ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc, góp phần giữ vững ANCT trên địa bàn, tạođiều kiện và môi trường thuận lợi để xây dựng, bảo vệ khu vực biên giới phía Bắc.Tuy nhiên, hoạt động bảo vệ AN
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng nghiên cứu sinh Các
số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực,
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
quan có liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra luận án
Chương
2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG BẢO VỆ AN NINH CHÍNH TRỊ KHU VỰC
2.1 Quan niệm an ninh chính trị và bảo vệ an ninh chính trị khu vực
biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay 30 2.2 Quan niệm, nội dung, phương thức và những yếu tố quy định Bộ đội
Biên phòng bảo vệ an ninh chính trị khu vực biên giới phía Bắc Việt
Chương
3 THỰC TRẠNG BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG BẢO VỆ AN NINH CHÍNH TRỊ KHU VỰC BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM
3.1 Thành tựu, nguyên nhân thành tựu của Bộ đội Biên phòng bảo vệ an
ninh chính trị khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay 72 3.2 Hạn chế, nguyên nhân hạn chế của Bộ đội Biên phòng bảo vệ an
ninh chính trị khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay và một
Chương
4 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG BẢO VỆ VỮNG CHẮC AN NINH CHÍNH TRỊ KHU VỰC BIÊN
4.1 Yêu cầu Bộ đội Biên phòng bảo vệ vững chắc an ninh chính trị khu vực
biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay 116 4.2 Giải pháp chủ yếu Bộ đội Biên phòng bảo vệ vững chắc an ninh chính
trị khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay 123
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
An ninh chính trị có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Bảo vệ ANCT là một nội dung trọng yếu trongnhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN nhằm giữ vững vai trò lãnh đạocủa Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, sự ổn định chính trị - xã hội, củng cốlòng tin và sự thống nhất về chính trị - tinh thần của nhân dân đối với Đảng,Nhà nước, chế độ XHCN, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp trong xây dựng
và bảo vệ đất nước Đảng ta khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệvững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo
vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninhchính trị, trật tự, an toàn xã hội” [96, tr.78]
Khu vực biên giới phía Bắc nước ta có vị trí chiến lược quan trọng vềchính trị, kinh tế, QP - AN và đối ngoại Đây là khu vực có đường biên giớiquốc gia trên đất liền dài 1.449,566 km tiếp giáp với Trung Quốc; KT - XHchậm phát triển, chất lượng và hiệu quả hoạt động của HTCT cấp cơ sở còn cónhững hạn chế; quan hệ dân tộc, tôn giáo đa dạng, phức tạp… và là một trongnhững địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch tập trung chống phá nhằm gâymất ANCT ở khu vực, tiến tới lật đổ chế độ XHCN ở nước ta An ninh chính trị
ở khu vực biên giới phía Bắc là một bộ phận cấu thành ANCT của đất nước Dovậy, giữ vững ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa
là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng khuvực biên giới giàu mạnh, xứng đáng là phên dậu vững chắc của Tổ quốc
Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong bảo vệ ANCT
ở khu vực biên giới Những năm qua, các đơn vị BĐBP đã phát huy tốt vai trònòng cốt, chuyên trách;chủ động tham mưu, phối hợp với các cấp, các ngành, cáclực lượng có liên quan; tổ chức sử dụng lực lượng, phương tiện tích cực bảo vệ
Trang 5ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc, góp phần giữ vững ANCT trên địa bàn, tạođiều kiện và môi trường thuận lợi để xây dựng, bảo vệ khu vực biên giới phía Bắc.Tuy nhiên, hoạt động bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc của BĐBP cònbộc lộ một số hạn chế như: Nhận thức, trách nhiệm, năng lực của một số cán bộ,chiến sĩ về bảo vệ ANCT chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; công tác lãnh đạo,chỉ đạo bảo vệ ANCT của một số cấp ủy, chỉ huy BĐBP chưa sâu sát, kịp thời; cơchế phối hợp giữa BĐBP với các tổ chức, các lực lượng trong bảo vệ ANCT cónhững lúc chưa chặt chẽ, thiếu thống nhất nên ANCT trên một số địa bàn ở khuvực biên giới phía Bắc có những thời điểm chưa thật ổn định, thiếu vững chắc.
Trong những năm tới, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngàycàng sâu rộng, thế và lực của đất nước được tăng cường, song tình hình thế giới,khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp Khu vực biên giớiphía Bắc tiếp tục được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư, phát triển; quan hệ hợptác, giao thương với Trung Quốc được mở rộng Tuy vậy, trước sự tác động, ảnh
hưởng bởi chính sách “biên giới mềm” của Trung Quốc và những vấn đề an ninh
phi truyền thống, nhất là đại dịch Covid 19, khu vực chiến lược này vẫn đứngtrước những khó khăn, thách thức trong phát triển KT - XH, củng cố QP - AN,các thế lực thù địch tập trung chống phá quyết liệt… làm cho ANCT trên một sốđịa bàn ở khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường… Trước những vấn đề
đó, để giữ vững ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc trong mọi tình huống, đápứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước hiện nay, đòi hỏi BĐBPphải thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc
Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu ở các góc độ khác nhau liên quanđến bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới, song chưa có công trình nào nghiên cứu mộtcách cơ bản, hệ thống dưới góc độ triết học chính trị - xã hội về BĐBP bảo vệ ANCT ở
khu vực biên giới Vì vậy, đề tài “Bộ đội Biên phòng bảo vệ an ninh chính trị khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay”có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết.
Trang 62 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn vềBĐBP bảo vệ ANCT khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam, đề xuất yêucầu và giải pháp chủ yếu BĐBP bảo vệ vững chắc ANCT khu vực biêngiới phía Bắc Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án;
Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về BĐBP bảo vệ ANCT khu vựcbiên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay;
Đánh giá thực trạng BĐBP bảo vệ ANCT khu vực biên giới phía Bắc ViệtNam hiện nay, chỉ rõ nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết;
Đề xuất yêu cầu và giải pháp chủ yếu BĐBP bảo vệ vững chắc ANCTkhu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động của BĐBP bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc ViệtNam
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Dưới góc độ triết học chính trị - xã hội,
luận án nghiên cứu hoạt động của BĐBP (Bộ Tư lệnh BĐBP, BĐBP các tỉnhphía Bắc - Bộ Chỉ huy BĐBP và các đồn Biên phòng trực thuộc) bảo vệ ANCT
ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
Phạm vi không gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu BĐBP bảo vệ
ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc trên đất liền của Việt Nam, bao gồm các
xã, phường, thị trấn biên giới đất liền của 07 tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc làQuảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên
Trang 7Phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu, điều tra, khảo
sát, tổng hợp số liệu của các đơn vị BĐBP từ năm 2010 đến nay (từ khi 03Văn kiện pháp lý biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, gồm: Nghịđịnh thư phân giới, cắm mốc trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc; Hiệpđịnh về quy chế quản lý biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc;Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liềnViệt Nam - Trung Quốc có hiệu lực)
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh; quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nướcCộng hòa XHCN Việt Nam; các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương,
Bộ Quốc phòng về bảo vệ Tổ quốc, về bảo vệ ANCT, về bảo vệ biên giới quốcgia nói chung, trong đó có ANCT khu vực biên giới phía Bắc nói riêng, vềBĐBP bảo vệ biên giới quốc gia
Cơ sở thực tiễn
Luận án dựa trên thực trạng nội dung bảo vệ ANCT ở khu vực biêngiới phía Bắc Việt Nam của BĐBP; thông qua các tư liệu, số liệu trong cácbáo cáo tổng kết của các cơ quan, đơn vị có liên quan; trải nghiệm thực tiễntrong thực hiện nhiệm vụ tại BĐBP và kết quả trực tiếp điều tra, khảo sátthực tế của tác giả luận án
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; đồngthời, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội vànhân văn như: Phân tích, tổng hợp, kết hợp lôgíc và lịch sử, thống kê, so sánh,tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học (500 phiếu điều tra với đối tượng là cán
bộ các đồn Biên phòng thuộc Bộ Chỉ huy BĐBP các tỉnh biên giới phía Bắc;
300 phiếu điều tra với đối tượng là cán bộ xã, phường, thị trấn khu vực biên
Trang 8giới phía Bắc) và phương pháp chuyên gia để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứudưới góc độ triết học chính trị - xã hội.
