Bài viết tìm hiểu thực trạng về tiếp cận dịch vụ y tế của hộ gia đình nghèo trên địa bàn thành phố vinh; một số yếu tố tác động đến việc tiếp cận dịch vụ y tế của hộ gia đình nghèo ở thành thị.
Trang 1THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ
CỦA HỘ NGHÈO Ở THÀNH THỊ
n ThS Ông Thị Mai Thương
Trường Đại học Vinh
T hực hiện mục tiêu công bằng trong tiếp
cận với các dịch vụ y tế (DVYT) là định
hướng ưu tiên hàng đầu trong chăm sóc
sức khỏe và công bằng xã hội Tuy nhiên, các hộ
gia đình nghèo đang bị hạn chế trong việc tiếp cận
với các DVYT, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và đời
sống, đồng thời tô đậm thêm bức tranh về bất bình
đẳng xã hội Bài viết này trình bày kết quả nghiên
cứu về mức độ tiếp cận với các DVYT của các hộ
gia đình nghèo tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An,
đánh giá thực trạng và nhận diện một số yếu tố
tác động đến việc tiếp cận DVYT của nhóm xã hội
này, từ đó đề xuất một số khuyến nghị cho quá
trình hoạch định và thực hiện chính sách y tế đối
với các hộ gia đình nghèo Các thông tin định tính
và định lượng trong bài viết được sử dụng từ kết
quả nghiên cứu của tác giả ở đề tài “Những yếu tố
tác động đến việc tiếp cận dịch vụ y tế của các hộ
nghèo ở thành thị” (nghiên cứu tại thành phố
Vinh, tỉnh Nghệ An) thực hiện năm 2013-2015.
1 Tiếp cận DVYT của hộ gia đình nghèo trên địa bàn thành phố Vinh
Trong tổng số 25 phường/xã với 878 hộ nghèo tại thành phố Vinh, chúng tôi lựa chọn điều tra đối với tất cả các hộ nghèo ở tại 5 phường trung tâm thành phố (Bến Thủy, Cửa Nam, Lê Mao, Hồng Sơn, Hà Huy Tập) và 3
xã ngoại thành (Hưng Chính, Hưng Lộc, Nghi Phú) Trong đó có 2 phường thuộc nhóm có số hộ nghèo nhiều nhất, 2 phường thuộc nhóm có hộ nghèo ít nhất, 1 phường thuộc nhóm giữa, 1 xã thuộc nhóm có hộ nghèo nhiều nhất, 1 xã thuộc nhóm có hộ nghèo ít nhất và 1 xã thuộc nhóm giữa Tổng số hộ nghèo tại 8 phường/xã được chúng tôi lựa chọn làm mẫu nghiên cứu là 208 hộ nghèo Trên cơ sở đó, chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với người đại diện của 208 hộ nghèo đã được xác định ở trên có độ tuổi từ 16 tuổi trở lên
1.1 Thực trạng tiếp cận DVYT của hộ gia đình nghèo khi không bị bệnh
Khi không ốm đau, người dân tiếp cận với các DVYT thông qua các hoạt động phòng chống bệnh tật như: khám sức khỏe định kỳ, tiêm phòng cho người lớn và trẻ em, tủ thuốc dự phòng, khám thai cho bà mẹ mang thai… Khám sức khỏe định kỳ được coi là một chỉ báo quan trọng để đánh giá ý thức chăm sóc sức khỏe cũng như
BHYT đã giúp các hộ nghèo tiếp
cận DVYT để khám chữa bệnh
Trang 2việc tiếp cận DVYT của người dân Ở các
nước phát triển, người dân đã hình thành thói
quen đi khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một
lần Tuy nhiên, ở Việt Nam, ngay cả những
đô thị lớn tập trung nhiều hộ gia đình khá giả
