Thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà NộiThuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH TÂM
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, 2020
Trang 22
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài
Thuế GTGT là loại thuế ra đời nhằm khắc phục việc đánh thuế trùng lắp của thuế doanh thu, nó chỉ đánh vào giá trị tăng thêm được thể hiện bằng tiền lương, tiền công, lợi nhuận, lợi tức và các khoản chi phí tài chính khác của các sản phẩm, dịch vụ tại mỗi công đoạn sản xuất và lưu thông, làm sao để đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ thì tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính theo giá bán cho người cuối cùng Việc xác định nội dung của pháp luật thuế GTGT để thay thuế pháp luật thuế doanh thu phải giải quyết được tình trạng thuế trùng thuế qua các khâu của quá trình lưu thông hàng hóa, góp phần tạo ra sự dong bằng giữa các chủ thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, kích thích lưu thông hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng Đồng thời, việc xác định căn cứ tính thuế không chỉ để tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước, đảm bảo bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế mà còn là biện pháp chống gian lận, trốn lậu thuế ở các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa
“Để hiện thực hóa chủ trương “phải tranh thủ các nguồn vốn bên ngoài với mức cao nhất” của Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội VI, Chính phủ, Quốc hội đã xây dựng và thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Theo đó, Luật Đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 29/12/1987 Luật này đã tạo khung pháp lý cơ bản để nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam như: Bảo đảm quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi khác của các
tổ chức, cá nhân nước ngoài; quy định về các hình thức đầu tư, thủ tục đầu tư, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài… Chính sách thuế thu hút doanh nghiệp FDI đầu tư tại Việt Nam nói riêng và thu hút đầu tư nói chung không nên quá tập trung vào chính sách ưu đãi thuế mà cần hướng đến một hệ thống thuế tốt với chi phí tuân thủ thấp cho người nộp thuế (kể cả chi phí chính thức và chi phí phi chính thức), tức là một hệ thống thuế: Minh bạch, công bằng, hiệu quả, phù hợp với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế Do
đó, theo đánh giá của Chính phủ, trong những năm qua, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta và cộng đồng doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, trải qua nhiều chuyển biến” [2;tr.5] Trước sự biến động của nền kinh tế, sự thay đổi phương thức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xu hướng phát triển của kinh tế - xã hội thế giới, thông lệ quốc tế đã cam kết, Thuế GTGT thời
Trang 33
gian qua đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần ổn định, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, tăng tổng cầu nền kinh tế, đồng thời thực hiện đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Bên cạnh những kết quả đạt được, qua quá trình thực hiện quy định pháp luật về thuế GTGT vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục để tiếp tục phục hồi đà tăng trưởng trong thời gian tới, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế Các vụ gian lận thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài ĐVNĐTNN ngày càng nhiều, các hình thức ngày càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ĐVNĐTNN đã trở nên vô cùng nguy hiểm và đáng báo động bởi nó tạo ra sự bất công bằng cho các đối tượng nộp thuế “Chỉ riêng trong hoàn thuế thì năm 2017 phát hiện
521 vụ gian lận thuế GTGT, năm 2018 phát hiện 219 vụ, năm 2019 phát hiện 178 vụ nâng tổng số tiền hoàn thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ĐVNĐTNN bị chiếm đoạt lên hàng ngàn tỷ đồng từ năm 1999 các vụ về mua bán hoá đơn hay làm sai lệch giá trên hoá đơn không hề có xu hướng giảm sút Tình trạng này làm đau đầu các nhà quản lý nói riêng và xã hội nói chung, có những kẻ đã lợi dụng những kẽ hở trong luật và trong quản lý của nhà nước ta để bòn rút tiền từ ngân sách nhà nước và đút túi cá nhân mình Để góp phần đảm bảo công bằng giữa các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế thì việc nghiên cứu cơ chế thi hành Luật thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá thực trạng và những giải pháp để hoàn thiện pháp Luật thuế GTGT” [3,tr.5]
Do đó, học viên lựa chọn đề tài "Thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội"
để làm luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian vừa qua, lĩnh vực thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, qua thực tiễn các tổ chức, cá nhân được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu Đã có một số công trình nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau, ở phạm vi lớn trên quy mô cả nước cho đến những phạm vi nhỏ hơn như địa bàn tỉnh Có một số đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ và nhiều luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ với chủ đề liên quan, tiêu biểu có thể kể một số nghiên cứu sau:
Trang 44
- Nguyễn Thị Thương Huyền (2003), luận án tiến sĩ luật học với nội dung Một số
vấn đề pháp lý về thuế giá trị gia tăng và việc áp dụng thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam
Đề tài nêu rõ những ưu điểm, thành tựu đạt được cũng như những vướng mắc trên thực
tế và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc đó Để từ đó xác định phương hướng và giải pháp hoàn thiện luật nhắm nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT ở Việt Nam
- Trần Văn Xuân (2018), Quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn
thạc sĩ Luật học tại Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, đề tài đã triển khai nghiên cứu gồm
3 phần; (i) là Khái quát chung về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài; khái niệm chung, mục đích và nguyên tắc, pháp luật áp dụng giải quyết quan hệ; (ii) những quy định cụ thể của pháp luật điều chỉnh vấn đề thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; trình tự thủ tục giả quyết, hậu quả pháp
lý của việc thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; (iii) thực trạng và giải pháp của quan hệ thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, tình hình chung về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài; môt số vướng mắc của pháp luật, một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Trần Minh Anh (2017), Thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học tại Đại học
Luật Huế Luận văn đã xây dựng các khái niệm cơ bản như khái niệm thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chế định pháp lý về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các hình thức thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời làm rõ bản chất và hệ quả pháp lý của mỗi hình thức thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong thực tiễn áp dụng và từ đó kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này mà các quy định trước đây chưa hề được đề cập đế - Nguyễn
Bảo Anh (2016), Thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ
Quản lý công tại Học viện Hành chính Quốc gia Luận văn đã đi sâu nghiên cứu một số vấn đề lí luận và thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thuế giá trị gia tăng đối
Trang 55
với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Hà Nội; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này
- Vũ Kỳ (2019), Thực hiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài và thực tiễn thi hành, luận văn thạc sĩ Luật học tại Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lí luận và qui định của pháp luật hiện hành về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài; từ đó đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước về vấn đề này
- Trần Thị Hạnh (2007), Cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế giá trị gia tăng đối
với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Luận văn đã xây dựng các khái niệm cơ bản như khái niệm thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; chế định pháp lý về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các hình thức thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời làm rõ bản cơ sở xã hội - lịch sử của việc thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và chỉ ra những yếu
tố cơ bản ảnh hưởng tới việc thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay
- Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) đề tài Luận án Tiến sĩ của Trường Đại học kinh tế
quốc dân, “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ
thuế của doanh nghiệp” Đóng góp chủ yếu của đề tài là đã hệ thống những công trình
nghiên cứu về sự tuân thủ thuế và Quản lý thuế của Nhà nước đối với doanh nghiệp của các tác giả nước ngoài và trong nước Đề tài đã làm rõ bản chất mới của quản lý thuế cần được thể hiện đầy đủ trong các chiến lược quản lý sự nộp thuế của từng nhóm người nộp thuế ở từng cấp độ tuân thủ thuế khác nhau
- Trần Đình Thạch (2019), Luận Vưn thạc sĩ luật học tại Học viện KHXH với đề
tài “Thuế Giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay, từ
thực tiễn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh ” Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa
ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế GTGT góp phần tăng cường quản
Trang 66
lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng Yên và tỉnh Quảng Ninh nhằm chống thất thu thuế GTGT
- Lê Thị Hồng Lũy (2012) đề tài Luận văn thạc sỹ, “Tăng cường kiểm soát thuế
giá trị gia tăng tại cục thuế tỉnh Bình Định” Luận văn đã làm rõ việc kiểm soát thuế giá
trị gia tăng ở các khâu trong quá trình thu thuế giá trị gia tăng nhưng các giải pháp đưa
ra chủ yếu bám theo các quy trình quản lý thuế, chưa có những giải pháp mang tính thực
tế Đối với nhóm giải pháp hoàn thiện công tác bộ máy, đẩy mạnh công tác tuyên truyền
hỗ trợ người nộp thuế, công tác thanh tra, kiểm tra và phân tích các chỉ tiêu đánh giá, mặc dù tác giả đã có ý tưởng hoàn thiện về trình độ cán bộ công chức thuế và công tác phân tích đánh giá các chỉ tiêu kê khai, tuy nhiên tác giả chưa đề xuất được các giải pháp
