Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 1THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG SOẠN GIÁO ÁN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Vũ Thị Ngọc Tú
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
1 Đặt vấn đề
Bước sang thế kỉ XXI, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã có tác động to lớn tới hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia
Hệ thống giáo dục sẽ không còn đơn thuần là từ phía nhà trường Hệ thống kiến thức nhà trường trang bị cho học sinh dần không thoả mãn với nhu cầu học tập và rất dễ bị lạc hậu Lượng thông tin phải luôn được đổi mới, người học phải thường xuyên được trang bị bổ sung các thông tin mới Trước tình hình đó, Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc Hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, Chỉ thị 58- CT/TW của Bộ Chính trị, Quyết định 81/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, Chỉ thị 29/2001/CT-BGD-ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo [1] đã chỉ rõ mục tiêu tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục nhằm góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của công nghệ thông tin trong tiến trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước
Vì vậy, cùng với hiện đại hóa giáo dục, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học và đặc biệt trong thiết kế bài giảng là cần thiết để nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay Đối với quá trình giáo dục, sự đa dạng và phong phú của các phần mềm dạy học, công nghệ thông tin có thể trợ giúp đắc lực cho quá trình soạn giáo án dạy học bởi những lí do sau đây [2]:
Thứ nhất, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học có thể hỗ trợ cho nhiều hình thức dạy học khác nhau như dạy học giáp mặt; dạy học từ xa; học dựa trên công nghệ web; học điện tử; đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng cao của các thành phần khác nhau trong xã hội
Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học dẫn đến việc giao cho máy tính thực hiện một số chức năng của người thầy giáo ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học
Với mong muốn tìm hiểu thực trạng sử dụng công nghệ thông tin khi soạn giáo án của sinh viên hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp khắc phục,
Trang 2chúng tôi tiến hành khảo sát “Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội”
2 Nội dung
2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội
* Khách thể nghiên cứu: Với đề tài này chúng tôi điều tra, khảo sát trên 240 sinh viên năm thứ 4 của các khoa: Toán, Vật lý, Hóa học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý
2.2 Một số quan niệm về giáo án có sử dụng công nghệ thông
tin
Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thức, thống nhất về loại giáo án này Có thể bắt gặp nhiều tên gọi như: “giáo án số hoá”, “giáo án có kết nối (trực tuyến/ngoại tuyến)”, “giáo án điện tử” Tất cả các cách gọi tên giáo án như trên mới chỉ thể hiện ở hình thức chứ chưa nêu được bản chất của nó Về bản chất, giáo
án sử dụng công nghệ thông tin có thể hiểu theo hai cách [3]:
- Như một “sản phẩm” điện tử được số hóa (giáo trình điện tử, giáo án điện
tử, hồ sơ dạy học ) được thiết kế, tổ chức theo ý đồ, mục tiêu sư phạm nhất định Sản phẩm này có thể dùng độc lập hoặc tích hợp với các bài giảng truyền thống hiện nay