5 Những đóng góp mới của luận án
Đưa ra quan niệm, chỉ rõ đặc điểm bảo vệ ANCT ở khu vực biên giớiphía Bắc Việt Nam hiện nay; xây dựng quan niệm và phân tích nội dungBĐBP bảo vệ ANCT khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam
Đề xuất yêu cầu và giải pháp chủ yếu BĐBP bảo vệ vững chắc ANCTkhu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm lý
luận về ANCT và bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới; đồng thời góp phần bổsung, phát triển lý luận về BĐBP bảo vệ ANCT khu vực biên giới phía BắcViệt Nam hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho
cấp ủy, chính quyền các tỉnh biên giới phía Bắc; các đơn vị BĐBP tham khảo,vận dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANCT ở khuvực biên giới nói chung, bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc nói riêngnhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,giảng dạy các vấn đề liên quan tại các học viện, nhà trường quân đội, nhất làcác học viện, nhà trường trong lực lượng BĐBP
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mục các công
trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến an ninh chính trị, bảo vệ an ninh chính trị ở khu vực biên giới
Tác giả Lưu Tĩnh Ba (Chủ biên, 2006), “Chiến lược an ninh quốc gia Trung Quốc đầu thế kỷ XXI” [1] Cuốn sách đã chỉ rõ tư tưởng chỉ đạo, mục
tiêu, nhiệm vụ và những nguyên tắc, phương châm chiến lược an ninh quốc giacủa Trung Quốc…Bàn về ANCT, các tác giả chỉ rõ: “An ninh chính trị chủ yếuchỉ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị, nhân dân an khang,
an ninh văn hóa, và bao hàm cả ý thức hệ” [1, tr.11-12] Đề cập vị trí, tầm quantrọng của ANCT, các tác giả chỉ rõ: “An ninh chính trị là hạt nhân trong nền anninh quốc gia, nó quyết định đến sự tồn tại của các vấn đề an ninh khác, tìnhhình an ninh chính trị của một quốc gia có quan hệ trực tiếp đến độc lập chủquyền của quốc gia đó” [1, tr.319] Bàn về nhiệm vụ và mục tiêu của ANCT,các tác giả xác định: “Nhiệm vụ và mục tiêu của an ninh chính trị là bảo vệchủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia… bảo vệ vững chắc chế độ, bảo vệ anninh quốc gia, bảo đảm chính quyền vững mạnh, bộ máy nhà nước ổn định,pháp luật nghiêm minh” [1, tr.176]
Tập thể tác giả Giang Tây Nguyên, Hạ Lập Bình (2007), “Trung Quốc trỗi dậy hòa bình” [133] Cuốn sách đã đề cập một cách khá sâu sắc về sự ổn
định chính trị, trong đó có ANCT và con đường phát triển hòa bình của TrungQuốc trong những năm đầu thế kỷ XXI Các tác giả đã chỉ rõ tính tất yếu, nộidung và biện pháp giữ vững ổn định chính trị, ANCT để tạo môi trường hòabình nhằm phát triển đất nước Trung Quốc toàn diện, bền vững, hài hòa; đồngthời cũng nêu lên những triển vọng và những khó khăn của công cuộc hiệnđại hóa ở Trung Quốc Đặc biệt, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của
tổ chức đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý và điều hành của bộ máy chính
Trang 10quyền trong HTCT từ trung ương đến cơ sở trong việc giữ vững ổn địnhchính trị, ANCT ở Trung Quốc Theo các tác giả, đây là nguyên nhân cơ bản,quan trọng giúp cho Trung Quốc giữ vững ổn định chính trị, ANCT và conđường phát triển hòa bình trong thời gian qua.
Cục Hải quan và Bảo vệ biên giới Mỹ (2012), “Chiến lược Tuần tra biên giới quốc gia từ 2012 - 2016” [86] Tài liệu đã đề cập mục tiêu, nhiệm vụ, biện
pháp bảo vệ biên giới trên đất liền của lực lượng tuần tra biên giới Mỹ Để bảo vệbiên giới quốc gia, tài liệu chỉ rõ: “Lực lượng tuần tra biên giới Mỹ được tiến hànhmọi biện pháp nghiệp vụ để kiểm tra, kiểm soát tại các cửa khẩu, ngăn chặn, bắtgiữ các đối tượng xâm nhập, bảo vệ an toàn biên giới quốc gia và đảm bảo an ninhquốc gia của nước Mỹ trên biên giới giáp Mêhicô và Canađa” [86, tr.19] Nhưvậy, theo quan điểm của các nhà hoạch định chiến lược Mỹ trong quản lý, bảo
vệ biên giới, lực lượng chuyên trách cần phải tiến hành mọi biện pháp để bảođảm tính bất khả xâm phạm của biên giới quốc gia cũng như bảo vệ an ninhbiên giới quốc gia, trong đó có bảo vệ ANCT
Tác giả Vănthon - Sulysắc (2002), “An ninh tuyến biên giới Lào - Thái Lan, thực trạng và giải pháp” [143] Luận án đã phân tích một số vấn đề lý
luận và thực tiễn liên quan đến an ninh trên tuyến biên giới Lào - Thái Lan, trên
cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần đảm bảo an ninh trên tuyến biên giớinói riêng (trong đó có ANCT) và an ninh quốc gia của Lào nói chung Trongluận án, tác giả đưa ra và luận giải những vấn đề về tuyến biên giới Lào - TháiLan; trong đó có luận giải về nội dung an ninh biên giới, ANCT khu vực biêngiới và hoạt động phối hợp giữa các lực lượng của Lào trong bảo vệ an ninhquốc gia, trong đó có ANCT khu vực biên giới
1.1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quân đội, lực lượng biên phòng bảo vệ an ninh chính trị, bảo vệ
an ninh chính trị khu vực biên giới
Tác giả Chương Tư Nghị (Chủ biên, 1987), “Công tác chính trị của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc” [132] Giáo trình đã trình bày một số
nội dung cơ bản về công tác chính trị của Quân Giải phóng nhân dân Trung
Trang 11Quốc như: Công tác xây dựng chính trị cơ sở; Công tác xây dựng tư tưởng;Công tác xây dựng địa phương của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc
Đề cập về nhiệm vụ của quân đội trong giữ gìn an ninh trật tự, tài liệu xác định:
“Phải tăng cường xây dựng tổ chức chính quyền, tổ chức đảng cơ sở, đem tácphong trong Đảng vào dân [132, tr.202] Đối với BĐBP, tác giả xác định:
“Phải căn cứ vào tình hình thực tế nơi cư trú, phối hợp giúp đỡ chính quyền địaphương thực hiện chế độ trách nhiệm dưới mọi hình thức” [132, tr.600]
Tác giả Mao Trấn Phát (Chủ biên, 1995), “Bàn về Biên phòng” [134].
Cuốn sách đã đề cập một số vấn đề cơ bản về lý luận công tác biên phòng;nhiệm vụ, nội dung, phương pháp quản lý, bảo vệ biên giới của lực lượngBiên phòng Trung Quốc trong thời kỳ mới Bàn về nhiệm vụ cơ bản của Biênphòng, các tác giả xác định: “Bất luận trong tình hình nào, bảo vệ chủ quyềnlãnh thổ và quyền lợi biển quốc gia, ngăn ngừa kẻ địch xâm lược mở rộng, giữvững an ninh ở biên cương và biên giới biển, đều là chức năng và nhiệm vụchủ yếu của biên phòng” [134, tr.323] Bàn về trách nhiệm trong bảo vệ ANCTkhu vực biên giới, các tác giả khẳng định: “Bảo vệ an ninh chính trị và ổn địnhtrị an xã hội ở khu vực biên giới, ven biển là trách nhiệm chung của đảng,chính quyền, quân đội, cảnh sát, nhân dân khu vực ven biển, ven biên” [134,tr.335] Khi đề cập biện pháp bảo vệ an ninh biên giới, trong đó có ANCT, cáctác giả chỉ rõ: “Bộ đội biên phòng, bộ đội cảnh sát vũ trang biên phòng… căn
cứ vào chính sách, biện pháp và pháp luật, pháp quy hữu quan của nhà nước đểbảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ an ninh, trật tự biên cảnh,hải cương và bầu trời” [134, tr.333]
Bộ Quốc phòng Liên bang Nga (2003), “Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, vùng nước nội thủy, lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và tài nguyên thiên nhiên trên các khu vực đó của Liên bang Nga giai đoạn 2001 - 2005” [11] Cuốn sách đã xác định nguyên tắc, nội dung, nhiệm vụ, phương
hướng chủ yếu và hệ thống đảm bảo thực hiện các hoạt động bảo vệ biên giới,nội thủy, lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và nguồn tài nguyên
Trang 12thiên nhiên ở các khu vực đó của lực lượng Biên phòng Liên bang Nga Bàn vềnhiệm vụ của lực lượng biên phòng, cuốn sách chỉ rõ: “Bảo vệ biên giới quốcgia được xem xét như là một bộ phận cấu thành trong Chiến lược bảo vệ Tổquốc do lực lượng Biên phòng Liên bang Nga thực hiện trong phạm vi khu vựcbiên giới” [11, tr.3] Đồng thời cuốn sách cũng chỉ rõ hệ thống chính sách và cáchoạt động bảo vệ biên giới, bao gồm: hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước, đảmbảo pháp quy, xây dựng lực lượng biên phòng, phát triển quan hệ hợp tác tronglĩnh vực biên phòng, đảm bảo chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm luật phápđối với quân nhân và công dân tham gia bảo vệ biên giới.
Bộ Tư lệnh BĐBP (2004), “Luật cơ quan Biên phòng Liên bang Nga”
[23] đã chỉ rõ chức năng của lực lượng Biên phòng: “Cơ quan Biên phòngLiên bang Nga có chức năng kiểm tra nhà nước việc tuân thủ quy chế biên giớiquốc gia, quy chế khu vực biên giới, quy chế cửa khẩu; pháp luật trong vùngnước nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa” [23, tr.3] Tàiliệu chỉ rõ chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Biên phòng là: “Tiến hành hoạtđộng điều tra, xử lý vi phạm hành chính, tội phạm Được áp dụng các biện phápnghiệp vụ điều tra, xử lý hành vi xâm phạm an ninh quốc gia; tiến hành hoạt động
vũ trang trinh sát, phản gián, truy tìm nghiệp vụ và các hoạt động khác” [23, tr.7]
Quốc vụ viện Trung Quốc (2009), “Chiến lược “Hưng biên phú dân” của Trung Quốc” [141] Cuốn sách đã tập trung bàn về nội dung, nhiệm vụ
thực hiện Chiến lược “Hưng biên phú dân”, thúc đẩy sự phát triển, giữ gìn anninh vùng biên cương của Trung Quốc vững mạnh toàn diện Đề cập về vaitrò của BĐBP trong xây dựng, giữ gìn an ninh vùng biên cương, các tác giảchỉ rõ: “Phát huy thế mạnh và vai trò của Bộ đội Biên phòng trong việc xâydựng cơ sở hạ tầng vùng biên, xóa đói giảm nghèo, giáo dục tuyên truyền,phát động rộng rãi phong trào dân quân cùng tham gia xây dựng, giữ gìn anninh vùng biên” [141, tr.272] Đồng thời, các tác giả cũng chỉ rõ phươnghướng, biện pháp để BĐBP tham gia thực hiện xây dựng, giữ gìn an ninhvùng biên cương: “Các đồn Biên phòng phải xây dựng các phương án cụ thể
Trang 13để thực hiện kế hoạch, làm đến nơi đến chốn các nhiệm vụ” [141, tr.274]
1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài luận án
1.2.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến an
ninh chính trị, bảo vệ an ninh chính trị
Tác giả Nguyễn Xuân Yêm (2011), “Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự
an toàn xã hội - Trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội” [155].