về bố trí sắp xếp lại các Phòng, Đội cho phù hợp với thực tế hiện nay và các chỉ tiêu phân tích chỉ mang nặng tính lý thuyết
- Nguyễn Thành Công (2014) đề tài Luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lượng quản
lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” Tác
giả đã làm rõ cơ sở lý luận về công tác quản lý thuế đối với thuế giá trị gia tăng Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng tại Quảng Ninh giai đoạn 2011-2013, chỉ ra được những tồn tại trong công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Từ đó tác giả đã đề xuất các giải pháp khả thi, nhằm tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng góp phần tăng nguồn thu ngân sách của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới
- Trương Thị Tiểu Quỳnh (2018), đề tài luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật thuế
giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”
Tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận về thuế GTGT và pháp luật thuế GTGT Phân tích, đánh giá thực trạng thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP, Hồ Chí Minh, chỉ ra được những tồn tại trong công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn TP, Hồ Chí Minh Từ đó tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và các giải pháp tăng cường quản lý thuế giá trị gia đối với các doanh nghiệp vùa và nhỏ trên địa bàn TP, Hồ Chí Minh trong thời gian tới
Luận văn đã chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện hành, hệ quả pháp lý của việc thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa được quy định đầy đủ và
Trang 7Bên cạnh đó, nội dung nghiên cứu về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm công bố trên tạp chí khoa học có uy tín như:
+ Trần Thị Thi (2018), Những bất cập về thuế giá trị gia tăng đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, Số 9/2018, tr 14 - 18,
bài nghiên cứu phân tích những điểm bất cập và hướng hoàn thiện các quy định về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm đảm bảo hiệu quả của việc thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Trần An Khánh (2017), Bàn về điều kiện thuế giá trị gia tăng đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài , Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp,Số 7/2017,
tr 11 - 16, bài viết nêu những bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện trong thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và kiến nghị hoàn thiện về vấn đề này
+ Đinh Thị Mai (2018), Một số vấn đề về thuế giá trị gia tăng đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài , Tạp chí Công Thương , số 7/2018, tr 42 - 49; bài viết
phân tích một số vấn đề về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài , một số vấn đề còn tồn tại trong việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài , qua đó, nhằm đảm bảo hiệu quả của việc thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Những luận văn, luận án và công trình nghiên cứu trên đã tiếp tục nêu lên tầm quan trọng của việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định về pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc áp dụng thực tiễn vẫn thực sự cần thiết
Việc nghiên cứu sẽ chỉ ra những mặt tích cực, mặt hạn chế khi áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào thực tế, vừa đề ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về các thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi của nhân dân, cũng như
Trang 88
mục đích, ý nghĩa của việc thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về nội dung, vai trò, đồng thời đánh giá thực trạng của các quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng và thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài đặt ra, tác giả thực hiện những nhiệm
- Đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn đi sâu nghiên cứu các quan điểm, các quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các quy định pháp luật có liên quan
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Phạm vi về nội dung: Những quy định của pháp luật hiện hành về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gồm pháp luật nội dung và pháp luật thủ tục); thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp
Trang 9tư nước ngoài
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: từ năm 2015 đến năm 2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận, quan điểm của Đảng và Nhà nước về Nhà nước và Pháp luật, về phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế Nội dung của luận văn được nêu và phân tích dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật và các tài liệu pháp lý Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất
cả các chương của luận văn để phân tích các khái niệm, phân tích quy định của pháp luật, các số liệu,
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng trong luận văn để so sánh một số quy định của pháp luật trong các văn bản khác nhau, tập chung chủ yếu ở chương 2 của luận văn
- Phương pháp diễn giải quy nạp: Được sử dụng trong luận văn để diễn giải các
số liệu, các nội dung trích dẫn liên quan và được sử dụng tất cả các chương của luận văn
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác: phương pháp thống kê,
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, qua thực tiễn áp dụng trong điều kiện hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Trang 1010
Các giải pháp và kiến nghị của đề tài luận văn có giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội trong điều kiện hiện nay
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn cũng có ý nghĩa tham khảo đối với các cơ quan quản lý quản lý thuế trong việc quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần: Mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được chia làm ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về thuế giá trị gia tăng và pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ thực tiễn thành phố Hà Nội
1.1.1.1 Khái niệm thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Khi áp dụng pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo cho doanh nghiệp cơ chế tự kiểm tra, hạn chế việc kinh doanh trốn thuế “Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần vào việc hoàn thiện
Trang 1111
hệ thống chính sách thuế ở nước ta phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với kinh tế thị trường, tạo điều kiện để tham gia mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, nhanh chóng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài có tầm quan trọng như vậy nên việc pháp điển hóa thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài càng có ý nghĩa sâu sắc Hệ thống thuế của một quốc gia có nhiều sắc thuế khác nhau mà thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một trong số đó Phụ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội ở mỗi nước và trình độ lập pháp, sự lựa chọn của các nhà làm luật khác nhau mà việc xây dựng pháp luật thuế lại khác nhau Có nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật, trong đó vừa có quy định về nội dung điều chỉnh đối với các đối tượng chịu thuế vừa quy định về trình
tự, thủ tục thực hiện và cơ chế quản lý, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp đối với sắc thuế đó” [31,tr.25] Có nước lại có một đạo luật riêng về nội dung từng sắc thuế và đạo luật riêng về quản lý thuế Tuy nhiên nhìn vào bản chất khi doanh nghiệp thực thi một sắc thuế cụ thể thì doanh nghiệp cần thực hiện theo nội dung các quy định của sắc thuế cũng như các quy định về trình tự để thực hiện sắc thuế đó Vì vậy, dù pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dù được xây dựng theo hình thức nào thì pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng gồm hai bộ phận: luật nội dung là luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và luật hình thức là luật quản lý thuế
Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp và được xem như là một trong những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, kích thích nền kinh góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu Quá trình triển khai thực hiện Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế - xã hội của đất nước và đã đạt được những
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng (dưới đây viết tắt là VAT - Value Added Tax) VAT là loại thuế gián thu, đã được nhiều nước áp dụng để thay cho thuế doanh thu Được gọi là thuế VAT vì thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình sản xuất - kinh doanh, và tổng số thuế thu được ở mỗi khâu bằng chính số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng Về bản chất, thuế VAT
do các nhà sản xuất kinh doanh nộp hộ người tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế
Trang 1212
này vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán bằng chính số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng Theo Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 và Luật thuế
giá trị gia tăng sửa đổi năm 2013, thuế GTGT được định nghĩa như sau: “Thuế giá trị
gia tăng là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình tư sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng" Thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất
rộng Mọi đối tượng tồn tại trong xã hội cho dù là tổ chức hay cá nhân, là người nghèo hay người có thu nhập cao đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho nền kinh tế - xã hội Điều này có nghĩa, mọi đối tượng trong
xã hội đều là chủ thể chịu thuế, chủ thể thực tế phải tới sự tác động của pháp luật thuế GTGT, đối với đời sống kinh tế, xã hội Việc đánh thuế đối với mọi đối tượng trên phạm
vi lãnh thổ thể hiện rõ nét sự công bằng của thuế đồng thời thể hiện thái độ của nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội
Như vậy, thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là
thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình tư sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng được áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.1.2 Đặc điểm thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
