1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh thối rễ cây cam canh, cây cam v2 tại tỉnh quảng ninh

56 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để quản lý hiệu quả bệnh thối rễ cam ở Quảng Ninh cần nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh thối rễ, thực trạng bệnh thối rễ gây hại làm cơ sở đề xuất các biện pháp phòng trừ.. Cây ca

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGUYỄN TIẾN VŨ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

THỐI RỄ CÂY CAM CANH, CÂY CAM V2 TẠI

TỈNH QUẢNG NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2014 – 2018

Thái Nguyên, 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TỈNH QUẢNG NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Thái Nguyên, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận trên là kết quả nghiên cứu của riêng bản thân tôi không sao chép của ai Các kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra, triển khai thí nghiệm hoàn toàn trung thực, khách quan Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục tài liệu của khóa luận

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn

Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước

Hội đồng khoa học

Người viết cam đoan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin gửi đến quý thầy, cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông Lâm lời cảm ơn chân thành Đặc biệt, em xin cảm ơn thầy Nguyễn Minh Chí và cô Trần Thị Thanh Tâm, những người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề báo cáo thực tập này

Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng - Viện Khoa kọc Lâm nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho

em trong suốt quá trình thực tập

Em xin cảm ơn nhà trường đã tạo cho em có cơ hội được tiếp cận, thực tập tại Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng, cho em bước ra đời sống thực tế

để áp dụng những kiến thức mà các thầy cô giáo đã giảng dạy Qua đợt thực tập này em đã học nhiều điều mới mẻ và bổ ích trong công việc nghiên cứu khoa học để giúp ích cho công việc sau này của bản thân

Do kiến thức bản thân còn hạn chế, trong khóa luận này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Tiến Vũ

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Phân cấp khả năng gây bệnh trên cây cam 6 tháng tuổi 23 Bảng 4.1: Kết quả đánh giá sơ bộ tính gây bệnh của các chủng nấm trên lá cam 27 Bảng 4.2: Tính gây bệnh của các chủng nấm 29 Bảng 4.3: Đặc điểm hình thái cơ bản của năm loài nấm 32

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 4.1: Vườn cam bị bệnh tại Hoành Bồ (trái) và tại Vân Đồn (phải) 25

Hình 4.2: Bẫy nấm gây bệnh thối rễ 26

Hình 4.3: Gây bệnh nhân tạo trên lá và cây con: 30

Hình 4.4: Hình ảnh bào từ của một số loài nấm gây bệnh 31

Hình 4.5: Cây phả hệ kết hợp với các loài thuộc chi Phytophthora dựa trên đoạn gen ITS (ADN ribosomal ITS) và các chuỗi đệm được chuyển tiếp bên trong (5.8S rDNAITS) 33

Hình 4.6: Cây phả hệ kết hợp với các loài thuộc chi Pythium và Phytopythium dựa trên đoạn gen ITS (ADN ribosomal ITS) và các chuỗi đệm được chuyển tiếp bên trong (5.8S rDNA ITS) 34

Hình 4.7: Bệnh vàng lá cam do thối rễ: a cây bị bệnh; b lá cây bị bệnh 37

Hình 4.8: Cây cam bị bệnh do thối rễ: a cây bị bệnh; b rễ bị thối 37

Trang 7

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

OCOP One commune, one product – Mỗi địa phương một

sản phẩm

PCR Polymerase Chain Reaction

PDA Potato Dextrose Agar, môi trường có bổ sung thạch

đường và khoai tây

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 3

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

2.2.2.Tình hình nghiên cứu trong nước 8

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 16

2.3.1 Vị trí địa lí 16

2.3.2 Thổ nhưỡng 17

2.3.3 Khí hậu 18

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 21

3.2 Nội dung nghiên cứu 21

Trang 9

3.2.1 Điều tra thu mẫu và phân lập sinh vật gây bệnh thối rễ cây cam ở

Quảng Ninh 21

3.2.2 Nghiên cứu xác định tính gây bệnh của các chủng nấm 21

3.2.3 Nghiên cứu định danh loài sinh vật gây bệnh thối rễ cây cam 21

3.3 Phương pháp nghiên cứu 22

3.3.1 Điều tra thu mẫu và phân lập sinh vật gây bệnh thối rễ cây cam ở Quảng Ninh 22

3.3.2 Nghiên cứu xác định tính gây bệnh của các chủng nấm 23

3.3.3 Nghiên cứu định danh loài sinh vật gây bệnh thối rễ cây cam 24

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

4.1 Điều tra thu mẫu và phân lập sinh vật gây bệnh thối rễ cây cam ở Quảng Ninh 25

4.1.1 Điều tra thu mẫu đất và rễ cây cam bị bệnh ở Quảng Ninh 25

4.1.2 Nghiên cứu phân lập sinh vật gây bệnh thối rễ cây cam ở Quảng Ninh 26

4.2 Nghiên cứu xác định tính gây bệnh của các chủng nấm 27

4.2.1 Nghiên cứu xác định tính gây bệnh của các chủng nấm trên lá cam 27

4.2.2 Nghiên cứu xác định tính gây bệnh của các chủng nấm trên cây con 29

4.3 Nghiên cứu định danh loài sinh vật gây bệnh thối rễ cây cam 30

4.3.1 Nghiên cứu định danh bằng các khóa phân loại 30

4.3.2 Nghiên cứu định danh bằng ADN 33

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39

5.1 Kết luận 39

5.2 Kiến nghị 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 10

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Cây cam đã được trồng phổ biến ở Việt Nam và mang lại giá trị kinh tế cao Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh cũng đầu tư nhiều nguồn lực để phát triển cây cam với diện tích lớn, diện tích trồng cam toàn tỉnh Quảng Ninh tính đến hết năm 2016 đạt 372 ha, trong đó tập trung tại Vân Đồn (232 ha), Đông Triều (40 ha), Hải Hà (20 ha), Đầm Hà (40 ha) và Hoành Bồ (40 ha) Các giống cam hiện đang sử dụng gồm: cam V2, CS1, cam Canh chiếm khoảng 32,1% diện tích; các giống cam Bản Sen, cam chua có nguồn gốc bản địa chiếm khoảng 67,9% diện tích Tại các địa phương này, cây cam đã và đang được ưu tiên phát triển với diện tích ngày càng tăng, qua đó đã góp phần tăng thu nhập cho người dân và tạo

ra được những sản phẩm đặc sản cho các địa phương Để phát huy giá trị loài cây trồng này, trong văn bản số 6179/UBND-NLN3 ngày 30/9/2016, tỉnh Quảng Ninh