Cuốn sách đã phân tích, đánh giá và tổng kết những thành tựu trong bảo vệ anninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổimới đất nước; chỉ rõ thời cơ và thách thức tác động đến an ninh quốc gia, trật
tự an toàn xã hội; trên cơ sở đó đề ra các nhiệm vụ và giải pháp để bảo vệ anninh quốc gia (trong đó có ANCT), trật tự an toàn xã hội Bàn về ANCT, tácgiả chỉ rõ: “An ninh chính trị là một bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia,chỉ sự ổn định của chế độ chính trị, bảo đảm sự nhất trí chính trị, tinh thầntrong nhân dân đối với chế độ, bảo đảm sự nhất trí chính trị, tinh thần trongnội bộ giai cấp, nội bộ đảng cầm quyền” [155, tr.39] Về nội dung bảo vệANCT, tác giả xác định: “Trong bảo vệ an ninh chính trị còn có bảo vệ sự tồntại và an toàn trong hoạt động của chính quyền nhân dân nói riêng, của cả hệthống chính trị nói chung cũng là một nội dung cơ bản, quan trọng của bảo vệ
an ninh chính trị” [155, tr.40-41]
Tác giả Hoàng Kông Tư (Chủ nhiệm, 2010), “Quan điểm, định hướng, giải pháp đảm bảo an ninh nội bộ, phòng chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch chuyển hóa chính trị ở Việt Nam” [152] Đề tài đã luận giải
những vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ an ninh nội bộ, phòng chống tác động,chuyển hóa chính trị ở Việt Nam; chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của cácthế lực thù địch nhằm tác động chuyển hóa chính trị đối với Việt Nam; cácdấu hiệu, biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ Đảng và tổ chứccông tác phòng ngừa, đấu tranh của cơ quan an ninh Mặc dù không đề cậptrực tiếp đến công tác bảo vệ ANCT nhưng những quan điểm, định hướng,
Trang 14giải pháp đảm bảo an ninh nội bộ, phòng chống âm mưu, thủ đoạn hoạt độngcủa các thế lực thù địch tác động, chuyển hóa chính trị đối với Việt Nam lànhững vấn đề lý luận cơ bản, mang tính định hướng cho công tác bảo vệANCT, đặc biệt là trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn hoạt độngcủa các thế lực thù địch gây mất ANCT.
Tác giả Phạm Thái Bình (2001), “Đấu tranh giai cấp với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam”
[5] Luận án đã phân tích đặc điểm và thực chất của cuộc đấu tranh giaicấp ở nước ta hiện nay; phân tích thực trạng, chỉ rõ những vấn đề bứcxúc đặt ra và xác định những giải pháp cơ bản nhằm thực hiện có hiệuquả nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội hiện nay Khi bàn về ANCT, tác giả chỉ rõ: “An ninh chính trị là
bộ phận chủ yếu của an ninh quốc gia An ninh chính trị bao gồm: sự ổnđịnh chính trị, nền tảng tư tưởng, thể chế chính trị, quyền lãnh đạo củaĐảng, sự an toàn nội bộ, việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước được bảo đảm” [5, tr.41] Về giải pháp bảo vệANCT, tác giả chỉ rõ:
Để bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, tất yếu phải giữ vững vaitrò lãnh đạo của Đảng đi đôi với đổi mới chỉnh đốn Đảng, bảo vệvững chắc sự ổn định chính trị, giữ gìn sự đoàn kết nhất trí dântộc, xây dựng thế trận an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàndân, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế gắn liền với bảo đảm anninh đối ngoại [5, tr.176]
Tác giả Nguyễn Bình Ban (2003), “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
sự nghiệp bảo vệ an ninh chính trị trong những năm đổi mới (1986-1996)”
[3] Luận án đã làm rõ những quan điểm cơ bản, nguyên tắc và phương thứclãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên lĩnh vực bảo vệ ANCT; nhữngthành công và hạn chế, trên cơ sở đó chỉ ra những kinh nghiệm của Đảng trongquá trình lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp bảo vệ ANCT từ năm 1986 - 1996 Bàn
Trang 15về ANCT và bảo vệ ANCT, tác giả đã khẳng định:
An ninh chính trị là bộ phận chủ yếu của an ninh quốc gia, bảo vệ
an ninh chính trị nằm trong tổng thể các mối quan hệ của công tácđảm bảo an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội Do đó,đối tượng, nội dung, phạm vi của bảo vệ an ninh chính trị có quan
hệ chặt chẽ, biện chứng, hữu cơ với bảo vệ an ninh kinh tế, bảo vệ
an ninh tư tưởng - văn hóa [3, tr.5]
Đề cập tầm quan trọng của bảo vệ ANCT, tác giả khẳng định: “Bảo vệ anninh chính trị là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt quan trọng nằm trong chiến lượcbảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” [3, tr.5] Tác giả chỉ rõ nội dung bảo vệ ANCTlà: “Bảo vệ quyền lãnh đạo của Đảng, bảo vệ sự ổn định chính trị, nền tảng tưtưởng và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự an toàn nội bộ của hệ thốngchính trị, bảo vệ việc thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhànước, bảo vệ sự nhất trí về chính trị, tinh thần trong nhân dân” [3, tr.14]
Tác giả Nguyễn Thị Hảo (2004), “Các quan hệ Khơmer - Việt Nam”
[111] Luận án đã nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Campuchia về chính trị, lãnhthổ, biên giới và kinh tế Tác giả đã trình bày khá sâu sắc về chủ quyền lãnhthổ, an ninh biên giới đất liền Campuchia - Việt Nam, đặc điểm biên giớiCampuchia - Việt Nam, việc xác định đường biên giới đất liền Campuchia -Việt Nam, các sự kiện biên giới và lập trường của Campuchia trong quản lý, bảo
vệ biên giới Đặc biệt, tác giả đã đề cập nội dung của an ninh biên giới quốc gia,phương pháp quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia,trong đó có ANCT khu vực biên giới Campuchia của lực lượng vũ trang
Tác giả Nguyễn Duy Linh (2016), “Bảo vệ an ninh chính trị nội bộ các
cơ quan Trung ương ở Việt Nam hiện nay” [125] Luận án đã phân tích những
vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ ANCT nội bộ các cơ quan Trung ương, tìnhhình ANCT nội bộ và thực trạng bảo vệ ANCT nội bộ các cơ quan Trungương; trên cơ sơ đó dự báo tình hình, đề ra nhóm giải pháp cơ bản nâng caohiệu quả bảo vệ ANCT nội bộ các cơ quan Trung ương ở Việt Nam hiện nay.Trong luận án, đánh giá về mối quan hệ tác động của trật tự an toàn xã hội tới
Trang 16ANCT, tác giả khẳng định: “Tình hình tội phạm về trật tự an toàn xã hội cóquan hệ chặt chẽ với tình hình an ninh chính trị, những vấn đề phức tạp về tộiphạm và trật tự xã hội nếu không giải quyết tốt ở cơ sở sẽ chuyển hóa rấtnhanh sang vấn đề an ninh chính trị” [125, tr.79-80].
1.2.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quân đội, Bộ đội Biên phòng bảo vệ an ninh chính trị, bảo vệ an ninh chính trị khu vực biên giới
Tác giả Phạm Hữu Bồng (Chủ nhiệm, 2002), “Nghệ thuật quản lý, bảo
vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới” [82] Đề tài đã
phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về nghệ thuật quản lý, bảo vệ biêngiới quốc gia; xác định mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo,nguyên tắc, nội dung chủ yếu của nghệ thuật quản lý, bảo vệ biên giới quốcgia và đề xuất những giải pháp cơ bản quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, trong
đó có ANCT Đề cập biện pháp bảo vệ ANCT của BĐBP, các tác giả đã chỉ rõ:
“Bộ đội Biên phòng phối hợp với các lực lượng, các biện pháp nghiệp vụ anninh biên phòng, cảnh sát, đấu tranh chống bọn tình báo, gián điệp, phảnđộng, bọn nội gián, bọn biến chất thoái hóa, bọn cơ hội xét lại” [82, tr.103]
và “Kết hợp chặt chẽ giữa an ninh biên phòng với an ninh nội địa, nắm chắc tìnhhình ngoại biên, tình hình khu vực biên giới và tình hình an ninh nội địa, quản lýchắc đối tượng, địa bàn, các di biến động trên địa bàn biên giới… giữ vững anninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn biên giới” [82, tr.103-104]
Tác giả Tăng Huệ (Chủ nhiệm, 2003), “Nghiên cứu xây dựng thế trận biên phòng toàn dân bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”
[116] Đề tài đã luận giải rõ quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng thế trận biênphòng toàn dân; phân tích, đánh giá các yếu tố tác động; xác định yêu cầu, nội dung,giải pháp xây dựng thế trận biên phòng toàn dân Đánh giá về vai trò của thế trận biênphòng toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ ANCT của BĐBP, các tác giả đã chỉ rõ:
Thế trận biên phòng toàn dân có vai trò rất quan trọng trong đấutranh phòng, chống các hoạt động phá hoại biên giới quốc gia củađịch và các loại đối tượng với nhiều phương thức thủ đoạn khác nhaunhư các hoạt động vi phạm chủ quyền, quy chế biên giới và hoạt
Trang 17động của các loại tội phạm nhằm bảo vệ an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội ở khu vực biên giới [116, tr.41-42]
Đề cập về biện pháp bảo vệ ANCT của BĐBP, các tác giả chỉ rõ:
“Phải động viên được sức mạnh của cộng đồng dân cư, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạocủa cấp ủy đảng và chính quyền địa phương, chủ động làm tham mưu và cùng vớicác cấp, các lực lượng xây dựng thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh…, giữvững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới” [116, tr.78]
Tác giả Đặng Vũ Liêm (Chủ nhiệm, 2005), “Bộ đội Biên phòng tham gia phòng, chống di dịch cư tự do của đồng bào các dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới Tây Bắc” [124] Đề tài đã chỉ rõ nhiệm vụ của BĐBP trong bảo
vệ ANCT khu vực biên giới:
“Bộ đội Biên phòng là lực lượng chuyên trách nòng cốt trong quản
lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia Có trách nhiệmphối hợp với các cấp, các ngành giữ vững an ninh chính trị khu vựcbiên giới Các đơn vị biên phòng ở các tỉnh Tây Bắc làm tốt việctham gia phòng, chống di dịch cư tự do của đồng bào các dân tộcthiểu số ở khu vực biên giới chính là một nội dung quan trọng củaviệc giữ vững an ninh chính trị khu vực này” [124, tr.12]
Đề cập biện pháp bảo vệ ANCT của BĐBP, các tác giả đã chỉ rõ:
“Các đơn vị Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới Tây Bắc đã chủ động thammưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, phối hợp chặt chẽ với các ngành, các lựclượng; thực hiện đồng bộ các biện pháp công tác biên phòng, đấu tranh có hiệu quảvới tình hình di dịch cư tự do, góp phần giữ vững an ninh chính trị” [124, tr.82]
Tác giả Trần Hoa (Chủ nhiệm, 2009), “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược bảo vệ biên giới Việt Nam giai đoạn đến năm 2020” [112].