“Thuế GTGT tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế GTGT áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng Đặc điểm này của thuế GTGT còn yêu cầu pháp luật điều chỉnh phải tìm ra cách thức, phương thức phù hợp, có tính khả thi để xác định chính xác phần giá trị tăng thêm làm căn cứ tính thuế Nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ, số thuế GTGT phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác nhau Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa ở trong nước, khâu nhập khẩu và lưu thông hàng nhập khẩu nhưng
cơ sở xác định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới tăng thêm của khâu sau so với khâu trước nên nếu coi giá thanh toán tính đến khi người tiêu dùng thụ hưởng hàng hóa dịch vụ đã xác định trước và không thay đổi các phần giá trị hàng hóa dịch vụ có bị chia nhỏ và đánh thuế, tổng số thuế GTGT phải nộp qua các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng phải chịu Đây vừa là đặc
Trang 131.1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài
Thứ nhất, khắc phục được nhược điểm trùng lắp "Thuế thu trên thuế" nên góp
phần khuyến khích chuyên môn hóa, hợp tác hóa để nâng cao năng suất chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, phù hợp với nền kinh tế sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được áp dụng rộng rãi với mọi tổ chức và cá nhân có tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa hoặc được cung ứng dịch
vụ, thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngooài chỉ tính vào phần giá trị tăng thêm, không tính vào vốn nên pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những đảm bảo được nguồn thu cho NSNN tương ứng với số thuế doanh thu trước đây mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh Trên cơ sở đó để tăng thu cho NSNN Pháp luật Thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hàng năm ở các nước thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế) chiếm 18,7% Ở Việt Nam, thuế đóng góp vào NSNN liên tục tăng) Có thể thấy, pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 1414
đóng góp phần quan trọng với tỷ lệ lớn nguồn thuế nộp vào NSNN hàng năm Đối với nhận thức của người nộp sắc thuế này thì đây là một sắc thuế hấp dẫn hơn các sắc thuế khác vì bản chất của nó: NNT biết những gì họ phải trả và nếu họ không mua hàng hóa thì họ không phải trả tiền thuế Do có ít tác động tiêu cực đối với tâm lý của NNT nên
số pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu được cũng chiếm
tỷ lệ cao và tốt cho tăng trưởng kinh tế hơn so với thuế khác (điển hình như thuế thu nhập) Thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu cả đối với hàng hóa nhập khẩu tạo sự bình đẳng trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhập khẩu và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước
Thứ hai, khi áp dụng pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đã tạo cho doanh nghiệp cơ chế tự kiểm tra, hạn chế việc kinh doanh trốn thuế
“Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với kinh tế thị trường, tạo điều kiện để tham gia mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, nhanh chóng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài có tầm quan trọng như vậy nên việc pháp điển hóa thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài càng có ý nghĩa sâu sắc Hệ thống thuế của một quốc gia có nhiều sắc thuế khác nhau mà thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài là một trong số đó Phụ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội ở mỗi nước và trình độ lập pháp, sự lựa chọn của các nhà làm luật khác nhau mà việc xây dựng pháp luật thuế lại khác nhau Có nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật, trong
đó vừa có quy định về nội dung điều chỉnh đối với các đối tượng chịu thuế vừa quy định
về trình tự, thủ tục thực hiện và cơ chế quản lý, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp đối với sắc thuế đó” [31,tr.25] Có nước lại có một đạo luật riêng về nội dung từng sắc thuế
và đạo luật riêng về quản lý thuế Tuy nhiên nhìn vào bản chất khi doanh nghiệp thực thi một sắc thuế cụ thể thì doanh nghiệp cần thực hiện theo nội dung các quy định của sắc thuế cũng như các quy định về trình tự để thực hiện sắc thuế đó Vì vậy, dù pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dù được xây dựng theo hình thức nào thì pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng gồm hai bộ phận: luật nội dung là luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
và luật hình thức là luật quản lý thuế
Trang 1515
Thứ ba, pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khuyến
khích việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu và xuất khẩu thay vì luật thuế cũ khuyến khích sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu, đặc biệt pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài đã khuyến khích sản xuất, kinh doanh những mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh: nông sản, lâm sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ Đặc biệt Luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp phần đến công tác quản lý của doanh nghiệp tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán, kế toán và thúc đẩy việc mua bán hoá đơn VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các doanh nghiệp
Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác quản lý kinh doanh đã bắt đầu trú trọng đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn chứng từ của các doanh nghiệp, qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế
đã giúp cơ quan chức năng và cơ quan thuế từng bước nắm được tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp và được xem như là một trong những giải pháp
hỗ trợ doanh nghiệp, kích thích nền kinh góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu Quá trình triển khai thực hiện Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế - xã hội của đất nước và đã đạt được những mục tiêu đề ra khi ban hành luật là góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, bảo đảm nguồn thu cho NSNN
1.1.3 Cơ chế quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) tác động đến hầu hết các đối tượng trong xã hội Luật Thuế giá trị gia tăng 2008, được sửa đổi, bổ sung 2016 điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực này Đối với cơ chế quản lý thuế khác nhau mà pháp luật có những điều chỉnh khác nhau Trên thế giới có hai loại cơ chế quản lý thuế: Một là cơ chế cơ quan quản lý thuế tính thuế; hai là cơ chế NNT tự khai, tự tính, tự nộp thuế
Đối với Cơ chế cơ quan quản lý thuế tính thuế: Theo cơ chế này đòi hỏi cán bộ
thuế phải kiểm tra các tờ khai thuế, các khoản thu dựa trên những số liệu mà cơ quan
Trang 1616
thuế có được để xác định số thuế chính thức phải nộp và ra thông báo thuế cho doanh nghiệp nộp thuế thực hiện Cơ chế này không khuyến khích NNT tự giác tuân thủ mà đặt nặng trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế Vì vậy, hệ thống quản lý thuế sẽ trở nên cồng kềnh hơn do số lượng cán bộ thuế gia tăng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, số lượng các doanh nghiệp đóng thuế ngày càng nhiều Cơ chế tính thuế này mang tính chất truyền thống khi doanh nghiệp nộp thuế không được đặt ở vị trí trung tâm, mọi cải cách đều hướng đến nhằm tăng cường hoạt động của cơ quan quản lý thuế trong việc thu thuế cho NSNN, doanh nghiệp có vị trí là đối tượng bị quản lý, bị cai trị
Đối với cơ chế tự tính: “Khi nền kinh tế thị trường phát triển và lan rộng ở khắp
các quốc gia trên thế giới đồng thời nền dân chủ cũng được mở rộng, nâng cao và tác động đến nhận thức của doanh nghiệp và cơ quan thuế Việc đăng ký, kê khai, nộp thuế không chỉ đơn thuần là nghĩa vụ của đối tượng là doanh nghiệp nộp thuế mà xét ở góc
độ nào đó còn là quyền của đối tượng nộp thuế: quyền được đăng ký nộp thuế, quyền được kê khai thuế, quyền được tính thuế, quyền được chủ động nộp thuế vào NSNN Ngày nay, doanh nghiệp ngày càng có ý thức nghĩa vụ thuế của mình, vai trò ý nghĩa của việc nộp thuế đối với NSNN, cơ quan thuế ý thức được chức năng, nhiệm vụ của mình trong hoạt động quản lý thuế, hệ thống thuế Do đó, nhiều quốc gia đã thay đổi cơ chế quản lý thuế của mình, chuyển sang áp dụng quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp Việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế đã là vấn đề nổi bật trong quản lý thuế vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20 Một số nước như: Anh, Pháp thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế từng bước, trước tiên là áp dụng đối với thuế GTGT, sau đó được đưa vào áp dụng cho các sắc thuế khác Tại một số nước như: Mỹ, Nhật Bản, Đan Mạch, Thụy Điển, cơ chế tự khai, tự nộp thuế đã được áp dụng từ nhiều thập kỷ trước, nhằm mục tiêu thực hiện dân chủ hóa hệ thống quản lý thuế Tại các nước có nền kinh
tế mới nổi, các nước ASEAN như: Philipin, Inđônêxia, Thái Lan, Malaixia, Việt Nam…, việc áp dụng cơ chế tự khai tự nộp thuế được coi là trọng tâm của cải cách pháp luật về quản lý thuế” [26,tr.17]
Theo cơ chế này, việc kê khai, tính thuế, nộp thuế được thực hiện trên nền tảng
sự tuân thủ tự giác về nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp nộp thuế NNT căn cứ các quy định của pháp luật thuế để xác định các loại thuế phải nộp, tự kê khai, tự tính thuế, tự nộp số thuế đã tính vào NSNN Đặc điểm cốt lõi của cơ chế tự khai - tự nộp là xác định trách nhiệm của doanh nghiệp nộp thuế tự xác định doanh thu, chi phí và từ đó lập tờ
Trang 1717
khai thuế đúng kỳ hạn và nộp thuế Tờ khai được gửi đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý
và sẽ được cơ quan thuế chuyển thông tin sang hệ thống Kho bạc, ngân hàng để thực hiện thủ tục nộp thuế NNT có trách nhiệm lưu giữ chứng từ, sổ sách kế toán để chứng minh các số liệu đã kê khai còn cơ quan thuế có nhiệm vụ hướng dẫn để doanh nghiệp nộp thuế hiểu rõ chính sách thuế, các thủ tục về thuế và giám sát, quản lý việc tuân thủ nghĩa vụ thuế thông qua công tác, kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của doanh nghiệp
Cơ chế tự khai tự nộp thuế có nhiều ưu điểm: đảm bảo cân bằng quyền lợi giữa
cơ quan quản lý thuế và doanh nghiệp bởi cơ chế tự khai, tự nộp thuế giảm bớt sức ép