đã chấp thuận Quy hoạch phát triển vùng sản xuất cam tập trung, đến năm 2020 toàn tỉnh sẽ mở rộng, nâng tổng diện tích trồng cam đạt 1.172 ha, trong đó tập trung ở Vân Đồn (862 ha), Đông Triều (60 ha), Hải Hà (100 ha), Đầm Hà (100 ha) và Hoành Bồ (50 ha) Các giống cam quy hoạch phát triển gồm cam Bản Sen, V2, CS1 và cam Canh (UBND tỉnh Quảng Ninh, 2016) [27] Tuy nhiên, các vườn cam ở Quảng Ninh đang bị bệnh thối rễ, làm giảm đáng kể về năng suất và chất lượng Để quản lý hiệu quả bệnh thối rễ cam ở Quảng Ninh cần nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh thối rễ, thực trạng bệnh thối rễ gây hại làm cơ sở đề xuất các biện pháp phòng trừ

Cây cam ở Quảng Ninh đang bị bệnh thối rễ nhưng chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh, do đó cần nghiên cứu xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh và hiện trạng bệnh thối rễ làm cơ sở đề xuất các giải pháp phòng trừ phù hợp với các tác nhân gây bệnh, cho từng dạng địa hình và phù hợp với điều

kiện kinh tế cụ thể Từ những thực trạng nêu trên, đề tài “Nghiên cứu xác định

nguyên nhân gây bệnh thối rễ cây cam canh, cây cam V2 tại tỉnh Quảng Ninh” rất cần được thực hiện

Trang 11

1.2 Mục tiêu

- Xác định được thành phần sinh vật gây bệnh thối rễ hại cây cam tại tỉnh Quảng Ninh

- Đánh giá được mức độ gây bệnh của các loài sinh vật gây bệnh

1.3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học:

+ Củng cố kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn

+ Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất các biện pháp phòng trừ bệnh hại trên cây cam

+ Biết cách tổng hợp, phân tích để viết báo cáo nghiên cứu khoa học

- Ý nghĩa trong thực tiễn:

+ Qua quá trình thu thập, xử lý số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất và khoa học

+ Qua những đánh giá cụ thể về bệnh hại chúng ta có thể tìm ra được các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động trồng cây ăn quả và phát triển cây cam

+ Làm cơ sở và tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Diện tích trồng cam tăng nhanh dẫn đến tiềm ẩn khả năng xuất hiện các loài sâu, bệnh gây hại làm giảm năng suất và chất lượng Gần đây, trên nhiều diện tích trồng cam trọng điểm như: Hòa Bình, Bắc Giang, Hưng Yên, Tuyên Quang, Quảng Ninh… xuất hiện những cây bị thối rễ, vàng lá, héo lá, bệnh rất khó phát hiện trong giai đoạn đầu

Hiện nay, cây cam ở Quảng Ninh đang bị rất nhiều loài sinh vật gây bệnh khác nhau với những triệu chứng phổ biến như thối rễ, vàng lá, héo lá… Để giảm thiểu ảnh hưởng của bệnh, rất cần nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh và đánh giá thực trạng gây hại của những sinh vật gây bệnh chính

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2.1.1 Tình hình phát triển cây cam trên thế giới

Cây cam được gây trồng rộng khắp trên toàn cầu, ở nhiều quốc gia từ vùng nhiệt đới đến vùng ôn đới và đem lại tổng doanh thu hàng trăm tỷ USD mỗi năm Niên vụ 2013-2013, sản lượng cam trên toàn cầu đạt trên 69 triệu tấn, trong đó Brazil 18,02 triệu tấn, Mỹ 8,1 triệu tấn, khối EU 5,7 triệu tấn, Trung Quốc 6,5 triệu tấn, Ấn Độ 5 triệu tấn và Việt Nam đạt hơn 520.000 tấn (Campos-Herrera et al., 2014; FAO, 2014) [3] Nam Phi xuất khẩu khoảng 600.000 tấn cam/năm và riêng bang Florida, Mỹ có khoảng gần 250.000 ha cam

(năm 2012), đóng góp vào ngân sách của bang khoảng 9 tỷ USD mỗi năm (Li et

al., 2012) [48] Năm 2011, Pakistan có 194.000 ha cam, sản lượng gần 2.000 tấn

quả/năm (Abbas et al., 2015) [28] Các quốc gia có diện tích trồng cam lớn trên

thế giới như Brazil, Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, các nước thuộc khối EU, Cu Ba, Argentina, Pakistan, Úc, New Zeland, Nam Phi và các nước Đông Nam Á

Trang 13

Các loài vi khuẩn thuộc chi Candidatus được xác định là nguyên nhân gây

bệnh vàng lá gân xanh (hay còn gọi là bệnh vàng lá greening) trên cây cam và các loài cây có múi trên thế giới (Garnier and Jagoueix-Eveillard, 2000 [39]; Halbert and Manjunath, 2004) [45] Bệnh vàng lá gân xanh là nguyên nhân chính hủy diệt hàng loạt các trang trại trồng cây có múi ở nhiều nơi trên thế giới

(Bové, 2006) [32] Bệnh vàng lá do thối rễ, do nấm Phytophthora và Pythium

khá phổ biến ở Nam Phi, chúng thường gây thối rễ, vàng lá, héo ngọn và gây thiệt hại lớn đối với các trang trại trồng cam (Maseko and Coutinho, 2002 [50]