- Như một “quá trình” dạy học được điện tử hóa, số hóa Quá trình dạy học này cho phép người học, người dạy và nội dung tri thức tương tác với nhau trong môi trường số hóa (thường là mạng Internet, đĩa CD – Rom) ở mọi lúc, mọi nơi Giáo án điện tử về cơ bản khác với giáo án truyền thống ở những điểm sau:
- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian
- Mềm dẻo, có thể tương tác được
- Tạo ra môi trường học tập bình đẳng, phù hợp với các đối tượng khác nhau
- Tạo ra khả năng tích hợp mạnh mẽ các ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
- Tạo ra sự thay đổi căn bản trong quan niệm về vị trí, vai trò của người dạy, người học
Theo chúng tôi, giáo án điện tử là một tổ hợp sản phẩm và các dịch vụ, hoạt động của người dạy (được thiết kế nhờ ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ thông tin) và người học nhằm giải quyết những mục tiêu dạy học, đảm bảo tính toàn vẹn
và thống nhất của quá trình dạy học
Trang 32.3 Kết quả nghiên cứu
2.3.1 Mức độ sử dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án
Bảng 1 Các mức độ sử dụng công nghệ thông tin
trong soạn giáo án
Các mức độ
Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ
Qua bảng số liệu cho thấy sinh viên của 6 khoa đã sử dụng công nghệ thông tin khi soạn giáo ở mức thỉnh thoảng chiếm tỷ lệ cao nhất (50.8%), ở mức hiếm khi chiếm 28.8%, ở mức thường xuyên chiếm 19.6%, cũng có 0.8% số sinh viên không bao giờ sử dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án Điều này chứng tỏ sinh viên chưa ứng dụng nhiều công nghệ thông tin, các phần mềm dạy học trong soạn giáo án
Cụ thể mức độ sinh viên có sử dụng công nghệ thông tin của các khoa được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2 Mức độ sử dụng CNTT của các Khoa Các mức độ Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ
Để hiểu thêm vì sao một số sinh viên chỉ thỉnh thoảng hoặc không bao giờ sử dụng công nghệ thông tin, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu một số em sinh viên của khoa Hóa học Các em cho biết: Do các em ít có cơ hội được học một cách bài bản hệ thống các phần mềm ứng dụng trong dạy học nên không biết cách sử dụng những phần mềm đó vào việc soạn giáo án cụ thể Phần lớn các em biết được
là do tự học và tự tìm hiểu nghiên cứu nên các em không thường xuyên ứng dụng vào việc soạn giáo án
Với những em thường xuyên sử dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án thì cho biết: Các em có niềm đam mê, hứng thú với những phần mềm ứng dụng trong dạy học nên các em thường xuyên sử dụng khi soạn giáo án Tìm hiểu về các phương tiện khi soạn giáo án, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Trang 4Bảng 3 Các phương tiện khi soạn giáo án ở từng khoa
Khoa
Các phương tiện công nghệ thông tin khi soạn giáo án Bài trình bày Truy cập Thiết kế trang Xây dựng ấn
Qua bảng số liệu cho thấy tỷ lệ giữa các khoa sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin khi soạn giáo án giữa các khoa có sự chênh lệch không đáng kể Nhưng ở từng phương tiện cụ thể thì có sự chêch lệch khá rõ ràng thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4 Các phương tiện sử dụng trong soạn giáo án điện tử
Sự chênh lệch nhiều được thể hiện ở phương tiện truy cập Internet chiếm 52.1%, còn các phương tiện khác như bài trình bày đa phương tiện (4.6%), thiết kế trang Web (17.1%), xây dựng ấn phẩm (17.1%) Điều đó cho thấy khai thác thông tin trên mạng Internet là phương tiện được các em sử dụng nhiều nhất, bởi vì sử dụng Internet đem lại nội dung thông tin phục vụ cho việc soạn giáo án một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất
Bên cạnh việc sử dụng các phương tiện khi soạn giáo án thì các em cũng sử dụng một số phần mềm dạy học để áp dụng vào từng bài soạn cụ thể như sau:
Bảng 5 Các phần mềm Các phần M.Powerpoint M.Encatar Pc fact Violet Các phần mềm
Trong các phần mềm được sử dụng trong soạn giáo án thì các em sử dụng các phần mềm chuyên ngành ở mức độ cao nhất (28.3%), sau đó là phần mềm Violet
Trang 5(công cụ soạn thảo dành cho giáo viên) chiếm 25.4%, M Encatar chiếm 22.5% Sở
dĩ các em sử dụng phần mềm chuyên ngành ở mức độ cao là do phần mềm này có nhiều ứng dụng thiết thực vào trong bài soạn giáo án, còn các phần mềm khác chỉ mang tính hỗ trợ tương tác
2.3.2 Mức độ vận dụng các phương tiện khi soạn giáo án trong bài dạy Bảng 6 Việc sử dụng các phương tiện của sinh viên trong bài dạy
(%)
Dưới 50%
số bài (%)
Trên 50%
số bài (%)
Hơn 80%
số bài (%)
Sử dụng sách giáo khoa như
tài liệu hướng dẫn giảng dạy
cơ bản
Sử dụng các câu hỏi định
Sử dụng Internet để hỗ trợ
thêm cho việc xây dựng các
hoạt động trong bài học
Sử dụng máy tính để quản lý
Sử dụng công nghệ thông tin
Yêu cầu học sinh xem xét và
Yêu cầu học sinh trình bày
Yêu cầu học sinh làm các bài
Yêu cầu học sinh thực hiện
Yêu cầu học sinh tự chọn chủ
Yêu cầu học sinh sử dụng
công nghệ thông tin để học
các kĩ năng tư duy bậc cao
(như phân tích, xây dựng giả
thuyết, tư duy phê phán)
Số liệu trên cho thấy:
- Chủ yếu sinh viên sử dụng sách giáo khoa như tài liệu hướng dẫn giảng dạy
cơ bản
Trang 6- Việc sử dụng hệ thống bộ câu hỏi để thiết kế bài học được sử dụng nhiều thứ hai Việc sinh viên biết xây dựng bộ câu hỏi định hướng để sử dụng trong các bài học là rất tốt Bởi vì vấn đề cốt lõi trong các phần mềm dạy học là xây dựng
bộ câu hỏi định hướng để phát triển tư duy bậc cao cho học sinh Qua nội dung các bài soạn của sinh viên cho thấy: sinh viên bước đầu đã chú ý thiết kế và sử dụng các câu hỏi phát triển tư duy học sinh Đó là những câu hỏi tái hiện (mức 1), hiểu nội dung (mức 2), liên hệ thực tế và vận dụng (mức 3), và cuối cùng là câu hỏi tổng kết bài ở mức độ tổng hợp kiến thức và vận dụng những hiểu biết thực tế của học
để trả lời Nhìn chung các câu hỏi của sinh viên trong khi soạn giáo án mới chỉ là những câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung mà chưa có câu hỏi khái quát
- Trong soạn giáo án, sinh viên chưa khi nào yêu cầu học sinh sử dụng công nghệ thông tin tìm kiếm thông tin, phát triển tư duy bậc cao, trình bày sản phẩm
và tự đánh giá chiếm tỷ lệ cao (42.1%)
- Bản thân sinh viên dùng Internet để hỗ trợ xây dựng các hoạt động trong bài học ở mức dưới 50% còn nhiều (54.6%), và chưa sử dụng công nghệ thông tin
để trình bày bài học cho học sinh cũng còn 42.1%
2.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng công nghệ thông tin
trong soạn giáo án
Theo ý kiến của những sinh viên đã vận dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án có gặp những khó khăn như trong Bảng 7
Nhìn vào cột "Rất tán thành" và "Đồng ý" có thể phân loại các khó khăn thành nhóm những yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án như sau:
* Yếu tố thời gian
Khó khăn về thời gian là yếu tố được sinh viên xác định với tỉ lệ cao trong số những yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án,