cũng chưa có thói quen chi trả cho việc khám
sức khỏe định kỳ Đối với các hộ gia đình
nghèo tại thành phố Vinh, kết quả khảo sát
208 hộ gia đình nghèo với 582 nhân khẩu
cho thấy, chỉ có 28 người được khám sức
khỏe định kỳ hàng năm, 72 người khám định
kỳ không thường xuyên, còn lại phần lớn
người dân không được tiếp cận dịch vụ này
Nguyên nhân cơ bản xuất phát từ điều kiện
kinh tế hạn hẹp không cho phép người dân
đặt vấn đề phòng bệnh lên hàng đầu dù có
thể họ biết nếu khám sức khỏe định kỳ và
phát hiện bệnh sớm hơn, tiền chữa bệnh sẽ
ít đi, thời gian chữa ngắn hơn và khả năng
khỏi bệnh cao hơn
Khi tìm hiểu về hoạt động tiêm phòng,
kết quả cho thấy ở các địa bàn khảo sát,
trong năm 2014, chỉ có có 44 người được
tiêm phòng, trong đó chủ yếu là tiêm
phòng cho trẻ em Mặc dù các hộ gia đình
hiểu rõ vai trò, tác dụng của dịch vụ này,
tuy nhiên trong số 36 trẻ được khảo sát ở
độ tuổi tiêm phòng mở rộng, chỉ có 22 trẻ
(chiếm 61%) được tiêm phòng đầy đủ, còn
12 trẻ (chiếm 33%) chỉ được tiêm phòng
khi sinh và 2 trẻ (chiếm 6%) được tiêm
phòng nhưng không đầy đủ Hầu hết trẻ
đều được tiêm tại các trạm y tế xã/phường,
không có gia đình nào đưa trẻ đến tiêm tại
các trung tâm hay phòng khám dịch vụ
khác Điều này cho thấy việc tiếp cận với
các dịch vụ tiêm phòng của các hộ nghèo
còn rất hạn chế, đặc biệt là các dịch vụ chất
lượng cao
Bên cạnh đó, hoạt động khám thai của
các bà mẹ khi mang thai cũng là một tiêu chí
để đánh giá việc tiếp cận DVYT khi không
ốm đau của hộ nghèo Bởi lẽ, khám thai cho
chúng ta biết được sức khỏe hiện tại của mẹ
và con, cho phép các bác sỹ và gia đình theo
dõi sức khỏe của mẹ và bé để sớm phát hiện
những bệnh tật không mong muốn Tuy
nhiên, khảo sát 34 bà mẹ được hỏi về số lần
khám thai trong quá trình mang thai cho kết
quả như sau:
Biểu đồ 1.1 Số lần khám thai (đơn vị: người)
Theo khuyến cáo của các bác sỹ, trong quá trình mang thai, các bà mẹ ít nhất phải khám thai 6 lần theo các mốc quan trọng: 5 tuần, 7 tuần, 11-13 tuần, 21-24 tuần, 30-32 tuần, 39-40 tuần [6], tuy nhiên, số lần khám thai của các phụ nữ mang thai trong các hộ gia đình nghèo còn rất hạn chế, trung bình chỉ 2,4 lần/người trong quá trình mang thai Tiêu chí tiếp theo đánh giá việc tiếp cận DVYT của hộ nghèo khi không ốm đau là sự chuẩn bị sẵn tủ thuốc dự phòng trong gia đình Kết quả cho thấy, chỉ có 88 hộ (chiếm 15%) có tủ thuốc dự phòng, đây là con số rất hạn chế Tuy nhiên, con số này chưa đủ để khẳng định các hộ nghèo chưa ý thức trong việc chăm sóc sức khỏe hay bị hạn chế khi tiếp cận DVYT, bởi hiện nay, việc mua thuốc khá dễ dàng và thuận tiện Tại thành phố Vinh, có tổng số gần 900 nhà thuốc đủ tiêu chuẩn cung cấp thuốc cho nhân dân, tính trung bình mỗi phường có 36 nhà thuốc với đa dạng các loại thuốc tây y và đông y [4] Có thể đây là nguyên nhân các hộ gia đình thấy không cần thiết phải có
tủ thuốc dự phòng trong nhà
