ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- PHÙNG THỊ GIANG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY BỒ ĐỀ Styrax tonkinensis Pierre TẠI VƯỜN ƯƠM TR
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
PHÙNG THỊ GIANG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐẾN SINH
TRƯỞNG CỦA CÂY BỒ ĐỀ (Styrax tonkinensis Pierre) TẠI VƯỜN
ƯƠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -
PHÙNG THỊ GIANG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐẾN SINH
TRƯỞNG CỦA CÂY BỒ ĐỀ (Styrax tonkinensis Pierre) TẠI VƯỜN
ƯƠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên rừng
Khóa học : 2015 – 2019 Giảng viên hướng dẫn : Th.S Đào Hồng Thuận
Thái nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm !
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019
Xác nhận của GVHD
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
hội đồng khoa học
(Ký, ghi rõ họ tên)
Người viết cam đoan
(Ký, ghi rõ họ tên)
Th.S Đào Hồng Thuận Phùng Thị Giang
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
Đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Th.S Phạm Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Mục tiêu của Khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại Học Nông Lâm là đào tạo được những kỹ sư không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn phải thành thạo thực hành Bởi vậy,thực tập tốt nghiệp là giai đoạn không thể thiếu để mỗi sinh viên có thể vận dụng được những gì mình đã học và làm quen với thực tiễn, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và tích lũy những kinh nghiệm cần thiết sau này
Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt
nghiệp với đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Bồ đề (Styrax tonkinensis Pierre) tại vườn ươm trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ công nhân viên vườn ươm khoa Lâm Nghiệp, các thầy cô trong khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn
: Th.S Đào Hồng Thuận đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, Gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn bỡ ngỡ ban đầu trong quá trình hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình thực tập và trình bày khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, do vậy tôi rất mong nhận được sự giúp
đỡ, góp ý và nhận xét chân thành của quý thầy cô giáo và toàn thể các bạn đồng nghiệp để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thành hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày….tháng 5.năm 2019
Sinh viên thực tập
Phùng Thị Giang
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả phân tích mẫu đất 12 Mẫu bảng 3.1: Các chỉ tiêu sinh trưởng Hvn, D00, chất lượng của cây con 17 Mẫu bảng 3.2: Tỷ lệ cây con xuất vườn của các công thức hỗn hợp ruột bầu.18 Bảng 4.1: Kết quả về tỷ lệ sống của cây Bồ đề giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm 20 Bảng 4.2: Kết quả sinh trưởng H vn của cây Bồ đề giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm 22 Bảng 4.3: Kết quả sinh trưởng D00 của cây Bồ đề giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm 25 Bảng 4.4: Kết quả về động thái ra lá của cây Bồ đề giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm về hỗn hợp ruột bầu 28 Bảng 4.5: Kết quả về phẩm chất cây con Bồ đề giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm 30 Bảng 4.6: Dự tính tỷ lệ cây Bồ đề xuất vườn ở các công thức thí nghiệm 32
Trang 6
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ sống (%) trung bình của cây Bồ đề ở các công thức thí nghiệm về hỗn hợp ruột bầu 20 Hình 4.2: Biểu đồ biểu diễn sinh trưởng chiều cao của cây Bồ đề ở các công thức thí nghiệm 22 Hình 4.3: Ảnh minh họa chiều cao cây Bồ đề ở các công thức thì nghiệm 23 Hình 4.4: Biểu đồ biểu diễn đường kính cổ rễ (cm) của cây Bồ đề ở các công thức thí nghiệm 25 Hình 4.5: Ảnh minh họa đường kính cổ rễ của cây Bồ đề ở các công thức thí nghiệm về hỗn hợp ruột bầu 26 Hình 4.6: Biểu đồ biểu diễn động thái lá của cây Bồ Đề ở các công thức thí nghiệm về hỗn hợp ruột bầu 28 Hình 4.7: Ảnh minh họa động thái ra lá của cây Bồ Đề giai đoạn vườn ươm