về thuế lên doanh nghiệp, cơ quan quản lý thuế không khoán thuế, ép thuế đối với doanh nghiệp mà để doanh nghiệp tự tính và tự nộp thuế đồng thời tự chịu trách nhiệm với hành vi của mình Theo cơ chế này, doanh nghiệp được đặt ở vị trí trung tâm, cơ quan quản lý thuế hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ đối với nhà nước, đề cao quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện Luật Thuế GTGT Doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động kê khai và nộp thuế đồng thời chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình trong từng khâu của việc thực hiện thuế GTGT Cơ quan quản lý thuế thực hiện cân bằng giữa hai chức năng: chức năng phục vụ, cung cấp dịch vụ thuế cho doanh nghiệp và chức năng giám sát, chức năng quản lý nhà nước, kiểm tra hoạt động tuân thủ pháp luật thuế đối với doanh nghiệp nộp thuế Cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp nhưng cơ quan thuế
sẽ tiến hành thanh tra, kiểm tra và áp dụng các biện pháp xử phạt, cưỡng chế theo luật định đối với những trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật về thuế như không nộp thuế, trốn thuế, gian lận thuế… Áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế này, cơ quan thuế còn tiết kiệm được chi phí hành chính về thuế, công sức, nguồn nhân lực khi mà cơ quan thuế không phải gửi hàng triệu thông báo thuế hàng tháng Cơ quan quản lý thuế có điều kiện để đầu tư vào chức năng như: hỗ trợ, tư vấn cho doanh nghiệp, thanh tra, kiểm tra, cưỡng chế về thuế
Tuy nhiên, áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào các điều kiện sau:
+ Nhà nước phải có hệ thống thuế thực sự minh bạch, doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu chính sách thuế Đặc biệt các thủ tục như đăng ký thuế, kê khai,
Trang 18+ Chế tài đủ sức răn đe đối với các hành vi vi phạm để đảm bảo hiệu quả của hoạt động quản lý thuế, tính thực tiễn của luật thuế GTGT, luậtquản lý thuế và đảm bảo nguồn thu cho NSNN Thanh tra thuế phải kịp thời phát hiện, ngăn chặn đối với các hành vi vi phạm, trốn thuế, gian lận thuế, … tránh tình trạng thất thoát đi NSNN
1.2 Pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Ðây
là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng Chính vì vậy mà chúng ta còn gọi là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế
đã nộp ở giai đoạn trước Thuế giá trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ,
và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ
Nếu như không có các sự kiện biến động về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lưu thông giảm suất, yếu kém, kinh tế suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc
áp dụng thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu sẽ không ảnh hưởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh được thuế chồng lên thuế Hệ thống này chỉ áp dụng trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ, hệ thống chính sách pháp luật là một loại thuế gián thu, được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng trả khi sử dụng sản phẩm đó Mặc dù người tiêu dùng mới chính là người chi trả thuế GTGT,
Trang 1919
nhưng người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước lại là đơn vị sản xuất,
kinh doanh
Như vậy, khái niệm pháp luật thuế giá trị gia tăng là tổng hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT của chủ thể Hay nói cụ thể hơn là tập hợp tất cả các quy phạm, văn bản pháp luật về thuế VAT tạo thành một cấu trúc tổng thể, được phân chia thành các bộ phận có sự thống nhất nội tại theo những tiêu chí nhất định như bản chất, nội dung, mục đích.điều chỉnh thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
1.2.2 Nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
“Pháp luật thuế GTGT gồm các quy định xác định nghĩa vụ thuế GTGT và các
quy định về tổ chức thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT
1.2.2.1 Xác định nghĩa vụ thuế GTGT
* Đối tượng chịu thuế GTGT
Đối tượng chịu thuế bao gồm hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh
và tiêu dùng trong nước Điều đó có nghĩa là đối tượng chịu thuế GTGT thỏa mãn điều kiện:
- Là hàng hóa dịch vụ, được tạo ra từ một cơ sở, một chủ thể sản xuất kinh doanh hoặc được tạo ra nhằm mục đích kinh doanh và hành vi tiêu dùng hàng hóa
- Là hàng hóa dịch vụ, được tiêu dùng trên phạm vi lãnh thổ quốc gia đó (trong
đó có hàng nhập khẩu) Cụ thể, khi một loại HHDV được nhập khẩu để tiêu dùng thì hàng hóa dịch vụ này chịu thuế GTGT bất kể chủ thể nhập khẩu là chủ thể kinh doanh hay không kinh doanh và hành vi nhập khẩu nhằm mục đích kinh doanh hay tiêu dùng
* Đối tượng không chịu thuế GTGT
Đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT là trường hợp HHDV không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT Xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, thuế GTGT không áp dụng cho một số loại hàng hóa dịch vụ nhất định Những hàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT có thể là hàng hóa dịch vụ trong nước hoặc hàng hóa dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài để tiêu thụ nội địa Tuy nhiên, số lượng hàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT ít hơn rất nhiều so với hàng hóa dịch vụ là đối tượng chịu thuế Những lí do đặc biệt để hàng hóa dịch vụ trở thành đối tượng không chịu thuế GTGT:
Trang 2020
- Hàng hóa thuộc nhóm các sản phẩm trồng trọt sản phẩm giống vật nuôi cây trồng, sản phẩm muối được sản xuất từ biển…
- HHDV không tiêu dùng trong nước (chỉ nhằm mục đích xuất khẩu)
- Hàng hóa thuộc loại nội địa chưa sản xuất được cần nhập khẩu
- Hàng hóa nhập khẩu và HHDV bán cho các tổ chức, cá nhân với mục đích nhân đạo…
Cơ sở kinh doanh HHDV thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT thì không phải thực hiện nộp thuế GTGT Do đó họ không được khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào của HHDV sử dụng cho việc sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định mà phải tính vào nguyên giá tài sản cố định, giá trị nguyên
vật liệu hoặc chi phí kinh doanh
* Đối tượng được miễn thuế GTGT
Miễn thuế là trường hợp hàng hóa hay dịch vụ nằm trong đối tượng chịu thuế ở một mức thuế suất nhất định, có các căn cứ tính thuế rõ ràng và phải kê khai thuế đối với cơ quan thuế Tuy nhiên HHDV này được hưởng những ưu đãi từ nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định như đầu tư vào những vùng xa xôi, các ngành nghề đặc biệt nên được miễn thuế để khuyến khích cho nhà đầu tư và tạo điều kiện để sản phẩm hàng hóa dễ dàng tiếp cận thị trường trong nước hoặc xuất khẩu Do đó, miễn thuế mang tính chất ưu tiên, ưu đãi hay được khuyến khích do có phần thuế được miễn giảm hoàn toàn hay một phần, được khấu trừ thuế đầu vào
* Người nộp thuế
Người nộp thuế giá trị gia tăng bao gồm: Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh HHDV chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hóa chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là người nộp thuế giá trị gia tăng
Có nghĩa là, những cá nhân tổ chức có hành vi sau đây thì trở thành người nộp thuế GTGT: hành vi nhập khẩu hàng hóa dịch vụ, hành vi sản xuất hàng hóa dịch vụ, hành
vi kinh doanh hàng hóa dịch vụ Bên cạnh đó, thì người nộp thuế GTGT còn có người nộp thuế thay như đại lý thuế, cơ quan hải quan…
* Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất
- Giá tính thuế
Trang 2121
Giá tính thuế GTGT là giá bán của hàng hóa dịch vụ chưa có thuế GTGT nhưng
có thể đã bao gồm các loại thuế khác (nếu có) như: Thuế TTĐB, Thuế Nhập khẩu, Thuế Bảo vệ Môi trường…Cụ thể, đối với HHDV bán ra là giá bán chưa có thuế
GTGT Đối với HHDV chịu thuế TTĐB là giá bán đã có thuế TTĐB nhưng chưa có thuế GTGT Nếu hàng hóa đó chịu thuế BVMT thì giá bán đã có thuế BVMT nhưng chưa có thuế GTGT Đối với hàng hóa vừa chịu thuế TTĐB, vừa chịu thuế BVMT là giá bán đã có thuế TTĐB, thuế BVMT nhưng chưa có thuế GTGT Tóm lại, vì thuế GTGT là thuế gián thu và được thu sau cùng nên giá tính thuế GTGT là giá bán của hàng hóa dịch vụ trừ đi tiền thuế GTGT cấu thành trong nó
- Thuế suất
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, tiền thuế là một bộ phận trong giá bán của hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ; đối tượng chịu thuế GTGT là hầu hết HHDV đang lưu thông trên thị trường Với phương thức thu thuế thông qua giá bán của hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ nên thuế GTGT có nhược điểm lớn là không cá biệt hóa được người chịu thuế nên không đảm bảo công bằng trong việc điều tiết thuế Theo đó, đối tượng chịu sự tác động lớn nhất của thuế GTGT là người lao động có thu nhập trung bình và thấp Vì vậy, để khắc phục hạn chế này, thuế GTGT được quy định khá thấp so với các loại thuế thu vào hàng hóa dịch vụ khác và cơ chế áp dụng cho sắc thuế này là cơ chế đa thuế suất
Hiện nay, mức thuế suất giá trị gia tăng có sự khác biệt khá lớn giữa các quốc gia Mức thuế suất giá trị gia tăng đặc biệt cao ở các nước phát triển thuộc khu vực EU
và Đông Âu Xu hướng chung của các nước hiện nay là tăng cường vai trò của thuế giá trị gia tăng, đồng thời từng bước giảm dần thuế suất thuế thu nhập để tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Một số nước thực hiện cơ cấu một mức thuế suất như Đan Mạch (22%), Nhật Bản, Singapore (3%), Italia(38%)… Một số nước khác thực hiện cơ cấu đa thuế suất như: Bỉ, Columbia (6 mức thuế suất), Pháp (5 mức thuế suất)
Tùy vào điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn cụ thể mức thuế suất giá trị gia tăng áp dụng đối với các loại HHDV là khác nhau Đối với những loại thuế gián thu đặc biệt như thuế GTGT cần phải có sự phân hóa các mức thuế suất để đảm bảo công bằng và hạn chế tính lũy thoái
* Phương pháp tính thuế GTGT: là cách thức tính toán số thuế GTGT phải nộp
Thông thường thuế GTGT được tính toán theo hai phương pháp sau:
Trang 2222
Một là, Phương pháp khấu trừ
- Đối tượng áp dụng phương pháp khấu trừ:
Đối tượng bắt buộc áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ
kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên
Đối tượng không được áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh không thực hiện đầy
đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ
Đối tượng được lựa chọn áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới một tỷ đồng và phải đăng ký sử dụng phương pháp này
- Hệ quả pháp lý trong trường hợp áp dụng phương pháp khấu trừ:
+ Nếu số thuế GTGT phải nộp bằng không (=0), DN không phải nộp thuế GTGT
+ Nếu số thuế GTGT phải nộp lớn hơn không (>0), DN phải nộp thuế GTGT + Nếu số thuế GTGT phải nộp bé hơn không (<0), DN được hoàn thuế GTGT
Từ hệ quả nêu trên, ta thấy được ưu điểm của phương pháp khấu trừ DN được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, có cơ hội để được hoàn thuế, DN có hóa đơn GTGT đầu
ra cho khách hàng là DN cần hóa đơn GTGT để khấu trừ thuế đầu vào Việc xác định
Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Trang 2323
số tiền thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp khấu trừ phản ánh đúng bản chất của thuế giá trị gia tăng là chỉ thu thuế khi HHDV có giá trị gia tăng thêm, đảm bảo loại trừ hiện tượng trùng thuế Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là điều kiện áp dụng khá khó khăn yêu cầu các chủ thể tuân thủ chế độ hóa đơn chứng từ Trong điều kiện thực hiện thuế GTGT, hoá đơn, chứng từ là cơ sở để kiểm tra thuế GTGT, là căn cứ để xác định thuế GTGT đầu vào và đầu ra để xác định số thuế GTGT được khấu trừ, miễn giảm, phải nộp hay được hoàn lại trong kỳ Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu mua và khâu bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của Nhà nước và quyền lợi của
Hai là, Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
- Đối tượng áp dụng phương pháp trực tiếp:
Đối tượng bắt buộc áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh không thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và không xác định được số thuế GTGT đầu ra, đầu vào hoặc doanh thu quá nhỏ
Đối tượng không được áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh không thực hiện đầy
đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên
Đối tượng được lựa chọn áp dụng: đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới một tỷ đồng và không tự nguyện đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ
- Công thức tính: phương pháp tính trực tiếp này có 3 trường hợp:
Trường hợp 1: Đối với DN đã thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ theo
quy định: Hàng hóa dịch vụ mua vào bán ra đều có hóa đơn, chứng từ hợp lệ thì:
Trang 2424
Trong đó, giá trị gia tăng của hàng hóa dịch vụ = doanh số bán ra – giá thanh toán của hàng hóa dịch vụ mua vào
Trường hợp 2: Đối với DN đã thực hiện chế độ lập hóa đơn, chứng từ khi bán
HHDV nhưng không có đủ hoá đơn, chứng từ đối với HHDV mua vào thì:
Trường hợp 3: Đối với DN không thực hiện chế độ kế toán, chế độ lập hóa
đơn, chứng từ khi mua bán HHDV: Về nguyên tắc, những loại DN này thường là những DN nhỏ, bán lẻ và kinh doanh nhiều mặt hàng vụn vặt, hàng bán có thể không
có hóa đơn, chứng từ vì chi phí cho hóa đơn chứng từ chiếm tỷ lệ cao trong doanh số Những DN này nộp thuế giá trị gia tăng theo công thức sau:
Ưu điểm của phương pháp trực tiếp là: DN không cần phải thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ, không cần các hóa đơn GTGT ở đầu vào vì không được khấu trừ thuế Thuế GTGT được thu trực tiếp trên doanh thu, (tỷ lệ này chỉ từ 1% – 5%, tùy ngành) nên thuế GTGT theo phương pháp này dễ tính, dễ quản lý,
dễ thu Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là không công bằng cho DN vì có những trường hợp không được hoàn thuế, không được khấu trừ đầu vào làm ảnh
hưởng đến chi phí và giá thành sản phẩm, dịch vụ
1.2.2.2 Tổ chức thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT (Quản lý thuế GTGT)
* Đăng ký thuế và cấp mã số thuế
Sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ đăng ký thuế GTGT là sự ra đời, thay đổi hoặc chấm dứt của chủ thể kinh doanh Thời điểm phát sinh nghĩa vụ này được xác định
kể từ ngày đối tượng nộp thuế được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Thời điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là thời điểm để tính thời hạn thực hiện nghĩa vụ thuế Việc đăng ký thuế phải tuân thủ theo những trình tự thủ tục nhất định gọi
là quy trình đăng ký thuế Kết quả của đăng ký thuế là mỗi đối tượng nộp thuế được cấp một mã số thuế Mã số thuế là cơ sở pháp lý để nhận diện người nộp thuế, là điều kiện thiết yếu về phương diện pháp lý để quản lý và thực hiện thuế GTGT Đối với đối tượng nộp thuế phải sử dụng mã số thuế để thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác có
Thuế GTGT phải nộp = GTGT của HHDV x thuế suất thuế GTGT tương ứng
Thuế giá trị gia tăng phải nộp = Doanh thu tính thuế GTGT x Tỷ lệ thuế GTGT
Thuế giá trị gia tăng phải nộp = Doanh thu x Tỷ lệ % GTGT trên doanh thu
Trang 2525
liên quan đến thuế vì vậy phải ghi mã số thuế trên mọi giấy tờ giao dịch, hợp đồng kinh
tế, chứng từ nộp thuế Các đơn vị được sử dụng hoá đơn tự in phải in sẵn mã số của mình vào từng tờ hoá đơn
Đối với cơ quan thuế phải có trách nhiệm sử dụng mã số thuế của đối tượng nộp thuế để quản lý đối tượng nộp thuế, theo dõi số liệu nộp thuế và ghi mã số đối tượng nộp thuế trên mọi giấy tờ giao dịch với đối tượng nộp thuế như: thông báo nộp thuế, thông báo phạt, lệnh thu, các quyết định phạt hành chính thuế, biên bản kiểm tra về thuế
* Kê khai thuế GTGT
Mỗi chủ thể khi tham gia đăng ký nộp thuế GTGT với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp mã số thuế thì đều phải thực hiện việc kê khai thuế theo quy định của pháp luật
Kê khai thuế là việc khai báo tất cả những nghiệp vụ chịu thuế phát sinh trong kỳ (tháng, quý hoặc năm), số thuế GTGT đã trả khi mua hàng, số thuế GTGT thu được khi bán hàng, số thuế GTGT đã nộp, số thuế GTGT phải nộp trong kỳ cho cơ quan thuế
Việc kê khai thuế được tiến hành theo mẫu tờ khai thuế Người có nghĩa vụ kê khai thuế căn cứ vào các dữ liệu trên tờ khai thuế thực hiện hành vi kê khai, chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền Sau khi lập xong tờ khai thuế phải nộp tờ khai cho cơ quan thuế Sau khi tính số thuế phải nộp cho đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế mới ra thông báo nộp thuế gửi cho các đối tượng nộp thuế Việc kiểm tra tính đúng đắn của kê khai thuế xảy ra trước thời điểm nộp thuế Việc sai sót trong việc tính số thuế phải nộp thuộc trách nhiệm của cơ quan thuế
* Nộp thuế GTGT
Nộp thuế GTGT là việc người cung cấp hàng hoá, dịch vụ chuyển thuế đã thu
hộ Nhà nước do người tiêu dùng trả thông qua cơ chế giá khi mua hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT vào kho bạc Nhà nước Đây là nghĩa vụ cơ bản nhất của mỗi đối tượng nộp thuế Để thực hiện nghĩa vụ này một cách có hiệu quả cần điều chỉnh những vấn đề cơ bản sau:
-Về hình thức nộp thuế, có thể nộp trực tiếp cho cơ quan thuế hoặc có thể nộp thuế qua Ngân hàng, qua Kho bạc Nhà nước
- Về cơ chế nộp thuế Hiện nay trong thực tiễn tiến hành thu thuế tồn tại hai cơ chế:
Trang 2626
· Cơ chế đối tượng nộp thuế tự tính nộp thuế: cơ chế này nâng cao tính tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của đối tượng nộp thuế, giảm khối lượng công việc cho cơ quan quản lý thuế cũng như chi phí quản lý hành chính thuế, phân định rạch ròi trách nhiệm của cơ quan thuế, của đối tượng nộp thuế
· Cơ chế nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế: tức nộp thuế theo sự tính toán của cơ quan thuế và được thực hiện bởi một quyết định quản lý hành chính của Nhà nước
* Quyết toán thuế GTGT
Với cơ chế tự đăng ký, tự kê khai, tự tính và nộp thuế việc quyết toán thuế hàng năm của cơ sở kinh doanh với cơ quan thuế là hết sức cần thiết Thuế GTGT là thuế gián thu được đánh trên tất cả các khâu từ sản xuất đến tiêu dùng theo phương pháp khấu trừ thì nghĩa vụ quyết toán thuế phải được tính toán một cách chặt chẽ nhằm xác định đủ, chính xác số thuế nộp vào ngân sách nhà nước một cách kịp thời, tránh hiện tượng chiếm giữ số thuế GTGT thu được phục vụ lợi ích riêng của doanh nghiệp
* Khấu trừ thuế GTGT
Thuế GTGT mang bản chất liên hoàn vì vậy thuế GTGT đã được nộp ở giai đoạn trước sẽ được khấu trừ ở giai đoạn sau thông qua cơ chế giá cả khi thực hiện hành vi mua bán trao đổi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Việc khấu trừ thuế đã nộp ở giai đoạn trước gọi là khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Thuế GTGT đầu vào là tổng số thuế GTGT trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá nhập khẩu Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khấu trừ thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định:
- Chỉ khấu trừ thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ, trường hợp không hạch toán riêng thì số thuế đầu vào được khấu trừ theo phương pháp phân bổ dựa trên tỷ lệ doanh số chịu thuế so với tổng doanh số bán ra tại doanh nghiệp
- Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ trong tháng đó không phân biệt đã được xuất dùng hay chưa
- Cơ sở mua vật tư hàng hoá không có hoá đơn chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không ghi riêng số thuế GTGT ngoài giá bán thì không được khấu trừ, trừ một số trường hợp có quy định riêng
Trang 27vi rộng, bao hàm nhiều mối quan hệ phức tạp và có sự liên hoàn giữa các đối tượng nộp thuế Chính tính phức tạp của vấn đề cùng với sự mới mẻ của nghiệp vụ hoàn thuế GTGT cộng thêm sự chắp vá của các văn bản pháp luật về hoàn thuế GTGT khiến cho vấn đề hoàn thuế GTGT là một vấn đề nổi cộm lớn trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT hiện nay
lý để hoàn thiện các văn bản hướng dẫn nghị định 119/2018/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình hiện nay theo hướng: Quản lý chặt chẽ việc sử dụng hóa đơn nhưng đơn giản các thủ tục không thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN chấp hành tốt công tác
kê khai thuế và quản lý, sử dụng hóa đơn Phân loại tổ chức, cá nhân sử dụng hóa đơn
để có biện pháp quản lý thích hợp, theo hướng giảm bớt thủ tục về mua và quản lý hóa đơn đối với các tổ chức, cá nhân chấp hành tốt Các tổ chức, cá nhân vi phạm Đối với
tổ chức, cá nhân mới thành lập, thủ tục mua hóa đơn và biện pháp quản lý cần chặt chẽ hơn”[6, tr 20]
Trang 2828