Vòi voi (Diaprepes abbreviate) cũng gây thiệt hại lớn cho ngành trồng cam ở Mỹ, chúng tạo điều kiện cho các loài nấm Phytophthora nicotianae và P

palmivora xâm nhiễm và gây hại (Graham et al., 2003) [43] Sâu hại cam

Thaumatotibia leucotreta là loài phân bố tự nhiên ở Nam Phi, chúng gây hại

nghiêm trọng đối với cây cam và gây thiệt hại rất lớn về kinh tế (Moore et al.,

2004) [51] Các loài tuyến trùng cũng được xác định là nguyên nhân gây bệnh

vàng lá cam ở Mỹ và Nam Phi (Ducan et al., 2007 [44]; Grosser et al., 2007 [44]; Malan et al., 2011) [49] Rệp muội đen (Toxoptera citricida), Sâu vẽ bùa

(Phyllocnistis citrella), rầy chổng cánh, bệnh vàng lá do virus và bệnh vàng lá gân xanh là những nguyên nhân gây hại nghiêm trọng đối với các trang trại

trồng cam ở Cu Ba (Batista et al., 1995 [31]; Carbera et al., 2014) [34]

2.2.1.3 Nghiên cứu về bệnh vàng lá

Nghiên cứu về bệnh vàng lá do yếu tố sinh vật

Hoạt động trồng cam trên diện rộng với quy mô rất lớn ở nhiều quốc gia

đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sâu, bệnh hại phát triển thành dịch và đã

Trang 14

gây thiệt hại lớn điển hình như ở Mỹ, Cu Ba, Argentina, Úc, New Zeland, Nam Phi, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á… Trong đó bệnh vàng lá cam là trở ngại lớn nhất Bệnh vàng lá có thể do rất nhiều nguyên nhân như bệnh vàng lá

do thối rễ, bệnh vàng lá gân xanh, bệnh vàng lá do tuyến trùng, do virus…

+ Bệnh vàng lá do thối rễ

Bệnh vàng lá do thối rễ cam và cây có múi do các loài nấm thuộc chi

Phytophthora và Pythium khá phổ biến ở Nam Phi, các chủng nấm Phytophthora gây bệnh mạnh hơn so với nấm Pythium (Maseko and Coutinho,

2002) [50] Các loài nấm thuộc chi Phytophthora gây thiệt hại lớn đối với hoạt động trồng cây có múi ở Mỹ (Graham and Feichtenberger, 2015) [43] Trong đó nấm Phytophthora nicotianae và P palmivora được xác định là nguyên nhân gây

thối rễ cam ở Mỹ (Graham et al., 2003) [41], ba loài nấm gồm P nicotianae, P

palmivora, và P citrophthora là những loài gây hại nặng nhất cho cây cam,

chúng gây thối rễ, loét thân, và thối quả (Graham and Feichtenberger, 2015) [43] Các loài nấm thuộc chi Phytophthora thường gây thối rễ cây cam, làm giảm khả năng hút nước và dinh dưỡng, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng thậm chí gây chết cây (Chaudhary et al., 2016) [35]

+ Bệnh vàng lá do tuyến trùng

Tuyến trùng có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cây chủ, làm tắc mạch dẫn và giảm khả năng sinh trưởng của cây, chúng là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh “chết chậm” trên cây cam, làm giảm nghiêm trọng năng suất và chất lượng cam thương phẩm Tuyến trùng là nguyên nhân gây chết

24-90% số cây trên các vườn trồng cây có múi ở Mỹ và Brazil (Ducan et al.,

2007) [44] Tuyến trùng Belonolaimus longicaudatus là một trong những nguyên

nhân gây bệnh vàng lá trên diện rộng ở Florida, Mỹ (Grosser et al., 2007) [44]

+ Bệnh vàng lá gân xanh (vàng lá greening)

Trong những năm qua, bệnh vàng lá gân xanh là nguyên nhân chính hủy diệt hàng loạt các trang trại trồng cây có múi ở nhiều nơi trên thế giới (Bové,

Trang 15

2006) [32] Rầy chổng cánh (Diaphorina citri) được xác định là một trong

những véc tơ truyền bệnh vàng lá gân xanh trên các loài cây có múi (Aubert, 1987) [30] Trong những năm qua, các nghiên cứu đã xác định hai loài rầy

chổng cánh gồm rầy chổng cánh châu Á (Diaphorina citri) và rầy chổng cánh châu Phi (Trioza erytreae), cả hai loài này đều là véc tơ truyền vi khuẩn gây bệnh vàng lá Rầy chổng cánh châu Á (D citri) mang vi khuẩn chủng châu Á (Liberibacter asiaticus) trong tuyến nước bọt, trên bụng, ngực và trong hệ tiêu

hóa, khi chúng chích, hút vào cây, chúng sẽ truyền mầm bệnh từ cây bị bệnh sang cây khác

Bệnh vành lá gân xanh được xác định do ba loài vi khuẩn gây bệnh bao

gồm chủng châu Á (Liberibacter asiaticus), chủng châu Mỹ (Liberibacter

americanus), và chủng châu Phi (Liberibacter africanus) Bệnh vàng lá gân

xanh thường gây ra các triệu chứng điển hình là lá vàng, hoa nở muộn, quả rụng, kích thước quả giảm, vị đắng (Garnier and Jagoueix-Eveillard, 2000 [39]; Halbert and Manjunath, 2004) [45] Tính đến 2012, kết quả thống kê tại 34 quốc gia đã có trên 4.500 km2 cam bị bệnh vàng lá gân xanh (Li et al., 2012) [48]

Đặc điểm sinh sản của rầy chổng cánh (Diaphorina citri) phụ thuộc vào

các chồi non, chúng chích hút các chồi non, con cái đẻ trứng trên ngọn cây và rầy non sau khi nở sẽ sử dụng các chồi, búp non mới nhú làm nguồn thức ăn Trong suốt 2-3 tuần, các chồi non và lá non vẫn mềm, là nguồn thức ăn ưa thích của rầy non cho đến khi trưởng thành Rầy trưởng thành cũng có thể gây hại trên các lá trưởng thành trong vài tháng sau đó Mùa phát sinh rầy chổng cánh phụ thuộc vào mùa sinh trưởng của cam, rầy trưởng thành tồn tại qua mùa Đông bằng nguồn thức ăn chính là lá trưởng thành, đến mùa Xuân, cây cam mọc chồi non, nguồn thức ăn phong phú và mật độ quần thể rầy chổng cánh sẽ tăng nhanh Do đó cần có các giải pháp hạn chế mật độ quần thể rầy chổng cánh ở mùa xuân và các thời gian tiếp theo