Đề tài đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn bảo vệ biên giới quốcgia; xác định mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương thức, nội dung vàgiải pháp bảo vệ biên giới quốc gia (trong đó có ANCT) giai đoạn đến năm
2020 Bàn về nội dung bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới, các tác giả đã chỉrõ: “Giữ vững trạng thái ổn định tình hình chính trị, xã hội, đảm bảo sự tin
Trang 18tưởng, vững vàng, nhất trí về chính trị, tinh thần trong nhân dân…Chú trọnglàm tốt công tác bảo vệ đảng, chính quyền và tài sản của nhân dân, phát hiệngiải quyết tốt mâu thuẫn nội bộ nhân dân, nhất là ở các địa bàn trọng điểm”[112, tr.148] Đề cập biện pháp bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới củaBĐBP, các tác giả đã xác định:
Tích cực chủ động hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng chức năngnước láng giềng trong phối hợp tuần tra, kiểm soát, sửa chữa mốcgiới, giải quyết các vụ việc xẩy ra trên biên giới, tổ chức tiếp nhậntrao trả người vi phạm quy chế biên giới, hợp tác đấu tranh chốngtội phạm hai bên biên giới… góp phần giữ vững an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới [112, tr.90]
Tác giả Trần Hữu Phúc (Chủ nhiệm, 2013), “Bộ đội Biên phòng đấu tranh phòng chống hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia ở khu vực biên giới trong tình hình mới” [135] Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng đấu
tranh phòng, chống hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia ở khu vực biên giớicủa BĐBP; đồng thời xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp đấu tranh phòng,chống hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trong đó có ANCT ở khu vựcbiên giới Đánh giá hạn chế của BĐBP bảo vệ ANCT khu vực biên giới, cáctác giả đã chỉ rõ: “Một số cấp ủy, chỉ huy chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo lĩnhvực bảo vệ an ninh chính trị, còn có biểu hiện nặng về chống tội phạm hình sự,chưa coi trọng các mặt công tác nghiệp vụ cơ bản, chạy theo xử lý các vụ việc
cụ thể” [135, tr.52] Đề cập về biện pháp bảo vệ ANCT khu vực biên giới củaBĐBP, các tác giả đã chỉ rõ: “Chăm lo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vàlực lượng công an cơ sở trong sạch vững mạnh, bảo đảm tin cậy về chính trị,xứng đáng là công cụ có hiệu lực giữ gìn an ninh chính trị…, bảo vệ Đảng, bảo
vệ chế độ, chính quyền và nhân dân ở cơ sở” [135, tr.119]
Tác giả Tạ Việt Hùng (Chủ nhiệm, 2016), “Phát huy vai trò quân đội trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay” [117].
Đề tài đã làm rõ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng vai trò quân đội
Trang 19trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợidụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta hiện nay; trên
cơ sở đó đề ra hệ thống các giải pháp phát huy vai trò quân đội trong đấu
tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn
đề dân tộc, tôn giáo Đánh giá về vai trò, nhiệm vụ của quân đội trong bảo
vệ ANCT, các tác giả khẳng định: “Các đơn vị quân đội, nhất là bộ đội địaphương, Bộ đội Biên phòng có vai trò quan trọng, trực tiếp trong công tácxây dựng địa bàn an toàn, giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ làng bản”[117, tr.36-37] Đề cập về biện pháp bảo vệ ANCT của quân đội, các tácgiả chỉ rõ: “Phối kết hợp với cấp ủy, chính quyền nơi đóng quân tham giaphòng, chống làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạnlật đổ, giải quyết những “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo, góp phần giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội” [117, tr.110]
Tác giả Nguyễn Bá Hòa (2009), “Bộ đội Biên phòng trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới Tây Nam” [113] Luận án đã làm rõ cơ sở
lý luận và thực tiễn quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới đất liền ViệtNam - Campuchia; đề xuất yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý,bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới Tây Nam của BĐBP Bàn về nội dungbảo vệ ANCT khu vực biên giới của BĐBP, tác giả chỉ rõ: “Giữ vững an ninhchính trị ở khu vực biên giới là duy trì sự ổn định về chính trị, như: đấu tranhchống âm mưu và hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân” [113, tr.85] Trong luận án,
đề cập biện pháp bảo vệ ANCT khu vực biên giới của BĐBP, tác giả chỉ rõ:
“Kết hợp chặt chẽ giữa an ninh biên phòng với an ninh nội địa, nắm chắc tìnhhình ngoại biên, khu vực biên giới và an ninh nội địa; phối hợp giữa tình báo biênphòng với phản gián, trinh sát kỹ thuật, điều tra hình sự, giữa nội biên với ngoạibiên, giữa biên giới với nội địa để… giữ vững an ninh chính trị” [113, tr.86]
Tác giả Nguyễn Bá Bảng (2016), “Bộ đội Biên phòng các tỉnh Tây Nam Bộ phối hợp với Công an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia ở khu
Trang 20vực biên giới đất liền” [4] Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng phối hợp giữa BĐBP các tỉnh Tây Nam Bộ với công an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, trên cơ sở đó xác định các giải pháp để nâng cao hiệu
quả phối hợp giữa BĐBP các tỉnh Tây Nam Bộ với công an nhân dân trong bảo
vệ an ninh quốc gia ở khu vực biên giới đất liền Đề cập biện pháp bảo vệANCT ở khu vực biên giới của BĐBP, tác giả chỉ rõ: “Phải tăng cường pháthuy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng đứng chân trên địa bàn nhằm giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới” [4, tr.5] Bêncạnh đó, tác giả còn khẳng định: “Nâng cao tinh thần cảnh giác, không mắcmưu kẻ địch, củng cố cơ sở chính trị, ổn định tình hình địa bàn góp phần giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới” [4, tr.149]
Tác giả Nguyễn Đình Sơn (2017), “Vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giữ vững ổn định chính trị ở Tây Nguyên” [142] Luận án đã
làm rõ một số vấn đề lý luận và thực trạng vai trò của Quân đội nhân dân ViệtNam trong giữ vững ổn định chính trị ở Tây Nguyên, trên cơ sở đó đề ra hệthống các giải pháp phát huy vai trò của quân đội trong giữ vững ổn định chínhtrị ở Tây Nguyên Đánh giá vai trò của quân đội trong bảo vệ ANCT, tác giảkhẳng định: “Các đơn vị quân đội đã chủ động tăng cường lực lượng xuống cơ
sở nơi xảy ra “điểm nóng” giúp địa phương ngăn chặn và giải quyết hậu quả kịpthời , góp phần ổn định tâm lý cho nhân dân, giữ vững an ninh chính trị ở cácđịa bàn trọng điểm” [142, tr.82] Đề cập chức năng, nhiệm vụ của cấp ủy, chínhquyền địa phương trong bảo vệ ANCT, tác giả chỉ rõ: “Đối với địa phương, cấp
ủy là người lãnh đạo, chính quyền là người đứng đầu, chủ trì thực hiện chứcnăng quản lý giám sát, tổ chức thực hiện bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn” [142, tr.142]
Tác giả Nguyễn Trung Thu (2012), “Vai trò của quân đội trong tham gia nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội” [144] Bài báo
đã chỉ rõ: Quân đội nhân dân Việt Nam có nhiệm vụ chính trị là sẵn sàngchiến đấu và chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; đồng
Trang 21thời, tham gia bảo vệ ANCT, trật tự, an toàn xã hội theo quy định của phápluật Đánh giá vai trò của Quân đội trong tham gia bảo vệ ANCT, tác giảkhẳng định: Quân đội nhân dân đã chủ động phối hợp với Công an nhân dânthực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ ANCT, trật tự, an toàn xã hội trên phạm vi cảnước, nhất là ở địa bàn trọng điểm về QP - AN trong nội địa và vùng biêngiới, biển, đảo; góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển KT -
XH, củng cố QP - AN, mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước Để Quân độiphát huy tốt vai trò trong tham gia bảo vệ ANCT, tác giả đã chỉ rõ: Lãnh đạo,chỉ huy các đơn vị trong toàn quân cần làm tốt công tác giáo dục chính trị, tưtưởng cho bộ đội; làm rõ việc tham gia bảo vệ ANCT là một nhiệm vụ “chiếnđấu trong thời bình” của Quân đội…
1.2.3 Các công trình nghiên cứu về Bộ đội Biên phòng thực hiện các hoạt động có liên quan đến bảo vệ
an ninh chính trị ở khu vực biên giới phía Bắc
Tác giả Nguyễn Xuân Dược (2002), “Bộ đội Biên phòng tham gia chống bạo loạn lật đổ trong khu vực phòng thủ tỉnh biên giới Tây Bắc”
[87] Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng hoạtđộng của BĐBP tham gia chống bạo loạn lật đổ trong khu vực phòng thủtỉnh biên giới Tây Bắc; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng caohiệu quả tham gia chống bạo loạn lật đổ ở khu vực phòng thủ tỉnh biêngiới Tây Bắc của BĐBP Bàn về biện pháp bảo vệ ANCT của BĐBP, tácgiả khẳng định:
Phải kiên quyết trừng trị các đối tượng lợi dụng dân tộc, tôn giáo hoạtđộng gây chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Đồng thời, kiêntrì tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân, các lực lượng…, củng
cố thế trận quốc phòng - an ninh vững chắc; vừa giữ vững an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội, vừa bảo đảm sẵn sàng đập tan mọihành động phá hoại, gây bạo loạn lật đổ của địch [87, tr.69]
Tác giả khẳng định: “Trên các tỉnh biên giới, Bộ đội Biên phòng cần
Trang 22làm tốt vai trò tham mưu, nòng cốt xây dựng thế trận biên phòng toàn dânvững mạnh Các lực lượng phải phối hợp chặt chẽ trong hoạt động bảo vệ anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn biên giới” [87, tr.109].