phải theo đúng chế độ kế toán, tài chính và quy định của pháp luật Sau hơn một thời gian thi hành Luật thuế GTGT, bên cạnh những thành tựu đạt được, còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập Các vụ gian lận thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ĐVNĐTNN ngày càng nhiều, các hình thức ngày càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ĐVNĐTNN đã trở nên vô cùng nguy hiểm và đáng báo động bởi nó tạo ra sự bất công bằng cho các đối tượng nộp thuế Chỉ riêng trong hoàn thuế thì năm 2017 phát hiện 521 vụ gian lận thuế GTGT, năm 2018 phát hiện 219
vụ, năm 2019 phát hiện 178 vụ v nâng tổng số tiền hoàn thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ĐVNĐTNN bị chiếm đoạt lên hàng ngàn tỷ đồng từ năm 1999 các vụ về mua bán hoá đơn hay làm sai lệch giá trên hoá đơn không hề có xu hướng giảm sút Tình trạng này làm đau đầu các nhà quản lý nói riêng và xã hội nói chung, có những kẻ đã lợi dụng những kẽ hở trong luật và trong quản lý của nhà nước
ta để bòn rút tiền từ ngân sách nhà nước và đút túi cá nhân mình Để góp phần đảm bảo công bằng giữa các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế thì việc nghiên cứu cơ chế thi hành Luật thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá thực trạng và những giải pháp để hoàn thiện pháp Luật thuế GTGT
1.3.2 Yếu tố pháp luật
“Thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ĐVNĐTNN ra đời muộn trong lịch sử phát triển của thuế Một doanh nhân người Đức, Wilhelm von Siemens đưa ra ý tưởng đầu tiên vào năm 1920 Ông đặt ra ý tưởng là đặt ra một loại thuế dựa trên phần giá trị tăng thêm ở từng giai đoạn sản xuất Tuy nhiên phải đến khi một người Pháp là Maruice Laure, một quan chức thuế đề xướng và giúp hiện thực sắc thuế này trên thực tế Năm 1954 thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ĐVNĐTNNđược áp dụng tại Pháp dưới hình thức đánh thuế vào giai đoạn sản xuất Đến năm 1968, thuế này được nhập vào thuế lưu thông đánh vào dịch vụ và thuế địa phương đánh vào lưu thông bán lẻ thành một loại thuế thống nhất chung” [19,tr.45]
Trước khi Luật Quản lý thuế được ban hành, ở nước ta các thủ tục hành chính thuế được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật Chỉ đến khi luật quản lý thuế
Trang 2929
được ban hành ngày 29/11/2006 quy định thống nhất chính sách quản lý thuế thì pháp luật thuế GTGT Từ đó đến này, thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ĐVNĐTNN đã thể hiện tính ưu việt của mình nên thuế GTGT Từ đó đến này, thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thể hiện tính ưu việt của mình nên thuế GTGT Từ đó đến này, thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thể hiện tính ưu việt của mình nên thuế GTGT Từ đó đến này, thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thể hiện tính ưu việt của mình nên thuế GTGT ngày càng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới dưới các tên gọi khác nhau như TVA (Pháp); VAT (Anh); Thuế hàng hóa và dịch vụ (Úc, Cannada, Singapore), Thuế tiêu dùng (Nhật Bản)…
Thuế VAT mới cơ bản hoàn chỉnh, khắc phục được những hạn chế của các quy định về thủ tục hành chính, thay đổi căn bản phương thức quản lý thuế, NNT tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về nghĩa vụ thuế, tạo điều kiện cho NNT chấp hành tốt pháp luật thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng
và pháp luật thuế nói chung Luật quản lý thuế được coi là một bước tiến quan trọng trong công tác cải cách thủ tục hành chính về quản lý thuế và các khoản phải thu nộp NSNN
Ngược lại, “đối với luật nội dung: Luật thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trải qua nhiều lần thay thế, sửa đổi, bổ sung Năm 1997, Quốc hội khóa X thông qua Luật thuế GTGT thay thế cho Luật thuế doanh thu; trải qua hai lần sửa đổi, bổ sung năm 2003 và 2005, đến năm 2008, Quốc hội khóa XII thông qua Luật thuế GTGT mới và đến nay năm 2013, 2016 Luật thuế GTGT ĐVNĐTNN một lần nữa được sửa đổi, bổ sung để ngày càng phù hợp với thực thế, đáp ứng yêu cầu với chiến lược cải cách thuế tới năm 2020 Chính sách thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấu thành từ hai bộ phận chính: Một là các quy định về thuế GTGT gọi là Luật thuế GTGT, hai là các quy định về quyền, nghĩa vụ của NNT, cơ quan quản lý thuế và các chủ thể liên quan đến quản lý thuế GTGT; quy định trình tự thủ tục, cách thức, phương pháp tổ chức thực hiện luật thuế GTGT Rõ ràng, luật quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài TNN là một bộ phận quan trọng trong pháp luật thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các quốc gia, là công cụ chủ yếu được nhà nước sử dụng để thực hiện công tác quản lý thuế GTGT HT Thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Luật quản
Trang 3030
lý thuế cùng tham gia điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với NNT phát sinh trong quá trình quản lý thu, nộp các loại thuế; quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với NNT với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, quan hệ giữa NNT với các chủ thể khác có liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của NNT, ngoài ra còn quan hệ phát sinh trong nội bộ cơ quan quản lý thuế Luật quản lý thuế có phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý thuế của Nhà nước, hay nói cách khác là các mối quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện luật các sắc thuế riêng Chính vì thế, doanh nghiệp khi tham gia vào quan hệ thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ là đối tượng nộp thuế chịu sự chi phối không chỉ bởi Luật nội dung là luật thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
mà còn bởi Luật hình thức là Luật quản lý thuế Luật Quản lý thuế hiện hành của Việt Nam liệt kê các nội dung quản lý thuế gồm: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế” [17,tr.43] Doanh nghiệp nộp thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều phải tuân theo trình tự theo như luật quản lý thuế đã quy định Vì vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích cho doanh nghiệp, phù hợp với các quy định về thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì khi xây dựng và hoàn thiện luật quản lý thuế cần có sự cân nhắc cẩn trọng
1.3.3 Yếu tố tổ chức bộ máy cơ quan quản lý và nguồn nhân lực
Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến việc thực thi thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Ở Trung ương có Tổng cục thuế thuộc Bộ tài chính Bộ máy giúp việc cơ quan Tổng cục gồm các phòng chức năng và các phòng nghiệp vụ Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các Cục thuế, chịu sự chỉ đạo song song của Tổng cục thuế và Ủy ban nhân dân cùng cấp Ở cấp quận, huyện và cấp tương đương có Chi cục thuế thuộc Cục thuế, chịu sự chỉ đạo song trùng của Cục thuế và Ủy ban nhân dân cùng cấp Như vậy, cơ cấu trên là hợp lí và tương đối chặt chẽ Cơ cấu đó có tác động lớn tới việc thực thi thuế GTGT Cụ thể, việc thống nhất hệ thống tổ chức bộ máy quản lý về thuế không những cho phép Nhà nước quản lý thống nhất chế độ thuế trong cả nước, mà còn tạo cơ sở về mặt tổ chức bảo đảm thực hiện thành công đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực thuế Nếu
Trang 3131
trình độ, năng lực quản lý thuế cũng như đạo đức của cán bộ quản lý thuế tốt thì việc thực thi luật thuế GTGT đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ đạt hiệu quả cao và ngược lại Hiện nay, Nhà nước đang có công cuộc cải cách về cơ chế quản lý thuế Cải cách này thể hiện ở cơ chế tự khai, tự nộp Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý thuế hiện đại, hiệu quả, được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng, nó cho phép các cơ quan thuế phân bổ nguồn lực theo hướng chuyên môn hóa, chuyên sâu trong quản lý cải tiến các quy trình quản lý rõ ràng làm tăng sự minh bạch trong quản lý thuế, đồng thời giảm bớt chi phí quản lý, thúc đẩy cải cách
Hiện nay, tình trạng nợ đọng thuế khá phổ biến, số nợ thuế gần như không giảm qua các năm Cơ quan Thuế lại chưa có bộ phận chuyên trách thực hiện chức năng thu
nợ tại các cục thuế, các cán bộ quản lý thu thực hiện nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc thu nợ cùng với các nhiệm vụ khác như hướng dẫn, hỗ trợ đối tượng nộp thuế, thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp Công tác thu nợ chưa được thực hiện khoa học, chưa ứng dụng được tin học vào thu nợ và phân tích nợ Không gian của hoạt động kinh doanh thường rộng lớn Một doanh nghiệp ở Cà Mau có thể mua bán với các doanh nghiệp ở Lạng Sơn, Gia Lai hoặc Bình Phước, và cũng có thể xuất khẩu thông qua nhiều cửa khẩu Vì vậy, thông tin về lô hàng của từng đợt xuất nhập khẩu phải được phối kiểm trên phạm vi cả nước chứ không chỉ gói gọn tại một địa phương Trong khi đó, thời gian xét hoàn thuế lại ngắn nên cơ quan thuế không thể thẩm tra toàn bộ chứng từ cũng như lai lịch của các bên có liên quan Điều này dễ gây ra sai sót không chủ ý và xảy ra những sai lệch khi hoàn thuế Ngay công tác kiểm tra sau thông quan cũng khó mang lại kết quả tốt vì thiếu
hệ thống điện toán toàn diện, thiếu máy kiểm tra chuyên dùng, camera, cân điện tử,…Nhân lực là yếu tố quyết định trong mọi hoạt động, trên mọi lĩnh vực Nếu đội ngũ nhân lực không đủ khả năng về trình độ, thể lực thì không thể hoàn thành được nhiệm vụ được giao Do đó, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngành thuế có vai trò quyết định đến thành công trong việc thực hiện luật thuế GTGT, đó là yếu tố hết sức quan trọng Nếu người quản lý mà không nắm vững các quy định, chính sách, quy trình nghiệp
vụ thì công tác quản lý không thể đạt kết quả cao Cán bộ thuế phải là người trực tiếp phổ biến, hướng dẫn cho nhân dân, ĐTNN về các chính sách, quy định về thuế để mọi người hiểu và chấp hành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế thì công tác quản lý thuế mới có thể đạt hiệu quả cao
1.3.4 Yếu tố ý thức pháp luật
Trang 321.3.5 Yếu tố ứng dụng công nghệ thông tin