Nguyên nhân:

Bệnh do vi khuẩn gây ra, vi khuẩn tấn công mạch dẫn của cây

Trang 16

Triệu chứng:

Trên lá: Biểu hiện đặc trưng của bệnh là phiến lá hẹp, khoảng cách giữa các lá ngắn lại, có màu vàng, nhưng gân chính và gân phụ vẫn còn màu xanh và nhỏ, mọc thẳng đứng như tai thỏ, nên có tên gọi bệnh vàng lá gân xanh

Trên quả: Quả nhỏ hơn bình thường, quả bị méo mó, khi bổ dọc thì tâm quả bị lệch hẳn sang một bên, quả có quầng đỏ từ dưới đít lên Hạt trên quả bị bệnh thường bị thối, có màu nâu

Bộ rễ: Khi cây nhiễm bệnh làm rễ cây bị thối, đa phần rễ tơ bị mất chỉ còn các rễ chính, thậm chí rễ chính cũng thối

Các triệu chứng trên xuất hiện từng cành, từng cây trong vườn, có khi xuất hiện cả vườn

Sự kết hợp giữa các triệu chứng trên với việc xuất hiện của rầy chổng cánh trong vườn là điều kiện cho việc xác định bệnh vàng lá gân xanh

Phân biệt cây bị bệnh vàng lá gân xanh với cây bị thiếu kẽm:

Cây bị bệnh vàng lá gân xanh thì thường biểu hiện triệu chứng ở những cây phía ngoài vườn nhiều hơn ở trong; trên một cây có cành nặng, cành nhẹ và

có cành không bị bệnh Diễn biến bệnh tương đối nhanh nên chết rất nhanh

từ cành bị nặng đếncành bị nhẹ Trên quả thì biểu hiện triệu chứng đầu tiên là quả

bị méo mó biến dạng, khi bổ ra sẽ thấy tâm lệch qua một bên và hạt bị thối

Cây thiếu kẽm có thể biểu hiện đồng loạt trên tất cả các cây hay ở một hướng hoặc một thửa nào đó trong vườn, triệu chứng giống nhau, không có cành

bị nặng hay nhẹ Mức độ diễn biến rất chậm, có thể kéo dài trong nhiều năm sau cây mới chết tuỳ theo điều kiện chăm sóc

Điều kiện phát triển của bệnh:

Bệnh lây lan do rầy chổng cánh truyền vi khuẩn từ cây bị bệnh sang cây chưa bị bệnh và bệnh lây lan qua mắt ghép

Vườn cam quýt chăm sóc kém, đất dễ ngập úng cũng là yếu tố tạo điều kiện thúc đâỷ bệnh phát triển mạnh

Trang 17

Phòng trừ:

Đến nay bệnh này vẫn chưa có thuốc trị mà phòng là chính:

Trồng cây giống khỏe, sạch bệnh

Không sử dụng vườn cam quýt có cây bị bệnh để nhân giống.Chặt bỏ cây cam quýt đã nhiễm bệnh đem tiêu hủy để giảm lây lan bệnh sang cây không bị bệnh

Trồng cây chắn gió quanh vườn như xoài, giâm bụt, để tránh rầy chổng cánh xâm nhập, hoặc trồng xen ổi; không trồng xen trong vườn các cây họ cam quýt

Tạo tán, tỉa cành để vườn thông thoáng, tránh giao tán; bón phân cân đối

và vừa đủ, không quá nhiều phân đạm để cây ra lộc non tập trung

Thăm vườn thường xuyên để phát hiện rầy chổng cánh và phun thuốc trừ rầy kịp thời; phun thuốc đều khắp cả cây và tập trung vào các lộc non, lá non

Sử dụng một trong số các loại thuốc sau để phun trừ rầy chổng cánh nhăn chặn sự truyền bệnh như: Trebon, Sherpa, dầu khoáng…

+ Bệnh vàng lá do virus

Bệnh vàng lá cam do virus (Citrus tristeza virus) với véc tơ truyền bệnh là rệp muội đen (Toxoptera citricida) (Batista et al., 1995 [31]; Garnsey, 1999) [40]Virus Citrus tristeza virus là một trong những nguyên nhân gây bệnh vàng

lá cam với hàng triệu cây cam đã bị nhiễm bệnh trên toàn thế giới, chúng thường

lây lan thông qua véc tơ truyền bệnh là một số loài rầy Virus Citrus tristeza

closterovirus được xác định là nguyên nhân gây bệnh vàng lá cam trên quy mô

lớn ở Pakistan.)[28]

Ngoài các nguyên nhân phổ biến nêu trên, bệnh vàng lá, chết khô cây cam

ở Cu Ba cũng được xác định do nấm Fomitiporia maxonii gây mục thân cành,

thối mục rễ và làm cây chết khô (Carbera et al., 2014)[34]

Nghiên cứu về bệnh vàng lá do yếu tố phi sinh vật

Cây cam nói riêng và cây có múi có thể bị bệnh vàng lá, sinh trưởng kém

do các yếu tố phi sinh vật như ngập úng, hạn hán, nhiệt độ, nhiễm mặn, hoặc do thiếu dinh dưỡng, thiếu vi lượng (Syvertsen and Garcia-Sanchez, 2014)

2.2.2.Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.2.1 Tình hình phát triển cây cam

Trang 18

+ Tình hình phát triển cây cam ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong trung tâm phát sinh các loài cây có múi nên các loài cây có múi nói chung và cây cam nói riêng đã được gây trồng phổ biến trên khắp cả nước và mang lại hiệu quả kinh tế cao Cây cam là cây trồng chủ lực và

