1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận hoàng mai, thành phố hà nội

108 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng luôn nhấn mạnh và tiếp tục khẳng định: Đổi mới cán bộ, công chức và công tác cán bộ, công chức để đảm bảo sự nghiệp đổi mới và kế tục sự n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-/ -

BỘ NỘI VỤ / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM NGỌC HƯNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO,

BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC PHƯỜNG QUẬN

HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HOÀNG HIỂN

HÀ NỘI – NĂM 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, ngoài sự hướng dẫn, giúp đỡ của TS Nguyễn Hoàng Hiển, luận văn này là sản phẩm của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và trình bày của tác giả về đề tài luận văn Mọi số liệu, quan điểm, quan niệm, kết luận của các tài liệu và các nhà nghiên cứu khác được trích dẫn theo đúng quy định Vì vậy, tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Phạm Ngọc Hƣng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia; Tập thể cán bộ, giảng viên Khoa Sau đại học cùng Thầy, Cô trong Học viện Hành chính Quốc gia đã giúp đỡ, giảng dạy, truyền thụ kiến thức chính sách công cho em

Em xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Hoàng Hiển đã dành thời gian, tâm huyết, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn đến Quận ủy, Uỷ Ban nhân dân quận Hoàng Mai,

Uỷ Ban nhân dân các phường trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã cung cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu tại địa bàn

Xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ, động viên của gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp trong quá trình tôi thực hiện công trình khoa học này./

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Phạm Ngọc Hƣng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC 8

1.1 Một số khái niệm cơ bản 8

1.1.1 Các khái niệm về chính sách 8

1.1.2 Khái niệm chính sách đào tạo,bồi dưỡng công chức 11

1.1.3 Khái niệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 17

1.2 Vai trò của chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 17

1.3 Tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 20

1.3.1 Ý nghĩa của thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 20

1.3.2 Các bước thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 21

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 25

1.3.4 Yêu cầu và hình thức tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 27

1.3.5 Phương pháp tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 30

Tiểu kết Chương 1 31

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC PHƯỜNG QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 32

2.2 Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội 36

2.2.1 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Việt Nam hiện nay 36

2.2.2 Thực trạng về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai 42 2.2.3 Đánh giá chung về thực hiện chính sách đào tạo,bồi dưỡng công

Trang 5

chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 65

Tiểu kết chương 2 70

Chương 3 MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC PHƯỜNG QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 71

3.1 Mục tiêu chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức trong giai đoạn 2016 - 2025 71

3.1.1 Mục tiêu chung 71

3.1.2 Các mục tiêu cụ thể 71

3.2 Phương hướng của quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội giai đoạn từ nay đến năm 2020 73

3.3 Giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai 73

3.3.1 Nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền về chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức 73

3.3.2 Nâng cao năng lực đội ngũ công chức trong triển khai các bước thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 74

3.3.3 Nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 78

3.3.4 Bổ sung và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 80

3.3.5 Hiẹ 81

3.3.6 Đổi mới trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 82

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 93

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

- Bảng 2.1: Chi tiết kết quả đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên giai đoạn 2014

- 2016 quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 93

- Bảng 2.2: Kết quả đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường thuộc quận

- Bảng 2.6: Trình độ chuyên môn của Công chức các phường ở quận Hoàng

Mai, giai đoạn 2014 – 2016 95

- Bảng 2.7: Chuyên ngành được đào tạo của Công chức các phường ở quận

Hoàng Mai 96

- Bảng 2.8: Trình độ lý luận chính trị và quản lý nhà nước của đội ngũ công

chức các phường thuộc quận Hoàng Mai 97

- Bảng 2.9: Trình độ tin học và ngoại ngữ của đội ngũ công chức các phường

thuộc quận Hoàng Mai 97

- Bảng 2.10: Ý kiến đánh giá của công chức các phường về công tác đào tạo,

bồi dưỡng công chức cấp phường thuộc quận Hoàng Mai 98

- Bảng 2.11: Kết quả kiểm tra, giám sát đội ngũ CC cấp phường ở quận

Hoàng Mai, giai đoạn 2014 – 2016 98

- Phiếu khảo sát về công tác đào tạo, bồi dưỡng và kỹ năng thực hiện nhiệm

vụ của công chức các phường quận Hoàng Mai 99

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ĐTBD : Đào tạo, Bồi dưỡng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Đảng ta luôn luôn coi cán bộ, công chức là khâu then chốt trong toàn

bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, là nguyên nhân thành, bại của cách mạng Qua các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng luôn nhấn mạnh và tiếp tục khẳng định: Đổi mới cán bộ, công chức và công tác cán bộ, công chức để đảm bảo sự nghiệp đổi mới và kế tục sự nghiệp lâu dài của Đảng là một nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, toàn cầu hóa diễn ra

là một xu thế khách quan, Việt Nam đã chính thức Hội nhập kinh tế quốc tế,

là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới, trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, kinh tế tri thức không còn là một khái niệm trong lý luận mà đã trở thành hiện thực thì vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, góp phần nâng cao năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kiến thức mọi mặt của đội ngũ công chức cấp phường, xã Bởi xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, là nơi thực hiện trực tiếp và cụ thể các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việc quan tâm xây dựng đội ngũ công chức ở xã, phường, thị trấn có đủ năng lực, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của Đảng

Thực hiện các văn bản Nghị quyết, Luật và kế hoạch của nhà nước, chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp phường, xã đã có những bước chuyển biến tích cực Tuy nhiên trong thời gian qua, chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp phường, xã vẫn chưa thể đáp ứng kịp thời yêu cầu đổi mới nền hành chính Công chức cấp phường, xã vẫn chưa được quan tâm

Trang 9

đúng mức trong công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng Trong khi hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp phường, xã có ý nghĩa quyết định trong sự thành bại của việc đưa chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước vào đời sống Do đó, hơn bao giờ hết, công chức cấp phường, xã cần được đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng toàn diện để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ đặt

ra trong thời kỳ mới

Hoàng Mai là quận đang trên đà phát triển, có tốc độ đô thị hóa nhanh và xây dựng cơ sở hạ tầng mạnh của thủ đô Trong những năm gần đây, những bước chuyển mình mạnh mẽ trên cả 6 nội dung của cải cách hành chính của quận Hoàng Mai có tác động tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Trong công tác ĐT, BD đội ngũ công chức đã có sự chuyển biến tích cực, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH Tuy nhiên, chính sách ĐT, BD công chức của quận Hoàng Mai vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm giải quyết như: năng lực thực thi và công tác tổ chức thực hiện chính sách ĐT, BD vẫn còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra

Trên cơ sở đó tôi đã đi sâu vào tìm hiểu chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai và nhận thấy còn nhiều hạn chế cần được khắc phục Với mong muốn làm rõ hơn về vấn đề này, tôi đã lựa chọn

đề tài: “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

- Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một vấn đề lớn mà

được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Nhiều nhà khoa học và hoạt động thực tiễn cũng đã có nhiều nghiên cứu về chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức được một số bài viết, công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung các bài viết, công trình đó được nghiên cứu thực hiện công phu, có sức thuyết phục, đã đưa ra được một số vấn đề lý luận và thực tiễn cũng như đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức Khuôn khổ của luận văn không thể phân tích

Trang 10

toàn bộ hệ thống các nghiên cứu liên quan đến đề tài Do vậy, tác giả xin nêu

ra một vài công trình nghiên cứu nổi bật về lĩnh vực này như sau:

Các công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức:

- “Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiện nay”, Nguyễn Văn Chỉnh (chủ biên), Nxb Đà Nẵng, 2000;

- “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính”, Đỗ Quang Trung, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 97 (2004);

- “Triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng thực hiện luật cán bộ, công chức”, TS Ngô Thành Can, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ, Số 4/2009;

- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và việc vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ mới”, Nguyễn Quốc Sửu, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Số 14/2010;

- “Đổi mới, nâng cao hiệu quả đào tạo cán bộ, công chức”, TS Ngô Thành Can, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 175 (8/2010);

- “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ khái niệm đến nhận thức và hành động”, TS Huỳnh Văn Thới, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 188 (9/2011);

- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyển chọn và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức”, TS Nguyễn Thị Hồng Hải, Tạp chí Tổ chức nhà nước,

Bộ Nội vụ, số 1/2011;

- “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức một hình thức giáo dục - đào tạo đặc thù và chuyên biệt”, PGS.TS Lưu Kiếm Thanh, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 201 (10/2012);

- “Chú trọng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo trong nền

Trang 11

kinh tế thị trường”, TS Phạm Đức Chính, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 202 (11/2012)

Các công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu liên quan đến đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức:

- “Áp dụng phương pháp giảng dạy theo tình huống trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức hành chính Việt Nam”, TS Đào Ái Thi (chủ nhiệm), đề tài khoa học cấp Bộ, Học viện Hành chính quốc gia năm 2000;

- Đề tài “Hoàn thiện phương pháp sư phạm hành chính trong đào tạo - bồi dưỡng công chức” do PGS.TS Đinh Văn Tiến làm chủ nhiệm, 1999;

- Đề tài “Đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập” do PGS.TS Bùi Đức Kháng làm chủ nhiệm năm 2007

Các công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu liên quan đến đổi mới phương pháp đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức:

- “Về tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo cán bộ, công chức”, PGS.TS Nguyễn Hữu Hải, Tạp chí Tổ chức nhà nước số tháng 9/2008;

- “Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức”, TS Nguyễn Thị Thu Vân, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 166 (11/2009);

- “Đánh giá các khoá đào tạo, bồi dưỡng trách nhiệm của các cơ quan

sử dụng lao động”, PGS.TS Lê Thị Vân Hạnh, Tạp chí Quản lý nhà nước, số

166 (11/2009)

Các nghiên cứu này đã góp phần làm rõ nhiều vấn đề về chính sách đào tạo bồi dưỡng công chức và là cơ sở quan trọng để tác giả tiếp tục nghiên cứu

đề tài đã lựa chọn Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu

về thực hiện chính đào tạo, bồi dưỡng công chức dưới góc độ của khoa học chính sách công, cũng chưa có nghiên cứu nào đánh giá tổng thể về nội dung chính sách và việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức để đưa

Trang 12

ra các giải pháp, kiến nghị hoàn hiện một cách hệ thống Do vậy đề tài:

“Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” là vấn đề cần thiết được nghiên cứu.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, luận văn sẽ đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chính sách này tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội trong giai đoạn tới

- ận về tổ chức thực hiện chính sách xây dựng Đào tạo, bồi dưỡng công chức;

- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng trên địa bàn quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội, chỉ ra những ưu điể

hạn chế ải giải quyết trong thực hiện chính sách ;

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách về đào tạo, bồi dưỡng trên địa bàn quận Hoàng

Mai thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu việc tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Nghiên cứu nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức trên địa bàn quận Hoàng Mai

+ Về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2016

Trang 13

+ Về không gian: tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức

Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo cứu tài liệu: Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật, tài liệu, giáo trình và các công trình, bài viết có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài Đề tài cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, bổ sung và phát triển các luận cứ khoa học và thực tiễn mới phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp thống kê mô tả: Dựa trên các thông tin số liệu mới nhất

mà tác giả có thể thu thập được từ các nguồn thông tin đáng tin cậy, từ đó phân tích và rút ra những kết quả đánh giá khách quan

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, khảo sát

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần bổ sung, hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận, tạo cơ sở khoa học cho vấn đề nghiên cứu thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, thành phố

Hà Nội

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn là cơ sở để các nhà lãnh đạo và cơ quan quản lý có thẩm quyền tham khảo xây dựng chính sách và kế hoạch thực hiện nhằm nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội những năm tới Đồng thời luận văn là tài liệu tham khảo cho

Trang 14

những cán bộ cho cán bộ và học viên quan tâm đến việc triển khai chính sách đào tạo bồi dưỡng công chức tại địa phương

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện

các phường quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

Chương 3: Mục tiêu, phương hướng và gi hoàn thiện tổ chức

các phường quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Các khái niệm về chính sách

- Khái niệm chính sách:

“Chính sách” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu, trên các phương tiện thông tin, truyền thông và trong đời sống xã hội Theo từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary) “chính sách” là “một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách ” Hugh Heclo (năm 1972) định nghĩa chính sách có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể David Easton (năm 1953) cho rằng

“chính sách bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động mà trong đó phân phối thực hiện các giá trị” Smith (năm 1976) cho rằng “khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay

vì những tác động của các lực lượng có quan hệ với nhau” Smith nhấn mạnh

“không hành động” cũng như “hành động” và nhắc nhở chúng ta rằng “sự quan tâm sẽ không chỉ tập trung vào các quyết định tạo ra sự thay đổi, mà còn phải thận trọng với những quyết định chống lại sự thay đổi và khó quan sát vì chúng không được tuyên bố trong quá trình hoạch định chính sách” [15, tr45] Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách.” [23]

- Khái niệm chính sách công:

Chính sách công được tiếp cận nghiên cứu từ những góc độ khoa học khác nhau, theo đó có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau

về khái niệm:

Trang 16

Thomas Dye (năm 1972) đưa ra một định nghĩa khá súc tích về chính sách công: “Chính sách công là bất kỳ những gì mà nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”[15, tr47]

William Jenkins (năm 1978) đưa ra định nghĩa: Chính sách công “là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau, được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị cùng hướng đến lựa chọn mục tiêu và các phương thức để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm

vi thẩm quyền”[15, tr48]

James Anderson (năm 1984) đưa ra định nghĩa khái quát hơn về chính sách công: “Chính sách công là đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động chính trị để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề cần quan tâm” [15, tr49]

Có thể khẳng định, chính sách công là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triển theo định hướng

Như vậy, “chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [15, tr51 ] Đặc trưng của chính sách công là do nhà nước chủ động xây dựng để tác động lên các đối tượng quản lý một cách tương đối ổn định, cho thấy bản chất của chính sách công là công cụ định hướng cho hành

vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội Để đạt được mục tiêu đề ra, trước hết chính sách công phải tồn tại trong thực tế, phải thể hiện được vai trò định hướng hành động theo những mục tiêu nhất định Điều kiện tồn tại của một chính sách công là tổng hòa những tác động tích cực của

hệ thống thể chế do nhà nước thiết lập và tinh thần nghiêm túc thực hiện, tự

Trang 17

chủ, sáng tạo của các chủ thể tham gia giải quyết vấn đề chính sách trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định Điều kiện bảo đảm cho sự tồn tại được thể hiện bằng các nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, môi trường chính trị, pháp lý, văn hóa xã hội và cả bảo đảm bằng nhà nước

- Khái niệm thực thi chính sách

Thực thi đơn giản có nghĩa là thực hiện hoặc tiến hành Thực thi có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo Mazmanian và Sabatier:

“Thực thi là thực hiện một quyết định chính sách cơ sở, thường được thể hiện trong một đạo luật, nhưng cũng có thể được thể hiện dưới hình thức các quyết định quan trọng của cơ quan hành pháp hoặc các quyết định của tòa án Theo

lý tưởng, quyết định đó xác định vấn đề cần được giải quyết, quy định các mục tiêu cần theo đuổi và rất nhiều cách thức, định hình quá trình thực thi Thông thường, quá trình này trải quan nhiều giai đoạn, bắt đầu với việc thông qua đạo luật cơ bản, tiếp theo là các quyết định của các cơ quan thực thi chính sách, sự tuân thủ của các nhóm lợi ích với các quyết định đó, các tác động thực tế - cả chủ định và không chủ định - của các đầu ra đó, những tác động nhận thức được của các quyết định, và cuối cùng là những sửa đổi quan trọng trong đạo luật cơ bản” [18]

Theo Amy DeGroff, Margaret Cargo, “thực thi chính sách công phản ánh một quá trình thay đổi phức tạp mà các quyết định của Nhà nước được chuyển thành các chương trình, thủ tục, các quy định, hoặc các hoạt động nhằm đạt được những cải thiện xã hội” [18]

Theo Thomas Dye, “thực thi bao gồm tất cả các hoạt động được thiết kế

để thực hiện các chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp Vì các chính sách công có những tác động mong muốn hoặc có chủ định, nên chúng phải được chuyển thành các chương trình và các dự án mà sau đó được thực hiện để đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích” [18]

Theo các định nghĩa trên, thực thi chính sách công không đơn giản chỉ

Trang 18

là sự tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách cụ thể mà bao gồm: ban hành các văn bản chi tiết, quy định các biện pháp, các thủ tục thực thi chính sách công; thiết lập các chương trình, dự án để thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án đó Có thể hiểu: thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công

Như vậy, “Tổ chức thực thi chính sách đưa ra là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách hiệu quả” [15, tr 127]

1.1.2 Khái niệm chính sách đào tạo,bồi dưỡng công chức

* Khái niệm công chức

Công chức là một bộ phận quan trọng của nền hành chính nhà nước, đảm bảo cho nền hành chính hoạt động thông suốt, thống nhất và có hiệu quả Khái niệm công chức được sử dụng từ khá sớm và cũng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên nội dung của khái niệm này không phải ở đâu

và bất cứ lúc nào cũng được đồng nhất với nhau [14]

Đối với các nước ASEAN như Singapo, Malaixia có chung quan niệm: công chức là người nhân danh quyền lực nhà nước, giải quyết công việc công,

là mắt xích của bộ máy nhà nước được gắn với dân, là người thực thi và đưa luật pháp, chính sách, chương trình, kế hoạch, dự án quốc gia vào cuộc sống Đối với các nước như Anh và Hoa Kỳ, khái niệm công chức có phạm vi hẹp hơn, họ là những người làm việc trong ngành hành pháp, không có trong ngành lập pháp và tư pháp; ngoài ra, chỉ có những người làm việc cho các cơ quan Trung ương mới được gọi là công chức, còn những người làm việc cho

cơ quan Nhà nước địa phương đều không được coi là công chức Cụ thể, Quy chế công chức Anh (tháng 6 năm 2006) và Luật về cải cách công chức Hoa

Kỳ (1978) quy định: công chức là những người làm việc trong bộ máy của

Trang 19

chính phủ Trung ương, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào vị trí công tác trên cơ

sở cạnh tranh lành mạnh, cởi mở

Ở nước ta, khái niệm công chức được hình thành gắn với sự phát triển của nền hành chính Theo Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ

tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa thì công chức là: “những công dân

Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” [21]

Theo quy định này, khái niệm công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ Sau

đó một thời gian dài ở nước ta gần như không sử dụng khái niệm công chức

mà thay vào đó là khái niệm “Cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung

chung, không phân biệt công chức và viên chức

Đến năm 1990, do yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước, khái niệm này được quy định lại như sau: Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức Tuy nhiên, với quy định như trên có một số đối tượng chưa được xếp loại nào như công an, giáo viên, nhà báo…

Năm 1998, Pháp lệnh cán bộ, công chức được ban hành, cùng lúc đó là

Nghị định số 95/CP của Chính phủ về “Tuyển dụng, sử dụng và quản lý công

chức” cũng được ban hành; tiếp theo là việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh cán

bộ, công chức Một số nghị định, thông tư mới được ban hành cũng đã xác định công chức gồm: Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính sự nghiệp, trong biên chế

và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…Những người được tuyển dụng, bổ

Trang 20

nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công

an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp Những quy định trên khẳng định quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ, công chức xong vẫn chưa có sự rõ ràng giữa cán bộ với công chức

Năm 2008, Luật Cán bộ, công chức được ban hành đã xác định rõ những

ai là công chức Theo Điều 4, Luật Cán bộ, công chức quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo

từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [6] Năm 2010, căn cứ vào Nghị định số 06/2010/NĐ-CP, ngày 25/01/2010

của Chính phủ có thể xác định: “Công chức là công dân Việt Nam, được

tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [7]

