THVL dựa trên phân loại nội dung chương trình, đã quyết định thành lập thêm 5 kênh youtube chuyên biệt dành cho từng đối tượng cụ thể gồm: Kênh Youtube THVLGiaiTri, Kênh Youtube THVLPhim, Kênh Youtube THVLTongHop, Kênh Youtube THVLCaNhac
Trang 11và Kênh Youtube THVLThieuNhi song song với 1 kênh youtube phát thanh, nâng tổng số kênh hiện tại trên youtube lên con số 7
Không chỉ dừng lại ở việc phân phối nội dung lên các hạ tầng xuyên biên giới, vào đầu năm 2018, đài PTTH Vĩnh Long còn cho ra mắt hệ sinh thái số của riêng mình mang tên THVLi chạy cả trên nền tảng hệ điều hành web, iOS, Android và smartTV.Bình quân có gần 2 triệu lượt xem/ngày
Ngoài ra, trang thông tin điện tử của Đài (www.thvl.vn) là nơi cập nhật hầu hết tất cả các chương trình thời sự, chuyên đề, lịch phát sóng, chương trình phát thanh Lượt xem trung bình đạt trên 17 ngàn lượt xem/ngày Luôn nằm trong top 3 website của các đài truyền hình trong cả nước (Theo Alexa), trong đó lượng bạn đọc trong nước chiếm khoảng 95%, ngoài nước là khoảng 5%
Gần đây, đơn vị cũng đưa vào hoạt động của trang fanpage facebook (https://www.facebook.com/VinhLongTV/) như một công cụ hỗ trợ, quảng bá cho các chương trình của Đài Đến nay, fanpage có trên 2 triệu người theo dõi Những thành công bước đầu nêu trên chứng tỏ hướng đi và chiến lược dài hơi đúng đắn của Đài PTTH Vĩnh Long trong việc giữ chân khán giả và tạo nguồn thu cho đơn vị trong bối cảnh hiện nay Nhưng trên thực tế, hoạt động nội dung số tại Đài THVL chưa bao giờ bao hàm cả lĩnh vực sản xuất,
mà hầu như tất cả đều tập trung vào phân phối Cách hiểu về kinh doanh nội dung đơn thuần là phân phối nội dung truyền hình truyền thống lên các nền tảng số vẫn còn tồn tại Trong bối cảnh đó, đề tài ―Vấn đề phát triển nội dung
số của đài Phát thanh Truyền hình Vĩnh Long‖ có tính thời sự, rất cần thiết để nghiên cứu.Từ việc nghiên cứu thực tiễn hoạt động phát triển nội dung số của Đài PT&TH Vĩnh Long, tác giả hy vọng sẽ đúc kết được những nội dung cơ bản về vấn đề nội dung số, nhằm đề xuất những giải pháp để góp một tiếng nói tâm huyết và trách nhiệm cho sự phát triển của Đài cho xứng với tiềm
Trang 12năng, thế mạnh của một đài truyền hình mạnh về nội dung nhưng cũng gặt hái được những kết quả kinh doanh trên thị trường nội dung số
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan tới đề tài ―Vấn đề phát triển nội dung số của Đài Phát thanh và truyền hình Vĩnh Long‖ trong thời gian gần đây đã có một số công trình có liên quan như sau:
2.1 Sách tham khảo, giáo trình có nội dung liên quan đến vấn đề nội dung số
Cuốn sách Truyền hình Hiện đại - Những lát cắt 2015 - 2016 của nhóm tác giả Bùi Chí Trung - Đinh Thị Xuân Hòa Trong cuốn sách này các tác giả cho thấy thế kỷ XX có nhiều thứ mới mẻ, ý nghĩa và hấp dẫn, trong đó có truyền hình Người ta xếp truyền hình là một phát minh đã làm thay đổi căn bản phương thức tư duy và phương thức sống của con người, góp phần làm thay đổi thế giới rất nhiều Sang thế kỷ XXI, với sự ra đời của những phương thức truyền thông mới mẻ đã làm thay đổi dần cách tiếp nhận thông tin của công chúng, của khán giả truyền hình Công chúng ngày càng thông minh và
họ cũng muốn được tiếp cận với những sản phẩm truyền hình thông minh, hiện đại hơn Cuốn sách nêu lên những góc nhìn đa chiều về truyền hình hiện tại, truyền hình truyền thống và đặc biệt chú tâm vào nội dung truyền hình hiện đại, truyền hình trong tương lai
Cuốn sách "Một số xu hướng mới của báo chí truyền thông hiện đại" của nhóm tác giả Phan Văn Kiền, Phan Quốc Hải, Phạm Chiến Thắng, Nguyễn Đình Hậu xuất bản năm 2016 Nội dung cuốn sách đề cập đến một số xu hướng mới của báo chí truyền thông hiện nay, với mong muốn đem đến một cái nhìn xuyên suốt và đa diện về những xu hướng chủ đạo của báo chí truyền thông hiện đại cả trên thế giới và ở Việt Nam, cả trên lĩnh vực báo chí và
Trang 13truyền thông Đặc biệt là ở chương 2 và chương 3, cuốn sách làm rõ đặc tính
và xu hướng của truyền hình và phát thanh hiện đại trên nền tảng internet
Về đề tài liên quan tới lý luận về truyền hình, tác giảthấy có khá nhiều sách, giáo trình, luận văn và cả các bài viết khoa học Các cuốn giáo trình khá quen thuộc về truyền hình như Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, Giáo trình báo chí truyền hình của PGS.TS Dương Xuân Sơn, cuốn sách Báo chí và Truyền thông đa phương tiện của PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang Nội dung của cuốn sách tập trung vào các vấn đề liên quan tới luận văn như: Đặc trưng của báo chí đa phương tiện, truyền thông đa phương tiện và ảnh hưởng
xã hội của chúng; xu hướng phát triển của báo chí thế giới trong kỷ nguyên kỹ thuật số … Đây đều là những thông tin hữu ích với tác giả trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài của mình
2.2 Luận văn, bài viết, tham luận có liên quan đến đề tài như:
- Luận văn thạc sỹ nghiên cứu về lĩnh vực nội dung số ―Chiến lược phát triển dịch vụ nội dung số tại các doanh nghiệp kinh doanh truyền thông trực tuyến‖ của tác giả Nguyễn Mạnh Hà năm 2011 tại Trường Đại học Ngoại thương Tuy nhiên, đề tài này chỉ đề cập đến doanh nghiệp kinh doanh phát hành game trong và ngoài nước và dịch vụ trên điện thoại di động
- Luận văn thạc sĩ Báo chí học của Trần Lê Trúc Hà (bảo vệ năm 2014, Học viện Báo chí và Tuyên truyền) có tiêu đề: ―Vấn đề ứng dụng đa phương tiện trong sản xuất chương trình thời sự truyền hình ở các đài phát thanh và truyền hình miền Đông Nam Bộ‖ Luận văn nêu lên những ưu điểm, hạn chế của việc ứng dụng các phương thức đa phương tiện trong việc sản xuất chương trình Thời sự truyền hình ở một số Đài PTTH Miền đông Nam bộ; đồng thời đề xuất các giải pháp và khuyến nghị khoa học nhằm cải thiện chất lượng chương trình thời sự truyền hình đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe
và đa dạng của công chúng hiện đại
Trang 14- Luận văn Thạc sĩ Báo chí học của Đông Hải Hà (thực hiện năm 2015 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) với đề tài: ―Thực trạng và những vấn
đề đặt ra đối với kênh truyền hình VTCTUBE của đài truyền hình kỹ thuật số VTC (Khảo sát từ tháng 9/2013 đến tháng 9/2014)‖ Luận văn này tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng trong công tác lựa chọn, biên tập chương trình và chất lượng của kênh VTCTube Tác giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của kênh truyền hình này, đáp ứng yêu cầu về thông tin, tuyên truyền, giải trí của côngchúng trong bối cảnh mới