đã được phát triển từ rất lâu ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long (Huỳnh Trí Đức

et al., 2006; Nguyễn Văn Liêm, 2009) [15] Đến năm 2011, diện tích trồng cam

ở Việt Nam đạt khoảng 70.000 ha (Lê Mai Nhất, 2014) [17] Hiện nay, cam cũng đang trở thành đối tượng cây ăn quả chủ lực, cây đặc sản tại nhiều địa phương thuộc các tỉnh miền Bắc như ở Quảng Ninh với 372 ha và dự kiến đạt trên 1.000 ha vào năm 2020 (UBND tỉnh Quảng Ninh, 2016) [27]; Bắc Kạn (Ngô Hồng Quang, 2013) [20], đạt gần 1.500 ha với giá trị ước đạt khoảng 60 tỷ đồng/năm (Hà Đức Tiến, 2013) [23]; Cam Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, được bảo

hộ chỉ dẫn địa lý năm 2014, với tổng diện tích 1.772 ha đất trồng cam, trong đó

có 1.200 ha cây cam đang ở thời kỳ cho quả đã đem lại hiệu quả cao Sản lượng cam ở Việt Nam năm 2013 đạt trên 520.000 tấn (Sở NN&PTNT Hòa Bình, 2015) [21]

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như phát huy tiềm năng về điều kiện tự nhiên của địa phương Tỉnh Hòa bình nói chung và huyện cao Phong nói riêng trong những năm gần đây đã cải tạo, quy hoạch, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào việc chọn tạo và sản xuất giống cây đạt chất lượng và

đã đưa cây cam vào phát triển kinh tế trong các hộ gia đình nhằm mở rộng quy

mô sản xuất cả về diện tích, năng suất và sản lượng Tuy nhiên trong quá trình hình thành và phát triển, do thị trường tiêu thụ chưa ổn định, đồng thời còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố bất lợi khác nên giá thành nhiều khi còn rất rẻ, sản phẩm bảo quản sau thu hoạch khó khăn, chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, gây thiệt hại cho người sản xuất Mặt khác, cây cam có số lượng hoa rất lớn nhưng tỉ lệ đậu quả lại thấp nên năng suất thường không ổn định, sản

Trang 19

phẩm sau thu hoạch chưa có biện pháp bảo quản hữu hiệu nên năng suất và phẩm chất giảm, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa ẩm đã tạo nên sự đa dạng về sinh thái, rất thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng cây ăn quả Trong những năm qua nghề trồng cây ăn quả ở nước ta đã có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nền kinh tế nông nghiệp, góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người lao động từ nông thôn đến thành thị

Với mỗi loại cây ăn quả có vai trò riêng biệt cũng như khả năng thích nghi đối với từng vùng sinh thái khác nhau Ở nước ta trong những năm qua, nhiều vùng chuyên canh cây ăn quả đã được hình thành và làm thay đổi hẳn bộ mặt kinh tế của vùng, ví dụ vùng Vải Thiều - Thanh Hà (Hải Dương), Lục Ngạn (Bắc Giang), Cam quýt ở Bắc Quang (Hà Giang), Phủ Quỳ (Nghệ An) Cam quýt là một trong những cây ăn quả đặc sản lâu năm của Việt Nam bởi giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao Trong thành phần thịt quả có chứa 6-12% đường, hàm lượng vitamin C từ 40-90mg/100g tươi, các axit hữu cơ 0,4-1,2% trong đó có nhiều loại axit có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm, mặt khác cam có thể dùng ăn tươi, làm mứt, nước giải khát, chữa bệnh.Trong những năm gần đây, diện tích trồng cam ở nước ta ngày càng được

mở rộng, việc phát triển cây cam được xem như là một giải pháp trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở nhiều địa phương Tuy nhiên sản xuất cam quýt ở nước

ta đang gặp rất nhiều khó khăn về chất lượng giống, sâu bệnh hại, kỹ thuật canh tác, năng suất,

+ Tình hình phát triển cây cam ở Quảng Ninh

Các giống cam đang được trồng ở Quảng Ninh đã trở thành sản phẩm nông sản đặc sản của địa phương và đang được phát triển thành thương hiệu hàng hóa đặc sản của tỉnh Quảng Ninh

Với ưu thế về thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp với yêu cầu phát triển cây cam, chất lượng quả cao, có vị đặc trưng riêng, Quảng Ninh đã đầu tư rất nhiều

Trang 20

nguồn lực của ngành nông nghiệp và các địa phương để phát triển cây cam, diện tích trồng cam toàn tỉnh Quảng Ninh tính đến hết năm 2016 đạt 372 ha, tập trung tại Vân Đồn (232 ha), Đông Triều (40 ha), Hải Hà (20 ha), Đầm Hà (40 ha) và Hoành Bồ (40 ha) Các giống cam hiện đang sử dụng gồm: cam V2, CS1, cam Canh chiếm khoảng 32,1% diện tích; các giống cam Bản Sen, cam chua có nguồn gốc bản địa chiếm khoảng 67,9% diện tích (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, 2016) Tại các địa phương này, cây cam đã và đang được ưu tiên phát triển với diện tích ngày càng tăng, qua đó đã góp phần tăng thu nhập cho người dân và tạo ra được những sản phẩm đặc sản cho các địa phương

Với chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm - One commune, one product” (OCOP) của tỉnh Quảng Ninh, hiện nay cam là một trong những sản phẩm OCOP, được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh ưa chuộng Tính đến năm

2016, Vân Đồn có 155 ha cam ở độ tuổi cho thu hoạch, trong đó tập trung ở Vạn Yên 80 ha, Bản Sen 70 ha Đây là các giống cam bản địa, sức sống tốt, năng suất trung bình đạt 15 tấn/ha, tổng sản lượng cam toàn huyện đạt trên 2.200 tấn/năm Với giá thị trường từ 30.000-40.000 đồng/kg, tổng doanh thu từ trồng cam đạt khoảng 70 tỷ đồng/năm Với những ưu điểm trên, nên cam đang là loại cây trồng ưu tiên số một của Vân Đồn và các địa phương khác (Việt Hoa, 2016)