* Khái niệm công chức xã, phường, thị trấn (gọi chung là công chức cấp xã)

Quan niệm công chức xã được quy định tại Điều 4, Luật Cán bộ, công

chức năm 2008: “Công chức xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ

Trang 21

một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

Để phân biệt rõ các chức danh công chức xã, tại Điều 3, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, quy định công chức cấp

xã bao gồm các chức danh sau:

- Trưởng Công an xã (nơi chưa bố trí Công an chính quy);

- Chỉ huy trưởng Quân sự;

- Văn hoá - Xã hội

Về lý luận, theo tác giả: “Công chức xã là những chức danh chuyên

môn, làm việc trong UBND xã, nhân danh nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện việc quản lý nhà nước và thực thi công vụ ở xã”

* Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức

Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực hành chính nhà nước nói riêng

- Đào tạo: là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó

lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,… một cách hệ thống, chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng khi nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần vào sự phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh nhân loại [17]

Theo Khoản 1, Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban

Trang 22

hành ngày 05/3/2010 về ĐT, BD công chức đã định nghĩa: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định

của từng cấp học, bậc học” [8]

Như vậy, có thể hiểu đào tạo là việc trang bị các kiến thức, kinh nghiệm,

kỹ năng nhằm phát triển các cá nhân để đóng góp cho sự phát triển xã hội Thông thường, hoạt động đào tạo được tổ chức trong những cơ sở giáo dục đào tạo như: trường học, học viện, trung tâm dạy nghề hoặc tại cơ sở sản xuất với nội dung chương trình và thời gian khác nhau cho các cấp bậc đào tạo khác nhau Cuối mỗi khoá đào tạo, học viên sẽ được cấp bằng tốt nghiệp Đào tạo công chức là một hoạt động có mục đích, có tổ chức được thực hiện theo những quy trình nhất định nhằm truyền đạt cho công chức hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ đạo đức phù hợp để thực thi công vụ Đây là một hoạt động mang tính đặc thù bởi đối tượng của hoạt động đào tạo là những con người hoạt động trong bộ máy nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện nhiệm vụ QLNN, quản lý xã hội và phục vụ nhân dân [12]

- Bồi dưỡng: là nuôi dưỡng thêm, là những khoá học ngắn hạn nhằm cập

nhật, bổ sung kiến thức còn thiếu hoặc lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo

thêm hoặc củng cố các kĩ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 05/3/2010 về ĐT, BD công chức đã định nghĩa: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” Bồi dưỡng giúp cho người học gia tăng thêm những kiến thức mới, cần thiết cho nghề nghiệp và rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả hơn Học viên tham gia các khoá bồi dưỡng thường được xác nhận bằng chứng chỉ

Cần có sự phân biệt giữa hai khái niệm đào tạo và bồi dưỡng: Đào tạo

dùng để chỉ một quá trình lâu dài trong một khoảng thời gian nhằm trang bị cho người học một hệ thống kiến thức, kĩ năng về một lĩnh vực nhất định; Bồi

Trang 23

dưỡng thường để chỉ các khoá học ngắn hạn nhằm bổ sung và cập nhật cho người học một mảng kiến thức hoặc một hay nhiều kĩ năng của một lĩnh vực nhất định

[19]

ĐT, BD

Như vậy, đến nay cả về mặt khoa học và pháp lý, đã có sự thống nhất

cơ bản về các khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng” và tồn tại với 2 khái niệm độc lập Tuy nhiên, bên cạnh 2 khái niệm đào tạo và bồi dưỡng là những khái niệm độc lập, trong thực tiễn vẫn còn một số quan niệm là đào tạo, bồi dưỡng

là một thuật ngữ chung không tách rời

Có thể nói, đào tạo và bồi dưỡng tuy là hai khái niệm khác nhau, nhưng lại có cùng một mục đích chung là làm cho người lao động có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác được tốt hơn Trên thực

tế, có một số hoạt động đào tạo, bồi dưỡng rất khó phân chia thành đào tạo hoặc bồi dưỡng, bởi giữa chúng có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau

Như vậy, với các cách hiểu về chính sách công, về cán bộ, công chức

và đào tạo, bồi dưỡng ở trên, có thể quan niệm: Chính sách đào tạo, bồi

dưỡng công chức là hành động ứng xử của Nhà nước, với các giải pháp, công

Trang 24

cụ cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng công chức nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức có đủ trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, được đảm bảo thực hiện bởi hệ thống các văn bản pháp luật

1.1.3 Khái niệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức là quá trình đưa chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức vào thực tiễn thông qua việc ban hành các văn bản, kế hoạch, chương trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng ; là hoạt động có tổ chức nhằm huy động mọi nguồn lực (con người, tài chính, cơ sở vật chất) và tổ chức thực hiện chúng để hiện thực hóa mục tiêu chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức theo nguyên tắc tối ưu cả về con người, vốn và kết quả

Nói một cách khác, thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

là toàn bộ quá trình huy động, bố trí sắp xếp các nguồn lực để đưa chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức theo một trình tự thủ tục chặt chẽ và thống nhất nhằm đạt được mục tiêu của chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

1.2 Vai trò của chính sách đào tạo, bồi dƣỡng công chức

Đội ngũ công chức có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định, triển khai và tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước; quyết định sự thành công hay thất bại của chính sách do cơ quan, tổ chức đề ra Đội ngũ CCVC trực tiếp thực thi các chính sách, kế hoạch của cơ quan, tổ chức; các mục tiêu quốc gia; thực hiện các giao tiếp (trao đổi, tiếp nhận thông tin, ) giữa các cơ quan nhà nước với nhau, với doanh nghiệp và người dân Để xây dựng được đội ngũ CBCC có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân, bên cạnh các khía cạnh khác nhau của công tác tổ chức cán bộ còn cần phải có các hình thức bồi dưỡng phù hợp và hiệu quả

Tổ chức bồi dưỡng công chức là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa

Trang 25

quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của CBCC; hướng tới mục tiêu

là tạo được sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn Đào tạo, bồi dưỡng tập trung trang bị những kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện công việc cho CBCC; trong đó, cung cấp những kiến thức, lý luận cơ bản, trang bị

kỹ năng, cách thức hoạt động thực thi công việc, giáo dục thái độ thực hiện công việc thể hiện sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của công chức