Tác giả Trần Hữu Sâm (2004), “Bộ đội Biên phòng tham gia đấu tranh chống truyền đạo Tin Lành trái phép trong đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực biên giới Tây Bắc” [140] Luận án đã chỉ rõ biện pháp bảo vệ ANCT khu
vực biên giới của BĐBP:
Thường xuyên làm tốt công tác vận động, tuyên truyền giáo dục chocán bộ, nhân dân các dân tộc hiểu rõ đường lối, chủ trương, chính sáchdân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước; nhận rõ âm mưu, thủ đoạnhoạt động và ý đồ chính trị đen tối của chủ nghĩa đế quốc và các thế lựcthù địch … nhằm giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội ở từng xã,bản biên giới [140, tr.72-73]
Tác giả khẳng định: “Tham gia củng cố, xây dựng cơ sở chính trị, trước hết
là hệ thống cơ sở chính trị xã, bản biên giới trong sạch, vững mạnh toàn diện Tíchcực đào tạo, tham gia trực tiếp bồi dưỡng, giúp đỡ đội ngũ cán bộ cốt cán trongđồng bào các dân tộc làm nòng cốt giữ vững an ninh chính trị” [140, tr.73] Tácgiả còn chỉ rõ: “Phát triển được kinh tế, văn hóa - xã hội thì mới ổn định được anninh chính trị, trật tự xã hội ở khu vực biên giới” [140, tr.89]
Tác giả Khuất Văn Tuấn (2011), “Hoạt động phối hợp của Bộ đội Biên phòng tỉnh với lực lượng vũ trang địa phương trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia ở địa bàn Tây Bắc” [151] Luận án đã chỉ rõ nội dung bảo vệ ANCT ở
khu vực biên giới của BĐBP: “Giữ vững an ninh chính trị ở khu vực biên giới làđảm bảo sự ổn định và vững mạnh về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, vănhóa, xã hội; phát hiện, đấu tranh với mọi âm mưu, hành động chống phá của cácthế lực thù địch; giữ vững chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia” [151, tr.59]
Để BĐBP bảo vệ vững chắc ANCT ở khu vực biên giới, tác giả đã chỉ rõ:
“Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã chỉ đạo lực lượng trinh sát biên phòng phối
Trang 23hợp cùng lực lượng trinh sát, quân báo của lực lượng vũ trang địa phương để nắmtình hình địch; tình hình ở nội, ngoại biên Tập trung vào những địa bàn có hoạt độngcủa các tổ chức phản động, hoạt động phỉ, hoạt động lợi dụng tôn giáo” [151, tr.35].
Tác giả Nguyễn Quang Thuyên (2015), “Bộ đội Biên phòng quản
lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc trong tình hình mới” [148] Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng
BĐBP quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên đất liền Việt Nam - TrungQuốc; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ biên giớiquốc gia trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc của BĐBP Đề cập đến biệnpháp bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới của BĐBP, tác giả chỉ rõ: “Các đơn
vị bộ đội địa phương; các đơn vị kinh tế - quốc phòng của Quân đội, đơn vịCông an nhân dân… và quần chúng nhân dân là những người trực tiếp giúp
đỡ, đùm bọc và tham gia cùng Bộ đội Biên phòng quản lý, bảo vệ biên giớiquốc gia, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biêngiới” [148, tr.85]
Tác giả Nguyễn Xuân Bách (2015), “Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội ở khu vực biên giới Tây Bắc Việt Nam hiện nay” [2] Luận án đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực trạng
BĐBP tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội khu vực biên giới TâyBắc Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đề ra yêu cầu và giải pháp chủ yếu
để BĐBP tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội khu vực biên giớiTây Bắc thời gian tới Đề cập biện pháp bảo vệ ANCT ở khu vực biêngiới của BĐBP, tác giả đã chỉ rõ: “Phải làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõmuốn quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ và giữ vững an ninhchính trị trên địa bàn, trước tiên phải xây dựng được “thế trận lòng dân”[2, tr.109] Tác giả chỉ rõ: “Tuyên truyền, giáo dục vận động nhân dânnhận thức rõ bộ mặt thật của các thế lực thù địch, giúp họ cách thức vạch
Trang 24mặt, chỉ tên các phần tử bất mãn, chống đối chính quyền và các tổ chứcchính trị phản động ở khu vực biên giới…, giữ vững an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội ở địa phương” [2, tr.141].
1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã tổng quan có liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã tổng quan có liên quan đến đề tài luận án
Một là, các công trình đã được tổng quan ở trên đã có những nghiên cứu,
làm rõ quan niệm, vai trò, tầm quan trọng, nội dung, cấu trúc của ANCT vàANCT ở khu vực biên giới; xem xét ANCT nói chung, ANCT ở khu vực biêngiới nói riêng với tư cách là một bộ quan trọng của an ninh quốc gia Một sốcông trình đã chỉ rõ bảo vệ ANCT, bảo vệ ANCT khu vực biên giới là một nộidung quan trọng của bảo vệ Tổ quốc; là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, biên giới quốcgia Đó là những vấn đề lý luận rất quan trọng để tác giả tiếp thu, triển khai thựchiện đề tài luận án của mình
Hai là, một số công trình đã chỉ ra nội dung, biện pháp bảo vệ ANCT,
bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới; vai trò của quân đội, của lực lượng Biênphòng trong bảo vệ ANCT, bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới Đó là, bảo vệANCT ở khu vực biên giới là chức năng, nhiệm vụ chính trị của lực lượngBiên phòng; đã chỉ rõ, phân tích nội dung, biện pháp tham gia bảo vệ ANCTcủa quân đội trên một số địa bàn Một số công trình ở trong nước đã chỉ rõ nộidung, biện pháp bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới của lực lượng BĐBP Đó
là những gợi ý hết sức quan trọng để tác giả tham khảo trong quá trình nghiêncứu, thực hiện đề tài luận án
Ba là, một số công trình đã đánh giá thực trạng; chỉ ra nguyên nhân
thành tựu, hạn chế của quân đội và lực lượng biên phòng trong bảo vệ ANCT,
Trang 25bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới trên một số địa bàn Một số công trình đãchỉ ra nguyên nhân thành tựu của quân đội và lực lượng biên phòng trong bảo
vệ ANCT, bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới, đó là: Sự tập trung lãnh đạo,chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy đơn vị; sự nỗ lực cố gắng của cán bộ, chiến sĩ Một số công trình cũng đã chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, như: Một
số cấp ủy, chỉ huy chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ bảo vệ ANCT;trình độ, năng lực của một số cán bộ, chiến sĩ còn nhiều hạn chế, bất cập Đó
là những vấn đề quan trọng để tác giả kế thừa phục vụ cho quá trình nghiêncứu, thực hiện đề tài luận án
Bốn là, một số công trình khoa học ở trong nước đã đưa ra các giải pháp
để quân đội tham gia bảo vệ ANCT và các giải pháp để BĐBP bảo vệ ANCT ởkhu vực biên giới có tính khả thi cao như: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo củacấp ủy, chỉ huy đối với nhiệm vụ bảo vệ ANCT; nâng cao nhận thức, năng lựccủa các chủ thể tham gia bảo vệ ANCT; đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạnhoạt động chống phá của các thế lực thù địch… Đây là những gợi ý quan trọng
để tác giả tham khảo, kế thừa trong nghiên cứu, thực hiện đề tài luận án
Tóm lại, những kết quả của các công trình tổng quan ở trong và ngoài
nước kể trên có liên quan đến đề tài luận án là những tài liệu quan trọng, giúptác giả tham khảo, kế thừa trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài luận án.Tuy nhiên, qua các công trình tổng quan cho thấy, chưa có công trình khoa họcnào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về BĐBP bảo vệ ANCT ở khu vựcbiên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay Do vậy, đề tài luận án nghiên cứu khôngtrùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố
1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
Một là, làm rõ quan niệm, đặc điểm bảo vệ ANCT ở khu vực biên
giới phía Bắc Việt Nam
Đây là vấn đề lý luận hết sức quan trọng mà luận án cần phải tập trung
Trang 26giải quyết để làm cơ sở cho việc thực hiện các nội dung khác của luận án.Trên cơ sở quan niệm về ANCT trong các công trình đã tổng quan ở trên,luận án cần tập trung làm rõ quan niệm, nội hàm của ANCT ở khu vực biêngiới phía Bắc Việt Nam Đồng thời, luận án cần phải luận giải, làm rõ đặcđiểm bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam để phân biệt, thấyđược những nét đặc thù, chỉ rõ những điểm khác biệt của việc bảo vệ ANCTkhu vực biên giới phía Bắc với bảo vệ ANCT ở các khu vực biên giới khác(biên giới Tây Nguyên, Tây Nam) của đất nước Thông qua đó thấy đượcnhững thuận lợi, khó khăn của việc bảo vệ ANCT trên địa bàn cũng như sự đòihỏi khách quan phải bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Namhiện nay.