Như vậy, khi không bị bệnh, việc tiếp cận với các DVYT của hộ nghèo trên địa bàn thành phố Vinh còn rất hạn chế, ngoài việc tiêm phòng đầy đủ cho trẻ em theo Chương trình Tiêm phòng mở rộng Quốc gia chiếm trên 50% thì tỷ lệ tiếp cận với các dịch vụ khám sức khỏe định
kỳ, tiêm phòng cho người lớn, tủ thuốc dự phòng hay khám thai cho các bà mẹ mang thai còn rất ít Đây cũng là một thực trạng đáng lưu tâm khi nhìn vào bức tranh tiếp cận y tế của hộ nghèo tại thành thị
1.2 Thực trạng tiếp cận DVYT của hộ gia đình nghèo khi bị bệnh
Tại các địa bàn nghiên cứu, có 482 người (chiếm 82,8%) và 702 lượt ốm Khi bị ốm, các hộ nghèo có nhiều cách chữa trị khác nhau: không chữa, tự mua thuốc ở các nhà thuốc, đến trạm y tế xã/phường, đến bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, bệnh viện Trung ương hay các bệnh viện ngành, hoặc đến khám ở các cơ sở y tế tư nhân Trong đó,
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, năm 2013-2014)
Trang 3lựa chọn nhiều nhất của các hộ nghèo là tự mua
thuốc ở nhà thuốc (302 lựa chọn, chiếm 43%), một
số khác chọn cách “không chữa trị, tự khỏi” (154 lựa
chọn, chiếm 22,8%)
Trong nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu việc
tiếp cận của hộ nghèo với các loại dịch vụ y tế khi bị
bệnh như sau:
Tiếp cận với dịch vụ thuốc chữa bệnh: Dịch
vụ thuốc chữa bệnh là hệ thống DVYT cung ứng nhu cầu thuốc men cho người dân Bảng 1.2 biểu thị việc người nghèo có sử dụng dịch vụ thuốc chữa bệnh khi bị bệnh trong 12 tháng qua, kết quả cho thấy gần 1/4 số lượt người nghèo không tiếp cận được với dịch vụ này
Các DVYT được sử dụng để mua thuốc chữa bệnh
là: thuốc bảo hiểm, thuốc tự mua, sử dụng cả hai loại
dịch vụ thuốc trên, hay sử dụng các loại thuốc từ
nguồn khác Trong đó, hộ nghèo lựa chọn dịch vụ
thuốc tự mua (308 lượt sử dụng) nhiều hơn dịch vụ
thuốc theo chế độ bảo hiểm y tế (BHYT) (231 lượt
sử dụng) và ít nhất là sử dụng các loại thuốc từ nguồn
khác (9 lượt sử dụng) Như vậy, các hộ nghèo không
phụ thuộc hoàn toàn vào thẻ BHYT khi mua thuốc
chữa bệnh
Bên cạnh đó, khi so sánh tương quan giữa dịch
vụ thuốc chữa bệnh được sử dụng và bệnh trong
12 tháng của hộ nghèo (Bảng 1.3) cho thấy: Đối với hộ gia đình nghèo trong khảo sát này, khi bị những bệnh cần sự can thiệp của chuyên khoa sâu như bệnh tim mạch, huyết áp, đau lưng, cột sống , họ lựa chọn mua thuốc theo chế độ BHYT nhiều nhất Ngược lại, khi bị những bệnh đơn giản như “cảm thông thường” thì họ tự mua thuốc
về chữa trị
Bảng 1.2 Số lần sử dụng thuốc chữa bệnh của các hộ nghèo tại thành thị
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, năm 2013-2014)
Số lượt ốm (người) Tần số (N)Có sử dụng dịch vụ thuốcTần suất (%) Không sử dụng dịch vụ thuốcTần số (N) Tần suất (%)
Bảng 1.3 Tương quan giữa loại bệnh và dịch vụ thuốc sử dụng
Bệnh trong 12 tháng Chế độ BHYT Mua thuốc từ dịch vụ y tế nào Tự mua Khác