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức coi trọng công tác đào tạo rèn luyện cán bộ Người cho rằng “Cán bộ là gốc của mọi công việc Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu” [20, tr269] - Đảng phải chăm lo việc nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu, phải trọng nhân tài, trọng cán bộ Không phải tự nhiên mà có được đội ngũ CBCC tài giỏi mà đó là sản phẩm của một quá trình lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng,

“huấn luyện” lâu dài, bền bỉ và công phu Trong quá trình đó đào tạo, bồi dưỡng là khâu có ý nghĩa quyết định đến trình độ, chất lượng của công chức

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất quan tâm đến vấn đề cán bộ, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu Trong công cuộc đổi mới hiện nay, nhất là khi cả nước tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta càng đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ công chức cả về

số lượng và chất lượng để đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước Văn kiện Đại hội VI của Đảng chỉ rõ: đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp

là mắt xích quan trọng nhất Đến Đại hội VII, Đảng ta tiếp tục chủ trương đổi mới cán bộ và công tác cán bộ, xác định: xây dựng cho được một đội ngũ cán

bộ vững mạnh và đồng bộ, bao gồm cán bộ lãnh đạo chính trị, cán bộ quản lý, cán bộ kinh doanh, chuyên gia trên các lĩnh vực Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những chủ trương, giải pháp đổi mới và chỉnh

Trang 26

đốn Đảng được Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII nêu ra là: tạo chuyển biến hết sức quan trọng về công tác cán bộ Đảng ta xác định: đây là khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ sự nghiệp cách mạng Phải xây dựng đội ngũ ngang tầm nhiệm vụ Sắp xếp, điều chỉnh, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hiện có và chuẩn bị đội ngũ kế cận Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương

Đảng khóa X thông qua đề án: “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”; hội nghị nhấn mạnh: “Phấn đấu để tạo bằng được bước chuyển có tính đột phá về công tác cán bộ trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đổi mới công tác đánh giá cán bộ, đổi mới mạnh mẽ và thực hiện với kết quả tốt hơn công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ, ĐTBD cán bộ, tạo động lực mới cho đội ngũ CBCC làm việc trong cơ quan của hệ thống chính trị ”

Đến Đại hội XI, Đảng nhấn mạnh: “Đổi mới chính sách và cơ chế về cán bộ, quản lý, sử dụng, ĐTBD và phát triển năng lực cán bộ từ giáo dục và đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ để bảo đảm tiêu chuẩn hóa cán bộ, chính sách

sử dụng cán bộ, bố trí, bổ nhiệm, đề bạt, đãi ngộ, tạo động lực khuyến khích tài năng, thu hút nhân tài, nhất là các chuyên gia giỏi, các tài năng trẻ, kể cả thu hút tài năng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài Xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ hợp lý, các loại hình cán bộ, từ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp chiến lược, cán bộ làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ, cán bộ khoa học, kỹ thuật, trí thức lao động sáng tạo, cơ cấu giới và lứa tuổi, cơ cấu dân tộc, bảo đảm có đội ngũ cán bộ cho yêu cầu phát triển vùng, miền, địa phương, cơ sở trong toàn quốc Cơ cấu đội ngũ cán bộ phù hợp với cơ cấu xã hội ngày càng

đa dạng với các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội - nghề nghiệp và các thế hệ: công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, thanh niên, phụ nữ, dân tộc thiểu số, bảo đảm tính kế thừa và phát triển giữa các thế hệ cán bộ

Trang 27

Trong vấn đề cán bộ, phải bảo đảm đánh giá đúng để bố trí đúng theo yêu cầu công việc và tiêu chuẩn đáp ứng, cả đạo đức, tài năng, phẩm chất chính trị Phát hiện kịp thời các nhân tố mới, có triển vọng, bồi dưỡng và đào tạo hợp

lý, không để lãng phí cán bộ, không để chảy máu chất xám, sao cho có ngày càng nhiều cán bộ tốt, cán bộ giỏi, trung thực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có bản lĩnh sáng tạo, đổi mới, bứt phá để phát triển [3]

Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận” Phải đổi mới công tác này do yêu cầu từ tình hình thực tiễn là chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận còn chưa cao, còn thiếu sắc bén

và chưa thuyết phục Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Đại hội XII đề ra một số giải pháp mới để thực hiện, trong đó nhấn mạnh: “Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương”

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức ra đời nhằm tạo cơ sở cho quá trình bổ sung, cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc cho công chức qua đó xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân; xây dựng được đội ngũ công chức thực sự có năng lực, biết giải quyết các vấn đề được giao trên nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng

1.3 Tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dƣỡng công chức

1.3.1 Ý nghĩa của thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

Thực thi chính sách nhằm từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách

và mục tiêu chung: Mục tiêu chính sách có liên quan đến nhiều hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội theo những cấp độ khác nhau, nên không thể cùng một lúc giải quyết tất cả các vấn đề có liên quan và cũng không thể đốt cháy giai đoạn của mỗi quá trình Mục tiêu chính sách chỉ có thể đạt được thông qua thực thi chính sách, đồng thời giữa các mục tiêu chính sách có quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng rất lớn đến nhau và đến mục tiêu chung [15]

Trang 28

Thực thi chính sách nhằm khẳng định tính đúng đắn của chính sách: Việc nhận thấy những mâu thuẫn cần được giải quyết bằng chính sách đã cho thấy tính đúng đắn hay không của vấn đề chính sách Vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức tự nó đã phản ánh nhu cầu cơ bản của xã hội trong việc xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy thực thi công vụ và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Nếu nhu cầu đó là chính đáng, bức xúc cần được đáp ứng để xã hội tồn tại, phát triển thì vấn đề chính sách được coi là đúng đắn và ngược lại Một chính sách sau khi hoạch định được coi là tốt thì giá trị của nó cũng chỉ mới dừng lại ở phương diện nguyện vọng, mong muốn Một khi chính sách được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của nó được khẳng định ở mức cao hơn, tức là được cả xã hội thừa nhận, nhất là các đối tượng thụ hưởng chính sách

Thực thi chính sách nhằm giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện: Chính sách được hoạch định bởi một tập thể nên không thể tránh khỏi sự ảnh hưởng của ý chí chủ quan Do ảnh hưởng của ý chí chủ quan và sự vận động phát triển của môi trường nên giữa chính sách công, thực tế xã hội và môi trường trong giai đoạn tổ chức thực thi chắc chắn có khoảng cách cần được lấp đầy bằng những điều chỉnh về chính sách hay các biện pháp tổ chức thực thi chính sách Những điều chỉnh bổ sung về mục tiêu hay biện pháp chính sách trong quá trình thực thi chính là hoạt động hoàn chỉnh chính sách đang có và góp phần đúc rút kinh nghiệm cho hoạch định các chính sách kỳ sau [15]