Hai là, nghiên cứu, làm rõ quan niệm, nội dung, phương thức BĐBP
bảo vệ ANCT khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
Đây là vấn đề lý luận cơ bản, là nền tảng quan trọng mà luận án cầnphải tập trung giải quyết, làm cơ sở để nghiên cứu, luận giải và thực hiện cácnội dung tiếp theo của luận án Trên cơ sở tiếp thu những vấn đề lý luận cơbản trong các công trình đã tổng quan, luận án cần tập trung làm rõ quanniệm, nội dung, phương thức BĐBP bảo vệ ANCT khu vực biên giới phíaBắc Việt Nam sao cho đúng với chức năng, nhiệm vụ nòng cốt, chuyên tráchcủa BĐBP trong bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới; đúng với góc độ tiếp cậnnghiên cứu của luận án là triết học chính trị - xã hội Luận án cần tập trung đisâu phân tích, làm rõ nội dung BĐBP bảo vệ ANCT khu vực biên giới phía BắcViệt Nam để làm cơ sở đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp BĐBPbảo vệ vững chắc ANCT khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
Ba là, đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết
từ thực tiễn BĐBP bảo vệ ANCT khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
Trang 27Đây là vấn đề quan trọng mà luận án phải tập trung thực hiện nhằm làm
rõ cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất hệ thống giải pháp BĐBP bảo vệ vững chắcANCT khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay có tính khả thi cao Do
đó, luận án cần tập trung làm rõ những thành tựu của BĐBP bảo vệ ANCT ởkhu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ ra những hạn chếcần phải khắc phục Luận án cũng cần làm rõ nguyên nhân thành tựu, hạn chếcủa BĐBP bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay baogồm cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan Về khách quan, cần tậptrung làm rõ nguyên nhân về điều kiện KT - XH ở khu vực biên giới phía Bắc;
về cơ sở chính trị, pháp lý; về cơ chế, chính sách bảo đảm Về chủ quan, cầntập trung làm rõ những nguyên nhân về nhận thức, trách nhiệm, năng lực côngtác của cán bộ, chiến sĩ BĐBP; về công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉhuy các cấp trong BĐBP; công tác phối hợp của các đơn vị BĐBP… Trên cơ
sở đó chỉ rõ những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết từ thực tiễn để BĐBP bảo
vệ vững chắc ANCT khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
Bốn là, đề xuất yêu cầu và giải pháp chủ yếu BĐBP bảo vệ vững chắc
ANCT khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam trong thời gian tới
Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng mà luận án phải tập trungnghiên cứu, giải quyết để BĐBP giữ vững ANCT ở khu vực biên giới phíaBắc trong thời gian tới Từ cơ sở lý luận và thực tiễn về BĐBP bảo vệ ANCTkhu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay, luận án cần tập trung nghiên
cứu, đề xuất yêu cầu BĐBP bảo vệ vững chắc ANCT khu vực biên giới phía
Bắc Việt Nam hiện nay Các yêu cầu đề xuất vừa phải toàn diện cả về nhậnthức, mục tiêu, lực lượng, biện pháp; vừa đảm bảo đúng chức năng, nhiệm vụcủa BĐBP là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong bảo vệ ANCT ở khu vựcbiên giới Bên cạnh đó, luận án cũng cần tập trung nghiên cứu, đề xuất giảipháp chủ yếu BĐBP bảo vệ vững chắc ANCT khu vực biên giới phía Bắc
Trang 28Việt Nam hiện nay Các giải pháp đề xuất vừa phải mang tính đồng bộ, toàndiện từ giải pháp về chủ thể (BĐBP), giải pháp liên quan đến cơ chế, chínhsách, xây dựng sức mạnh của các tiềm lực ; vừa có tính khả thi cao trong quátrình thực hiện để BĐBP bảo vệ vững chắc ANCT ở khu vực biên giới phíaBắc Việt Nam trong mọi tình huống.
Kết luận chương 1
Bảo vệ ANCT và lực lượng Biên phòng bảo vệ ANCT ở khu vực biêngiới là những vấn đề quan trọng, mang tính thực tiễn cao, phạm vi nghiên cứurộng Do đó, đã có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước tiếp cận, nghiêncứu dưới nhiều góc độ khác nhau Tác giả luận án đã cố gắng tổng quannhững công trình khoa học tiêu biểu của các nhà khoa học trong và ngoàinước có liên quan đến đề tài luận án, từ đó chỉ ra những vấn đề mà các côngtrình đã thực hiện được và những vấn đề mà các công trình đó chưa đề cậpđến hoặc đã đề cập nhưng chưa đầy đủ
Bằng các cách tiếp cận và hướng nghiên cứu khác nhau, các công trìnhkhoa học mà luận án đã tổng quan, phần nào đã luận giải một cách khá sâu sắc,làm rõ nhiều vấn đề lý luận về ANCT và ANCT ở khu vực biên giới; đánh giáthực trạng quân đội tham gia bảo vệ ANCT trên một số địa bàn, lực lượng Biênphòng bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới; đề xuất yêu cầu và giải pháp cơ bản
để các đơn vị quân đội nói chung, BĐBP nói riêng bảo vệ ANCT trên một sốđịa bàn Đó là những luận cứ khoa học, tư liệu, số liệu quan trọng để tác giảluận án có thể tiếp cận, kế thừa, phát triển và làm sâu sắc thêm trong quá trìnhthực hiện đề tài luận án
Tuy nhiên, do góc độ tiếp cận, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiêncứu khác nhau, nên các công trình khoa học đã tổng quan chưa đề cập hoặc
đã đề cập nhưng chưa đầy đủ, một cách hệ thống về lý luận và thực tiễn dướigóc độ triết học chính trị - xã hội về BĐBP bảo vệ ANCT khu vực biên giới
Trang 29phía Bắc Việt Nam Vì vậy, đề tài luận án tuy có kế thừa kết quả nghiên cứucủa các nhà khoa học đi trước, nhưng có đối tượng, phạm vi, nội dung nghiêncứu riêng; được triển khai một cách độc lập, có những vấn đề mới về lý luận
và thực tiễn, không trùng lặp với bất cứ một công trình khoa học nào đãđược nghiệm thu, công bố
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG BẢO
VỆ
AN NINH CHÍNH TRỊ KHU VỰC BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT
NAM HIỆN NAY 2.1 Quan niệm an ninh chính trị và bảo vệ an ninh chính trị khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam hiện nay
2.1.1 Quan niệm về an ninh chính trị ở Việt Nam và an ninh chính trị ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam
* An ninh, chính trị và an ninh chính trị ở Việt Nam
An ninh là một khái niệm ghép của hai từ “an” và “ninh” đều mang ý
nghĩa là sự “yên ổn”, chỉ trạng thái bình yên, sự “ổn định, an toàn” của sự vật.Khái niệm an ninh được tiếp cận dưới nhiều góc độ, cấp độ và phạm vi khácnhau, có an ninh con người, an ninh tổ chức và an ninh xã hội; có an ninhtoàn cầu, an ninh quốc gia; an ninh trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội… Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, an ninh là “Trạng
thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa sự tồn tại và pháttriển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt động xãhội hoặc của toàn xã hội” [8, tr.25] Như vậy, “ổn định, an toàn” là nội dungcốt lõi, là đặc trưng cơ bản của an ninh Tuy nhiên, tư duy biện chứng đòi hỏiphải xem xét sự ổn định, an toàn trong sự phát triển và phát triển trong sự ổnđịnh, an toàn (phát triển bền vững) để sự vật được tồn tại vững chắc hơn; sựphát triển bền vững còn là thể hiện tính vững chắc về an ninh của sự vật Mọi
Trang 30sự vật muốn tồn tại, ngoài sự ổn định, an toàn còn phải có phát triển bền vững;không có sự ổn định, an toàn và phát triển bền vững thì không có sự vật nào tồntại được Ổn định và phát triển bền vững vừa là điều kiện, vừa là tiền đề của
nhau, là nhân quả của nhau C.Mác nhấn mạnh: “Trong quan niệm tích cực về
cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm
về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó” [127,tr.35] Luật An ninh quốc gia năm 2004 chỉ rõ: “An ninh quốc gia là sự ổnđịnh, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [139, tr.1] Từ cách tiếp cận trên có thể hiểu, an ninh là sự ổn định, phát triển bền vững của một sự vật, hiện tượng
Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện khi xã hội phân
chia thành các giai cấp và sự xuất hiện nhà nước Tiếp cận chính trị từ nhữnglập trường giai cấp khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau về chính trị.Chủ nghĩa Mác - Lênin, bằng thế giới quan khoa học, cách mạng, đã nhìn nhậnchính trị trong quan hệ với giai cấp, dân tộc và nhà nước, cùng thiết chế, tổchức tương ứng bảo đảm thực thi quyền lực nhà nước trên thực tế C.Mác vàPh.Ăngghen đã có quan điểm khoa học về vấn đề chính trị với tư cách là hiệntượng xã hội và vị trí, vai trò của chính trị trong đời sống các giai cấp, đảngphái, nhà nước, cũng như sự liên hệ mật thiết giữa chính trị với các mặt kháccủa đời sống xã hội V.I.Lênin khẳng định: “Chính trị là mối quan hệ giữa cácdân tộc, các giai cấp’’ [119, tr.500] V.I.Lênin nhấn mạnh, trong chính trị cáiquan trọng nhất là quyền lực “nhà nước” và như vậy, “Chính trị là sự tham gia
vào những công việc của nhà nước, là việc vạch hướng đi cho nhà nước, việc xác
định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước” [118, tr.404]
Từ điển Bách khoa Việt Nam viết: “Chính trị là toàn bộ những hoạt động cóliên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầnglớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụngquyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác địnhhình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước” [115,
Trang 31tr.478] Với nghĩa đó, chính trị là mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, cácdân tộc, các quốc gia dân tộc; các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia dân tộc
là chủ thể của chính trị, quy định nội dung và tạo thành nền tảng quan trọngcủa chính trị, là cơ sở trực tiếp của chính trị
Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu: Chính trị là toàn bộ những hoạt động
có liên quan đến các mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, các quốc gia dân tộc,
mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhànước, sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức,nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước; là hoạt động thực tiễn của các giaicấp, các nhà nước để hiện thực hóa các lợi ích cơ bản của mình trong mối tươngquan với các chủ thể chính trị khác
Như vậy, bản chất của chính trị là mối quan hệ lợi ích giữa các giaicấp, các quốc gia dân tộc, mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền,duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước Là một lĩnh vực thuộc kiến trúcthượng tầng, cấu trúc của chính trị gồm những yếu tố cơ bản: Hệ tư tưởngchính trị, đường lối chính trị, tổ chức chính trị (HTCT), các quan hệ chính trị
và các hoạt động chính trị
Hệ tư tưởng chính trị, đường lối chính trị là hệ thống tư tưởng - lý luận;cương lĩnh, quan điểm, chính sách, sách lược chính trị của một đảng chính trịnhất định, hay giai cấp thống trị gắn với điều kiện lịch sử cụ thể, định hướngcho toàn bộ hoạt động của đảng chính trị, hay giai cấp đó
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm các tổ chức như: Đảngchính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp) với nhữngquan hệ tác động qua lại giữa các thành tố đó với nhau trong việc thamgia vào các quá trình hoạch định và thực thi các đường lối chính trị nhằmbảo đảm quyền thống trị của giai cấp cầm quyền, đáp ứng nhu cầu ổn định
và phát triển xã hội
Trang 32Quan hệ chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, quan hệgiữa công dân với các tổ chức trong HTCT, quan hệ giữa các tổ chức trongHTCT với nhau trong một quốc gia; quan hệ giữa quốc gia dân tộc - nhà nướcvới quốc gia dân tộc - nhà nước khác.