N % cột N % cột N % cột
(Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, năm 2013-2014)
Trang 4Tiếp cận với dịch vụ khám bệnh: Kết quả
khảo sát cho thấy có đến hơn 1/2 hộ gia đình
nghèo không tiếp cận với dịch vụ khám bệnh
khi ốm đau Trong 482 người có bệnh, với 702
lượt ốm, chỉ có 246 lượt ốm (35%) có sử dụng
các dịch vụ khám bệnh, còn lại 456 lượt ốm
(65%) không sử dụng dịch vụ khám bệnh
Lý giải cho hiện tượng này, các hộ nghèo
cho rằng khi bị bệnh, nếu bệnh nhẹ (vẫn có thể
đi làm được), họ chọn cách thức không chữa,
không khám, để tự khỏi hoặc tự mua thuốc ở
các hiệu thuốc Chỉ đến khi họ bị các bệnh
nặng (không thể đi làm được) mới sử dụng các
dịch vụ khám chữa bệnh Bên cạnh đó, một số
người bị những bệnh mãn tính như: dạ dày, tim
mạch, huyết áp, tiểu đường, hen suyễn… cũng
không đi khám bệnh thường xuyên mà chỉ
mua thuốc theo phác đồ điều trị cũ
Tỷ lệ lượt khám có dùng BHYT cũng
chiếm đa số (219 lượt, chiếm 89%), chỉ có số
ít (27 lượt khám, chiếm 11%) không dùng thẻ
BHYT Theo báo cáo của Sở Y tế Nghệ An,
trong năm 2013, trên địa bàn thành phố có
908.169 lượt bệnh nhân khám bệnh tại các cơ
sở y tế công và 453.221 lượt bệnh nhân khám
bệnh tại các cơ sở y tế tư nhân Như vậy, trung
bình có trên 33% lượt bệnh nhân khám bệnh
tại các cơ sở y tế tư nhân, trong khi người
nghèo theo kết quả nghiên cứu trên địa bàn
khảo sát chỉ chiếm gần 11% So sánh này cho
thấy, việc tiếp cận với các DVYT tư nhân của
hộ nghèo hạn chế hơn rất nhiều so với các
nhóm xã hội khác, đồng thời thực trạng này
góp phần tô đậm thêm bức tranh bất bình đẳng
giữa nhóm hộ nghèo với các nhóm xã hội khác
về việc tiếp cận các DVYT
Tiếp cận với dịch vụ chữa bệnh: Trên thực
tế, không phải bệnh nào cũng phải sử dụng
dịch vụ chữa bệnh, chỉ áp dụng đối với những
bệnh mà bệnh nhân phải thực hiện các phác đồ
điều trị để điều trị và phục hồi sức khỏe Số
lượt người sử dụng dịch vụ chữa bệnh trong
các hộ nghèo tại thành phố là 128 lượt, chiếm
18,2% lượt người bị ốm đau Trong đó, số lượt
sử dụng dịch vụ chữa không dùng BHYT là 4
lượt (3,1%), còn lại 124 lượt người (96,9%) có
sử dụng chế độ BHYT khi chữa bệnh Như
vậy, trong việc tiếp cận các DVYT chữa bệnh,
các hộ nghèo cũng chủ yếu sử dụng chế độ
BHYT
2 Một số yếu tố tác động đến việc tiếp cận DVYT của hộ gia đình nghèo ở thành thị
2.1 Kinh tế hộ gia đình
Với mức thu nhập trung bình của hộ nghèo tại thành phố Vinh là 1.219.000 đồng/tháng/hộ (tính cả thu nhập chính và các khoản thu, khoản trợ cấp khác), chia theo
số nhân khẩu là 436.000 đồng/nhân khẩu/tháng, trong khi tổng chi trung bình là 2.532.000 đồng/tháng/hộ thì các hộ nghèo không có đủ điều kiện để tiếp cận với các DVYT Do điều kiện kinh tế khó khăn nên họ quan niệm rằng: dù có bệnh nhưng vẫn đi làm/đi học được thì vẫn