1.3.2 Các bước thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

Thực thi chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn

bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định Tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các khâu trong chu trình chính sách thành một hệ thống Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng

Trang 29

thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn Có chính sách đúng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa,

mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách Nếu chính sách không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và

sự phản ứng của nhân dân đối với Nhà nước Chỉ thông qua thực hiện mới biết rõ chính sách có đúng, phù hợp và đi vào cuộc sống hay không Quá trình thực hiện với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Đồng thời, việc phân tích, đánh giá một chính sách chỉ có cơ sở đầy đủ, sức thuyết phục sau khi được thực hiện Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách là thước đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác, khách quan chất lượng và hiệu quả của chính sách Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp đầy biến động, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm

để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách [29]

Nội dung thực thi chính sách được thực hiện thông qua 7 bước:

- Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, đây là bước cần thiết và quan trọng vì tổ chức thực thi chính sách là quá trình phức tạp, lại diễn ra trong thời gian dài do đó phải có kế hoạch Kế hoạch này phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống, các cơ quan triển khai từ Trung ương đến địa phương đều phải lập kế hoạch bao gồm:

+ Kế hoạch về tổ chức, điều hành: hệ thống các cơ quan tham gia, đội ngũ nhân sự, cơ chế thực thi

+ Kế hoạch cung cấp nguồn vật lực: tài chính, trang thiết bị

+ Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện

+ Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách

+ Dự kiến về quy chế, nội dung về tổ chức và điều hành thực thi chính sách

Trang 30

- Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Sau khi bản kế hoạch triển khai thực hiện được thông qua, các cơ quan nhà nước tiến hành triển khai tổ chức thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thu hiểu rõ về mục đích và yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thời còn giúp cho mỗi công chức viên chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao

- Bước 3: Phân công phối hợp thực hiện chính sách

Bước tiếp theo sau bước tuyên truyền, phổ biến là phân công, phối hợp các cơ quan đơn vị tổ chức thực hiện chính sách theo kế hoạch được phê duyệt Chính sách được thực thi trên phạm vi rộng lớn, tối thiểu cũng là một địa phương - vì thế số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách

là rất lớn Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của Nhà nước Không chỉ có vậy, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen nhau, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật Bởi vậy muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả cần tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách

Trang 31

- Bước 4: Duy trình chính sách, đây là bước làm cho chính sách tồn tại được và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Để duy trì được chính sách đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều yếu tố như Nhà nước và người tổ chức thực thi chính sách phải tạo điều kiện và môi trường để chính sách được thực thi tốt Đối với người chấp hành chính sách phải có trách nhiệm tham gia tích cực vào thực thi chính sách Nếu các hoạt động này được tiến hành đồng bộ thì việc duy trì chính sách là việc làm không khó

- Bước 5: Điều chỉnh chính sách, việc làm này là cần thiết, diễn ra thường xuyên trong quá trình tổ chức thực thi chính sách Nó được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thông thường cơ quan nào lập chính sách thì có quyền điều chỉnh) Việc điều chỉnh này phải đáp ứng được việc giữ vững mục tiêu ban đầu của chính sách, chỉ điều chỉnh các biện pháp,

cơ chế thực hiện mục tiêu Hoạt động này phải hết sức cẩn thận và chính xác, không làm biến dạng chính sách ban đầu

- Bước 6: Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách Bất cứ triển khai nào thì cũng phải kiểm tra, đôn đốc để đảm bảo các chính sách được thực hiện đúng và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực Các cơ quan nhà nước thực hiện việc kiểm tra này và nếu tiến hành thường xuyên thì giúp nhà quản lý nắm vững được tình hình thực thi chính sách từ đó có những kết luận chính xác về chính sách Công tác kiểm tra này cũng giúp cho các đối tượng thực thi nhận ra những hạn chế của mình để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách

- Bước 7: Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm, khâu này được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình này ta có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn

bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính sách Đánh giá tổng kết trong bước thực thi chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách Đối

Trang 32

tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở Cơ sở để đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng ở bước

1 Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, còn xem xét, đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách Thước đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian

Trong các bước trên thì bước tổ chức thực thi là quan trọng nhất vì đây

là bước đầu tiên làm cơ sở cho các bước tiếp theo, ở bước này đã dự kiến cả việc triển khai thực hiện kế hoạch phân công thực hiện, kiểm tra Hơn nữa tổ chức thực thi là quá trình phức tạp do đó lập kế hoạch cũng là việc làm cần thiết và quan trọng

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

Trong quá trình thực thi chính sách sẽ có liên quan đến nhiều cơ quan,

tổ chức và cá nhân vì thế kết quả tổ chức thực thi chính sách này cũng sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố chủ quan và những yếu

tố khách quan Cụ thể:

- Yếu tố khách quan:

Yếu tố khách quan tác động đến thực thi chính sách là các yếu tố xuất hiện và tác động đến tổ chức thực thi chính sách từ bên ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản lý; các yếu tố này vận động theo quy luật khách quan nên ít tạo sự biến đổi do đó cũng khó gây sự chú ý của các nhà quản lý nhưng

Trang 33

lại tác động rất lớn đến quá trình thực thi chính sách, đó là các yếu tố:

+ Tính chất của vấn đề chính sách là yếu tố gắn liền với mỗi chính sách

nó có tác động trực tiếp đến hoạch định và thực thi chính sách có nghĩa là nếu vấn đề chính sách đơn giản liên quan đến ít đối tượng thì thực thi sẽ dễ dàng

và đơn giản hơn; ngược lại, nếu vấn đề chính sách liên quan đến nhiều đối tượng thì thực thi sẽ khó khăn và phức tạp hơn Như vậy, tính chất của vấn đề

có ảnh hưởng khách quan đến việc tổ chức thực thi chính sách nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn

+ Môi trường thực thi chính sách là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng điều này nói lên rằng một môi trường ổn định ít biến đổi về chính trị sẽ đưa tới sự ổn định về hệ thống chính sách và thực thi thuận lợi Nếu các bộ phận của môi trường ổn định thì nó sẽ tạo cho các hoạt động thực thi dễ dàng

+ Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách là sự thể hiện thống nhất hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách Nếu mối quan hệ này có mâu thuẫn thì sẽ ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực thi

- Yếu tố chủ quan: là các yếu tố thuộc về cơ quan công quyền, do cán

bộ công chức chủ động chi phối đến quá trình thực thi chính sách nên nó có ảnh hưởng lớn đến việc thực thi

+ Thực thi đúng đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi chính sách, các bước này được coi là nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống, việc tuân thủ quy trình là một nguyên tắc quản lý