Hoạt động chính trị là các hoạt động chính trị thực tiễn do các giai cấp,các tầng lớp, các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức để thực hiện thắng lợi mụcđích chính trị của các giai cấp, các tầng lớp, các tổ chức chính trị - xã hội đó
Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có hệ thống chính trị XHCN nhấtnguyên do một đảng chính trị - Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có cơ chếthực thi dân chủ: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Đảnglấy hệ tư tưởng chính trị là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minhlàm nền tảng, kim chỉ nam cho hành động của mình Đảng lãnh đạo Nhà nước
và xã hội bằng đường lối (cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách
và chủ trương lớn…) Mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam kể từ khi
có Đảng lãnh đạo là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội Để xây dựngthành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN,cùng với thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ KT- XH, nhiệm vụ QP - AN ,toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải giữ vững ANCT của đất nước
Từ những luận giải và cách tiếp cận trên về an ninh, chính trị; về mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, luận án quan niệm: An ninh chính trị ở Việt Nam là sự ổn định, phát triển bền vững của hệ tư tưởng chính trị, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; của hệ thống chính trị; của các quan
hệ chính trị và các hoạt động chính trị, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Với quan niệm trên, ANCT ở Việt Nam được thể hiện ở các nội dung
cơ bản sau:
Trang 33Hệ tư tưởng chính trị (Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh),đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước Cộng hòaXHCN Việt Nam ổn định và phát triển bền vững, giữ vai trò chủ đạo trong xãhội; không bị các trào lưu tư tưởng, quan điểm sai trái, phản động, xét lại, cơhội thao túng, làm chệch hướng.
Hệ thống chính trị (các tổ chức và con người trong các tổ chức) gồmĐảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh,hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, giữ vững được chức năng, nhiệm vụ; cán
bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong các tổ chức của HTCT có phẩmchất và năng lực, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân,không thoái hóa, biến chất
Các quan hệ chính trị đối nội (quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc;quan hệ giữa công dân với các tổ chức trong HTCT, quan hệ giữa các tôngiáo với Nhà nước ) phát triển hài hòa, đồng thuận ; khối đại đoàn kếttoàn dân tộc được củng cố, tăng cường, không có “điểm nóng” về chính trị.Các quan hệ chính trị đối ngoại (quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Namvới các đảng chính trị ở các nước, quan hệ giữa Nhà nước Cộng hòa XHCNViệt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế) ngày càng mở rộng, tăngcường và có chiều sâu, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ; độc lập,chủ quyền và lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững, không bị các chủ thểbên ngoài đe dọa, xâm phạm
Các hoạt động chính trị luôn ổn định, phát triển lành mạnh, tích cực;động viên, lôi cuốn, thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia,góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
An ninh chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với an ninh kinh tế, an ninhvăn hóa, an ninh đối ngoại, an ninh xã hội ; là nội dung cơ bản, chủ đạo của
Trang 34an ninh quốc gia, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam XHCN, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nướchiện nay Sự ổn định, phát triển bền vững về chính trị là điều kiện, tiền đề có ýnghĩa tiên quyết cho sự ổn định, phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa, đốingoại, xã hội Mặt khác, khi kinh tế, văn hóa, đối ngoại, xã hội có sự ổnđịnh và phát triển bền vững thì sự ổn định, phát triển bền vững về chính trịkhông ngừng được củng cố, gia tăng
An ninh chính trị được giữ vững vừa là nhân tố cơ bản, trực tiếp phòng
chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, chống phá của các thếlực thù địch, phản động; vừa tạo khả năng miễn dịch, phòng chống tình trạngsuy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễnbiến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và các tầng lớpnhân dân, tạo điều kiện, môi trường ổn định, thuận lợi để thực hiện thắng lợi sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Giữ vững sự ổn định,phát triển bền vững về chính trị trong sự nghiệp đổi mới là một thành công củaĐảng ta, đảm bảo cho đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩalịch sử, giữ vững định hướng XHCN trong quá trình đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay
* An ninh chính trị ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam
Khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam là khu vực biên giới trên đất liền
tiếp giáp với Trung Quốc Luật Biên giới quốc gia quy định: “Khu vực biên giớitrên đất liền gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợpvới biên giới quốc gia trên đất liền” [138, tr.3] Theo Nghị định số 34/2014/NĐ-
CP ngày 29/4/2014 của Chính phủ về “Quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (phần phụ lục), khu vực biên giới đất liền
phía Bắc nước ta gồm 168 xã, phường, thị trấn [84]
Như vậy, khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam gồm 168 xã, phường,
thị trấn biên giới đất liền tiếp giáp với Trung Quốc, thuộc 34 huyện, thành
Trang 35phố, chịu sự quản lý của 7 tỉnh biên giới là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng,
Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên Khu vực biên giới phía Bắc có
đường biên giới quốc gia dài 1.449,566 km tiếp giáp với Trung Quốc; cónhiều cửa khẩu quốc tế, quốc gia, lối mở thông thương với nước láng giềng vànhiều đường mòn qua lại hai bên biên giới; có 72 đồn biên phòng đóng quânthuộc Bộ Chỉ huy BĐBP của 7 tỉnh biên giới phía Bắc: Quảng Ninh, LạngSơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên [Phụ lục 1]
Địa hình ở khu vực biên giới phía Bắc chủ yếu là núi cao hiểm trở, sông sâu;nhiều sông, suối chia cắt, giao thông đi lại khó khăn Khí hậu thời tiết ở đây khắcnghiệt, mùa mưa thường xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất gây tắc nghẽn giao thông,
cô lập một số địa bàn trong thời gian dài, ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt củanhân dân và các hoạt động của BĐBP trong bảo vệ ANCT ở khu vực
Về dân cư, khu vực biên giới phía Bắc có 22 dân tộc sinh sống rải rác
ở 168 xã, phường, thị trấn, trong đó chủ yếu là các dân tộc thiểu số như:Mông, Dao, Hà Nhì, La Hủ, Giáy Quan hệ dân tộc, tôn giáo rất đa dạng,khá phức tạp; nhiều dân tộc có mối quan hệ dân tộc, hôn nhân, huyết thốngsâu sắc với các dân tộc ở bên kia biên giới [Phụ lục 1]; nhiều đồng bào theocác tôn giáo khác nhau [Phụ lục 8], hoạt động tôn giáo luôn có những diễnbiến phức tạp [Phụ lục 9]
Kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới phía Bắc trong những năm gầnđây từng bước có sự phát triển, do Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủtrương, chính sách đầu tư xây dựng, phát triển Tuy nhiên, ở một số địabàn, KT - XH vẫn còn chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân còn nhiều khó khăn, số hộ thuộc diện đói nghèo cao; trình độ dântrí thấp, số người mù chữ và tái mù chữ cao; mạng lưới y tế còn mỏng vàyếu so với nhu cầu thực tế [Phụ lục 6]
Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở khu vực biên giới phía Bắc về cơ bảnđược củng cố, kiện toàn về tổ chức, từng bước phát huy được vai trò trong
Trang 36lãnh đạo, quản lý và điều hành mọi mặt đời sống xã hội Tuy nhiên, chấtlượng, hiệu quả hoạt động của HTCT cơ sở ở một số nơi trên địa bàn cũngcòn những hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; số lượng đảng viêntrong HTCT cấp cơ sở còn ít; số các thôn, bản chưa có đảng viên và chưa đủđảng viên để thành lập chi bộ vẫn còn… [Phụ lục 2, 3, 4]
Trên cơ sở tiếp cận quan niệm ANCT ở Việt Nam và đặc điểm tìnhhình ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam, luận án quan niệm:
An ninh chính trị ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam là bộ phận của an ninh chính trị ở Việt Nam, đó là sự ổn định, phát triển bền vững của hệ tư tưởng chính trị, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nghị quyết và
kế hoạch của cấp ủy, chính quyền địa phương; của hệ thống chính trị cấp
cơ sở; của các quan hệ chính trị đối nội, đối ngoại và các hoạt động chính trị, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để xây dựng và bảo vệ khu vực biên giới phía Bắc.