Đặc biệt, việc áp dụng công nghệ tin học vào quản lý sẽ giúp cho cơ quan thuế quản lý chặt chẽ doanh số, tình hình hoạt động và chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của ĐTNN, hạn chế được tình trạng gian lận trốn thuế Việc quản lý thuế trên máy tính sẽ giảm đáng kể khối lượng công việc thủ công trước đây, làm giảm thời gian cho công tác quản lý và đẩy nhanh công tác thu nộp thuế Việc nối mạng vi tính trong toàn ngành thuế sẽ rút ngắn thời gian chuyển phát tài liệu, số liệu trên phạm vi cả nước làm tăng hiệu quả công tác quản lý thuế Cấp trên có thể theo dõi tình hình hoạt động của cấp dưới dễ dàng, nhanh chóng để kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục khó khăn và uốn nắn các sai sót cho cấp dưới Các yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế như cơ cấu của nền kinh tế, tính ổn định trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các ĐTNN cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả thu thuế GTGT Nếu các yếu tố đó không thuận lợi thì nền kinh
tế sẽ không phát triển được thậm chí có thể bị suy yếu, vì vậy sẽ làm giảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
1.3.6 Yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật
Thuế GTGT là sắc thuế của nền kinh tế phát triển Khi nền kinh tế phát triển ổn định thì hàng hoá cũng thường xuyên ổn định, vì thế sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của xã hội phát triển, giá cả ở khâu sau luôn cao hơn khâu trước, khi
đó thuế GTGT đầu ra luôn lớn hơn thuế GTGT đầu vào, tạo nguồn thu lớn và ổn định
Trang 3333
cho ngân sách Nhà nước, giảm các trường hợp khấu trừ thuế, hoàn thuế Một nền kinh
tế phát triển không chỉ làm tăng nguồn thu cho ngân sách mà còn tạo điều kiện phát triển công nghệ, cải tiến trang thiết bị kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển sẽ làm giảm thời gian và chi phí trong công tác quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý Trình độ khoa học kỹ thụât, sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại và trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật trong công tác quản lý thuế, đặc biệt là trang thiết bị tin học ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác quản lý thuế GTGT
1.3.7 Yếu tố cơ chế phối kết hợp trong quản lý
Các cơ quan thuế thực hiện công tác quản lý thuế GTGT trên cơ sở các chính sách quản lý của Nhà nước, việc thực hiện các chính sách đó có được thuận lợi hay không phụ thuộc rất nhiều vào chính bản thân các chính sách đó Nếu Nhà nước xây dựng các chính sách đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện thì công tác quản lý sẽ được thuận lợi, ngược lại nếu các chính sách đó phức tạp thì sẽ gây khó khăn trong quản lý, thậm chí còn tạo ra nhiều kẽ hở để kẻ xấu lợi dụng chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước Ngoài các chính sách về thuế, các chính sách quản lý khác của Nhà nước cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý thuế GTGT
Cơ chế phối kết hợp trong quản lý ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý thuế GTGT Bởi vì hoá đơn, chứng từ là căn cứ pháp lý thực hiện việc kê khai, tính thuế GTGT, do đó, việc cơ chế phối kết hợp trong quản lý sẽ tạo điều kiện thu thuế đầy đủ, tránh nhầm lẫn, chống thất thu thuế, giúp cho quy trình tự kê khai, tự tính thuế của đơn
vị giảm được sai sót, hạn chế được tình trạng gian lận Việc thực hiện chế độ phối hợp quản lý có thể coi là điều kiện tiên quyết để thực hiện thuế GTGT
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
là một công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý thuế đối với người nộp thuế đồng thời là căn cứ pháp lý để người nộp thuế thực hiện các quyền, nghĩa vụ thuế GTGT Luật thuế GTGT là bộ phận không thể thiếu của pháp luật thuế GTGT, trong khi Luật thuế GTGT chứa đựng các quy định liên quan nội dung thực hiện thuế GTGT bao gồm những quy định điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý thuế GTGT
Trang 3434
của Nhà nước Luận văn nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách thuế GTGT điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
2.1.1 Thực trạng quy định về xác định nghĩa vụ kê khai thuế GTGT
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế cho Nhà nước Trong pháp luật thuế GTGT, kê khai thuế vừa là nghĩa vụ vừa là quyền lợi của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền tự mình kê khai thuế và
có trách nhiệm với nội dung mình đã kê khai Nghĩa vụ kê khai thuế GTGT đối với loại hình hàng hóa, dịch vụ khác nhau, luật thuế GTGT có những điều chỉnh riêng theo chiến lược quan tâm chú trọng phát triển xuất khẩu làm động lực lôi kéo phát triển nền kinh
tế do đó nghĩa vụ kê khai của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với các loại hàng hóa, dịch vụ này có những điều chỉnh riêng
“Đối với hàng hóa xuất nhập khẩu: Theo quy định thuế suất thuế GTGT hàng xuất khẩu là 0% (Khoản 1 Điều 8 Luật thuế GTGT), nghĩa là doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài xuất khẩu được hoàn lại toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, việc này thực chất là hình thức trợ giá của Nhà nước cho hàng hóa xuất khẩu, giúp cho các
Trang 3535
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có điều kiện cạnh tranh với hàng hóa trên thị trường quốc tế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ kê khai thuế phải kê khai và có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ đúng hạn vào NSNN tuy nhiên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại được khấu trừ và hoàn thuế GTGT gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho việc xuất khẩu kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế Rõ ràng đối với mức thuế suất 0% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu hưởng ưu đãi so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu và so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chịu thuế cũng ưu đãi hơn rất nhiều
Vì về bản chất tuy doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chịu thuế và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu thuế suất 0% đều không nộp tiền thuế nhưng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu thuế 0% được khấu trừ và hoàn thuế trong khi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chịu thuế thì không được khấu trừ và hoàn thuế” [3;tr.9]
Còn ngược lại đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có hàng hóa, dịch
vụ nhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập khẩu được tính trên giá mua đã có thuế nhập khẩu nên giá sản phẩm sẽ cao hơn giá hàng hóa trong nước
Giá tính thuế GTGT = Giá nhập khẩu +Thuế tiêu thụ đặc biệt + Thuế nhập khẩu
Hàng hóa, dịch vụ của nước xuất khẩu thường là hàng hóa lợi thế của nước xuất khẩu nên khi giá tính thuế bao gồm giá nhập khẩu cộng thuế TTĐB và thuế nhập khẩu thì sẽ làm tăng giá bán hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu Các quốc gia thường đánh thuế đối với các hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia của mình nhằm cân bằng giá cả thị trường hay một cách trực tiếp là nhằm giảm đi lợi thế của hàng nhập khẩu để không ảnh hướng đến hoạt động sản xuất trong nước
“Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập ngày nay, liên kết phát triển kinh tế trong khu vực và tiến tới toàn cầu hóa kinh tế ngày càng ở mức độ cao là tất yếu khách quan Theo
đó, các cam kết hội nhập mà nước ta đã ký sẽ được thực hiện ở mức độ cao hơn giai đoạn vừa qua như: đối với Hiệp định Việt Mỹ thì 224 dòng thuế xuất nhập khẩu sẽ giảm bình quân 30%, đối với WTO, Việt Nam phải cắt giảm 22% thuế nhập khẩu, thực hiện chủ yếu trong vòng 5 năm kể từ khi gia nhập WTO, mức giảm thuế lớn tập trung ở 3 năm đầu tiên sau đó giảm đều hơn Ngay trong năm đầu tiên sẽ cắt giảm cho 1500 dòng thuế chiếm 20% biểu thuế Với biểu thuế tối huệ quốc hiện hành (MFN) có mức thuế
Trang 3636
bình quân là 17,5 % trong đó các mặt hàng có mức thuế suất từ 0 đến 5% đã chiếm tỉ trọng xấp xỉ một nửa biểu thuế, nhưng Việt Nam đã cam kết giảm 30% so với mức thuế hiện hành Như vậy, Việt Nam đã ràng buộc 100% biểu thuế và 90% kim ngạch nhập khẩu hàng năm là phạm vi mở cửa để gia nhập WTO” [21,tr.9]
“Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải thực hiện các nguyên tắc của WTO, trong
đó bao gồm nguyên tắc đối xử quốc gia quy định các hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi so với hàng hóa cùng loại trong nước Mục tiêu chính của nguyên tắc này là tạo ra những điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa nội địa cùng loại, nhằm hạn chế bảo hộ sản xuất trong nước Việc áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia nhằm ngăn chặn các nước thực hiện bảo hộ sản xuất trong nước bằng các biện pháp thuế quan Theo đánh giá của Bộ Tài chính, ảnh hưởng từ việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết WTO khá lớn, đặc biệt là đối với nguồn thu ngân sách Nguồn thu từ thuế xuất khẩu, nhập khẩu hiện đang chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách (khoảng 13%) Khoản sụt giảm này ước tính lên tới 300 triệu USD cho cả giai đoạn 5 năm sau khi gia nhập WTO, tương đương với khoảng 4.800 tỷ đồng Như vậy, bình quân mỗi năm, Nhà nước giảm thu khoảng 1.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 6-10% số thu thuế nhập khẩu)” [22;tr.27]
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong nước, thuế xuất nhập khẩu giảm xuống nghĩa là mức độ bảo hộ đối với sản xuất trong nước của thuế xuất nhập khẩu
sẽ giảm đi Điều đó đặt ra đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống thuế cho phù hợp để
bù đắp sự suy giảm nguồn thu từ thuế nhập khẩu Thuế GTGT và thuế TTĐB phải trở thành chỗ dựa chủ yếu về nguồn thu cho Chính phủ Một trong những cải cách thuế rõ ràng mà các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi thực hiện trong những năm gần đây là đặt thuế GTGT là nguồn thu quan trọng nhất cho NSNN Các biện pháp
mà các nước thường áp dụng để tăng nguồn thu từ GTGT và đảm bảo tính hiệu quả của sắc thuế này là: áp dụng một mức thuế suất cơ bản và mở rộng đối tượng chịu thuế thay
vì nhiều mức thuế suất và thu hẹp đối tượng chịu thuế Áp dụng một mức thuế suất và không hạn chế đối tượng chịu thuế đang trở thành một xu thế chung của hầu hết các nước có quan hệ kinh tế mở và hệ thống chính sách pháp luật thuế phát triển Điều này đặt ra đối với Việt Nam khi đã mở cửa nền kinh tế, tham gia tổ chức thương mại thế giới
và các hiệp định thương mại với các nước
Trang 3737
Đối với hàng hóa, dịch vụ trong nước