+ Năng lực thực thi chính sách của CBCC trong bộ máy quản lý nhà nước là yếu tố chủ quan có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách công Năng lực thực thi của CBCC là các tiêu chí về đạo đức, công

cụ, năng lực nếu thiếu các điều kiện này thì việc thực thi sẽ không hiệu quả Còn nếu các CBCC có năng lực mà kết hợp với các yếu tố khác thuận lợi sẽ

Trang 34

mang lại một kết quả thực sự

+ Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực thi chính sách là yếu tố ngày càng có vị trí quan trọng để cùng yếu tố nhân sự và các yếu tố khác thực thi thắng lợi chính sách công Các điều kiện vật chất này là các trang thiết bị nhà nước đầu tư cho quá trình quản lý và khi thực thi chính sách thì họ dùng

để tuyên truyền, phổ biến các chính sách

+ Sự đồng tình ủng hộ của đối tượng chính sách là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định sự thành bại của chính sách Các chính sách là những vấn đề lớn lao, do đó cần có sự đóng góp sức người, sức của trong suốt quá trình thực thi

Như vậy, trong 2 yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách thì yếu tố chủ quan là quan trọng hơn vì nó quyết định sự thành bại của chính sách, vì trong yếu tố này nó chứa đựng các nhân tố quan trọng như nhân sự và

sự ủng hộ đối tượng chính sách là 2 nhân tố cần cho việc thực thi chính sách

1.3.4 Yêu cầu và hình thức tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

1.3.4.1 Yêu cầu đối với tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

- Bảo đảm thực hiện được mục tiêu chính sách

Thực thi chính sách là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng chính sách nhằm đạt những mục tiêu trực tiếp Ứng với mỗi mục tiêu trực tiếp này là những chương trình, dự án cụ thể Kết quả thực thi chính sách theo quá trình hoạt động trong từng thời kỳ được lượng hóa bằng những thước đo cụ thể Tổng hợp kết quả thực hiện mục tiêu của các chương trình, dự án và các hoạt động thực thi khác thành mục tiêu chung của chính sách Muốn thực hiện thành công các chính sách, nhà nước phải xác định mục tiêu của từng chính sách thật cụ thể, rõ ràng và chuẩn xác Đồng thời các cơ quan chuyên trách phải triển khai được mục tiêu chính

Trang 35

thành những kế hoạch, chương trình cụ thể [15]

- Bảo đảm tính hệ thống trong thực thi chính sách

Tổ chức thực thi chính sách là một bộ phận cấu thành trong chu trình chính sách, nó kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình tạo nên một

hệ thống thống nhất Ngay trong quá trình tổ chức thực thi cũng bao gồm nhiều bước hợp thành một hệ thống Nội dung tính hệ thống bao gồm: hệ thống mục tiêu và biện pháp của chính sách; hệ thống trong tổ chức bộ máy thực thi chính sách; hệ thống trong điều hành, phối hợp thực hiện; hệ thống trong sử dụng công

cụ chính sách với các công cụ quản lý khác của nhà nước [15]

- Bảo đảm yêu cầu khoa học và pháp lý trong tổ chức thực thi chính sách

Tính khoa học thể hiện trong quá trình tổ chức thực thi chính sách là việc phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý chính sách, việc thu hút các nguồn lực hướng mạnh vào thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành các chương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả một chính sách Quy trình thực thi chính sách công lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khi nó được triển khai vào đời sống xã hội Vì vậy, tính khoa học của quá trình tổ chức thực thi chính sách phải thể hiện được sức sống để tồn tại trong thực tế như: mục tiêu

cụ thể của chính sách phải phù hợp với mục tiêu phát triển của địa phương trong từng thời kỳ; các biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách phải tương ứng với trình độ nhận thức và tài nguyên của vùng hay địa phương Tính pháp

lý được thể hiện trong tổ chức thực thi chính sách là việc chấp hành các chế định về thực thi chính sách như: trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân được giao thực thi chính sách, thủ tục giải quyết các mối quan hệ trong thực thi chính sách [15]

- Bảo đảm hài hòa lợi ích cho các đối tượng thụ hưởng

Trong xã hội thường tồn tại nhiều nhóm lợi ích, các nhóm lợi ích lại biến động theo không gian và thời gian Tùy theo tính chất của mỗi chế độ xã

Trang 36

hội, mà các nhóm lợi ích sẽ được thụ hưởng khác nhau Nhà nước thường bảo

vệ và chuyển lợi ích đến các đối tượng thụ hưởng trong xã hội bằng chính sách Để công cụ này phát huy tác dụng, cần phải có sự hưởng ứng thực hiện một cách tự giác trên cơ sở lòng tin của dân chúng vào chính sách của nhà nước Có được kết quả đó hay không chỉ khi chính sách thật sự mang lại lợi ích cho mỗi đối tượng thực hiện và toàn xã hội

1.3.4.2 Hình thức tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

- Hình thức tổ chức thực hiện chính sách từ trên xuống

Trước khi tiến hành triển khai, Nhà nước chủ động xây dựng kế hoạch, chuẩn bị các điều kiện về vật chất, kỹ thuật và nhân sự để thực thi chính sách Trong quá trình thực thi chính sách, Nhà nước chủ động kiểm tra, đôn đốc bằng các phương tiện kỹ thuật hiện có hay bằng đội ngũ CBCC của mình Khi có phát hiện những sai lệch về nội dung chính sách, Nhà nước kịp thời điều chỉnh,

bổ sung hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung làm cho hoạt động thực thi chính sách diễn ra đúng như định hướng [15]

- Hình thức tổ chức thực hiện chính sách từ dưới lên

Hình thức thực hiện này ngược lại với hình thức từ trên xuống Để thực hiện theo hình thức này, chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức chủ động triển khai đưa chính sách vào cuộc sống sau khi được ban hành nhằm phát triển kinh tế - xã hội địa phương theo định hướng

- Hình thức hỗn hợp trong thực hiện chính sách công

Đó là hình thức kết hợp giữa tổ chức thực hiện chính sách công từ trên xuống và hình thức tổ chức thực hiện chính sách công từ dưới lên nhằm phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của hai hình thức trên Để tạo ra sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện chính sách cần chú ý nội dung kết nối giữa cấp hoạch định và cấp thực thi: phần kết nối kiểm tra đôn đốc của cấp hoạch định với việc triển khai thực hiện và duy trì chính sách của cấp thực thi; hoạt động điều chỉnh, bổ dung và đáp ứng các yêu cầu của cấp thực thi

Trang 37

1.3.5 Phương pháp tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức

- Phương pháp hành chính: Là cách thức tác động lên đối tượng và quá trình chính sách bằng quyền lực để đạt mục tiêu dự kiến Trong quá trình thực hiện chính sách, người ta hay sử dụng phương pháp kinh tế và giáo dục thuyết phục nhưng cũng có những trường hợp hay phương pháp trên không mang lại hiệu quả, nên phải dùng đến phương pháp hành chính