Theo quan niệm trên, ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Namđược thể hiện ở các nội dung cơ bản sau:
Một là, hệ tư tưởng chính trị, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam,
chính sách của Nhà nước, nghị quyết và kế hoạch của cấp ủy, chính quyền địaphương ở khu vực biên giới phía Bắc ổn định, phát triển bền vững
Hệ tư tưởng chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đảng ta khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam chohành động” [90, tr.88] Theo đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nướcCộng hòa XHCN Việt Nam giữ vai trò chủ đạo trong khu vực Đường lối củaĐảng, chính sách của Nhà nước, nghị quyết và kế hoạch của cấp ủy, chínhquyền địa phương luôn phù hợp với nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớpnhân dân và thực tiễn ở khu vực; không có sự sai lầm về đường lối, chính
Trang 37sách, nghị quyết và kế hoạch; không bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởngsai trái, phản động, xét lại, cơ hội thao túng, làm chệch hướng Các tầng lớpnhân dân ở khu vực không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tuyệt đối tin tưởng vào chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước,
-nghị quyết và kế hoạch của cấp ủy, chính quyền địa phương; không bị ảnhhưởng, tác động bởi các quan điểm, tư tưởng tư sản, sai trái, phản động
Hai là, hệ thống chính trị cấp cơ sở ở khu vực biên giới phía Bắc ổn định,phát triển bền vững
Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở khu vực biên giới phía Bắc bao gồm: Tổchức đảng (các chi, đảng bộ cơ sở), chính quyền cơ sở (hội đồng nhân dân, ủyban nhân dân cấp xã), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xãhội ở cơ sở (Hội nông dân, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên
hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh) và con người trong các tổ chức đó Tổ chức đảng ở khu vực biên giới phía Bắc trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức; vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu và hiệu quả lãnh đạo của các tổchức đảng được giữ vững, nâng cao; chủ trương và nghị quyết của tổ chức đảngđược đảm bảo thực hiện trên thực tế; chính trị nội bộ được giữ vững, không bị
ảnh hưởng của tư tưởng sai trái, phản động, xét lại, cơ hội Chính quyền cơ sở ở
khu vực biên giới phía Bắc trong sạch, vững mạnh; vai trò quản lý, điều hànhđược giữ vững, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả; các kế hoạch và quy định củachính quyền cơ sở được đảm bảo thực hiện trên thực tế; chính trị nội bộ đượcgiữ vững, không bị thao túng, lũng đoạn bởi các phần tử cơ hội, nhóm lợi ích
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở khu vực biên giới
phía Bắc trong sạch, vững mạnh; vai trò và nguyên tắc tổ chức được giữ vững,hoạt động có chất lượng và hiệu quả; chính trị nội bộ được giữ vững, không bịcác thế lực thù địch tác động, lôi kéo, chia rẽ làm lực lượng đối trọng chống đốiĐảng, Nhà nước, chế độ Cán bộ, đảng viên, công chức trong tổ chức đảng,
Trang 38chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở khu vực
có phẩm chất và năng lực tốt, được nhân dân tín nhiệm, tôn trọng; không suythoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Ba là, các quan hệ chính trị đối nội và đối ngoại ở khu vực biên giới
phía Bắc ổn định, phát triển bền vững
Các quan hệ chính trị đối nội ở khu vực biên giới phía Bắc (quan hệ giữacác giai cấp, dân tộc, tầng lớp xã hội với nhau; quan hệ giữa nhân dân với các tổchức trong HTCT cấp cơ sở và quan hệ giữa các tổ chức trong HTCT cấp cơ sởvới nhau; quan hệ giữa các tôn giáo với chính quyền cơ sở) có sự đồng thuận, pháttriển lành mạnh; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường vữngchắc; các dân tộc, tôn giáo trên địa bàn bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhaucùng phát triển, không bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo chống phá chế độ;các nguy cơ gây mất an ninh các quan hệ chính trị đối nội bị triệt tiêu
Các quan hệ chính trị đối ngoại ở khu vực biên giới phía Bắc (quan hệgiữa chính quyền, các lực lượng và nhân dân ở hai bên biên giới của Việt Nam
và Trung Quốc) được củng cố, tăng cường, phát triển có chiều sâu, bình đẳng
và tôn trọng nhau, cùng có lợi, không bị lợi dụng, lôi kéo về chính trị, các nguy
cơ gây mất an ninh các quan hệ chính trị đối ngoại bị triệt tiêu; độc lập, chủquyền (quyền độc lập tự chủ và tự quyết của nước ta trên các lĩnh vực) và toànvẹn lãnh thổ quốc gia (đường biên giới quốc gia, hệ thống mốc giới, công trìnhbảo vệ biên giới, các dấu hiệu nhận biết đường biên giới) ở khu vực biên giớiphía Bắc được giữ vững, không bị chi phối hoặc lệ thuộc vào bên ngoài vàkhông bị xâm lấn, phá hoại, làm hư hỏng
Bốn là, các hoạt động chính trị ở khu vực biên giới phía Bắc ổn định, phát
triển bền vững
Các hoạt động chính trị ở khu vực biên giới phía Bắc là các phong tràohoạt động thực tiễn do các tổ chức, các lực lượng và nhân dân trên địa bànthực hiện để xây dựng và bảo vệ khu vực biên giới như: Phong trào xây dựngnông thôn mới; phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ởkhu dân cư; phong trào quần chúng bảo vệ đường biên, cột mốc và giữ gìn an
Trang 39ninh trật tự thôn, bản ở khu vực biên giới; phong trào toàn dân tham gia bảo
vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới Cácphong trào hoạt động thực tiễn ở khu vực được duy trì thường xuyên, nề nếp,hoạt động có chất lượng và hiệu quả theo đúng quan điểm của Đảng, phápluật của Nhà nước; động viên, thu hút được đông đảo cán bộ, đảng viên vàcác tầng lớp nhân dân tham gia; các nguy cơ gây mất an ninh các hoạt độngchính trị bị triệt tiêu
2.1.2 Quan niệm và đặc điểm bảo vệ an ninh chính trị ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam
* Quan niệm bảo vệ an ninh chính trị ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam
Bảo vệ ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam là yêu cầu khách quan trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.
Bảo vệ ANCT là một nội dung quan trọng của bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN Nghị quyết Trung ương Tám - Khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định: “Bảo vệ vững chắc độc
lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhànước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, côngnghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa” [94, tr.3] Đại hội XII của Đảngkhẳng định: “Tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì đấu tranhbảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia vàbảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội” [96, tr.271] Như vậy, bảo vệANCT, trong đó có ANCT ở khu vực biên giới phía Bắc là một nội dung rấtquan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Bảo vệ Tổ quốc XHCN là một quy luật cơ bản của cách mạng XHCN,V.I.Lênin nhấn mạnh: “Kể từ ngày 25 tháng Mười năm 1917, chúng ta là nhữngngười chủ trương bảo vệ Tổ quốc Chúng ta tán thành “bảo vệ Tổ quốc”, nhưngcuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới là cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ
Trang 40quốc xã hội chủ nghĩa” [120, tr.102]; Người khẳng định: “Một cuộc cách mạngchỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ, nhưng không phải cách mạng có thể biết ngayđược cách tự vệ” [121, tr.145], “Không cầm vũ khí bảo vệ nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tại được” [122, tr.165] Chủ tịch HồChí Minh từng căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phảicùng nhau giữ lấy nước” [131, tr.59] Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Tăngcường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa trong tình hình mới” [96, tr.145]; xác định, đó là nhiệm vụ “trọng yếu,thường xuyên” của nước ta hiện nay Tính tất yếu khách quan, tầm quan trọngcủa bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN quy định tính tất yếu khách quan, tầmquan trọng của bảo vệ an ninh quốc gia, ANCT nói chung, bảo vệ ANCT ở khuvực biên giới phía Bắc nói riêng Yêu cầu khách quan bảo vệ ANCT ở khu vựcbiên giới phía Bắc còn được quy định bởi tình hình thực tiễn và tính chất phứctạp ở khu vực này.
Bảo vệ, theo Đại Từ điển tiếng Việt là “Giữ gìn, chống sự xâm phạm
để khỏi bị hư hỏng, mất mát” [154, tr.111] Với nghĩa đó, bảo vệ được hiểugồm hai mặt hoạt động là hoạt động “giữ gìn” và hoạt động “chống sự xâmphạm” để sự vật luôn được nguyên vẹn Tuy nhiên, trong bảo vệ, việc “giữgìn” và “chống sự xâm phạm” mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ Nếubảo vệ mà chỉ có “giữ gìn” và “chống sự xâm phạm” để sự vật luôn đượcnguyên vẹn, mà không có “xây dựng, củng cố” để sự vật tự vững mạnh lênthì “giữ gìn”, “chống sự xâm phạm” sự vật sẽ gặp khó khăn, thậm chí khôngthực hiện được Tư duy biện chứng đòi hỏi, bảo vệ phải đặt việc “giữ gìn,chống sự xâm phạm” trong mối quan hệ biện chứng với “xây dựng, củng cố”
sự vật “Giữ gìn, chống sự xâm phạm” và “xây dựng, củng cố” sự vật vừa làtiền đề, vừa là điều kiện cho nhau, là nhân - quả của nhau Nếu “xây dựng,củng cố” tốt sẽ làm cho sự vật mạnh lên, từ đó tạo ra những tiền đề tích cựccho việc “giữ gìn, chống sự xâm phạm” (tự bảo vệ) được tốt hơn; ngược lại,
“giữ gìn, chống sự xâm phạm” tốt sẽ hạn chế và triệt tiêu những yếu tố tiêu