- Về đối tượng chịu thuế: Luật thuế GTGT quy định đối tượng chịu thuế bao gồm hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của luật này (Điều 2 Luật thuế GTGT) Điều đó có nghĩa là đối tượng chịu thuế GTGT quy định gồm toàn bộ hàng hóa, dịch vụ được mua bán, tiêu dùng trên thị trường: hàng hóa, dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng trong nước
Tuy nhiên, “do tính chất của sản xuất và tiêu dùng ở nước ta hiện nay, mặt khác
để nâng đỡ và khuyến khích phát triển đối với một số ngành, lĩnh vực, Luật thuế GTGT
có quy định một số loại hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT Hàng hóa, dịch vụ được phân chia thành hai nhóm: (i) nhóm hàng hóa và dịch vụ không mang tính chất tiêu dùng; và (ii) nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng mang tính chất xã hội Điều
5 Luật thuế GTGT quy định 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế GTGT đã bổ sung một số loại hàng hóa và dịch vụ vào diện không chịu thuế GTGT, bao gồm: bảo hiểm sức khỏe, các dịch
vụ khác liên quan đến con người; các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản; bảo hiểm cho ngư dân; hoạt động bán tài sản bảo đảm của các khoản nợ của tổ chức nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam để góp phần thực hiện đề án thành lập Công ty quản lý tài sản Việt Nam (VAMC); Phụ tùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học”[33,tr.56]
Việc được bổ sung vào đối tượng không thuộc diện chịu thuế theo quan điểm của các nhà lập pháp là nhằm mang lại nhiều thuận lợi cho một số doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, đặc biệt trong bối cảnh những khó khăn về kinh tế hiện nay và dự báo trong những năm tới Việc mở rộng đối tượng chịu thuế giúp kích thích tiêu dùng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bán được nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn; hàng hóa, dịch
vụ không bị ứ đọng, đẩy mạnh sản xuất, phát triển nền kinh tế Ví dụ như, việc đưa các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thuỷ sản, cũng như bảo hiểm cho ngư dân, vào diện không chịu thuế GTGT, sẽ giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bảo hiểm
có thêm nguồn kinh phí hỗ trợ người dân hạn chế rủi ro để đẩy mạnh hoạt động sản xuất
Trang 3838
kinh doanh, từ đó có thêm động lực bám biển Việc bổ sung phụ tùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học vào đối tượng không chịu thuế GTGT sẽ tạo thuận lợi, khuyến khích doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư phát triển khoa học công nghệ - động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, quy định về nhóm đối tượng không chịu thuế là quá rộng sẽ gây ra nhiều bất cập Trong thời gian đầu khi chuyển từ áp dụng thuế doanh thu sang thuế GTGT, việc quy định nhóm hàng hóa dịch vụ không chịu thuế rộng là phù hợp, vì nó tạo điều kiện để các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất, kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế có thể phát triển sản xuất kinh doanh Nhưng Luật thuế GTGT nếu tiếp tục kéo dài diện không chịu thuế rộng như trên thì hoàn toàn không có lợi, bởi vì:
Thứ nhất, theo mục tiêu đề ra trong chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011-2020
thì một trong những nội dung cải cách thuế GTGT đó là sửa đổi, bổ sung theo hướng giảm bớt nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT và mục tiêu ngân sách Do vậy, có thể thấy trước nhất, quy định theo xu hướng không thu hẹp hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT là chưa thực sự phù hợp với mục tiêu đã được đề ra trong chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011-2020
Thứ hai, nhìn về phía quyền lợi của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì
quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung không đem lại lợi ích cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Vì theo bản chất của thuế GTGT thì thuế GTGT là thuế đánh trên sự tiêu thụ do người mua phải chịu thuế chứ không phải người bán giống như thuế doanh thu trước đây Do đó, mọi sự ưu tiên bằng cách quy định càng nhiều đối tượng không chịu thuế chừng nào thì càng gây khó khăn cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bán hàng hay cung ứng dịch vụ chừng ấy chứ hoàn toàn không mang lại ưu đãi cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ví dụ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
sử dụng hàng hóa, dịch vụ như: thuê văn phòng, điện, nước, điện thoại, internet, văn phòng phẩm… thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ mất quyền được khấu trừ đầu vào của hàng hóa, dịch vụ khi mua vào vì căn cứ để xác định số thuế đầu vào được khấu trừ chính là số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT khi mua hàng hóa đầu vào Do vậy, phạm vi đối tượng được miễn thuế rộng và không được thu hẹp thì gây khó khăn hơn về tài chính cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 3939
Thứ ba, thuế GTGT có thể ảnh hưởng tới sức mua của công chúng do phần thuế
này đã được cấu thành trong giá bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng Sức tiêu dùng của công chúng phụ thuộc vào quan hệ giữa thu nhập với giá cả hàng hóa, dịch vụ Tỉ trọng giữa giá cả và thu nhập của người chịu thuế càng cao, càng làm giảm
cơ hội tiêu dùng trong công chúng “Nếu xét theo khía cạnh thuế với các chỉ số giá cả, đương nhiên cũng có mối liên quan nhất định Số tiền thuế GTGT trong giá bán làm thay đổi chỉ số giá cả, lạm phát trong những giai đoạn có sự thay đổi về thuế Các nhà sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là NNT nhưng thực chất người tiêu dùng là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa Việc mở rộng đối tượng chịu thuế hay giảm thuế cho nhiều đối tượng kích cầu tiêu dùng, kích thích sức mua của người dân nhưng có thể ảnh hưởng tới nên kinh tế nhất là trong điều kiện hiện nay, nhà nước đang cố gắng kiểm soát lạm phát Lạm phát ở nước ta đang dừng ở mức 6-7%/năm” [31,tr.45], một con số không phải là thấp so với chuẩn mực thế giới, dù lạm phát đang được Chính phủ kiểm soát tốt nhưng tỉ lệ lạm phát vẫn có xu hướng tăng Muốn để nền kinh tế ổn định thì chính sách nhà nước phải mang tính dài hạn, không vì mục tiêu trước mắt mà bỏ qua chiến lược lâu dài Xác định mối liên quan giữa loại thuế này với chỉ số giá cả, lạm phát
có ý nghĩa đối với nhà lập pháp khi quyết định chính sách thuế suất hợp lý trong những giai đoạn nhất định để đảm bảo khi thực hiện thuế GTGT không gây ra những xáo trộn lớn
Thứ tư, hàng hóa dịch vụ không chịu thuế gây khó khăn cho doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài khi thực hiện nghiệp vụ kê toán, xác định khấu trừ thuế Vì có những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bán hàng hóa, dịch vụ vừa thuộc đối tượng chịu thuế, vừa thuộc đối tượng không chịu thuế thì phải tốn nhiều thời gian và nhân lực trong việc hạch toán hoặc phân bổ số thuế đầu vào được khấu trù Điều này làm gia tăng chi phí cho việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hay trường hợp,
ví dụ đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất ra sản phẩm không thuộc diện chịu thuế thì giá thành sản phẩm thường xuyên cao vì giá này thường bao gồm cả số thuế GTGT đã trả khi mua nguyên liệu, máy móc, thiết bị vào (do không có thuế GTGT đầu ra để khấu trừ) Ngược lại, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế nhưng do nguyên liệu đầu vào thuộc diện không chịu thuế nên không được hưởng lợi thuế khấu trừ, vì vậy khi áp dụng thuế GTGT
sẽ phải tăng giá bán hoặc giảm giá mua để đảm bảo nghĩa vụ nộp thuế Việc quy định
Trang 4040
đối tượng không chịu thuế có thể là phù hợp với chủ trương về ưu đãi thuế, hỗ trợ ưu tiên một số nhóm hàng hóa, dịch vụ nhưng trên thực tế lại mâu thuẫn với mục tiêu của các nhà làm luật và các nhà hoạch định chính sách ưu đãi này
Thứ năm, “quy định không chịu thuế GTGT quá rộng làm đứt đoạn tính liên hoàn
của thuế GTGT, giữa các khâu của quá trình sản xuất và lưu thông Việc quy định đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT hiện nay quá rộng dẫn đến phát sinh nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào Vì vậy, để được khấu trừ thuế đầu vào nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải tìm cách thay đổi đối tác kinh doanh, tức là vô tình pháp luật đã có tác động "bóp méo" hành vi kinh doanh của các chủ thể kinh doanh” [5,tr.21] Ví dụ, đơn vị nộp thuế theo phương thức khấu trừ muốn mua hàng hóa, dịch vụ của đơn vị nộp thuế theo phương thức trực tiếp thì đối tượng nộp thuế không được khấu trừ hoặc chỉ khấu trừ theo một tỷ lệ ấn định mang tính chủ quan Vì thế điều này ảnh hưởng đến hành vi kinh doanh của đơn vi nộp thuế theo hình thức khấu trừ Ví dụ, Khoản 1 Điều 5, Luật Thuế GTGT: "Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu" [9,tr.33], không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT Vậy nếu như đối với trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản theo hình thức ký hợp đồng chăn nuôi với các hộ dân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ cung cấp thuốc men, con giống, thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi còn hộ dân chịu trách nhiệm tổ chức chăn nuôi, trao sản phẩm và được thanh toán tiền công Vậy doanh thu
từ tiền chăn nuôi của hộ gia đình có thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hay không Khi thu hoạch sản phẩm, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bán sản phẩm chưa qua chế biến có thuộc đối tượng chịu thuế hay không Điều này chưa được làm rõ trong Luật thuế GTGT, có thể gây ra các cách hiểu không nhất quán
“Có thể những nhà lập pháp cho rằng việc mở rộng đối tượng không chịu thuế để đảm bảo công bằng xã hội, hỗ trợ người nghèo, đạt mục tiêu phối phối hàng hóa dịch vụ tới những người có thu nhập thấp Tuy nhiên quan điểm này chưa xác đáng bởi việc giảm giá hay mở rộng đối tượng không chịu thuế hiếm khi đảm bảo hiệu quả của mục tiêu phân phối và đảm bảo công bằng xã hội bởi thuế GTGT đánh vào túi tiền người tiêu dùng nhưng lại không phân biệt thu nhập của người tiêu dùng, những người giàu cũng được hưởng lợi từ giá giảm và không chịu thuế, họ được tiêu thụ nhiều hơn và được