để cưỡng chế thi hành [15]

- Phương pháp kinh tế: Là cách thức tác động lên các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bằng các lợi ích vật chất Đây là phương pháp liên quan trực tiếp đến lợi ích của các nhóm đối tượng chính sách, nên có tác dụng rất mạnh so với các phương pháp khác [15]

- Phương pháp giáo dục, thuyết phục: Đây là cách thức tác động lên đối tượng và quá trình chính sách bằng lý tưởng cách mạng để họ ý thức được trách nhiệm của mình trong việc tham gia thực hiện chính sách Ý thức đầy đủ

về mục tiêu chính sách sẽ giúp cho các đối tượng tham gia một cách tự nguyện vào việc thực hiện mục tiêu chung [15]

- Phương pháp kết hợp: Là phương pháp tác động lên đối tượng và quá trình chính sách bằng tổng thể các yếu tố để triển khai thực hiện chính sách có hiệu quả Đây là phương pháp được xây dựng bằng cách kết hợp các phương pháp trên theo một trật tự, quy mô nhất định Về mặt nguyên tắc, phương pháp kết hợp không có cấu trúc nhất định Tùy theo điều kiện cụ thể, nhà quản lý kết hợp các phương pháp trên cho phù hợp với yêu cầu tổ chức thực thi chính sách [15]

Trang 38

Tiểu kết Chương 1

Với mục tiêu cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội ở Chương 2 và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội ở Chương 3, Chương 1 tập trung làm rõ lý thuyết về chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức các phường và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức Chương này đã trình bày một hệ thống các khái niệm: các khái niệm về chính sách; khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng; khái niệm về công chức; khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng công chức; khái niệm về chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức; khái niệm về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức Chương này đã làm rõ vai trò chính sách đạo tạo, bồi dưỡng công chức và nội dung tổ chức thực thi chính sách; Ý nghĩa, các bước thực thi, các yếu tố ảnh hưởng và những yêu cầu, hình thức tổ chức thực thi chính sách

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC PHƯỜNG QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội

Quận Hoàng Mai là một vùng đất nằm ở phía Đông Nam thành phố Hà Nội, phía Bắc giáp quận Hai Bà Trưng, phía Đông giáp Sông Hồng nhìn sang huyện Gia Lâm, phía Tây giáp huyện Thanh Trì và quận Thanh Xuân; phía Nam giáp huyện Thanh Trì

Quận Hoàng Mai được thành lập theo Nghị định số 132/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ,dựa trên diện tích và dân số của toàn bộ 9 phường: Định Công, Đại Kim, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Thanh Trì, Lĩnh Nam, Trần Phú, Vĩnh Tuy, Yên Sở và 55 ha diện tích của phường

Tứ Hiệp thuộc huyện Thanh Trì cộng với diện tích và dân số của

5 phường Mai Động, Tương Mai, Tân Mai, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ thuộc quận Hai Bà Trưng

Hoàng Mai vốn trước là vùng đất thuộc huyện Thanh Trì.Vùng Hoàng Mai có tên Nôm là Kẻ Mơ và tên chữ là Cổ Mai,vì mai là tiếng Hán của

mơ, do trước kia nơi đây người dân sinh sống chủ yếu bằng trồng cây mai.Lại có rất nhiều các giống mai được trồng nên ta có thể giải thích lại

có một loạt các địa danh như: Tương Mai, Thanh Mai, Hồng Mai, Bạch Mai, Hoàng Mai

Năm 1390, danh tướng Trần Khát Chân sau khi có công giết chết vua Chiêm là Chế Bồng Nga và đánh tan quân Chiêm Thành đã được ban thái ấp

Trang 40

ứng của chính quyền và đoàn thể cũng được thành lập và chính thức đi vào hoạt động Về tổ chức Đảng, Đảng bộ quận Hoàng Mai đã được thành lập với 26 uỷ viên Ban chấp hành lâm thời do Thành uỷ chỉ định với 53 chi Đảng bộ trực thuộc Hiện nay, Hoàng Mai là một quận có tốc độ đô thị hoá nhanh, với các công trình nhà chung cư cao tầng và các khu đô thị mới đang hoàn thiện như: Định Công, Bắc Linh Đàm, Nam Linh Đàm, Đại Kim, Kim Văn- Kim Lũ, Đền Lừ, Đồng Tầu, Pháp Vân Tứ Hiệp, Thịnh Liệt

Quận Hoàng Mai có diện tích 4.104,10 ha (41,04 km2), dân số trên 380.000 người, gồm 14 phường: Đại Kim, Định Công, Giáp Bát, Hoàng Liệt, Hoàng Văn Thụ, Lĩnh Nam, Mai Động, Tân Mai, Thanh Trì, Thịnh Liệt, Trần Phú, Tương Mai, Vĩnh Hưng, Yên Sở

Quận Hoàng Mai là quận có tốc độ đô thị hóa và xây dựng cơ sở hạ tầng mạnh nhất trong số các quận huyện mới của thủ đô, với hàng loạt khu đô thị như Linh Đàm, Bắc Linh Đàm, Định Công, Đại Kim, Đền Lừ, Kim Văn - Kim

Lũ, Vĩnh Hoàng, Hoàng Văn Thụ, Ao Sào - Thịnh Liệt, Đại Kim - Định Công, Tây Nam hồ Linh Đàm, Tây Nam Kim Giang… cùng hàng loạt chung cư trên đường Lĩnh Nam, đường Tam Trinh, đường Pháp Vân như Gamuda City, Hateco Yên Sở, khu đô thị Pháp Vân - Tứ Hiệp, The Manor Central Park…

Về kinh tế:

Trong những năm qua, quận Hoàng Mai đã vươn lên, phát triển khá toàn diện về nhiều mặt, trong đó kinh tế luôn tăng trưởng cao, tỷ lệ tăng trưởng bình quân 17,47%/năm

Năm 2004, tổng giá trị sản xuất chỉ đạt 6.919 tỷ đồng; năm 2008 đã nâng lên 12.377 tỷ đồng, tăng 79%; đến năm 2016 ước đạt 26.813 tỷ đồng, tăng

216 % so với năm 2008

Thu ngân sách năm 2004 đạt 90,175 tỷ đồng thì đến năm 2008 đạt 653,091 tỷ đồng, tăng gấp 7,2 lần; năm 2016 thu ngân sách đạt 3.480 tỷ đồng, tăng 5,3 lần so với năm 2008

Ngày đăng: 28/12/2020, 18:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w