1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh điện biên

114 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 719,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh vấn còn có những hạn chế: Nhận thức về xã hội hóa giáo dục một bộ phận cán bộ và nhân dân chưa đầy đủ; Tư duy bao cấ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu tác giả sử dụng trong luận văn là trung thực

Tác giả

Hoàng Hữu Chình

Trang 4

và tình hình hoạt động để hoàn thành luận văn này

Do kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều và trình độ bản thân có hạn, nên luân văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được các thầy giáo, cô giáo và các bạn học viên đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn thiện hơn./

Em xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Hoàng Hữu Chình

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC 11

1.1 Những vấn đề chung về chính sách công 11

1.1.1 Khái niệm chính sách công 11

1.1.2 Đặc điểm của chính sách công 11

1.1.3 Vai trò của chính sách công 14

1.2 Những vấn đề chung về xã hội hóa giáo dục 17

1.2.1 Khái niệm dịch vụ công 17

1.2.2 Phân loại dịch vụ công 18

1.2.3 Nội dung xã hội hóa dịch vụ công 19

1.2.4 Chính sách xã hội hóa giáo dục 20

1.3 Thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục 24

1.3.1 Ý nghĩa của xã hội hóa giáo dục 25

1.3.2 Mục tiêu của xã hội hoá giáo dục 32

1.3.3 Nội dung thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục 32

1.3.4 Quy trình thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục 40

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hóa giáo dục 43

1.4.1 Các yếu tố khách quan 43

1.4.2 Các yếu tố chủ quan 43

1.4.3 Những tác động tiêu cực từ xã hội hóa giáo dục 44

1.5 Kinh nghiệm xã hội hóa giáo dục ở một số địa phương 45

1.5.1 Kinh nghiệm xã hội hóa dịch vụ giáo dục của tỉnh Bắc Giang 45

1.5.2 Kinh nghiệm xã hội hóa giáo dục của thành phố Hồ Chí Minh 48

1.5.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Điện Biên 50

Tiểu kết chương 1 52

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 54

2.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên 54

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 54

Trang 6

2.2 Thực trạng phát triển giáo dục tại tỉnh Điện Biên 56

2.2.1 Phát triển giáo dục mầm non 60

2.2.2 Phát triển giáo dục phổ thông 61

2.2.3 Phát triển giáo dục thường xuyên 62

2.2.4 Phát triển giáo dục chuyên nghiệp 64

2.3 Thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục tại tỉnh Điện Biên 64

2.3.1 Thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục mầm non 64

2.3.2 Thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục phổ thông 65

2.3.3 Thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục thường xuyên 66

2.4 Đánh giá chung về thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên 67

2.4.1 Những kết quả đã đạt được 67

2.4.2 Những hạn chế 70

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 73

Tiểu kết chương 2 76

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 78

3.1 Quan điểm, đường lối, chính sách của đảng và Nhà nước về đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục 78

3.2 Mục tiêu xã hội hóa giáo dục của tỉnh Điện Biên 82

3.3 Các giải pháp đảm bảo việc thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục tại tỉnh Điện Biên 83

3.3.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xã hội hóa dịch vụ giáo dục trong đội ngũ lãnh đạo, trong nhân dân để tạo sự đồng thuận ủng hộ của người dân tham gia 83

3.3.2 Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích tư nhân tham gia vào xã hội hóa giáo dục 85

3.3.3 Xây dựng tổ chức bộ máy thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh 87

3.3.4 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho tư nhân tham gia đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục 89

Trang 7

3.3.5 Đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho xã hội hóa giáo dục 89

3.3.6 Tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách về xã hội hóa giáo dục, tạo hành lang pháp lý khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư phát triển giáo dục 90

3.3.7 Khuyến khích các nhà đầu tư trong nước và Việt kiều đầu tư xây dựng trường học 92

3.3.8 Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh 93

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Quy mô mạng lưới các cơ sở giáo dục đào tạo tỉnh Điện Biên 57 Bảng 2.2 Quy mô số lượng học sinh, sinh viên của các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên 58 Bảng 2.3 Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh Điện Biên 59

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Giáo dục và đào tạo đã và đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hết sức quan tâm Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ quan trọng cần phải thực hiện nghiêm túc và mang lại hiệu quả thiết thực