Để phát huy giá trị loài cây trồng này, tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng Quy hoạch phát triển vùng sản xuất cam tập trung đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Theo Quy hoạch, đến năm 2020 toàn tỉnh sẽ mở rộng, nâng tổng diện tích trồng cam đạt 1.172 ha, trong đó Vân Đồn (862 ha), Đông Triều (60 ha), Hải Hà (100 ha), Đầm Hà (100 ha) và Hoành Bồ (50 ha) Các giống cam quy hoạch phát triển gồm cam Bản Sen, V2, CS1 và cam Canh (UBND tỉnh Quảng Ninh, 2016) [27] Tuy nhiên, trên các vùng trồng cam ở Quảng Ninh đang xuất hiện hiện tượng vàng lá, gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây cam

Năm 2013, niềm vui đến với hầu hết các gia đình trồng cam ở Vạn Yên, toàn xã thu hoạch khoảng 130 tấn cam, gấp 2,6 lần vụ cam năm 2012 Có được

Trang 21

thành công này, một phần do thời tiết thuận lợi cho việc ra hoa đơm trái của cam, nhưng cái chính là huyện Vân Đồn và xã Vạn Yên đã thấy được hướng đi đúng đắn của việc phát triển cây cam trên địa bàn để tập trung đầu tư Nhất là gần đây, Phòng NN&PTNT huyện đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Rau quả (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) xây dựng Dự án “Trồng cam bản địa theo hướng VietGAP tại xã Vạn Yên giai đoạn 2013-2015” Dự án trồng 35-40ha cho 3 giống cam bản địa (cam giấy, cam đường, cam sành) tại các thôn 10-

10 (từ 15-18ha), Cái Bầu (7-8ha); Đài Mỏ, Đài Làng (6-7ha) Đồng thời huyện

và xã mở 10 lớp tập huấn kỹ thuật chăm sóc cam, 2 lớp dạy nghề trồng cam theo hướng VietGAP cho bà con Nông dân tham gia mô hình được hỗ trợ 100% kinh phí mua giống, dụng cụ chăm sóc cây, 50% kinh phí mua phân bón trong năm đầu tiên

Tuy diện tích trồng cam của Bản Sen không nhiều như Vạn Yên, nhưng lại nổi tiếng về giống cam Sen, là nơi trồng nhiều loại cam này Cam Sen có hình dáng giống cam Bố Hạ, nhưng ngon hơn, quả cam khi bổ ra nước vàng sánh màu mật ong Hiện cam Sen được trồng nhiều ở các thôn Bản Sen, Đồng Gianh với diện tích khoảng 30ha 2 thôn này có vị trí địa lý gần giống nhau - bao quanh khu vực trồng cam là thung lũng đá vôi, nên tạo ra vị ngọt rất riêng của cam Sen Bà Phạm Thị Thu, một hộ trồng cam ở thôn Đồng Gianh cho biết:

“Vào những năm được mùa, mỗi cây cam gia đình tôi cho thu hoạch khoảng 50kg, cá biệt có cây thu được 1,5 tạ quả” Năm 2013, tuy cơn bão số 14 đổ vào Bản Sen tàn phá rất nặng nề, số cam bị rụng khoảng 30 tấn, nhưng người trồng cam vẫn thu hoạch được khoảng 50 tấn, nhiều hộ thu nhập gần 100 triệu đồng Ông Lê Hồng Phương, Chủ tịch UBND xã Bản Sen cho biết: “Năm nay, xã sẽ phát triển thêm 16ha diện tích trồng cam cho 70 hộ ở các thôn Nà La, Đông Lĩnh, Yên Xá, nâng tổng số các hộ trồng cam toàn xã lên hơn 170 Người trồng cam được hỗ trợ 100% về tiền giống, phân bón từ nguồn vốn xây dựng nông thôn mới của huyện”

Trang 22

2.2.1.2 Tình hình sâu, bệnh hại

Kết quả điều tra, nghiên cứu thành phần sâu, bệnh hại các loài cam, quýt

ở Việt Nam đã xác định được hơn 80 loài sâu hại và khoảng 40 loài sinh vật bệnh hại (Vũ Khắc Nhượng, 2004) Kết quả điều tra sâu hại cây có múi ở Hà

Nội đã xác định được 11 loài bọ phấn gây hại, trong đó có 3 loài Aleurocanthus

spiniferus, Aleuroclava jasmini, Dialeurodes citri gây hại chính (Đàm Ngọc Hân

et al., 2011) Kết quả điều tra thành phần sâu hại tại Cần Thơ và Hậu Giang đã

xác định 5 loài sâu cuốn lá gồm Archips sp., Adoxophyes privatana, Homona

tabescens, Psorosticha melanocrepida và Agonopterix sp Trong điều kiện nhà

lưới, trên cây Cam sành, hai loài P melanocrepida và A privatana gây hại lá non đến rất non, hai loài Archips sp va Agonopterix sp, gây hại lá trưởng thành

và loài H tabescens gây hại lá già (Châu Nguyễn Quốc Khánh et al., 2014) Tại

Hòa Bình, đã ghi nhận Bọ trĩ và Tuyến trùng hại cam ở Cao Phong, Hòa Bình (Hà Quang Dũng, 2005; Trịnh Quang Pháp, 2016); tại Hà Giang đã xuất hiện nhện đỏ hại cam quýt (Trần Thị Bình, 2002)

Những năm qua, bệnh vàng lá trên các loài cây có múi nói chung và cây cam nói riêng rất phổ biến, gây thiệt hại rất lớn cho sản xuất, trong đó có bệnh

vàng lá do thiếu kẽm, bệnh vàng lá gân xanh (Lê Thị Thu Hồng et al., 2002a), bệnh vàng lá do thối rễ, do nấm Phytophthora sp., Fusarium solani và Pythium

sp gây thối rễ (Nguyễn Văn Hòa et al., 2013), và bệnh vàng lá do tuyến trùng

(Vũ Khắc Nhượng, 2004; Trịnh Quang Pháp, 2016)