ở nhà, không chữa trị Nếu bệnh nặng hơn sẽ đi mua thuốc ở nhà thuốc, chỉ khi bệnh trầm trọng, có ảnh hưởng đến sự sống còn thì mới đến các cơ sở y tế để khám chữa bệnh Tuy nhiên, trong thực tế khi bệnh càng nặng, tỷ lệ phải sử dụng các DVYT phức tạp và thuốc biệt dược càng cao, những dịch vụ này ít hoặc bị hạn chế mức chi trả trong BHYT Vì vậy, với một số trường hợp bệnh nặng, lựa chọn của hộ nghèo là “không chữa trị” Đối với các bệnh mãn tính, hay bệnh đã có kết quả của bác
sỹ, họ lựa chọn điều trị theo phác đồ cũ
2.2 Thủ tục hành chính
Khi đi khám chữa bệnh, thủ tục hành chính luôn là vấn đề được người bệnh coi trọng Tại các cơ sở cung cấp DVYT theo chế độ BHYT, thủ tục hành chính được các hộ nghèo đánh giá là “rườm rà” và mức độ hài lòng không cao bằng các cơ sở cung cấp DVYT không dùng BHYT Đây là một rào cản cho sự tiếp cận với các DVYT theo chế độ BHYT của hộ nghèo
2.3 Thời gian chờ đợi
Đối với các DVYT theo chế độ BHYT, mặc dù phần lớn hộ nghèo trong nghiên cứu này đánh giá về thời gian chờ đợi là bình thường, nhưng tỷ lệ đánh giá “rất lâu”
Khi bệnh nhẹ, các hộ nghèo thường chọn giải pháp
tự mua thuốc để chữa
Trang 5và “khá lâu” nhiều hơn tỷ lệ đánh giá
“nhanh” và “rất nhanh” Chính thủ tục rườm
rà là nguyên nhân chính làm cho thời gian
chờ đợi lâu Đây trở thành một hạn chế có
tác động đến việc tiếp cận với các DVYT
của hộ nghèo Còn các DVYT không dùng
BHYT thì thời gian chờ đợi được phần lớn
hộ nghèo đánh giá là “bình thường”,
“nhanh” và “rất nhanh” Chỉ một số rất ít hộ
nghèo đánh giá “lâu” và “rất lâu” Bởi tại các
cơ sở y tế này, các thủ tục hành chính ít phức
tạp hơn, do vậy rút ngắn thời gian chờ đợi
Mặt khác, một lý do nữa làm cho thời gian
chờ đợi ở các cơ sở y tế này nhanh hơn là do
số lượt người đến khám, chữa bệnh ít hơn
các cơ sở y tế khám chữa bệnh theo chế độ
BHYT
2.4 Chi phí
Tuy có thẻ BHYT, nhưng các hộ nghèo
vẫn rất lo ngại vấn đề chi phí trong quá trình
khám chữa bệnh bởi giá DVYT chi trả cho
BHYT khá thấp, vì vậy với một số loại thuốc
và DVYT, hộ nghèo phải bỏ tiền thêm Đặc
biệt, bệnh càng nặng, cần càng nhiều thuốc
biệt dược và sử dụng các máy móc, kỹ thuật
cao thì hộ nghèo càng phải phụ thêm nhiều
chi phí Bên cạnh đó, việc giới hạn mức cùng
chi trả 5%, cũng đã làm giới hạn khả năng
tiếp cận với các DVYT của một số hộ nghèo,
nhất là đối với những trường hợ bệnh nặng
hay bệnh mãn tính phải điều trị lâu dài hoặc
điều trị phức tạp Ngoài ra, còn một lý do nữa là tình trạng cho người bệnh làm nhiều những xét nghiệm hay chỉ định khám các hạng mục không cần thiết nhằm làm tăng số lượt
sử dụng các thiết bị, DVYT của một số cán bộ y tế cũng góp phần làm tăng mức chi trả cho y tế của hộ nghèo khi
bị ốm đau Ảnh hưởng đến việc tiếp cận với các DVYT của họ Đối với các DVYT không dùng thẻ BHYT, hộ nghèo phải thanh toán 100% tiền khám, chữa bệnh và mua thuốc mà không được hỗ trợ, điều này vượt quá mức chi trả so với thu nhập của họ Do vậy, đây trở thành một rào cản rất lớn trong việc tiếp cận y tế của hộ nghèo