cụ thể là:
- Không có đủ thời gian để trình bày trên lớp nếu sinh viên sử dụng các phần mềm dạy học (70%)
- Không có đủ thời gian để chuẩn bị bài soạn (chiếm 66,7%)
Điều này là một thực tế vì thầy và trò phải hoàn thành chương trình, nội dung học tập quá nặng Chúng tôi tiến hành phỏng vấn một số giáo viên đã triển khai bài dạy có sử dụng công nghệ thông tin cho biết: Giáo viên phải đầu tư trước từ
2 đến 3 tuần để xây dựng kế hoạch bài dạy Do đó, soạn giáo án có sử dụng công nghệ thông tin mất nhiều thời gian, nhưng đổi lại tác dụng của nó rất lớn
* Cấu trúc chương trình dạy học, cách đánh giá kết quả học tập của HS
Điều làm cho sinh viên thấy: "Không dễ đưa các bài có sử dụng CNTT vào
Trang 7trong chương trình của lớp mình dạy" (chiếm 57,8%) vì:
- Chương trình phổ thông Việt Nam được thiết kế theo cấu trúc tuyến tính theo chương, bài học (không theo chủ đề) nên không thuận lợi cho việc áp dụng công nghệ thông tin vào bài soạn cụ thể Đồng thời việc chỉ đạo thực hiện chương trình SGK của các cấp quản lý GD còn cứng làm hạn chế tính sáng tạo của GV và
sự thiếu linh hoạt của cán bộ quản lý nhà trường
Bảng 7 Những khó khăn sinh viên gặp khi soạn giáo án có sử dụng CNTT
Khó khăn đối (%)Phản đồng ýKhông
(%)
Không
rõ (%)
Đồng ý (%)
Rất tán thành (%)
Điều kiện vào mạng chưa
Không có đủ thời gian để
Thiếu kĩ năng sử dụng máy
Thiếu sự động viên, khuyến
Thiếu kĩ năng hoặc sự tự tin
để tích hợp các phương pháp
dạy học một cách có hiệu quả
Thiếu thời gian để chuẩn bị
Không dễ dàng để đưa các bài
có sử dụng công nghệ thông
tin vào trong chương trình của
lớp mình dạy
Cách dạy này rất khác với
cách dạy hiện nay ở trường tôi 8.0 36.4 15.9 29.5 10.2
* Yếu tố người dạy
Khó khăn trong việc vận dụng công nghệ thông tin thuộc về sinh viên được
họ xác định là:
- Thiếu kĩ năng hoặc tự tin để tích hợp các phương pháp dạy học có hiệu quả (38,8%) Tỉ lệ sinh viên gặp khó khăn này là thấp nhất so với những khó khăn kể trên Qua phỏng vấn cho thấy những giờ sử dụng CNTT chưa đạt được kết quả như mong muốn, sinh viên chưa tích hợp ý tưởng sư phạm và ý tưởng công nghệ một cách hợp lý, hài hòa Sinh viên còn lúng túng khi thiết kế hệ thống các câu hỏi phát
Trang 8triển tư duy của HS.
* Yếu tố cản trở sinh viên không vận dụng công nghệ thông tin trong việc soạn giáo án
Điều này được phản ánh qua ý kiến của những sinh viên chưa vận dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 8 Lí do không sử dụng CNTT vào soạn giáo án
Không đồng ý (%)
Không
rõ (%) Đồng ý(%)
Rất tán thành (%)
Không có phần mềm thích
Điều kiện vào mạng chưa
Nhà trường đòi hỏi phải bám
sát theo chương trình không
thích hợp với việc tích hợp
CNTT
Bài học có sử dụng CNTT
không giúp HS đạt được mục
tiêu học tập của chương trình
hiện nay
Chưa đủ tự tin để sử dụng
một số những phương pháp
dạy học có sử dụng CNTT
Không thấy yên tâm trong
quản lý lớp nếu học sinh làm
việc với máy tính
Chưa thấy tự tin về kĩ năng sử
dụng máy tính của bản thân 10.6 38.3 4.3 40.4 6.4 Không có đủ thời gian để
Nhìn vào các cột "rất tán thành" và "đồng ý" cho thấy các yếu tố cản trở sinh viên không vận dụng công nghệ thông tin vào soạn giáo án được xếp theo thứ
tự từ cao xuống thấp như sau:
1 Không có đủ máy tính (81,8%)
2 Điều kiện vào mạng chưa thuận lợi (79,6%)
3 Chưa nhận được sự động viên và ủng hộ cần thiết từ phía nhà trường (71,1%)
Trang 94 Không có phần mềm thích hợp để sử dụng (55,1%).