- Cùng nghiên cứu về một phần trong lĩnh vực nội dung số có Luận văn Thạc sĩ Báo chí học của Ngô Quang Tùng (bảo vệ năm 2015, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) có tiêu đề: ―Chất lượng chương trình truyền hình trên hệ thống MobileTV của truyền hình Viettel" Luận văn khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng, thành công và hạn chế, nguyên nhân dẫn tới thành công, hạn chế của chương trình Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng chương trình truyền hình trên Mobile TV
- Luận văn ―Các giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường dịch vụ truyền hình internet (IPTV)-NextTV của công ty truyền hình Viettel‖ của tác giả Đặng Thị Ngọc Bích, bảo vệ năm 2016 tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Luận văn ―Truyền hình Việt Nam với vấn đề quản lý fanpage hiện nay‖ Khảo sát các trang Fanpage:Trung tâm tin tức VTV24 của Đài truyền hình Việt Nam; VTC1- Tin tức của Đài truyền hình kỹ thuật số VTC;VNEWS - Truyền hình Thông tấn của Trung tâm Truyền hình Thông tấn từ tháng 06/2016 đến tháng 07/2017) của tác giả Nguyễn Anh Hiển bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm 2017 Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý Fanpage của báo chí nói chung, truyền hình nói riêng; đánh giá thực trạng hoạt động quản lý Fanpage của các Đài truyền hình và Trung tâm truyền hình ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân của thực
Trang 15trạng đó cũng như đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý hoạt động trang Fanpage trên Facebook của truyền hình Việt Nam
- Luận văn ―Phát triển sản phẩm truyền hình đa giao diện (Multi-screen) tại đài truyền hình TP.HCM (Khảo sát năm 2017) của tác giả Nguyễn Thị Đào Trưng, bảo vệ năm 2017 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền TPHCM Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản trị kinh doanh sản phẩm truyền hình đa giao diện multi-screen của Đài Truyền hình Thành phố
Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị kinh doanh sản phẩm này, theo quy trình thống nhất quản lý nội dung, kĩ thuật và kinh tế
- Luận văn ―Dịch vụ truyền hình IPTV tại Việt Nam hiện nay‖ của tác giả Đào Thị Huyền Trang, bảo vệ năm 2019 tại Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn hệ thống cơ sở hóa các lý luận, các thực tiễn về truyền hình IPTV tại Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, luận văn còn cung cấp những luận cứ khoa học, dẫn chứng từ các kết quả nghiên cứu khảo sát để làm rõ vai trò của truyền hình IPTV trong ngành truyền hình tại Việt Nam hiện nay
- Luận văn Thạc sĩ ―Sản xuất nội dung số tại Đài Truyền hình Kỹ thuật
số VTC dưới góc nhìn kinh tế truyền thông‖ của tác giả Nguyễn Tuyết Nhung, bảo vệ năm 2019 tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Luận văn đã chỉ ra được, đổi mới sản xuất và kinh doanh sản phẩm số tại Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC là một nhu cầu tất yếu, nhất là trong bối cảnh phát triển và thay đổi mạnh mẽ của công nghệ thông tin, ảnh hưởng ngày càng lớn tới đời sống của con người hiện nay Luận văn cũng đề ra các giải pháp để góp phần phát triển sản xuất và kinh doanh nội dung số hiệu quả tại Đài VTC, chỉ ra những điểm mạnh, hạn chế của Đài VTC so với các đối thủ cạnh tranh khác …
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều liên quan đến lĩnh vực nội dung số Tuy nhiên, việc phân tích, đánh giá chỉ tập trung ở một khía
Trang 16cạnh, một bộ phận cấu thành của nội dung số hoặc ở một đơn vị thực hiện nội dung số khác không phải là THVL Vì vậy, tác giả sẽ kế thừa, tiếp thu kiến thức có được từ các bài viết, công trình nghiên cứu kể trên và qua trực tiếp làm nghề phân tích, đúc kết thành hệ thống lý luận và thực tiễn, góp phần có thêm kênh thông tin để những ai quan tâm đến lĩnh vực phát triển nội dung số tại đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Long có thêm nguồn tư liệu để nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn nghề nghiệp
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu lý thuyết và đánh giá thực trạng phát triển nội dung số tại Đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Long, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hơn nữa lĩnh vực này cho Đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Long trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về báo chí nói chung, vấn đề nội dung số tại Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long nói riêng
- Khảo sát, thống kê, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động phát triển nội dung số tại Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long, đặc biệt làm nổi bật quá trình hình thành, phát triển và thành tựu đã đạt được cuả đơn vị trong thời gian vừa qua Luận văn cũng sẽ chỉ ra những ưu và khuyết điểm về nội dung
và hình thức các chương trình
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển hơn nữa lĩnh vực nội dung số của Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long
Trang 174 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề phát triển nội dung số của Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát việc phát triển nội dung số tại Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019
5 Cơ sở lý luận vàphương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận các vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, thông tin và truyền thông; các lý thuyết như: Lý thuyết thông tin và truyền thông; Lý thuyết báo chí học; Luật học; Tâm lý học; Xã hội học truyền thông đại chúng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả tập hợp, đọc, lập phiếu để tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài; phân tích các luận điểm, quan niệm của các nhà nghiên cứu, từ đó hệ thống hóa các vấn đề lý luận Đây là cơ sở
để tác giả hình thành nội dung chương 1 của luận văn