2.5 Chất lượng phục vụ của nhân viên y tế
Có sự khác biệt trong đánh giá của hộ nghèo về chất lượng phục vụ của nhân viên y tế đối với hai loại DVYT theo chế độ BHYT và DVYT không dùng BHYT trong việc khám chữa bệnh Phần lớn hộ nghèo trong nghiên cứu này đều đánh giá “rất tốt” và “tốt” đối với các DVYT không dùng BHYT trong khi lại đánh giá “bình thường” đối với các DVYT theo chế độ BHYT
Các hộ nghèo cho biết họ cảm thấy không được các cán
bộ y tế tôn trọng khi dùng thẻ BHYT hộ nghèo đi khám chữa bệnh Trong khi đó, họ hài lòng nhiều hơn với chất lượng phục vụ của nhân viên y tế tại các cơ sở y tế không dùng BHYT
2.6 BHYT cho người nghèo
Nhà nước ban hành chính sách về BHYT cho người nghèo nhằm giảm bớt gánh nặng về tài chính y tế, đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận các DVYT cho hộ nghèo, hướng tới mục tiêu công bằng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Tỷ lệ sử dụng thẻ BHYT khi ốm đau đối với các hộ nghèo trên địa bàn khảo sát là 96%, chỉ
Nâng cao chất lượng khám
chữa bệnh là một trong
những giải pháp tạo điều
kiện cho người nghèo tiếp
cận DVYT tốt hơn
Trang 6có 6% không sử dụng thẻ BHYT Tuy mức
độ sử dụng thẻ có sự khác nhau nhưng đã
cho thấy tác động của chính sách thẻ BHYT
đối với việc tiếp cận DVYT của hộ nghèo
BHYT đã giúp cho hộ nghèo tiếp cận với các
DVYT để khám chữa bệnh
3 Kết luận và khuyến nghị
Hiện nay, mức độ tiếp cận với các DVYT
của hộ nghèo tại thành phố Vinh còn rất hạn
chế Họ có thể không chữa trị khi bị bệnh
nhẹ, hoặc có thể tự mua thuốc tại các nhà
thuốc Phần lớn, khi bệnh đã nặng, có ảnh
hưởng đến sự sống còn thì họ mới đến các
cơ sở cung cấp DVYT để điều trị Đặc biệt,
thẻ BHYT có tác động rất lớn với việc tiếp
cận DVYT của hộ nghèo Từ thực trạng đó,
tác giả đề xuất một số khuyến nghị để hoàn
thiện chính sách khám chữa bệnh cho người
dân nói chung, tạo điều kiện cho người
nghèo được tiếp cận với DVYT tốt hơn
3.1 Tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất
cho các cơ sở cung cấp DVYT, đặc biệt với
các DVYT công, nơi thực hiện việc khám
chữa bệnh chủ yếu cho hộ nghèo và phụ nữ
nghèo, từng bước giải quyết tình trạng quá
tải tại các bệnh viện, góp phần làm tăng việc
tiếp cận với các DVYT cho hộ nghèo
3.2 Đi kèm với việc tiếp tục triển khai các
chính sách về y tế, Nhà nước cần thực hiện
các chức năng quản lý vĩ mô khác như quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra giám sát nhằm làm hạn chế các trường hợp tiêu cực, lạm dụng, tư lợi trong việc thực hiện các chính sách công hay thực hiện không đúng quy trình, chất lượng… Điều này rất quan trọng nhằm giúp hộ nghèo nói riêng và các đối tượng khác nói chung được hưởng các chế độ đúng với tiêu chuẩn đề ra