2.2.1.3 Nghiên cứu về bệnh vàng lá

Nghiên cứu về bệnh vàng lá do yếu tố sinh vật

Trong sản xuất nông, lâm nghiệp, việc sản xuất thâm canh trên quy mô lớn sẽ tạo ra những sinh cảnh thích hợp để sâu bệnh phát sinh và luôn phải đối mặt với sâu, bệnh hại Sâu, bệnh đã phát sinh và gây hại rất nghiêm trọng ở những vùng trồng cam lớn như vùng đồng bằng Sông Cửu Long (Vũ Khắc

Nhượng, 2004; Nguyễn Văn Hòa et al., 2013) [8], Tuyến trùng hại cam ở Cao

Trang 23

Phong, Hòa Bình (Hà Quang Dũng, 2005; Trịnh Quang Pháp, 2016), bệnh vàng

lá cam ở Hải Dương và Hưng Yên (Lê Xuân Cuộc và Định Văn Cự, 1998) [3], bệnh vàng lá gân xanh trên cam ở Hưng Yên (Đặng Thái Hưng, 2011) [10]… trong đó bệnh vàng lá xảy ra phổ biến nhất và do những nguyên nhân sau:

+ Bệnh vàng lá do thối rễ

Bệnh vàng lá do thối rễ cây có múi và cây cam ở đồng bằng Sông Cửu

Long đã được xác định do nấm Phytophthora palmivora, Fusarium solani và

Pythium helicoides, trong đó nấm P palmivora gây bệnh mạnh nhất, tiếp đến là

nấm F solani (Nguyễn Văn Hòa et al., 2013) [8]

+ Bệnh vàng lá do tuyến trùng

Tuyến trùng ký sinh thực vật là một trong những nhóm đối tượng sinh vật gây hại nghiêm trọng trên nhiều loài cây trồng nói chung và cây cam nói riêng (Vũ Khắc Nhượng, 2004) [18], chúng được xác định là một trong những nguyên nhân gây bệnh vàng lá cam (Trịnh Quang Pháp, 2016) [19] Ở Việt Nam đã ghi nhận có 34 loài tuyến trùng ký sinh trong vùng rễ cây Cam ngọt (Nguyễn Vũ Thanh, 2002) [22] Kết quả nghiên cứu trên 40 mẫu đất và 20 mẫu rễ cam thu từ vùng trồng cam Cao Phong, Hòa Bình đã xác định 9 loài tuyến trùng thuộc 8

giống, 6 họ và 2 bộ bao gồm các giống Helicotylenchus, Rotylenchulus,

Pratylenchus, Criconemella, Xiphinema, Discocriconemella và Meloidogyne

Trong số đó, giống tuyến trùng Tylenchulus có tần suất bắt gặp cao nhất 74,4%, tiếp theo là các giống Helicotylenchus 35,9%, Rotylenchulus 28,2%,

Pratylenchus 20,5%, Criconemella 12,8%, Xiphinema, Discocriconemella 5,1%

và thấp nhất là Meloidogyne 2,6% Sự xuất hiện và gây hại của tuyến trùng ở các

vườn cam có mối liên hệ với lịch sử canh tác, giống cây và nguồn nước tưới

Tuyến trùng Tylenchulus semipenetrans được xác định là một trong những loài

gây hại chính đối với cây cam trồng ở Cao Phong, Hòa Bình (Trịnh Quang Pháp, 2016) [19]

+ Bệnh vàng lá gân xanh (vàng lá greening)

Trang 24

Rầy chổng cánh (Diaphorina citri) thường xuất hiện, gây hại các loài cây

có múi với mật độ rất cao và phân bố trên toàn quốc; Lê Xuân Cuộc và Định Văn Cự, 1998) [3], chúng được xác định là véc tơ truyền bệnh vàng lá gân xanh (Hung et al., 2004) [46] Bệnh vàng lá gân xanh là nguyên nhân gây thiệt hại nghiêm trọng trong ngành sản xuất cây có múi nói chung, đặc biệt là đối với cây

cam từ những năm 2000 (Lê Thị Thu Hồng et al., 2002) [9], chúng có xu hướng

lan rộng nhanh ở các các vùng trồng cam tập trung (Nguyễn Văn Liêm, 2009) [15] Bệnh vàng lá gân xanh được xác định do vi khuẩn Liberibacter asiaticus và lây lan thông qua véc tơ truyền bệnh chính là rầy chổng cánh (Hung et al., 2004)

[46] Hàm lượng ADN của vi khuẩn Liberibacter asiaticus trên cây bị bệnh càng

nhiều tuổi nhiều hơn trên cây non, trên lá già bị bệnh nhiều hơn trên lá non , điều này cho thấy mật độ vi khuẩn gây bệnh tập trung nhiều ở các cây già, trên các lá già nên cần nghiên cứu biện pháp cách ly nguồn lây bệnh từ lá già, lá rụng hiệu quả nhất Tại các vùng trồng cây có múi chính ở phía Bắc Việt Nam bị nhiễm bệnh vàng lá gân xanh với tỉ lệ bệnh 10,5-50,9% Bệnh vàng lá gân xanh thường phát sinh cùng các bệnh virus, trong tổng số mẫu dương tính với bệnh vàng lá gân xanh có 58,3-73,3% mẫu hỗn hợp cùng bệnh tristeza với triệu chứng sưng nổ gân lá, cây thấp lùn, vàng lá (Lê Mai Nhất, 2014) [17] Việc xác định bệnh vàng lá gân xanh do vi khuẩn Liberibacter asiaticus trên Cam sành, Quýt ngọt, chanh và Cam Vinh có thể thực hiện thông qua triệu chứng, giải phẫu và kết hợp ứng dụng kỹ thuật PCR

Có thể có trên 10 lứa rầy chổng cánh mỗi năm, mật độ cao điểm trùng với các đợt nảy lộc của cây cam ở mùa Xuân, Hè, Thu; chúng hoạt động mạnh nhất