- Phương pháp khảo sát, tổng hợp, thống kê, phân loại, phân tích, diễn giải, quy nạp: Tác giả lập phiếu khảo sát, tổng hợp, thống kê, phân loại, phân tích, diễn giải quy nạp trên cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạt động nội dung số tại Đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Long dựa trên các tiêu chí lý thuyết đặt ra để có được các kết quả phân tích trong luận văn Các kết quả khảo sát là cơ sở để đánh giá thực trạng hoạt động lĩnh vực nội dung số ở chương 2 và đưa ra các giải pháp, kiến nghị tại chương 3 của luận văn
Trang 18- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả xác định rõ nội dung, mục đích, đối tượng phỏng vấn; đưa ra các câu hỏi, địa điểm, thời gian thực hiện cuộc phỏng vấn nhằm lấy ý kiến từ lãnh đạo phòng, ban chịu trách nhiệm về lĩnh vực nội dung số của Đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Long
- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng bảng hỏi để thu thập thông tin cuả công chúng xem chương trình trên các hạ tầng số Phát 200 phiếu hỏi bằng công cụ phiếu điều tra, lấy ý kiến của Google Form Đối tượng của mẫu được tác giả xác định là nhóm khan giả trẻ tuổi, trung bình từ 15-35 tuổi, có trình độ và khả năng sử dụng internet Phương pháp sử dụng là chọn mẫu thuận tiện
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm rõ hơn về ―Vấn đề phát triển nội dung số của Đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Long‖, từ đó đi vào nhận diện tìm hiểu vấn đề, giúp điều chỉnh, lựa chọn nội dung, hình thức truyền tải thông tin hợp lý để nâng cao hiệu quả hoạt động
6.2 Giá trị thực tiễn
Có thể nói rằng, việc nghiên cứu hoạt động phát triển nội dung số là đòi hỏi cấp thiết, đúng lúc, kịp thời và thiết thực, phục vụ đắc lực cho công tác lãnh đạo của các cơ quan báo chí nói chung và Đài Phát thanh truyền hình Vĩnh Long nói riêng Luận văn đóng góp một phần về mặt lý luận trong việc nhận diện hoạt động phát triển nội dung số, đưa ra các tiêu chí đánh giá, yếu
tố ảnh hưởng đến hoạt động này tại Đài Phát thanh truyền hình Luận văn cũng là tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo về báo chí và truyền thông, nhất là về vấn đề phát triển nội dung số của các Đài Phát thanh truyền hình tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 19Từ việc nghiên cứu thực tế hoạt động lĩnh vực nội dung số tại một cơ quan báo chí cụ thể, luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan báo chí
đã, đang và sẽ thực hiện hoạt động này trong tương lai Từ đó, giúp các cơ quan báo chí có thể vận dụng, tổ chức thực hiện có hiệu quả vấn đề nội dung
số tại đơn vị mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục và Mục lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về phát triển nội dung số trong
Trang 20CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG SỐ TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Nội dung số
Nội dung số là khái niệm được nhắc đến nhiều trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay Tuy nhiên, hiện chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm này
Theo Từ điển tiếng Việt, ―nội dung‖ là mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện [29, tr 950] Còn ―số hóa‖ nghĩa là chuyển cách biểu diễn tín hiệu (âm thanh, hình ảnh, xung điện…) sang dạng
số [29, tr 1108] Như vậy có thể hiểu, nội dung số là nội dung tồn tại dưới dạng dữ liệu số mà người dùng có thể đọc, nghe, xem và tải về được bằng thiết bị điện tử
Theo Liên minh viễn thông thế giới (ITU), khái niệm nội dung số hiện nay rất rộng lớn, bao gồm tất cả các hình thức text (chữ), đồ họa, hình ảnh, nhạc, video, streamlive và thực tế ảo, thực tế tăng cường và tất cả nội dung này được phân phối bởi tất cả người dùng Internet cũng như các tổ chức, doanh nghiệp
Khái niệm về nội dung số cũng được trình bày trong một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian qua
Khoản 11, điều 3 Nghị định 71/2007/NĐ-CP quy định sản phẩm nội dung số là ―sản phẩm nội dung, thông tin bao gồm văn bản, dữ liệu, hình ảnh,
âm thanh được thể hiện dưới dạng số, được lưu giữ, truyền đưa trên môi trường mạng‖ [25]
Sau khi tham khảo qua một số định nghĩa về nội dung số, có thể rút ra một định nghĩa riêng được sử dụng trong luận văn này ―Nội dung số‖ trong lĩnh vực truyền hình là tất cả những sản phẩm như video, âm thanh, hình ảnh
Trang 21được truyền tải và lưu trữ trong môi trường internet Khi tham gia vào lĩnh vực nội dung số, các đài truyền hình, sau khi đã phát sóng những sản phẩm của mình trên các kênh sóng thì còn phân phối chúng sang môi trường internet với đối tượng khán giả và cách thức tiếp cận khác hẳn so với truyền hình truyền thống
1.1.2 Công nghiệp nội dung số
Xét về lý luận và thực tiễn, việc triển khai sản xuất, cung cấp và kinh doanh các dịch vụ nội dung số ở mức chuyên sâu và đạt được quy mô lớn sẽ hình thành nên ngành công nghiệp nội dung số
Tại hội thảo "WTO - cơ hội và thách thức cho công nghiệp, công nghệ thông tin – truyền thông Việt Nam‖ năm 2007, Bộ Thông tin và Truyền thông cho rằng: ―Công nghiệp nội dung số (CNNDS) là ngành giao thoa giữa 3 nhóm ngành: công nghệ thông tin (CNTT), viễn thông và ngành sản xuất nội dung Công nghiệp nội dung số là ngành thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ, phân phối, phát hành các sản phẩm nội dung số và dịch vụ liên quan Nó bao gồm nhiều lĩnh vực như: tra cứu thông tin, dữ liệu số, giải trí số, nội dung giáo dục trực tuyến, học tập điện tử, thư viện và bảo tàng số, phát triển nội dung cho mạng di động, giải trí số (trò chơi trực tuyến, trò chơi tương tác), thương mại điện tử…‖.[2]
1.1.3 Phát thanh và nội dung số về phát thanh
* Khái niệm phát thanh
Phát thanh là loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, truyền đi âm thanh, trực tiếp tác động vào thính giác của đối tượng tiếp nhận [29, tr.75]
Theo Từ điển Tiếng Việt, phát thanh là phát và truyền đi âm thanh bằng song vô tuyến điện [29, tr987]
Trang 22Phát thanh sử dụng phương tiện chuyển tải thông tin duy nhất là âm thanh tổng hợp gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc, tác động trực tiếp vào thính giác đối tượng tiếp nhận Có thể mô hình hóa phương thức tác động của báo phát thanh:
S ↔ M ↔ C ↔ R ↔ E và E → S Đây là mô hình truyền thông chung nhất Trong lĩnh vực phát thanh, có thể diễn giải ngắn gọn quy trình này như sau: Thông qua kênh phát thanh (C: Chanel), một thông điệp (M: message) sẽ được chuyển tải từ nguồn phát (S: Source) đến người nghe (R: Receiver) Thông điệp sẽ có tác động (E: Effect) đến người tiếp nhận và họ có thể phản hồi, tác động trở lại đối với nguồn phát
Trong bối cảnh hiện đại ngày nay, phát thanh không chỉ phát sóng bằng kỹ thuật sóng điện từ, mà còn phát sóng qua vệ tinh, phát trên mạng internet
Trong tương quan so sánh với cách thức thông tin của các loại hình báo chí khác như báo in, truyền hình, báo mạng, phát thanh có những đặc thù nổi bật là chỉ tiếp nhận bằng thính giác Thính giả có thể vừa làm việc, vừa nghe đài Bằng phương thức sử dụng âm thanh tổng hợp để đưa thông tin trực tiếp tới tai người nghe, phát thanh có khả năng kích thích trí tưởng tượng vĩ đại của thính giả Nhưng phương thức tiếp nhận lời nói bằng thính giác cũng vấp phải những hạn chế nhất định Trước hết là tính thoảng qua của thông tin Cũng vì tính thoảng qua, nên mật độ thông tin đọng lại trong tâm trí người nghe không nhiều Theo điều tra của Đài Phát thanh Mat-xcơ-va: Nếu nói 1-3 phút, người nghe tiếp nhận 100% lượng thông tin; từ 4-5 phút: 80%, và từ 6-8 phút: chỉ còn 60% [7, tr.21].Thứ hai, dòng tin phát thanh dễ bị đứt đoạn, gãy khúc do người nghe dễ bị xao nhãng Thứ ba, thính giả chỉ có thể tiếp nhận được thông tin với cách nói và tốc độ nói phù hợp Nếu nhà báo nói quá
Trang 23nhanh hay quá chậm, nếu cách nói không truyền cảm, lôi cuốn, nếu từ ngữ sử dụng không đúng, không hay, thì tai thính giả sẽ ―đóng‖ lại
* Nội dung số về phát thanh
Khi xu hướng số hóa phát triển mạnh, các đài phát thanh hiện nay cũng
đã và đang chuyển đổi sang công nghệ số và coi đó là xu hướng tất yếu từ khâu thu thập thông tin đến khâu sản xuất chương trình, truyền âm, khống chế, lưu trữ âm thanh, truyền dẫn và phát sóng giúp nâng cao hiệu quả lao động, chất lượng công việc và chất lượng phục vụ
Khi Internet và mạng xã hội phát triển, phát thanh đã phát huy những lợi thế để thực hiện những phương thức phát sóng trực tuyến, on-demand, podcast, livestream tạo ra những ―đài phát thanh không cần ăng-ten‖, đáp ứng nhu cầu nghe theo yêu cầu, nghe bất cứ lúc nào, nghe bất cứ cái gì và có thể ―nhìn‖ thấy phát thanh Các đài phát thanh cũng đã tạo ứng dụng (APP) trên điện thoại thông minh để công chúng chỉ một cái ―click‖ có thể nghe được chương trình của các đài phát thanh không giới hạn về địa lý, thời gian, văn hóa hay ngôn ngữ
Xu hướng này sẽ còn một thời gian nữa mới có thể bùng nổ trên thế giới và sẽ tập trung trước tiên ở các thị trường báo chí phát triển vốn đã có nền tảng hạ tầng công nghệ tốt, nhưng phát thanh truyền thống bắt buộc phải hướng đến công nghệ số, áp dụng công nghệ số để mở rộng diện phủ sóng, thu hút thêm các thành phần thính giả trẻ vốn gắn chặt với thiết bị công nghệ, tăng chất lượng phục vụ cộng đồng và giảm chi phí hoạt động Phát thanh không chỉ còn giới hạn trong việc nghe đài trên các làn sóng FM mà còn phải
là tương tác trên web và trên mạng xã hội Việc phát triển theo xu hướng này cũng đòi hỏi phải được thực hiện theo hướng đa nền tảng, trong đó nền tảng
di động là ưu tiên bởi trong năm 2016, các nền tảng di động (điện thoại thông minh, máy tính bảng) chính thức vượt qua máy vi tính để bàn để trở thành
Trang 24công cụ truy cập internetlớn nhất của người dùng internettoàn cầu (51,3% truy cập internetqua điện thoại thông minh và máy tính bảng và 48,7% qua máy tính để bàn)
1.1.4 Truyền hình và nội dung số về truyền hình
* Khái niệm truyền hình
Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ ―Tele‖ có nghĩa là ''ở xa'' còn ―videre‖ là ''thấy được'', còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại
―Televidere‖ có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là ―Television‖, tiếng Pháp là ―Television‖, tiếng Nga gọi là ―Tелевидение‖ Như vậy, dù có phát triển bất cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa
Theo Từ điển Tiếng Việt, truyền hình là truyền hình ảnh, thường có
cả âm thanh đi xa [29, tr 1346]
Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải thì truyền hình là quá trình biến đổi
từ năng lượng ánh sáng tác động qua ống kính máy thu hình thành năng lượng điện, nguồn tín hiệu điện được phát sóng truyền đến máy thu hình và lại biến đổi thành năng lượng ánh sáng tác động vào thị giác, người xem vì vậy mà thu nhận được hình ảnh
Xét về mặt nội dung, truyền hình là loại hình truyền thông mà thông điệp được truyền trong không gian tích hợp cả hình ảnh và âm thanh tạo cho người xem cảm giác sống động của hiện thực cuộc sống
Với hình ảnh chân thực và âm thanh sống động, truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng chiếm ưu thế tuyệt đối trong thế kỷ XX Trên thế giới, hình ảnh gia đình gồm cha mẹ, con cái cùng nhau tụ tập quanh chiếc tivi để cùng xem truyền hình trở nên khá quen thuộc, được tái hiện trong nhiều ấn phẩm quảng bá về truyền hình Truyền hình cuối thế kỷ XX đã
Trang 25giữ vai trò quan trọng trong việc phục vụ nhu cầu thông tin, giải trí, nâng cao văn hóa, trải nghiệm thế giới của đại chúng và được xem là vị thống soái của các phương tiện truyền thông
Nội dung số của truyền hình
Theo tác giả cuốn Truyền hình hiện đại – Những lát cắt 2015-2016, Truyền hình số là việc truyền dẫn âm thanh và hình ảnh được phát bằng những tín hiệu đã được mã hóa, đối lập hoàn toàn với truyền hình analog Trong khi truyền hình analog được truyền tín hiệu qua dây cáp hoặc ăng ten thì muốn xem truyền hình số, khán giả phải có bộ giải mã riêng Truyền hình
số là một công nghệ tiên tiến có khả năng cung cấp số lượng kênh truyền hình lớn hơn với chất lượng cao hơn và nội dung chuyên biệt hơn rất nhiều Rất nhiều quốc gia trên thế giới đã thay thế truyền hình analog thông thường bằng truyền hình số Đây được coi là xu hướng phát triển tất yếu của truyền hình trên toàn thế giới [40, trang21]
Theo Bộ thông tin và Truyền thông, truyền hình số là công nghệ truyền hình mới cho phép truyền 20 kênh truyền hình với chất lượng hình ảnh và âm thanh cao hơn trên một kênh tần số (công nghệ truyền hình tương tự chỉ cho phép truyền được một kênh chương trình có chất lượng hạn chế Trong truyền hình số, tín hiệu hình ảnh và âm thanh được truyền dẫn, phát sóng dưới dạng dòng dữ liệu số đã được xử lý Truyền hình số sử dụng phương thức phát sóng mặt đất được gọi là truyền hình số mặt đất [4]