về hỗn hợp ruột bầu 29 Hình 4.8: Biểu đồ tỷ lệ % cây tốt, trung bình, xấu của cây Bồ Đề ở các công thức thí nghiệm 31 Hình 4.9: Biểu đồ dự tính tỷ lệ % cây con Bồ đề xuất vườn 32 Hình 4.10: Ảnh minh họa tỷ lệ xuất vườn của cây Bồ đề 33
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cm : xentimet
CT : Công thức CTNN : Công thức thí nghiệm
D00 : Đường kính cổ rễ
𝐷̅00 : Đường kính cổ rễ trung bình
Di : Giá trị đường kính gốc của một cây
Hi : Giá trị chiều cao vút ngọn của một cây
TB : Trung bình
Trang 8
MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1.Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 7
2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới 7
2.2.2.Những nghiên cứu ở trong nước 9
2.3 Những thông tin về cây Bồ đề 10
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 11
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 14
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 14
3.2 Nội dung nghiên cứu 14
3.3 Phương pháp nghiên cứu 14
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 15
3.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 17
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến tỷ lệ sống của cây Bồ đề 20
4.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng chiều cao của cây Bồ đề 22
4.3 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng đường kính cổ rễ D00 của cây Bồ đề 25
Trang 94.4 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến động thái ra lá của cây Bồ đề 27
4.5 Dự tính tỷ lệ xuất vườn của cây Bồ đề giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm 30
4.5.1 Phẩm chất của cây Bồ đề ở các công thức thí nghiệm 30
4.5.2 Dự tính tỷ lệ cây Bồ đề xuất vườn ở các công thức thí nghiệm 32
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
5.1 Kết luận 35
5.2 Kiến nghị 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 10
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây Bồ đề (Styrax tonkinensis) được biết đến với tính chất linh thiêng
trong đạo Phật Cây Bồ đề còn được gọi là cây đề hay cây giác ngộ, cây lâm
vồ Có nguồn gốc từ Nepan, Ấn Độ, Tây nam Trung hoa, Đông Dương và
Việt Nam Cây Bồ đề có dáng đẹp, cao to thường được trồng ở công viên, trên
vỉa hè, khuôn viên công sở, được trồng làm bóng mát ở đình chùa, sân vườn hay tạo cảnh đẹp cho các quán cà phê, nhà hàng sân vườn, tạo cho môi trường xanh Về mặt khoa học thì tất cả các bộ phận của cây bồ đề đều có những hoạt chất có ích, nhựa cây có mùi thơm nên có thể dùng để chế biến nước hoa và
trong y học (Lương Thị Anh và Mai Quang Trường, Giáo trình trồng rừng
2007)[1]
Bồ đề đòi hỏi đất tốt, tầng đất sâu ẩm, có tính chất đất rừng, thích hợp với đất có thành phần cơ giới trung bình, thoát nước Để có được nguồn cây con đảm bảo cho công tác trồng rừng, trong giai đoạn gieo ươm, số lượng và chất lượng cây con chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: phân bón, nước, ánh sáng,…
Cây Bồ đề là cây có nhiều giá trị về kinh tế cao nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu cây con trong công tác trồng rừng Do vậy để đáp ứng công tác trồng rừng cần phải đẩy mạnh tốc độ sinh trưởng, giảm chi phí sản xuất và rút ngắn được thời gian gieo ươm
Cây trồng cần được cung cấp các chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển Các chất dinh dưỡng này bao gồm các nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng và các nguyên tố khoáng cần thiết cho cây chúng đều có trong đất và được cây trồng hấp thụ qua hệ thống rễ Tuy nhiên số lượng các
Trang 11nguyên tố này đất không có khả năng cung cấp đủ cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng, do đó phải bón phân bổ sung
Trong sản xuất cây con từ hạt có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm, trong đó có hỗn hợp ruột bầu Ruột bầu là nơi cung cấp chủ yếu dinh dưỡng cho cây trong giai đoạn nuôi dưỡng ở vườn ươm, tuy nhiên mỗi loại cây phù hợp với thành phần ruột bầu khác nhau Thực tế đã có những kết quả nghiên cứu đầy đủ về tạo hỗn hợp ruột bầu và được áp dụng vào sản xuất cây con cho nhiều loài cây sử dụng để trồng rừng trong cả nước Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây
Bồ đề (Styrax tonkinensis pierre) tại vườn ươm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được công thức hỗn hợp ruột bầu ảnh hưởng tốt nhất tới sinh trưởng của cây Bồ đề ở giai đoạn vườn ươm
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1.Ý nghĩa trong khoa học
Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, biết áp dụng và kết hợp giữa lý thuyết và thực hành
Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi ra thực tế
Các kết quả nghiên cứu là cơ sở nghiên cứu khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về kỹ thuật gieo ươm cây Bồ đề
1.3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất để tạo hỗn hợp ruột bầu khi gieo ươm Bồ đề đảm bảo có số lượng, chất lượng tốt
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Theo Bộ Nông nghiệp cây con được tạo ra từ các vườn ươm phải đảm bảo cây giống được lựa chọn có những phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai để giảm bớt sự cạnh tranh của các loài cây khác đối với chúng Việc chăm sóc cây con sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cây con trong tương lai Các loại phân bón được chăm sóc cây con trong thời gian ngắn, bón phân này cần được kết hợp với các biện pháp lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh phải thường xuyên phát huy tối đa hiệu lực của phân bón (Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn 2002)[2]
Phân bón là chất dùng để cung cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây trồng như N, K, P… Phân bón có thể là sản phẩm thiên nhiên hoặc được chế tạo trong công nghiệp Trong cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và tác dụng như nhau đối với sinh trưởng của cây Trong các biện pháp kỹ thuật được sử dụng phổ biến thường xuyên đem lại hiệu quả lớn Tuy nhiên bón phân cần phải cân đối về cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất và mùa vụ cụ thể sẽ đảm bảo năng suất cao,
chất lượng tốt ( Dự án WPF,1997) [3] Theo nhiều tài liệu trên thế giới, chỉ sử
dụng phân bón chiếm 30% Việc kết hợp cân đối nguồn phân, khả năng cung cấp của đất, thể thống canh tác, giống cây trồng, điều kiện thời tiết thích hợp
sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản
xuất, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững
Trong sản xuất nông lâm nghiệp: Đất là giá thể, môi trường sinh sống trực tiếp của bộ rễ và là nguồn cung cấp nước, sản lượng – chất lượng quả, hạt cao chu kỳ sai quả ngắn và ngược lại
Trang 13Đất tốt là đất giàu chất dinh dưỡng chủ yếu là N, P, K… và các nguyên
tố vi lượng cần thiết đồng thời và các thành phần đó có một tỷ lệ thích hợp
Trong gieo ươm: Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này Cây con sinh trưởng phát triển tốt hay không chủ yếu là do một số yếu tố sau: Thành phần cơ giới, độ ẩm PH của đất quyết định
Thành phần cơ giới của đất: Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt nảy mầm, sinh trưởng của cây con, dễ làm đất và chăm sóc cây con hơn Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng cần căn cứ vào đặc tính sinh học loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ưa đất thịt trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm Gieo ươm cây Thông ưa đất cát pha, thoát nước tốt
Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và các chất vi lượng khác Đồng thời tỉ lệ các chất phải cân đối và thích hợp Gieo ươm trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ phận rễ, thân, cành, lá phát
triển cân đối (Lương Thị Anh, Mai Quang Trường, Giáo trình trồng rừng
2007)[1]
Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân đối giữa các bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con Đất quá khô hoặc quá ẩm đều không tốt Mực nước ngầm trong đất cao hay thấp có liên quan đến độ ẩm của đất, mực nước ngầm thích hợp cho loại đất cát pha ở độ sâu là 1,5 - 2m, đất sét là trên 2,5m