ở nhiệt độ 28-300C, ẩm độ 86-88% (Hoàng Lâm, 1991a; 1991b) [12,13]

Tại các địa phương như Vân Đồn, Đông Triều, Hoành Bồ, Đầm Hà và Hải Hà thuộc tỉnh Quảng Ninh đang xuất hiện bệnh vàng lá cam, gây thiệt hại đáng kể và là trở ngại lớn cho kế hoạch phát triển cây cam của địa phương

Kết quả điều tra, đánh giá hiện trạng và mức độ phổ biến của bệnh vàng lá gân xanh trên cây có múi tại các vùng sinh thái trên cả nước vào năm 2012 cho

Trang 25

thấy trong 4 tỉnh điều tra ở vùng Đông Bắc thì Quảng Ninh có tỷ lệ cây bị bệnh cao nhất, tới 50,9%, mức độ bị bệnh cuãng cao nhất (Lê Mai Nhất, 2014) [17]

Nghiên cứu về bệnh vàng lá do yếu tố phi sinh vật

Ngoài các nguyên nhân gây bệnh do sinh vật, bệnh vàng lá trên cây có múi còn được xác định do thiếu vi lượng, trong đó Quýt tiều ở Đồng Tháp được

xác định bị thiếu kẽm gây vàng lá (Lê Thị Thu Hồng et al., 2002) [9]

Nhìn chung, bệnh vàng lá cam có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm nhiều loài sinh vật gây bệnh và do cả yếu tố phi sinh vật Hiện nay, diện tích trồng cam ở Quảng Ninh ngày càng tăng, cây cam ở Quảng Ninh đã tạo được thương hiệu sản phẩm hàng hóa riêng, có giá trị thương mại và đóng góp không nhỏ cho kinh tế địa phương Tuy nhiên bệnh vàng lá đang xuất hiện phổ biến trên hầu hết các vườn cam ở Quảng Ninh, gây thiệt hại không nhỏ cho người trồng cam do đó cần phải có các nghiên cứu để xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp bệnh vàng lá cam tại tỉnh Quảng Ninh hiệu quả nhất

* Nhận xét thảo luận: Việc xác định nguyên nhân gây bệnh là rất quan

trọng, qua các nghiên cứu trước đây, nguyên nhân gây bệnh trên các loài cây ăn quả có múi thường do 5 nguyên nhân, trong đó chủ yếu do bệnh vàng lá gân xanh mà véc tơ là rầy chổng cánh và bệnh thối rễ gây vàng lá do các loài nấm thuộc chi Pithyace

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.3.1 Vị trí địa lí

Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp, phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc

bộ với bờ biển khúc khuỷu nhiều cửa sông

Quảng Ninh có toạ độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và

từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195km Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 102 km Điểm cực bắc là dãy núi cao thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu Điểm cực nam ở đảo Hạ

Trang 26

Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn Điểm cực tây là sông Vàng Chua ở

xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, thị xã Đông Triều Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc xã Trà Cổ, thành phố Móng Cái

Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Trên đất liền, phía bắc của tỉnh (có các huyện Bình Liêu, Hải Hà và thành phố Móng Cái) giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây với 132,8 km đường biên giới; phía đông là vịnh Bắc Bộ; phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía nam giáp Hải Phòng Bờ biển dài 250 km

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là tính đến ngày 1-10-1998 là 611.081,3 ha Trong đó đất nông nghiệp 243.833,2 ha, đất chuyên dùng 36.513

ha, đất ở 6.815,9 ha, đất chưa sử dụng 268.158,3 ha

Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Yên Hưng, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái ở các cửa sông, các vùng

Trang 27

bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp Đó là vùng nam Uông Bí, nam Yên Hưng (đảo Hà Nam), đông Yên Hưng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh

Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú

Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà

Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng )

Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là

20 m Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn

Trang 28

với các tỉnh phía bắc Vì nằm trong vành đai nhiệt đới nên hàng năm Quảng Ninh có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh, tiềm năng về bức xạ và nhiệt độ rất phong phú Các quần đảo ở Cô Tô, Vân Đồn… có đặc trưng của khí hậu đại dương Do ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hóa thành hai mùa gồm có mùa hạ thì nóng ẩm với mùa mưa, còn mùa mưa thì lạnh với mùa khô Độ ẩm trung bình 82 – 85% Mùa lạnh thường bắt đầu từ hạ tuần thứ 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, trong khi đó mùa nóng bắt đầu

từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10) Ngoài ra do tác động của biển, nên khí hậu của Quảng Ninh nhìn chung mát mẻ, ấm áp, thuận lợi đối với phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nhiều hoạt động kinh

tế khác

Về nhiệt độ: Quảng Ninh là tỉnh có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình trong năm từ 21 - 23°C, có sự chênh lệch giữa các mùa, giữa vùng đồi núi với vùng ven biển Sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình của các tháng tiêu biểu cho mùa đông (tháng 1) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa hạ (tháng 7) là 12°C và thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng 1 theo tiêu chuẩn nhiệt độ cùng vĩ tuyến là 5,1°C Vào tháng 12 và tháng 1, một số nơi như Bình Liêu, Ba chẽ và miền núi huyện Hoành Bồ thường có sương muối

Mưa: Quảng Ninh là tỉnh có lượng mưa nhiều, tập trung chủ yếu vào mùa

hạ (chiếm tới 85% lượng mưa cả năm), lượng mưa trung bình hàng năm 1.995

mm Lượng mưa ở các vùng cũng khác nhau Nơi mưa nhiều nhất là sườn nam

và đông nam cánh cung Đông Triều và vùng đồng bằng duyên hải của Móng Cái, Tiên Yên, Hải Hà, lượng mưa trung bình năm lên tới 2.400 mm Vùng ít mưa nhất là sườn bắc của cánh cung Đông Triều, Ba Chẽ, lượng mưa trung bình năm chỉ đạt 1.400 mm Các vùng hải đảo có lượng mưa 1.700-1.800 mm

Ngày đăng: 29/12/2020, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w