Truyền hình số có ưu điểm là hình ảnh sắc nét, có chiều sâu, loại bỏ hoàn toàn hiên tượng nhiễu – vốn là nhược điểm của truyền hình analog thông thường, loại bỏ ảnh hưởng của các tia sóng phản xạ, không bị ảnh hưởng nhiễu phát ra máy vi tính, mô tơ điện, sấm sét…[40, trang23]
Theo ông Phan Quang Tuấn, Phó tổng giám đốc SCTV, số hóa truyền hình là một xu hướng tất yếu, bởi khi nhu cầu thưởng thức truyền hình của
Trang 26khán giả ngày một nâng cao và đa dạng, truyền hình analog sẽ trở nên lỗi thời Bên cạnh đó, quá trình số hóa còn cho phép khán giả nâng cao trải nghiệm thưởng thức truyền hình nhờ chất lượng nội dung và hình ảnh, âm thanh vượt trội cùng những tính năng phong phú khác [40, trang23]
Truyền hình số mang lại cho người dùng số lượng kênh lớn, nội dung chương trình phong phú, chất lượng hình ảnh và âm thanh cao Đặc biệt, truyền hình số còn cho phép thực hiện tương tác nhiều chiều sinh động giữa người xem và nhà đài và các doanh nghiệp Đây là điều mà analog không thể làm được Xét trên mọi phương diện, truyền hình số đồng nghĩa với tiên tiến, tích hợp, tương tác, tiết kiệm, phù hợp với sức ép của xã hội công nghiệp hối
hả hơn, năng động hơn, ít thời gian hơn Và yêu cầu nắm bắt thông tin thường xuyên hơn, liên tục hơn, cập nhật hơn Nhờ vậy, người dân sẽ được thưởng thức các chương trình truyền hình với chất lượng cao, giá thành hợp lý hơn Mặt khác, họ cũng có cơ hội được trải nghiệm những dịch vụ mới như truyền hình HD, truyền hình 3D, truyền hình theo yêu cầu… hoặc theo những phương thức mới như xem trên máy tính cá nhân, điện thoại di động, máy tính bảng… [40, trang24]
Việc chuyển dịch nội dung số trong lĩnh vực truyền hình cũng được gọi tắt là truyền hình số Nghĩa là, việc sản xuất truyền hình bây giờ không chỉ đơn thuần là sản xuất nội dung một chương trình truyền hình mà còn sản xuất một hệ thống các sản phẩm nội dung dịch vụ truyền hình, sử dụng các kênh truyền thông hỗn hợp.Các kênh truyền thông không chỉ là kênh truyền hình thuần túy trên hệ thống truyền hình quảng bá mà còn trên hệ thống truyền hình qua giao thức internet, hệ thống di động, mạng xã hội….Điều này đã dẫn đến sự thay đổi về quan niệm và góc nhìn của các đơn vị trong lĩnh vực sản xuất truyền hình
Trang 27Vì vậy, khái niệm truyền hình số hiện nay còn được hiểu là việc sản xuất của các đơn vị truyền hình những sản phẩm không chỉ được phân phối trên ti vi mà còn qua các hạ tầng online khác Người dùng có thể tiếp cận nội dung truyền hình theo hướng đối tượng như nhóm, sở thích, phương tiện truy cập, thời điểm truy cập, ngữ cảnh sử dụng dịch vụ….Và khi truyền hình dịch chuyển lên môi trường Internet, nó không chỉ phục vụ theo đặc thù của từng nhóm khán giả mà còn đáp ứng họ theo thời điểm phù hợp với nhiều định dạng tương thích cho các thiết bị tiếp nhận đầu cuối khác nhau Các thiết bị thông minh (điện thoại di động, laptop, tablet ) giúp công chúng sở hữu những màn hình tivi nhỏ gọn, linh hoạt - khác biệt với chiếc tivi chỉ tồn tại trong phòng khách như trong thời gian trước
Do có thể sở hữu nội dung theo nhiều cách, công chúng đã thiết lập một chương trình nghị sự cho riêng mình Nếu bỏ lỡ một tập phim truyền hình vào tối hôm trước, tập phim đó sẽ có thể xem lại ở mục theo yêu cầu (VOD – Video on demand) trên website của đài truyền hình hoặc được tìm kiếm từ một đường link khác trong khung cửa sổ https://
Trên nền tảng Internet, truyền hình chính thức cạnh tranh với các phương tiện truyền thông khác trong một cuộc đua mới - nơi mà các chiến binh tham gia ngày càng đông đảo, thông minh hơn, nhạy bén hơn trong trận chiến giành giật khán giả Môi trường Internet đã ảnh hưởng tới sự trung thành của khán giả - khi mà phương thức phát sóng tuyến tính (linear TV) dường như đã không còn phù hợp Công chúng không còn cần đợi chờ các chương trình sẽ lên sóng như một sự thỏa ước từ trước, bởi Internet đã cho họ rất nhiều cơ hội
để tùy chỉnh
Trang 281.2 Quan điểm phát triển nội dung số tại Việt Nam
1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nội dung số
Ngành công ngiệp nội dung số tại Việt Nam bắt đầu bùng phát ngay từ những năm 2000, với sự góp mặt của các trò chơi trực tuyến và các dịch vụgia tăng trên điện thoại di động Ngay sau đó, Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là
Bộ Thông tin Truyền thông) đã xác định nội dung số là ngành công nghiệp nhiều tiềm năng Và điều này càng được chứng minh khi trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước dành nhiều sự quan tâm hơn cho lĩnh vực khoa học - công nghệ, trong đó có ngành công nghiệp nội dung số Công nghiệp nội dung
số là ngành đã chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển, thể hiện qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật Mặc dù thời gian qua sự hỗ trợ của nhà nước không thực sự rõ nét, tuy nhiên những chính sách đề ra đã đặt một nền móng
để có thể triển khai các biện pháp hỗ trợ mang tính thiết thực hơn trong thời gian tới cho ngành công nghiệp nội dung số
Gần đây, một số văn kiện có các chỉ đạo sâu sát đến sự phát triển ngành nội dung số Việt Nam từ Quốc Hội và Chính phủ đã được ban hành
Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 56/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển Công nghiệp nội dung số với 9 dự án và tổng kinh phí đầu tư của Nhà nước lên tới 1280 tỷ đồngvới mục tiêu phát triển thành một ngành kinh tế trọng điểm, đóng góp ngày càng nhiều cho GDP, tạo điều kiện thuận lợi cho các tầng lớp nhân dân tiếp cận các sản phẩm nội dung thông tin số
Năm 2009, Thủ tướng phê duyệt Quyết định 50/2009/QĐ-TTg phê duyệt Quy chế triển khai Chương trình công nghiệp phần mềm và nội dung số, trong
đó ngân sách nhà nước bố trí 980 tỷ đồng cho một số dự án hỗ trợ phát triển doanh nghiệp phần mềm và nội dung số
Trang 29Chính sách về nội dung số còn được quy định trong hai văn bản, đó là Nghị định 71/2007/NĐ-CP và Nghị định 118/2016/NĐ-CP cụ thể như sau: Khoản 1, Điều 26 Nghị định 71/2007/NĐ-CP quy định Nhà nước áp dụng mức ưu đãi cao nhất cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động công nghiệp nội dung theo quy định của pháp luật