Chọn đất vườn ươm không nên chỉ dựa vào độ ẩm của đất, mực nước ngầm cao hay thấp mà còn tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học của từng loài cây ươm Ví dụ: Gieo ươm cây phi lao nên chọn đất thường xuyên ẩm, xong gieo ươm cây thông cần phải chọn đất nơi cao ráo, thoát nước
Trang 14Nước: Nước đóng vai trò rất quan trọng đối với thực vật, nhất là giai đoạn vườn ươm Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số lượng Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây Mỡ Hệ rễ cây con trong bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh trưởng Nhiều nước sẽ tạo ra môi trường quá ẩm kết quả rễ cây phát triển kém hoặc chết do thiếu không khí Vì thế việc xác định hàm lượng nước thích hợp cho
cây non ở vườn ươm là việc làm rất quan trọng ( Larcher, 1983; Nguyễn Văn
Sở, 2004)[9]
Độ PH của đất: Có ảnh hưởng tới tốc độ nảy mầm của hạt giống và sinh trưởng của cây con, đa số các loài cây thích hợp với độ PH trung tính, cá biệt có loài ưa chua như Thông, ưa kiềm như Phi lao
Sâu bệnh hại: Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều nên hầu hết các vườn ươm đều có nhiều sâu, bệnh hại làm ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng cây con, tăng giá thành sản xuất cây con, thậm chí có nơi còn dẫn đến thất bại hoàn toàn Cho nên trước khi xây dựng vườn ươm cần điều tra mức độ nhiễm sâu bệnh hại của đất, để có biện pháp xử lý đất trước khi gieo ươm hoặc không xây dựng vườn ươm tại những nơi bị nhiễm sâu bệnh nặng
Theo Sở nghiên cứu đất thuộc viện khoa học Nông nghiệp Trung Quốc: Mục đích của việc bón phân là nhằm làm cho cây phát triển và đạt năng suất cao, có phẩm chất tốt, cho nên bón phân phải phù hợp với yêu cầu sinh trưởng
và phát trển của cây trồng mới phát huy tối đa tác dụng của phân bón Sinh trưởng và phát triển của cây trồng có mối quan hệ mất thiết với điều kiện bên ngoài Phân bón là chất dùng để cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây
Một trong nhiều phương pháp đang được sử dụng nhiều hiện nay là nhân giống từ hạt Để cây con phát triển tốt trong giai đoạn vườn ươm nhân tố rất quan trọng tới sinh trưởng của cây đó là hỗn hợp ruột bầu
Trang 15Thành phần hỗn hợp ruột bầu bao gồm đất, phân bón ( hữu cơ, vô cơ )
và chất phụ gia để đảm bảo điều kiện lý hóa tính của ruột bầu Đất được chọn làm ruột bầu là đất tốt, có khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt, thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, PH trung tính, không mang mầm mống sâu bệnh hại
Theo Nguyễn Xuân Quát,1985)[8], để giúp cây con sinh trưởng và phát
triển tốt, vấn đề bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện tính chất của ruột bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết Trong giai đoạn vườn ươm, những yếu tố được đặc biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụ gia
Phân bón là chất dùng để cung cấp một trong nhiều chất cần thiết cho cây Phân bón có thể là sản phẩm thiên nhiên hoặc được chế tạo trong công nghiệp Trong cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều như nhau và tác dụng như nhau đối với sinh trưởng của cây Có rất nhiều các loại phân bón dựa vào cách bón, trạng thái phân, giai đoạn sinh trưởng của cây trồng, liều lượng dưỡng chất mà cây cần nhiều hay ít
Bón phân qua rễ: Lượng phân bón trực tiếp vào đất, chất dinh dưỡng được ngấm vào đất Bộ rễ của cây hút chất dinh dưỡng từ đất chuyển lên các
bộ phận lên trên mặt đất của cây (thân, lá, hoa, quả) cây trồng phát triển bình thường
Bón phân qua lá: Lá, thân, cành, quả, cây, lượng phân hòa tan vào nước ở một nồng độ cho phép, phun ướt đẫm lá và thân cây, quả, chất dinh dưỡng được ngấm qua lá
Ruột bầu: là môi trường trực tiếp nuôi cây, thành phần ruột bầu gồm đất và phân bón Đất làm ruột bầu thường sử dụng loại đất có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, phân bón là phân hữu cơ đã ủ hoai mục (phân chuồng, Phân xanh), phân vi sinh và phân vô cơ Tùy theo tính chất đất, đặc tính sinh thái học của cây con mà tỉ lệ pha trộn hỗn hợp ruột bầu cho phù hợp
