1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ THU QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI

22 572 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội và thu quỹ Bảo hiểm xã hội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 36,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, BHXH là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đếnnay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới.. Như vậy, "BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phầ

Trang 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ THU QUỸ BẢO HIỂM

XÃ HỘI

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BHXH

1 Khái niệm và sự cần thiết khách quan của BHXH

Bảo hiểm xã hội ( BHXH ) ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nềncông nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu

Âu Như vậy, BHXH là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đếnnay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới So với các loại hình bảohiểm khác, đối tượng, chức năng và tính chất của BHXH có những điểm khác biệt

do bản chất của nó chi phối

Con người muốn tồn tại và phát triển thì trước hết phải thoả mãn những nhucầu tối thiểu như ăn, mặc, ở, đi lại do vậy họ phải lao động để làm ra những sảnphẩm cần thiếp Khi sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con ngườingày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Như vậy việcthoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vàochính khả năng lao động của họ Nhưng trong thực tế không phải lúc nào conngười cũng gặp thuận lợi, có thu nhập và điều kiện sống bình thường mà ngoài ra

có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bịgiảm hoặc mất thu nhập và các điều kiện sinh sống khác Những trường hợp như

ốm đau, tai nạn lao động, mất khả năng lao động do tuổi tác những trường hợpnày, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cáicòn tăng lên thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như cần được khámchữa bệnh và điều trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần có người chăm sóc,nuôi dưỡng Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loàingười phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: đi vay,san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi xin hoặc sự cứu trợ của Nhànước Nhưng rõ ràng các cách đó hoàn toàn thụ động và không chắc chắn

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn công nhân trở lên phổbiến Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải camkết cả việc đảm bảo cho người làm thuê có số thu nhập nhất định để họ trang trảinhững nhu cầu thiết yếu khi không may họ bị tai nạn, ốm đau, thai sản Trongthực tế nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi trảmột đồng nào, tuy nhiên nhiều khi nó lại xảy ra dồn dập buộc họ phải bỏ ra một lúcmột khoản tiền lớn mà họ không muốn Vì thế, mâu thuẫn chủ thợ phát sinh Giớithợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ phải thực hiện cam kết Cuộc đấu tranh nàydiễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội

Do vậy, Nhà nước phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự can thiệp nàymột mặt làm tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc giới chủ và thợ phải

Trang 2

đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán một cách chặt chẽdựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của

cả chủ và thợ hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Quỹnày còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sốngcho người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi Chính nhờ những mối quan

hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống củangười lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định Giới chủ cũngthấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường tránhđược những xáo trộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹ tập trung được thiết lậpngày càng lớn và nhanh chóng Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngàycàng đảm bảo

Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trênđược thế giới quan niệm là bảo hiểm xã hội đối với người lao động Như vậy,

"BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người laođộng khi gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việclàm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đờisống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội"

Qua khái niệm về bảo hiểm xã hội ta có thể thấy được sự cần thiết củaBHXH đối với người lao động và xã hội BHXH có những chức năng chủ yếu sauđây:

- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảohiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việclàm Sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng mấtkhả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theocác điều kiện quy định của BHXH Còn mất việc làm và mất khả năng lao độngtạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập cũng sẽ được hưởng trợ cấp cần thiết, thờiđiểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy định Đây là chức năng cơ bản nhấtcủa BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế hoạt động của BHXH

- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham giaBHXH Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những người sử dụnglao động Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH Quỹ này dùng đểtrợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ gặp phải biến cố làm giảm haymất thu nhập Số lượng những người này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số nhữngngười tham gia đóng góp Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thựchiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang Phân phối lại giữanhững người có thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những người khoẻ mạnh đanglàm việc với những người ốm đau phải nghỉ việc Thực hiện chức năng này cónghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội

- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng caonăng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội Khi khoẻ mạnh tham gia

Trang 3

lao động sản xuất, người lao động được chủ sử dụng lao động trả lương hoặc tiềncông Khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hoặc khi vềgià đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất Vì thế cuộc sống của họ

và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa Do đó người lao độngluôn yên tâm gắn bó tận tình với công việc và với nơi làm việc Từ đó họ rất tíchcực lao động, sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Chứcnăng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng caonăng xuất lao động cá nhân và kéo theo năng suất lao động xã hội

- Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa laođộng với xã hội Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụnglao động có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thờigian lao động Thông qua BHXH những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giảiquyết Đặc biệt cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo

vệ Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau Đối với Nhànước và xã hội chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhấtnhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình

họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế chính trị và xã hội được phát triển,

an toàn hơn

2 Quá trình hình thành và phát triển của BHXH.

BHXH đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó từ thế kỷ 13 ở Nam Âukhi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển Tuy nhiên, ban đầuBHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp Từ thế kỷ XVI đến thế kỷXVIII một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, để bảo vệ lẫn nhau trong hoạt độngnghề nghiệp họ đã thành lập nên các loại quỹ tương trợ để giúp nhau.( ở Anh năm) đã thành lập hội "bằng hữu" để giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau hau tai nạnnghề nghiệp)

Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, BHXH lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, pháttriển rất phong phú, đa dạng và có nhiều thay đổi bổ sung BHXH ngày càng có vịtrí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một trong các trung tâm chú ý củanhiều quốc gia và tổ chức quốc tế

Theo Công ước Giơnever - 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế(TLO) đã xác địnhBHXH gồm 9 chế độ sau:

Trang 4

- Trợ cấp gia đình

- Trợ cấp thai sản

- Trợ cấp khi tàn phế

- Trợ cấp cho người còn sống( trợ cấp mất người nuôi dưỡng)

Nhưng trên thực tế không phải nước nào cũng thực hiện được toàn bộ 9 chế

độ trên và không phải nước nào cũng có phạm vi, đối tượng nguồn hình thành quỹgiống nhau Có nghĩa là việc thực hiện BHXH ở những nước khác nhau thì khácnhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước và hoàn cảnh cụ thể của mỗi giaiđoạn phát triển mà mỗi nước có những hình thức áp dụng khác nhau cho phù hợp.Trên thế giới có 35 nước thực hiện được 9 chế, 37 nước chưa thực hiện đượcchế độ thứ 3 ( trợ cấp thất nghiệp), 67 nước chưa thực hiện được chế độ thứ 3 vàchế độ thứ sáu ( trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp gia đình)

TạiViệt Nam dưới chính quyền Pháp thuộc, chúng đã thực hiện BHXH đốivới công chức và quân nhân Việt Nam hưởng lương phục vụ trong bộ máy hànhchính và quân đội Pháp ở Đông Dương khi họ ốm đau, tuổi già hoặc chết Còn đốivới công nhân Việt Nam việc thực hiện BHXH hết sức khó khăn, gần như chínhquyền Pháp không công nhận một quyền lợi nào về BHXH Công nhân Việt Namchết, ốm đau, tai nạn trong các nhà máy, đồn điền cao su không được mai táng,chữa bệnh, phụ nữ sinh đẻ vẫn phải làm việc, trẻ em sinh ra yếu ớt không đượcchăm sóc

Từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà được thành lập Chính phủ đã banhành nhiều văn bản pháp luật về BHXH.Sắc lệnh 54SL ngày 14\6\1946 ấn địnhviệc cấp hưu bổng cho công chức Hai sắc lệnh này quy định công chức phải đóngbảo hiểm và trong quỹ hưu bổng có phần đóng thêm của nhà nước Sắc lệnh 76/SLngày 20\5\1950 ấn định cụ thể hơn các chế độ trợ cấp hưu trí , thai sản và chăm sóc

y tế, tai nạn và tiền tuất đối với công chức Trong khu vực sản xuất lúc này chưathành lập quỹ BHXH , Nhưng sắc lệnh 29\SL ngày 12\3\1947 và sắc lệnh 77/SLngày 22\5\1950 đã ấn định cụ thể hơn các chế độ trợ cấp hưu trí tai nạn laođộng , ốm đau , thai sản , tử tuất đối với công nhân

Sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc , thực hiện hiến pháp năm 1949 Hộiđồng chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân

Trang 5

vieen chức nhà nước kèm theo nghị định 218/CP ra ngày 27\12\1961 của hội đồngchính phủ quy điịnh như sau: Chế độ trợ cấp BHXH gồm 6 loại :

3 Tính chất của bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội gắn liền với người đời sống của người lao động, vì vậy nó cómột số tính chất cơ bản sau:

- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội

Trong quá trình lao động sản xuất người lao động có thể gặp phải nhiều biến

cố, rủi ro khi đó người sử dụng lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn khôngkém như: sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng và hợp đồng laođộng luôn phải được đặt ra để thay thế v.v Sản xuất càng phát triển, những rủi rođối với người lao động và những khó khăn đối với người sử dụng lao động càngnhiều và trở nên phức tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ – thợ ngày càng căng thẳng

Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua bảo hiểm xãhội Và như vậy, bảo hiểm xã hội ra đời hoàn toàn mang tính khách quan trong đờisống kinh tế xã hội của mỗi nước

- Bảo hiểm có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian vàkhông gian Tính chất này thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của bảo hiểm xãhội Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp của các bên tham gia

Trang 6

để hình thành quỹ bảo hiểm xã hội Từ những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thờigian và không gian đến mức trợ cấp bảo hiểm xã hội theo từng chế độ cho ngườilao động v.v

- Bảo hiểm vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội , đồng thời còn có tính dịchvụ

Tính kinh tế thể hiện rõ nhất là ở chỗ, quỹ bảo hiểm xã hội muốn được hìnhthành, bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phảiđược quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích Mức đóng góp của các bên phảiđược tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại của tập hợp người laođộng tham gia bảo hiểm xã hội Quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu dùng để trợ cấp chongười lao động theo các điều kiện của bảo hiểm xã hội Thực chất, phần đóng gópcủa mỗi bên người lao động là không đáng kể, nhưng quyền lợi nhận được là rấtlớn khi gặp rủi ro Đối với người sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹbảo hiểm xã hội là để bảo hiểm cho người lao động mà mình sử dụng Xét dướigóc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trảicho những người lao động bị mất hoặc giảm khả năng lao động Với Nhà nước,bảo hiểm xã hội góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách, đồng thời quỹ bảohiểm xã hội còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nên kinh tế quốc dân

BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống đảm bảo xã hội vì vậy tính xã hội của

nó thể hiện rất rõ Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyềntham gia BHXH Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọingười lao động và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động Tính

xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính chấ dịch vụ của nó Khi nền kinh tế – xãhội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũng ngàycàng cao

II: THU QUỸ BHXH VÀ VẤN ĐỀ CHỐNG THẤT THU.

1 Quỹ bảo hiểm xã hội

a Khi niệm về quỹ bảo hiểm xã hội

Trang 7

Quỹ BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm:người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước nhằm mục đích chi trả cho cácchế độ BHXH và đảm bảo hoạt động của hệ thống BHXH.

Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhànước

b Đặc điểm

- Là một quỹ tiền tệ tập trung, giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong hệthống tài chính quốc gia Là tổ chức tài chính nằm giao thoa giữa ngân sách Nhànước với các tổ chức tài chính Nhà nước, tài chính doanh nghiệp và sau đó là tàichính dân cư

- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả, vừa mang tính không hoàntrả Tính không hoàn trả của quỹ BHXH được áp dụng với những người đã thamgia BHXH trong suốt qúa trình lao động nhưng không ốm đau, tai nạn lao động,sinh con

- Sự ra đời, tồn tại và phát triển của BHXH gắn liền với chức năng vốn có củaNhà nước là vì quyền lợi của người lao động chứ không vì mục đích kiếm lời,đồng thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và điều kiện lịch

sử trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia Khi nền kinh tế càng phát triển thì càng cónhiều chế độ BHXH được thực hiện, và bản thân từng chế độ cũng được áp dụngrộng rãi hơn, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao động càng được nângcao Mặt khác, khi nền kinh tế phát triển thì mức thu nhập của người lao động càngcao và họ càng có khả năng tham gia vào nhiều chế độ BHXH

- Một mặt, quỹ BHXH mang tính tiêu dùng được thể hiện thông qua mục tiêu,mục đích của nó là chi trả cho các chế độ BHXH Nhưng mặt khác nó lại mangtính dự trữ vì thông thường, khi người lao động đóng góp vào quỹ BHXH thì họkhông được quỹ này chi trả ngay khi gặp rủi ro mà phải có đủ thời gian dự bị

Trang 8

- Hoạt động của quỹ BHXH đặt ra yêu cầu và hình thành tất yếu chế độ tiếtkiệm bắt buộc của xã hội và người lao động dành cho ốm đau, hưu trí Đó cũng làquá trình phân phối lại thu nhập của cá nhân và cộng đồng.

c Nguồn quỹ bảo hiểm xã hội

Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhànước

Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

- Người sử dụng lao động đóng góp

- Người lao động đóng góp

- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm

-Người tự nguyện tham gia BHXH đóng

- Các nguồn thu khác( như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu

tư phần quỹ nhàn rỗi )

Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH chongười lao động được phân chia cho cả người sử dụng lao động và người lao độngtrên cơ sở quan hệ lao động Điều này không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợiích giữa hai bên Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXHcho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiềnlớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê mướn Đồng thời nócòn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo được mối quan hệ tốt đẹpgiữa chủ – thợ Về phía người lao động, sự đóng góp một phần để BHXH chomình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩaràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ

Mối quan hệ chủ – thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích Vì thế,cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếuđược sự tham gia đóng góp của Nhà nước Trước hết các luật lệ của Nhà nước vềBHXH là những chuẩn mực pháp lý mà cả người lao động và người sử dụng lao

Trang 9

động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ thợ trong lĩnh vực BHXH có cơ sởvững chắc để giải quyết Ngoài ra, bằng nhiều hình thức khác nhau, Nhà nướckhông chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH, mà còn trở thành chỗdựa để đảm bảo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định.

Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ cácnguồn nêu trên Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bêntham gia BHXH có khác nhau

Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng laođộng hiện vẫn còn hai quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vàomức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp Quan điểm thứ hai lạinêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đốichung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp

Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phảichịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y tế và trợcấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùngđóng góp mỗi bên một phần bằng nhau Một số nước khác lại quy định, Chính phủ

bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí Quản lý BHXH v.v

Bảng 1: Mức đóng BHXH ở một số nước trên thế giới

Tên

nước

Chính phủ Tỷ lệ đóng góp của

người lao động sovới tiền lương (%)

Tỷ lệ đóng góp củangười sử dụng lao động

so với quỹ lương(%)CHLB Đức Bù thiếu 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6

Trang 10

ốm đau,thai sản

(Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới)

Ở nước ta, từ năm 1962 đến năm 1987, quỹ BHXH chỉ được hình thành từhai nguồn: các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7% quỹ lương của xí nghiệp,phần còn lại do ngân sách Nhà nước đài thọ Thực chất là không tồn tại quỹ BHXHđộc lập Từ năm1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp 15% quỹlương của đơn vị Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường,Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP ngay 22/06/1993 và Điều lệ BHXH ViệtNam ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995, trong các văn bản nàyđều quy định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây:

- Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương củanhững người tham gia BHXH trong đơn vị Trong đó 10% để chi trả các chế độhưu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp

- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chế độ hưu trí và

- Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có

cơ sở xác định mức phí đóng

- Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó mới xác định mức hưởng

Trang 11

- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng,rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phải đóng.

- Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kỹ thuật nhưng xác định phí BHXH lại kháphức tạp vì nó liên quan đến cả người lao động, người sử dụng lao động và Nhànước Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và điều kiệnphát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên, khi xác định phí BHXH vẫn phảiđảm bảo các nguyên tắc : cân bằng thu chi , lấy số đông bù số ít và có dự phòng.Mức phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH và điềuchỉnh sao cho tối ưu nhất

Phí BHXH được xác định theo công thức:

P= f1+f2+f3

Trong đó: P: Phí BHXH

f1: phí thuần tuý trợ cấp BHXHf2: phí dự phòng

f3: phí quản lýPhí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả các chế độ ngăn hạn và dài hạn Đối vớicác chế độ BHXH ngắn hạn việc đóng và hưởng BHXH xảy ra trong thời gianngắn( thường là 1 năm) như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động nhẹ Vì vậy, sốđóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm Đối với chế độ BHXHdài hạn như: hưu trí , trợ cấp mất người nuôi dưỡng, tai nạn lao động hoặc bệnhnghề nghiệp nặng v.v quá trình đóng và quá trình hưởng BHXH tương đối độclập với nhau và diễn ra trong khoảng thời gian nhất định Cho nên sự cân bằng giữađóng góp và hưởng BHXH phải được dàn trải trong cả thời kỳ dài Vì thế, ngoàiphí thuần tuý phải có phí dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn

d Mục đích sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội

Quỹ bảo hiểm xã hội bao gồm 3 bộ phận: phí thuần, phí quản lý và phí dự trữ.Như vậy, quỹ bảo hiểm xã hội được sử dụng cho 3 mục đích: chi trả cho các chế độ

Ngày đăng: 26/10/2013, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Mức đóng BHXH ở một số nước trên thế giới - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI  VÀ THU QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
Bảng 1 Mức đóng BHXH ở một số nước trên thế giới (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w