Nghị định 118/2016/NĐ-CP (Phụ lục I) quy định hoạt động sản xuất sản phẩm nội dung số là lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư, cụ thể áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản
cố định; nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất; giảm 50% số tiền ký quỹ đối với dự án đầu tư
Tóm lại, danh sách các văn bản pháp lý chính có liên quan đến nội dung
số được tổng hợp trong bảng dưới đây:
STT Số văn bản Ngày ban
2 118/2015/NĐ-CP 12/11/2015
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về Luật đầu tư (có điều khoản liên quan hỗ trợ)
3 90/2008/NĐ-CP 13/8/2008 Về chống thư rác ban hành
4 77/2012/NĐ-CP 5/10/2012 Về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định 90/2008/NĐ-CP
5 72/2013/NĐ-CP 15/7/2013 Về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch
Trang 30vụ Internet và thông tin trên mạng
6 27/2018/NĐ-CP 1/3/2018 Sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định 72/2013/NĐ-CP III Quyết định
Phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025
Bảng 1.1: Bảng tổng hợp các văn bản pháp luật có liên quan trong lĩnh vực nội
dung số Nguồn: Bộ Thông tin và truyền thông
Chính sách pháp luật của Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, chưa tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, thông thoáng, bình đẳng giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài Các doanh nghiệp Việt Nam thường bị các cơ quan quản lý rất chặt, ngược lại thì việc quản lý các doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh nội dung số tại Việt Nam còn quá lỏng lẻo bởi những quy chế, nghị định chưa được cập nhật kịp thời với tốc độ tăng trưởng liên tục của ngành
1.2.2 Phát triển nội dung số dưới góc nhìn từ đài PTTH Vĩnh Long
Trải qua lịch sử hơn 40 năm hình thành và phát triển, đặc biệt trong giai đoạn 10 năm 2006 – 2016, Đài PT-TH Vĩnh Long đã thể hiện được vai trò tiêu biểu dẫn đầu toàn tỉnh và lĩnh vực PT-TH Đài là đơn vị đi tiên phong trong việc tự sản xuất các chương trình để phát sóng, với tiêu chí xây dựng chương trình: Phục vụ những gì khán giả cần chứ không phải phục vụ những
gì mình có Cũng ngần ấy thời gian, THVL không ngừng đổi mới và sáng tạo,
Trang 31xây dựng nên những chương trình bổ ích đáp ứng đúng nhu cầu, thị hiếu, tâm
tư tình cảm và nguyện vọng của từng đối tượng khán giả - để THVL trở thành bạn của mọi nhà
Tiếp tục phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, nghiên cứu xu hướng phát triển của truyền hình trong giai đoạn mới, để có bước phát triển phù hợp, Đài PTTH Vĩnh Long đã liên tục tự đổi mới, thay đổi để phù hợp với xu thế phát triển của truyền hình hiện đại
Theo ông Lê Quang Nguyên, nguyên Giám đốc Đài PTTH Vĩnh Long,
―Khởi nguồn của việc quyết định đầu tư phát triển nội dung số truyền hình trên các hạ tầng internet là để phục vụ cho nhu cầu thông tin của cộng đồng người Việt đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài Nhu cầu thông tin của cộng đồng này là vô cùng lớn, đặc biệt là nhu cầu theo dõi các chương trình truyền hình tiếng Việt do các Đài truyền hình trong nước sản xuất và phát sóng”
Mặc dù một số cơ quan báo chítrong nước đã nỗ lực tuyên truyền chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước; phổ biến các thông tin chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học… tới cộng đồng người Việt đang sinh sống, lao động, học tập ở nước ngoài Đài truyền hình Việt Nam có kênh truyền hình đối ngoại VTV4; Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC có kênh truyền hình Văn hóa Việt VTC10 Tuy nhiên, hầu hết các kênh truyền hình như VTV4, VTC10 đều vấp phải trở ngại chung là bị giới hạn bởi phạm vi phủ sóng nên việc đưa các thông tin đến cộng đồng người Việt xa tổ quốc gặp rất nhiều khó khăn Trang web truyền hình thvl.vn do đài PTTH Vĩnh Long xây dựng có nhiều lợi thế hơn do những ưu việt của công nghệ internet nhưng cũng gặp trở ngại về máy chủ, đường truyền… Tại nhiều nơi trên thế giới, việc truy cập http://thvl.vn còn khó khăn, nhất là khi số lượng người truy cập đồng thời tăngcao
Trang 32Trong khi đó, trên thế giới và ở Việt Nam xu hướng sử dụng mạng xã hội đang ngày càng trở nên phổ biến Người dùng có thể chia sẻ các hình ảnh, video clip… thậm chí thực hiện các chương trình truyền hình trực tiếp qua các mạng xã hội toàn cầu như Youtube, Facebook, Twitter, Google +… mà hầu như không vấp phải các trở ngại về mặt kỹ thuật do các mạng này đều được đầu tư hạ tầng rất mạnh với hệ thống máy chủ bao phủ toàn cầu Ngoài ra, với
cơ chế chia sẻ tức thì, các thông tin trên mạng xã hội được lan truyền rất nhanh Vì thế, các mạng xã hội này đã thu hút được hàng tỉ người trên khắp hành tinh tham gia và tạo thành một cộng đồng đông đảo trong đó có rất nhiều người Việt Nam đang sinh sống, học tập, lao động tại nước ngoài
Trong số các mạng xã hội có cộng đồng đông đảo nhất trên thế giới, Youtube được đánh giá là mạng chia sẻ video số 1 Với chính sách phát triển toàn cầu, Youtube xây dựng một hệ thống máy chủ khổng lồ, người dùng có thể theo dõi Youtube một cách dễ dàng từ khắp nơitrênthếgiới
Trên thực tế, nhiều kênh truyền hình nổi tiếng trên thế giới cũng đã lựa chọn Youtube để mở rộng ―lãnh thổ‖ của mình như CNN, BBC, Bloomberg, KBS, ABC, VOA… Rất nhiều người Việt cả ở trong và ngoài nước cũng lựa chọn việc xây dựng các kênh video cá nhân trên Youtube để chia sẻ thông tin cho nhau Thậm chí, có nhiều kênh truyền hình tiếng Việt tại hải ngoại cũng lựa chọn Youtube là hạ tầng phát sóng để phổ biến các thông tin trong cộng đồng
Đầu năm 2013, thông qua 1 đối tác tại Việt Nam là Công ty cổ phần Phong phú Sắc Việt (Gọi tắt là POPS) có trụ sở tại 268 Tô Hiến Thành, Quận
10, Tp.HCM, Youtube triển khai việc thực hiện các ký kết bảo hộ bản quyền truyền hình cho các kênh truyền hình tại Việt Nam Nhận thấy, việc hợp tác với Youtube mang lại nhiều ý nghĩa nhất là việc tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước và phục vụ nhu cầu thông tin của
Trang 33khán giả đặc biệt là khán giả xa tổ quốc, từ tháng 11/2014 Đài truyền hình Vĩnh Long đã xúc tiến hợp tác cùng POPs trong việc vận hành thử nghiệm kênh truyền hình của THVL trên mạng xã hội toàn cầu Youtube với tên kênh
là vinhlongTV
1.3 Tiêu chuẩn một chương trình để chuyển đổi thành nội dung số
1.3.1.Tiêu chí nội dung