( Nguyễn Xuân Quát, 1985)[8]
Trang 16Trong nhân giống các loại cây gỗ, theo Nguyễn Văn Sở,(2004)[9],thành
phần hỗn hợp ruột bầu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của cây con trong vườn ươm Hỗn hợp ruột bầu tốt phải đảm bảo những điều kiện lý tính và hóa tính giúp cây sinh trưởng khỏe mạnh
và nhanh Một hỗn hợp ruột bầu nhẹ, thoáng khí, khả năng giữ nước cao nhưng nghèo chất khoáng cũng không giúp cho cây phát triển tốt Ngược lại, một hỗn hợp ruột bầu chứa nhiều chất khoáng, nhưng cấu trúc đất nặng, khó thấm nước và thoát nước cũng ảnh hưởng xấu đến cây con
Theo Nguyễn Xuân Quát,(1989)[8], để giúp cây con sinh trưởng và
phát triển tốt, vấn đề bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện thêm tính chất của ruột bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Từ lâu phân bón lá đã được sử dụng trên thế giới Hàng năm trên thế giới tiêu thụ khoảng 130 triệu tấn phân bón Phân bón được phát hiện sớm
từ giữa thế kỹ XVII(1676) lúc mà ông E.Mariotte (người pháp ) đã tìm thấy
lá cây có thể hấp thụ nước từ bên ngoài Nhưng phải đến thế kỷ XIX vào thập niên 70-80, các nhà khoa học nhiều nước trên thế giới mới công nhận phân bón giúp cho cây sinh trưởng phát triển nhanh hơn, phân bón còn giúp cây chống chịu được với hạn hán, sâu bệnh Phân bón sinh học trở thành phân bón phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp Trên thế giới nhiều nhà khoa học cũng công nhận phân bón giúp cho cây sinh trưởng phát triển nhanh hơn, phân bón còn giúp cây chống chịu được với hạn hán, sâu bệnh Phân bón sinh học trở thành phân bón phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp[7]
Năm 1974 polster, Fidler và lir đã kết luận: Sinh trưởng của cây thân gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng từ trong đất trong suốt quá trình sinh trưởng Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây thân gỗ ở mỗi thời kỳ khác nhau là
Trang 17khác nhau Chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con Ở Mỹ, Canada, Braxin… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương pháp bón phân đã tăng năng suất
từ 6,5 tấn/ha lên 25tấn/ha Do đó tính ưu việt của chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng chất phát huy hiệu lực phân đa lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả cao Nên trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử dụng các chể phẩm sinh học rất được chú trọng đầu tư Phân bón sinh học trở thành loại phân phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất, nông lâm nghiệp hiện đại[7]
Turbitxki, 1963 đã khẳng định các biện pháp bón phân sẽ được hoàn thiện một cách đúng đắn theo sự hiểu biết sâu sắc nhu cầu của cây, đặc điểm của đất và loại phân bón
Theo thomas, (1985)[18], chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con Tình trạng dinh dưỡng của cây có thể hiện
rõ qua màu sắc của lá Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con
Việc bón phân có tác dụng tích cực là: Đẩy mạnh sinh trưởng ban đầu của cây, tăng lượng sản xuất gỗ
Chính vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng là vô cùng quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây
Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới: Mỹ, Anh, Nhật, Trung Quốc… đã sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất cho nông sản, không làm ô nhiễm môi trường như: Atonik, Yogen… (Nhật Bản), Bloom, Blus, Solu, Spray-Ngrow…(Hoa Kỳ), diệp lục
tố, đặc phong…(Trung Quốc) Nhiều chế phẩm đã được nghiên cứu và cho
phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam( Dự án WPF,1997) [3]
Trang 182.2.2 Những nghiên cứu ở trong nước
Nước ta là một nước có nền sản xuất chủ yếu là nông nghiệp nên việc
sử dụng phân bón đã được dùng trong canh tác từ lâu Chúng ta cũng luôn tìm tòi nghiên cứu để tìm ra các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây trồng cho nền nông nghiệp với mong muốn không ngừng nâng cao đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hàng ngày