5 Không có đủ thời gian để chuẩn bị (54,2%)
6 Chưa thấy tự tin về kĩ năng sử dụng máy tính của bản thân (46,8%)
7 Chưa đủ tự tin để sử dụng một số những phương pháp dạy học có sử dụng CNTT (34,8%)
8 Nhà trường đòi hỏi phải bám sát theo chương trình mà nó không thích hợp với việc tích hợp công nghệ thông tin (33,4%)
9 Không thấy yên tâm trong quản lý lớp nếu học sinh làm việc với máy tính (33,3%)
- So sánh các khó khăn gặp phải của sinh viên đã vận dụng công nghệ thông tin với những khó khăn của những sinh viên chưa vận dụng công nghệ thông tin cho thấy:
- Một số yếu tố khó khăn được cả 2 đối tượng xác định khá thống nhất với nhau như:
+ Chưa có sự hỗ trợ cần thiết để vận dụng công nghệ thông tin:
+ Điều kiện trang thiết bị CNTT chưa đáp ứng
- Một số yếu tố khó khăn chiếm tỉ lệ rất khác nhau ở 2 đối tượng này như: + Thiếu sự ủng hộ của nhà trường chiếm tỉ lệ cao hơn so với sinh viên
đã vận dụng:
+ Không có đủ thời gian để chuẩn bị chiếm tỉ lệ thấp hơn so với sinh viên đã vận dụng
Từ đó có thể thấy: đối với sinh viên chưa ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án có 2 yếu tố: Năng lực sử dụng CNTT và các phương pháp trong việc sử dụng các phần mềm dạy học của sinh viên còn hạn chế Điều này cho phép khẳng định: chất lượng đào tạo của trường ĐHSP và sự ủng hộ của trường phổ thông là 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sinh viên sử dụng công nghệ thông tin trong việc soạn giáo án
2.3.4 Mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án Những sinh viên đã sử dụng CNTT vào soạn giáo án đã nhận thức/xác định mục tiêu trong những bài học có tích hợp CNTT như trong Bảng 9
Sinh viên xác định các mục tiêu tích hợp công nghệ thông tin trong soạn giáo
án qua bảng số liệu ở mức “rất quan trọng” và “quan trọng” chiếm tỷ lệ cao Điều này thể hiện những định hướng tích cực của sinh viên đối với những bài học có tích hợp công nghệ thông tin Trong thực tế, qua dự giờ môn phương pháp giảng dạy của các em sinh viên cho thấy: Có những sinh viên dùng công nghệ thông tin chỉ với mục đích trình diễn bài giảng thay cho dùng phấn, bảng hoặc cao hơn là để minh họa những mô hình trừu tượng một cách dễ hiểu hơn Sinh viên chưa có kĩ năng đặt
Trang 10vấn đề đòi hỏi người học phải suy nghĩ tích cực, sáng tạo Nhiều khi phần trình diễn lướt qua nhanh quá, người học không kịp theo dõi, làm cho người học thụ động, lười
tư duy Điều này cho thấy: giữa nhận thức về mục tiêu của bài dạy có sử dụng công nghệ thông tin và kĩ năng thực hiện bài dạy còn có khoảng cách
Bảng 9 Mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án Nội dung trọng (%)Rất quan trọng (%)Quan Ít quan
trọng (%)
Không quan trọng (%) Nắm được nội dung của
Nâng cao khả năng sử
Có trách nhiệm với việc
Phát triển được năng
lực và những kĩ năng cơ
bản
Bên cạnh những mục tiêu sử dụng công nghệ thông tin trong soạn giáo án, còn có những tác động từ các bài dạy đến học sinh thể hiện ở bảng sau:
Bảng 10 Tác động của các bài dạy có sử dụng công nghệ thông tin
Nội dung
Rất tán thành (%)
Đồng ý (%) Không rõ(%) Không đồngý (%) Khuyến khích và tham gia
Đáp ứng được nhu cầu học
Làm việc với nhau nhiều
Khả năng trao đổi giữa
người dạy và người học
nhiều hơn
Có thể trình bày các ý kiến
Tự lập hơn trong việc học