Tên của một video clip dùng để đăng tải lên Youtube và THVLi và các
hạ tầng truyền thông số là rất quan trọng Các clip được chọn phải được đặt một tiêu đề dễ nhớ, dễ lọt vào trong các nhu cầu tìm kiếm của người dùng Thông thường, cách làm của đội ngũ biên tập là đặt tên (title) gắn với tên của các chương trình giả trí hoặc bộ phim ăn khách đã phát sóng trên ti vi truyền thống Chẳng hạn, khán giả nghĩ đến việc tìm 1 chương trình nào đó của Đài THVL trên Youtube, họ thường có xu hướng gõ THVL hoặc tên chương trình Vì vậy, tiêu chí đầu tiên luôn được đảm bảo để tăng khả năng tiếp cận khán giả đối với các nội dung số
Nội dung phát sóng có thể thu hút lượng người xem đột biến thường là những nội dung phù hợp với xu hướng tìm kiếm Ví dụ, ngay thời điểm tháng
6 và tháng 7 của năm 2019, khán giả quan tâm đến những tình tiết của bộ phim truyền hình ăn khách Tiếng sét trong mưa, lượng tìm kiếm tăng vọt thì ngay lập tức nội dung liên quan được đăng tải cũng sẽ có lượng view rất tốt Những nội dung có khả năng thu hút khán giả xem đi xem lại cũng luôn chiếm lượng người xem đáng kể Chẳng hạn như các video clip cung cấp kiến thức y học thường thức,Chuyện cảnh giác, Ký sự pháp đình, Ký sự truyền hình
Theo bà Nguyễn Hữu Vĩnh Hạnh, Giám đốc điều hành của Công ty POPs Worldwide – đối tác chính thức của Youtube tại Việt Nam thì : ―Theo thống kê của Youtube cũng như Youtube Việt Nam, những nội dung mà
Trang 34người dùng quan tâm, truy cập và xem nhiều nhất là những nội dung liên quan đến âm nhạc, videoclip hài và các clip hướng dẫn‖
Như vậy, nội dung giải trí và nội dung liên quan đến các kỹ năng trong cuộc sống là những nội dung được người dùng hoặc người xem quan tâm nhiều nhất Tuy nhiên, với tiêu chí đáp ứng tối đa nhu cầu của khán giả và dựa vào kho nội dung số phong phú của mình, THVL đưa lên các hạ tầng số tất cả những video clip mà đơn vị đang nắm giữ bản quyền
Thêm vào đó, nội dung của các video clip được phân loại, chọn lọc để đăng tải theo tiêu chí của 6 kênh Youtube chuyên biệt là: THVL Phim, THVL Giải trí, THVL Ca nhạc, THVL Thiếu nhi, THVL Tổng hợp và VinhlongTV
Avatar: Logo đại diện của video
Section: Các mục của video
Thumbnail: Ảnh đại diện của Video Ảnh đại diện (thumbnail) của video rất quan trọng Cần sử dụng các ảnh có chất lượng cao, phù hợp với nội dung video Ngoài ra, các ảnh được lựa chọn nên là các ảnh cận do các thiết bị xem youtube thường chủ yếu là máy tính, máy tính bảng, điện thoại Các ảnh cận
rõ ràng về thông tin và thu hút người xem tốt hơn
Trang 35Playlist (Danh sách phát) : Nên sắp xếp các video có cùng nội dung vào cùng 1 danh sách Điều này tăng khả năng người xem tiếp cận các video này Các video trên Youtube luôn cần đảm bảo các yếu tố kỹ thuật về hình ảnh và âm thanh riêng biệt
1.3.3 Tiêu chí về công nghệ
Để tiếp cận với các video clip trên các kênh truyền thông số cuả THVL, người dùng chỉ cần có một thiết bị máy tính (để bàn hoặc xách tay)/điện thoại thông minh/máy tính bảng kết nối với internet
Đối với các video clip bất kỳ, người dùng có thể sử dụng công cụ tìm kiếm để tìm video clip đó qua các từ khoá gợi ý Còn đối với những kênh truyền hình trực tuyến mà người dùng thường xuyên truy cập, người dùng có thể đăng ký theo dõi, trở thành thành viên (subscriber) bằng tài khoản là email (thư điện tử) của mình Mỗi khi Kênh truyền hình trực tuyến có những nội dung mới, nó sẽ tự động gửi một email để báo với người dùng về chủ đề và nội dung sơ lược của video clip mới đó, cũng như cung cấp một đường link để người dùng có thể truy cập từ email
Bên cạnh đó, một cách truy cập mà người dùng thường xuyên sử dụng
để xem các video clip trực tuyến trên kênh truyền hình trực tuyến, đó là vào địa chỉ của kênh truyền hình trực tuyến đó Trang chủ của kênh đó sẽ hiện ra với đầy đủ các mục kèm theo, người dùng chỉ việc lựa chọn video clip mà mình yêu thích
Tuy nhiên, việc theo dõi các video clip trên các kênh truyền hình trực tuyến cũng có một số mặt hạn chế vì các video clip này được phát trên nền internet, chất lượng và hiệu quả truyền thông của các sản phẩm này phụ thuộc vào chất lượng đường truyền internet Ngay cả ở những vùng có internet, cũng chỉ có một nhóm khán giả nhất định – những người hiểu biết và nhạy
Trang 36bén với công nghệ và internet mới ưa thích và chọn xem các nội dung thông tin trên các kênh truyền hình trực tuyến
1.4.Vai trò của việc phát triển nội dung số
1.4.1 Thực hiện nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền
“Cũng giống như các Kênh truyền hình truyền thống, việc phát triển nội dung số trên các kênh truyền thông cần thực hiện tốt nhiệm vụ của báo chí được quy định trong Luật, đó là tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới đông đảo các tầng lớp quần chúng nhân dân trong nước và đồng bào xa tổ quốc” – (Ông Huỳnh Tấn Phát – Phó Giám đốc đài PTTH Vĩnh Long)
Ngoài ra, nội dung trên các kênh truyền thông số cũng cần có đóng góp
rõ rệt trong việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức, thành tựu khoa học, kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao trình độ dân trí của khán giả
1.4.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu khán giả trên mạng internet
Trong cả khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam là nước có số người dùng Internet cao với 64 triệu người Đây thực sự là một mảnh đất màu
mỡ cho các dịch vụ nội dung số và quảng cáo trực tuyến phát triển.[24, tr 51] Việc các kênh truyền thông số có thể đáp ứng tối đa nhu cầu của khán giả trên mạng internetxuất phát từ chính đặc điểm của những nhóm công chúng cụ thể Một kênh giải trí số có thể đáp ứng được nhu cầu nội dung chuyên biệt của công chúng, giúp họ tận dụng những trang thiết bị công nghệ hiện đại sẵn có, tiết kiệm thời gian, đồng thời giúp họ có thể tương tác, chia sẻ những thông tin và hình ảnh thú vị với nhau
Công chúng trong thời đại số là những người có tuổi đời rất trẻ, trung bình từ 15-30 tuổi, có điều kiện và khả năng sử dụng công nghệ hiện đại nhưng lại có quỹ thời gian hạn hẹp Công chúng của Kênh truyền hình trực tuyến là những người rất bận rộn Đó là chưa kể đến việc khi sử dụng internet,
Trang 37thời gian của họ còn bị phân tán bởi nhiều nhu cầu khác nhau như email công việc, tham gia mạng xã hội, đọc tin tức trên báo mạng hay một số nhu cầu giải trí khác