Đi đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến Nguyễn Hữu Thước, (1963),
Nguyễn Ngọc Tân, (1987)[10], Nguyễn Xuân Quát, (1985)[8], Trần Gia Biển
(1985)…các tác giả đều đi đến kết luận chung cho rằng mỗi loại cây trồng đều có yêu cầu về loại phân, nồng độ, phương thức bón, tỷ lệ hỗn hợp hoàn toàn khác nhau
Khi nghiên cứu gieo ươm Thông nhựa (Pinus merkusii), tác giả cũng đã tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu Những nghiên
cứu như vậy cũng đã được Hoàng Công Đãng, (2000)[4] thực hiện với loài
Bần chua ở giai đoạn vườn ươm
Một vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu là thành phần
hỗn hợp ruột bầu Theo Nguyễn Văn Sở, (2004)[9], sự phát triển của cây con
phụ thuộc không chỉ vào tính chất di truyền của cây, mà còn vào môi trường sinh trưởng của nó (tính chất lý hóa tính của ruột bầu) Tuy nhiên không phải tất cả các loài cây đều cần một loại hỗn hợp như nhau, mà chúng thay đổi tùy thuộc vào đặc tính sinh thái học của mỗi loài cây
Theo Nguyễn Thị Mừng, (1997)[5], trong luận án Thạc sỹ nghiên cứu
ảnh hưởng của chế độ che bóng, hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng cây Cẩm lai trong giai đoạn vườn ươm ở Kontum đã tìm công thức bón phân tốt nhất cho sinh trưởng cây con Cẩm lai giai đoạn vườn ươm là công thức: 79% đất vườn ươm + 18% phân chuồng + 0,5% N + 2% P + 0,5% K và 80% đất vườn ươm + 15% phân chuồng + 1% N + 3% P + 1% K
Trang 19Theo Nguyễn Thị Cẩm Nhung, (2006)[6], khi gieo ươm cây Huỳnh liên
(Tecoma stans (L.) H.B.K), hỗn hợp ruột bầu thích hợp bao gồm đất, phân chuồng hoai, xơ dừa, tro, trấu theo tỷ lệ 90 : 5 : 2 : 2,1 và 0,3% kali clorua, 0,5% super lân và 0,1% vôi
Theo Nguyễn Văn Thêm và Phạm Thanh Hải, (2004)[11], bón lót cho
Chiêu liêu nước (Terminalia calamansanai) trong giai đoạn 6 tháng tuổi ở vườn ươm là việc làm cần thiết Nếu bón lót phân tổng hợp NPK (16:16:8) cho Chiêu liêu nước, thì hàm lượng thích hợp là 1% so với trọng lượng ruột bầu Tương tự, phân super photphat là 1%, còn phân hữu cơ hoai là 15% – 20% so với trọng lượng ruột bầu
Cây cối tiếp nhận được 95% phân bón và được đánh giá là 1 tấn Phân bón có hiệu suất bằng 20 tấn phân bón vào đất Do trên mỗi lá có hàng triệu khí khổng có khả năng hấp thụ ánh sáng, không khí, nước và chất khoáng Phân được xâm nhập trực tiếp, di chuyển nhanh chóng trong cây nên đáp ứng được yêu cầu cần thiết nhu cầu dinh dưỡng của cây trong thời gian ngắn, giúp cây sinh trưởng tốt cho năng suất và chất lượng cao
2.3 Những thông tin về cây Bồ đề
Cây Bồ đề (tên pháp khoa học: Styrax tonkinensis Pierre) còn được gọi
là cây đề hay cây giác ngộ, là một loài cây thân gỗ thuộc họ Bồ đề
(Styracaceae)
Bồ Đề ưa sống vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới, nhiệt độ trung bình năm từ 19 – 23°C, lượng mưa 1.500 – 2.000mm/ năm, tốt nhất là trên 1.700mm, độ ẩm không khí trung bình 80 – 85%
Là cây gỗ nhỡ, rụng lá theo mùa, cao từ 20 – 25m, sinh trưởng trung bình Thân cây thẳng, tròn dáng phân tán Vỏ thân cây màu xám trắng thường
có vết rạn dọc Cành ngang thấp tập trung gần ngọn
Trang 20Lá mọc cách, cấu tạo lá hình trái xoan tròn, đầu có mũi lồi ngắn, đuôi gần tròn, dài 4 – 10cm, rộng 2 – 6cm, mặt trên xanh lục, mặt dưới trắng bạc, các gân lá đều lõm ở mặt trên Mép lá đôi khi có răng cưa
Hoa tự chùm viên chùy dài tới 18cm, đài hình ống có 5 răng tràng có màu trắng xếp lợp phủ nhiều lông Quả hình trái xoan gần tròn khi chín phủ lông xám hình sao, khi chín quả khô nứt làm 3 mảnh, trrong có 1 hạt, hạt hình trứng có vỏ cứng Quả khi non có màu xanh, khi chín vỏ quả màu nâu nhạt
(Lương Thị Anh và Mai Quang Trường, Giáo trình trồng rừng 2007)[1]
Ra hoa tháng 3-4, quả chín tháng 8-9
Là cây ưa sáng, ưa đất Feralit đỏ vàng, độ ẩm cao Trong tự nhiên cây thường mọc lên sau nương rẫy hoặc sau rừng mới bị tàn phá để phơi đất trống Chủ yếu phân bố trong rừng thứ sinh ở các tỉnh phía Bắc, Việt Nam
Bồ đề có tán lá mỏng và thưa Hoa trắng và thơm, có thể được trồng làm cảnh quan sân vườn, đường phố