3.3 Cần có biện pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giảm chi phí y tế, bằng cách nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ y tế, nâng cấp trang thiết bị, cơ sở vật chất, đảm bảo chất lượng thuốc và các kỹ thuật chẩn đoán… Ngoài ra cần có các cơ chế tài chính và quản lý phù hợp nhằm khuyến khích sử dụng DVYT hợp lý Cần nghiêm khắc xử lý các tình huống lạm dụng xét nghiệm hay nhận quà biếu của một số bác sỹ và nhân viên y tế
3.4 Nhà nước xóa bỏ hoàn toàn bao cấp trong khám chữa bệnh, chuyển đổi hẳn cơ chế tài chính y tế truyền thống sang chế độ BHYT Thực hiện BHYT bắt buộc theo định hướng của Đảng và Pháp luật của Nhà nước
3.5 Người dân cũng cần chủ động giảm chi phí y tế trực tiếp: chăm sóc sức khỏe chủ động, đi khám sức khỏe định kỳ, đi khám sớm khi có vấn đề về sức khỏe, hạn chế tự điều trị và tự tìm hiểu rõ hơn về căn bệnh được chuẩn đoán và điều trị để có thể lựa chọn các DVYT phù hợp
3.6 Tăng cường công tác truyền thông - giáo dục sức khỏe cho người dân, đặc biệt chú trọng đến nhóm hộ nghèo giúp họ nâng cao về nhận thức chăm sóc sức khỏe cũng như có những hành động hợp lý khi bị ốm đau./
Tài liệu tham khảo
1 Đặng Nguyên Anh (2007), Những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế ở Việt Nam, Tạp chí Xã hội học,
số 1/2007, Hà Nội.
2 Đặng Bội Hương (2006), Đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho người nghèo ở nông thôn Việt Nam và Trung Quốc, Nxb
Y học, Hà Nội.
3 Võ Thị Cẩm Ly (2010), Phụ nữ nghèo ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An: thực trạng, nguyên nhân và chiến lược thoát
nghèo, Luận văn Thạc sĩ Xã hội học, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.
4 Nguyễn Bá Ngọc, Bùi Xuân Dự (2011), Một số vấn đề lý luận trong khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội, Tạp chí Khoa
học Lao động và Xã hội, số 22, quý I/2011, Hà Nội.
5 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11
năm 2008, Hà Nội.
6 Nguyễn Đình Tấn (2005), Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội - những đóng góp về mặt lý luận và ứng dụng thực tiễn,
Tạp chí Xã hội học, số 3/2005, Hà Nội.
7 Nguyễn Ngọc Thụy (2010), Bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân hiện nay, Luận văn
Thạc sỹ Xã hội học, Trường ĐH KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.
8 UBND thành phố Vinh (2013), Báo cáo tóm tắt tình hình thực hiện kinh tế - xã hội năm 2013, phương hướng, nhiệm
vụ kinh tế xã hội năm 2014, ra ngày 27/11/2013, Tài liệu lưu tại UBND thành phố Vinh, Nghệ An.
9 UBND thành phố Vinh (2013), Báo cáo tổng hợp điều tra, rà soát hộ nghèo năm 2013, Tài liệu lưu tại UBND thành
phố Vinh, Nghệ An.
10 Phan Thị Thúy Hà (2015), Những yếu tố tác động đến việc tiếp cận dịch vụ y tế của các hộ nghèo ở thành thị
(Nghiên cứu tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An), Luận văn Thạc sĩ Xã hội học, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc
gia Hà Nội.