Việc có ít thời gian cũng khiến cho công chúng của kênh truyền hình trực tuyến phải tận dụng mọi nơi, mọi lúc có thể nếu muốn tiếp cận thông tin qua các video Họ có thể xem truyền hình trên điện thoại di động, trên máy tính bảng, trên laptop…trong khi đang di chuyển, trong giờ nghỉ giải lao, hay thậm chí trong khi đang làm việc Và cũng vì thế khi dành quỹ thời gian của mình để xem video trực tuyến nhằm thoả mãn những nhu cầu cá nhân, họ luôn cân nhắc đến những lĩnh vực mà họ thực sự quan tâm Các kênh truyền thông số chuyên biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc tiết kiệm thời gian của khán giả Chuyên biệt và cá thể hoá đảm bảo sự linh hoạt của lựa chọn khán giả, đồng thời do đi sâu về một vấn đề nên người làm truyền hình buộc phải thể hiện cặn kẽ nội dung chương trình của họ khiến chất lượng nội dung càng trở nên sâu sắc.[41, tr.192]
Bên cạnh đó, thói quen và thời gian xem truyền hình và sử dụng internet
để xem các video trực tuyến đang thay đổi theo chiều hướng công chúng chuyển dần sang phương tiện internet thay vì xem các chương trình một cách thụ động trên truyền hình truyền thống Đặc biệt, với những thông tin mà công chúng quan tâm, họ có thể dừng lại, hoặc cho nội dung chạy đi chạy lại
để nghe rõ và ghi nhớ
Trong Cơ sở lý luận báo chí, PGS.TS Nguyễn Văn Dững có viết: ―Trong truyền thông, tương tác có nghĩa là sự tác động, giao tiếp 2 chiều qua lại giữa chủ thể với khách thể truyền thông, giữa nhà truyền thông với công chúng trong điều kiện và vấn đề cụ thể nào đó‖[11, tr.87]
Trong một cuốn sách khác, cuốn Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng
cơ bản, PGS.TS Nguyễn Văn Dững cũng chỉ ra một trong những nguyên lý
Trang 38của truyền thông là ―trong quá trình truyền thông, tần suất tương tác giữa chủ thể và khách thể càng nhiều, càng bình đẳng, càng nhiều người tham gia bao nhiêu, thì năng lực và hiệu quả truyền thông càng cao bấy nhiêu‖[12, tr.116].Đối với các nội dung số truyền hình, thông qua việc bình luận về video
và các nội dung liên quan Đặc biệt và mạnh mẽ hơn, công chúng còn có thể chia sẻ video trực tuyến với bạn bè thông qua các mạng xã hội, và bình luận, tranh luận lẫn nhau về video và các nội dung liên quan
1.4.3 Khả năng đáp ứng hiệu quả kinh tế
Trong cuốn Tìm hiểu Kinh tế truyền hình, Tiến sĩ Bùi Chí Trung cho
rằng ―luôn thay đổi thích ứng với thực tế là yêu cầu cơ bản của các dịch vụ truyền hình‖ và ―Áp dụng nhanh các phát minh mới thành các dịch vụ truyền hình : là bí quyết thành công của nhiều hệ thống truyền hình các nước phát triển…Sản phẩm điển hình của sự hội tụ công nghệ viễn thông và truyền hình
có thể kể tới là loại hình dịch vụ IPTV, truyền hình internet và truyền hình di động trên điện thoại‖.[41, tr.216]
Kho nội dung trên các nền tảng truyền thông số cho phép công chúng có thể lựa chọn video mà mình muốn xem, tiếp cận với thông tin mọi lúc, mọi nơi trên các thiết bị di động cũng như kết nối và tương tác giữa người dùng với nhau cũng như giữa người dùng với chủ thể truyền thông là các Đài truyền hình Bên cạnh đó, cũng nhờ có tính tương tác mạnh mẽ và kết nối dễ dàng, các Kênh truyền thông số có thể mang lại những nguồn lợi khổng lồ từ quảng cáo thông qua các công cụ hỗ trợ
Theo trang marketingproofs.com, với mạng chia sẻ video trực tuyến toàn cầu Youtube, quảng cáo trên các Kênh truyền thông số thực ra là chạy quảng cáo Google Adwords cho video trên Youtube
TrueView In-Search Ads: Là dạng quảng cáo Youtube chỉ yêu cầu người dùng trả tiền khi có người xem video của người dùng
Trang 39TrueView In-Display Ads: Xuất hiện dưới dạng Suggested Video (video gợi ý) trên YouTube Người dùng chỉ phải trả tiền khi có người bắt đầu xem video được YouTube gợi ý
TrueView In – Stream Ads: TVC chạy đầu video Quảng cáo dạng này không bị giới hạn độ dài Người xem có thể lựa chọn ―bỏ qua‖ hoặc ―skip‖ sau 5s đầu của quảng cáo Youtube tính tiền khi người xem ít nhất 30s đầu quảng cáo
Standard In-Stream Ads: Standard In-Stream Ads khá giống với TrueView in-stream Ads ở mục 3, trừ hai điểm: người xem không thể bỏ qua
và giới hạn độ dài tối đa (15 giây với video dưới 10 phút và 30 giây với video trên 10 phút)
* Display YouTube ads: Người dùng mua banners (quảng cáo dạng thanh dưới chân màn hình) và flash banners (quảng cáo dạng thanh động dưới chân màn hình) với Google AdWords rồi cho hiển thị với các khán giả mục tiêu, ở vùng kế bên Suggested videos (các video gợi ý) hoặc ở các banners chạy chồng lên video Người dùng có thể chọn cách trả tiền theo CPM (cost per 1000 impressions – tính tiền theo lượng truy cập) hoặc CPC (Cost Per Click – tính tiền theo số lần nhấp chuột)
Doanh thu từ quảng cáo trên video của các kênh truyền hình trực tuyến chủ yếu đến từ quảng cáo thông qua công cụ Google Adsense của hãng Google Doanh thu cao hay thấp chủ yếu phụ thuộc vào số lượng người xem video, khoảng thời gian người dùng xem video…Ngoài ra còn là tỷ lệ ăn chia giữa đơn vị sở hữu kênh truyền hình trực tuyến và Youtube/đại lý của Youtube
Trang 40Kênh truyền thông số là một khái niệm mới, có sự kết hợp khá phức tạp giữa mô hình mạng xã hội và truyền hình, lại phải đáp ứng được yêu cầu về tiếp cận nội dung thông tin và những yêu cầu chuyên biệt của đa dạng những đối tượng công chúng khán giả
Các kênh truyền thông số có vai trò to lớn trong việc cung cấp những thông tin thiết yếu, tuyên truyền những chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đông đảo người dân trên khắp mọi miền đất nước cũng như kiều bào Việt Nam ở nước ngoài Đồng thời cũng có thể đáp ứng được những nhu cầu chuyên biệt của khán giả, qua đó tạo nên hiệu quả về kinh tế cho đơn vị cung cấp nội dung
Các nội dung đăng tải trên các kênh truyền thông số phải đáp ứng được những tiêu chí khác biệt về nội dung, hình thức, công nghệ so với kênh truyền hình truyền thống cũng như phù hợp với đặc điểm của công chúng riêng biệt đối với loại hình này
Những vấn đề lý luận và một số thực tiễn đặt ra về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động phát triển và kinh doanh nội dung số được trình bày ở chương 1 là tiền đề, cơ sở quan trọng để triển khai nội dung các chương tiếp theo của luận văn