Gỗ Bồ đề trắng, mềm, nhẹ, thớ mịn và đều Gỗ Bồ đề đồng nhất, không
có lõi, tỷ lệ vỏ thấp, sử dụng thuận lợi cho công nghiệp giấy và làm diêm Thân cây Bồ đề còn tiết ra một loại nhựa thơm, nhựa này được gọi là cánh kiến trắng (an tức hương, Benzori) là nguyên liệu dùng trong công nghiệp chế biến và y học, chế biến định hương trong nghề làm nước hoa, điều chế axit Benzori, trong công nghiệp chế biến vecni và một số loại sơn đặc biệt (Lương
Thị Anh và Mai Quang Trường, Giáo trình trồng rừng 2007 )[1]
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
* Vị trí địa lý:
Đề tài được tiến hành tại mô hình khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, căn cứ vào bản đồ địa
lý Thành Phố Thái nguyên thì vị trí của trường như sau:
- Phía Bắc giáp với phường Quan Triều
- Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
Trang 21- Phía Tây giáp với xã Phúc Hà
- Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại học Nông lâm Thái nguyên (viện thổ nhưỡng nông hóa 1998)[12]
* Địa hình:
Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao Độ dốc trung bình 10 - 15°, độ cao trung bình 50 - 70m, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Vườn ươm nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là loại đất feralit phát triển trên đá sa thạch Theo kết quả phân tích mẫu đất của trường thì ta nhận thấy:
- Độ pH của đất thấp điều đó chứng tỏ đất ở đây chua
- Đất nghèo mùn, hàm lượng N, P2O5 ở mức thấp Chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng
Vườn ươm khoa Lâm nghiệp thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là loại đất Feralit phát triển trên đá Sa thạch Do vườn ươm mới chuyển về đây nên đất lấy để hoạt động đóng bầu gieo cây là đất mặt ở đồi tương đối tốt Theo kết quả phân tích mẫu đất của trường thì chúng ta có thể nhận thấy:
Bảng 2.1 Kết quả phân tích mẫu đất
Trang 22* Đặc điểm khí hậu, thời tiết:
Do khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa; Xuân - Hạ - Thu - Đông, song chủ yếu là 2 mùa chính; Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau
Do địa hình thấp dần từ vùng núi xuống trung du đồng bằng theo hướng Bắc – Nam, nên có thể thấy được sự khác biệt theo lãnh thổ mức độ lạnh khác nhau
Gió, bão: Hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa nóng là gió mùa Đông Nam và mùa lạnh là gió mùa Đông Bắc Do nằm xa biển nên xã Quyết Thắng nói riêng và thành phố Thái Nguyên nói chung ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão
Tỉnh Thái Nguyên có độ ẩm khá cao, trừ tháng 1, các tháng còn lại tương đối đều trên 80% Là tỉnh chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc làm cho nhiệt độ thường hạ xuống đột ngột xuất hiện thời tiết sương muối ảnh hưởng đế sinh trưởng của cây
Đặc điểm khí hậu của xã Quyết Thắng nằm trong địa bàn tỉnh Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho sự nghiệp một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, có giá trị đối với nông – lâm nghiệp
Trang 23PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là cây Bồ đề (Styrax tonkinensis Pierre) được gieo ươm từ
hạt ở giai đoạn vườn ươm
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Bồ đề tại vườn ươm trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
3.2 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng được mục tiêu đề tài thực hiện một số nội dung sau:
+ Ảnh hưởng của công thức hỗn hợp ruột bầu đến tỷ lệ sống của cây Bồ
+ Dự tính tỷ lệ xuất vườn của cây Bồ đề ở các công thức thí nghiệm
3.3 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa, chọn lọc các tài liệu, số liệu, kết quả đã nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm – bố trí thì nghiệm
- Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu điều tra: Từ những số liệu thu thập qua các mẫu biểu điều tra ngoại nghiệp, tôi tiến hành tổng hợp và phân tích kết quả thí nghiệm bằng các phương pháp thống kê toán học trong Lâm Nghiệp
Trang 243.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bước 1: Chuẩn bị công cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu
- Hạt giống, túi bầu, đất tầng B, sàng đất
- Thước đo cao, thước dây, thước kép
- Công thức 1: Không có phân (đối chứng)
- Công thức 2: 95% đất + 5% phân chuồng hoai mục
- Công thức 3: 90% đất + 10% phân chuồng hoai mục
- Công thức 4: 80% đất + 20% phân chuồng hoai mục
Cách bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD), mỗi công thức 30 bầu được lặp lại 3 lần là 90 bầu, tổng
4 công thức thí nghiệm có 360 bầu, xung quanh có dải bảo vệ Hạt gieo vào bầu, hỗn hợp ruột bầu gồm đất và phân hữu cơ trộn theo tỷ lệ Bầu được xếp vào 4 ô thí nghiệm ở vườn ươm, chế độ tưới nước và chăm sóc giống nhau nhưng ở 4 điều kiện bón phân khác nhau
Trang 25Bước 3: Thực hiện gieo ươm và chăm sóc thí nghiệm:
- Tạo bầu:
Đất ruột bầu được đập nhỏ, sàng loại bỏ rễ cây, sỏi đá, tạp vật rồi trộn đều với phân theo các công thức trên Vỏ bầu bằng Polyetylen kích thước 8 x 12cm có đáy đục lỗ 2 bên
- Tạo luống đặt bầu:
Luống rộng dài theo mô hình bố trí TN, mặt luống được rẫy sạch cỏ dại, san phẳng, nền đặt bầu là nền đất cố định (chặt)
- Đóng và xếp bầu:
Trộn đều hỗn hợp ruột bầu theo tỷ lệ công thức, hỗn hợp ruột bầu đủ ẩm Cho đất vào 1/3 bầu nén chặt để tạo đáy bầu, tiếp tục cho đất vào đầy bầu, dỗ cho đất xuống đều Bầu được xếp sát nhau trên luống Vun đất xung quanh bầu cao 2/3 thân bầu xung quanh luống để giữ bầu không bị nghiêng ngả, giữ ẩm cho luống cây
- Xử lý kích thích hạt: Loại bỏ hạt lép, lửng: Cho hạt vào nước lã sạch,
loại bỏ hạt lép, lửng Lấy hạt chín (hạt chắc) Rửa sạch hạt chắc (dùng nước sạch rửa hạt), ngâm hạt giống vào nước nóng 2 sôi 3 lạnh (35- 400C) từ 3- 4 tiếng Vớt hạt đã qua xử lý đem ủ nứt nanh sau đó đem gieo
- Tra hạt vào bầu: Trước khi tra hạt, bầu đất phải được tưới đất đủ ẩm
trước đó 1 ngày Chọn những hạt nhú mầm, dùng que cấy để tạo lỗ giữa bầu
sâu gấp đôi đường kính hạt sau đó tra hạt vào bầu và lấp đất bầu kín hạt
- Chăm sóc cây con
+ Tưới nước: Tưới đủ ẩm cho cây con vào sáng sớm và chiều mát Số
lần tưới nước tùy thuộc vào điều kiện thời tiết và độ ẩm của đất trong bầu Thì nghiệm luôn giữ đủ độ ẩm cho cây, tạo điều kiện cho cây sinh trưởng Bình quân lượng nước tưới cho mỗi lần là 3-5 lít/m2
+ Cấy dặm: Nếu cây nào chết cấy dặm ngay, đảm bảo mỗi bầu có 1 cây
sinh trưởng tốt
Trang 26+ Nhổ cỏ phá váng: Trước khi nhổ cỏ phá váng cho luống bầu cây, tưới
nước cho đủ ẩm trước khoảng 1-2 tiếng cho bầu ngấm đủ độ ẩm Nhổ hết cỏ trong bầu và quanh luống, kết hợp xới nhẹ, phá váng bằng một que nhỏ, xới
xa gốc, tránh làm cây bị tổn thương, trung bình 10-15 ngày/lần
3.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Theo dõi các chỉ tiêu sau: Tỷ lệ sống, số lá, chiều cao Hvn, đường kính cổ rễ D00
Phương pháp theo dõi:
- Tỷ lệ sống của cây (%): Đếm tổng số cây còn sống của mỗi công thức
- Số lá trên cây (lá): Đếm tổng số lá trên từng cây cho mỗi công thức
Mẫu bảng 3.1: Các chỉ tiêu sinh trưởng H vn , D 00 , chất lượng của cây con
𝑛
𝑖=1
Trang 27𝐷𝑜𝑜 = 1
𝑛
𝑖=1Trong đó: 𝐻̅vn: Là chiều cao vút ngọn trung bình
𝐷 ̅oo: Là đường kính gốc trung bình
Di: Là giá trị đường kính gốc của một cây
Hi: Là giá trị chiều cao vút ngọn của một cây
n: Là dung lượng mẫu điều tra
i: Là thứ tự cây thứ i
- Phân tích và xử lý số liệu trên excel: các chỉ số thống kê như chỉ số trung bình 𝐻̅vn, 𝐷̅oo, được thực hiện bằng phần mền excel với hàm Sum (), hàm Average ()…
- Sử dụng phần mềm SAS 9.0 để đánh giá sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm và phân tích xếp hạng giữa các công thức theo Duncan
+ Đánh giá tỷ lệ cây con xuất vườn:
Kết quả tính ghi vào mẫu bảng 3.2:
Mẫu bảng 3.2: Tỷ lệ cây con xuất vườn của các công thức hỗn hợp
ruột bầu
CTTN
xuất vườn (%)
Trang 28Cây tốt: Là cây phát triển cân đối về chiều dài, chiều cao không sâu
bệnh cụt ngọn …
Cây trung bình: Là những cây có chiều cao thấp hơn so với cây tốt, cây
phát triển không đều, không sâu bệnh, không cụt ngọn …
Cây xấu: Là những cây có chỉ tiêu sinh trường số lá số mầm chiều cao
kém hơn cây trung bình, sâu bệnh cụt ngọn…