Bước sang thế kỷ XXI với sự phát triển của công nghệ thông tin và kinh tế tri thức, nền kinh tế thế giới đang có nhiều thay đổi Sự hợp tác đa dạng, đa phương trong nền kinh tế thị trường đang đòi hỏi các nước phải cải cách giáo dục theo hướng hiện đại, đáp ứng được tình hình mới Phát triển quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ đặt ra đối với các nước đang phát triển mà ngay cả các nước phát triển Các quốc gia đang tiến hành cải cách và hiện đại hóa giáo dục theo hướng hợp tác liên thông bằng cấp trong khu vực và thế giới

Ở nước ta, công cuộc đổi mới kinh tế đã tạo điều kiện đổi mới giáo dục và xã hội đang yêu cầu giáo dục nước nhà phải có những cải cách mạnh

mẽ hơn, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, sớm đưa nền giáo dục nước nhà theo kịp các nước trong khu vực và quốc tế Trong thời kỳ đổi mới, giáo dục nước ta đó đạt được những kết quả bước đầu Đến nay chúng ta đã có một hệ thống các cơ sở giáo dục, đào tạo rộng khắp, đa dạng các loại hình nhà trường và hình thức giáo dục Quy mô giáo dục phát triển từ mầm non đến đại học So với thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới đã có nhiều chuyển biến, đã huy động được nhiều hơn các thành phần kinh tế tham gia vào sự

Trang 10

nghiệp giáo dục và đào tạo Có được kết quả này là do chúng ta đã tích cực thực hiện chương trình xã hội hoá trong công tác giáo dục

Đảng, Nhà nước ta đã xác định xã hội hóa giáo dục là để huy động toàn

xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền

giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước

Các lực lượng xã hội và cá nhân có thể tham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục bằng cách tổ chức các cơ sở giáo dục, các loại hình trường lớp bên cạnh các loại hình giáo dục công lập và chính quy của Nhà nước Việc

mở các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục từ mầm non tới đại học sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển giáo dục, làm giảm gánh nặng đầu tư của Nhà nước

Khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội cho giáo dục Cùng với việc tăng thêm và sử dụng có hiệu quả nhân sách Nhà nước là nguồn chủ yếu, cần tìm thêm các nguồn kinh phí khác để phát triển giáo dục Cải tiến chế độ học phí, huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh và các tổ chức cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau như hỗ trợ, cho vay, đầu tư để phát triển giáo dục

Các lực lượng xã hội có thể đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực để xây dựng trường lớp, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục cho nhà trường; việc huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục là biểu hiện

dễ thấy nhất của xã hội hóa giáo dục và cũng là nội dung dễ thực hiện nhất của cuộc vận động này

Sự nghiệp giáo dục tỉnh Điện Biên những năm gần đây đã có những chuyển biến tích cực Từ một nền giáo dục được nhà nước bao cấp 100% đang dần chuyển sang một nền giáo dục xã hội hóa, cùng với nhu cầu học tập của nhân dân ngày càng tăng Trong khi đó ngân sách đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, mặc dù đầu tư Nhà nước cho giáo dục không ngừng tăng hàng năm

Trang 11

nhưng không theo kịp sự phát triển quy mô trường lớp, học sinh và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục Phần lớn ngân sách giáo dục là để chi thường xuyên, còn việc đầu tư chi cho xây dựng cơ sở vật chất và các hoạt động giáo dục còn hạn chế Do đó mà cơ sở vật chất trường lớp, thiết bị dạy học còn thiếu thốn, nhất là những nơi vùng đặc biệt khó khăn, biên giới

Công tác xã hội hóa giáo dục ở tỉnh Điện Biên trong thời gian qua đã đạt được những kết quả bước đầu, nhận thức của cấp uỷ, chính quyền và nhân dân về xã hội hóa giáo dục được có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần huy động trẻ em trong các độ tuổi ra lớp, nhất là sự ủng hộ tiền và công lao động để xây dựng, tu sửa cơ sở vật chất phòng lớp học, phòng ở nội trú, hiến đất để xây dựng trường đảm bảo tiêu chí của trường đạt chuẩn quốc gia

Quy mô và chất lượng giáo dục ngày càng tăng, các điều kiện đảm bảo cho các hoạt động dạy và học ở các cấp học mầm non, phổ thông ngày càng được cải thiện Các trường ngoài công lập tuy không được nhà nước hỗ trợ để mua sắm các trang thiết bị nhưng đã không ngừng tăng cường cơ sở vật chất, số lượng phòng học nhà trẻ và mẫu giáo ngoài công lập ngày càng tăng Xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh đã góp phần thực hiện đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng

độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS Nhờ thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục mà sự nghiệp giáo dục của tỉnh trong những năm qua không ngững phát triển về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhân dân

Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh vấn còn có những hạn chế: Nhận thức về xã hội hóa giáo dục một bộ phận cán

bộ và nhân dân chưa đầy đủ; Tư duy bao cấp và tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước còn nhiều; Thủ tục hành chính còn nhiều bất cập gây khó khăn cho các nhà đầu tư; Thiếu các chính sách ưu đãi đủ mạnh để thu hút các nhà đầu

Trang 12

tư; Thời gian thẩm định các dự án đầu tư còn phức tạp, mất nhiều thời gian; Thiếu nguồn vốn đối ứng cho triển khai thực hiện các dự án đầu tư; Đời sống của nhân dân còn thấp, do vậy việc huy động sự đóng góp của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn

Xuất phát từ các lý do trên và để góp phần đẩy mạnh xã hội hóa giáo

dục trên địa bàn tỉnh trong những năm tới, học viên chọn đề tài “Chính sách

xã hội hoá giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về dịch vụ công, xã hội hóa dịch vụ công đã được nhiều học giả quan tâm Chúng ta có thể nêu một số công trình nghiên cứu của các các tác giả sau:

- PGS.TS Lê Chi Mai (2002), chuyển giao dịch vụ công cho các cơ sở ngoài nhà nước vấn đề và giải pháp, Nxb Lao động - Xã hội Đây là cuốn

sách chuyên khảo trình bày khá tổng quát về dịch vụ công và việc tổ chức cung ứng; tình hình cung ứng và chuyển giao dịch vụ công cho các cơ sở ngoài nhà nước ở nước ta; cũng như hoàn thiện quản lý nhà nước đối với chuyển giao dịch vụ cho các cơ sở ngoài nhà nước

- Đỗ Thị Hải Hà (2007), Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Đây là cuốn sách chuyên khảo trình bày lý

luận chung quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công; quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công của một số nước trên thế giới; thực trạng quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam Từ lý luận và thực tiễn, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam

- TS Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (2007): Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, Nxb Thống kê Đây là cuốn sách tham khảo trình bày

những vấn đề chung về dịch vụ công, đánh giá thực trạng cung ứng dịch vụ

Trang 13

công và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa cung ứng các dịch vụ công ở Việt Nam Cuốn sách nhấn mạnh các giải pháp đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong thành lập các đơn vị cung ứng dịch vụ công

Ngoài các sách chuyên khảo trên, một số nhà khoa học đã thực hiện nghiên cứu các đề tài khoa học về dịch vụ công, cải cách và xã hội hóa dịch

vụ công Tiêu biểu là các đề tài khoa học sau:

- Trương Văn Huyền (2010), Hoàn thiện quản lý dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay, đề tài cấp bộ B.10-25 Trên cơ sở lý luận về dịch vụ công và quản lý

dịch vụ công; thực trạng quản lý dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay, tác giả đề tài đã trình bày quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, ở phần thực trạng quản lý dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay, tác giả đề tài mới chỉ phân tích một yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dịch

vụ công là hệ thống thể chế nhà nước mà chưa chú ý đến những yếu tố khác

- PGS.TS Lê Chi Mai (2003), Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, đề tài cấp bộ 2001-54-057 Đề tài này đã trình bày hai mô hình cung

ứng dịch vụ hành chính công nổi bật là mô hình Một cửa và mô hình Trung tâm dịch vụ hành chính công tại Hà Nội

Đã có một số tác giả nghiên cứu về cải cách dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công đăng trên các tạp chí chuyên ngành Chúng ta có thể nêu một số bài viết sau:

- GS.TS Phạm Ngọc Quang (2004), Xã hội hóa dịch vụ công - Một nội dung trong đổi mới phương thức hoạt động của Chính phủ, số 4 Tạp chí Triết

học Bài viết này đề cập đến một số vấn đề liên quan tới việc đổi mới quan niệm về vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công và phương thức thực hiện cung ứng dịch vụ công như là một nội dung trong cải cách hành chính nhà nước

Trang 14

- PGS.TS Phạm Thị Hồng Điệp (2013), Quản lý nhà nước đối với dịch

vụ công, kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam, số 3 Tạp chí

Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội Trong bài viết này tác giả đã nêu lên tầm quan trọng của quản lý nhà nước đối với dịch vụ công một số nước trên thế giới, từ đó đề xuất các giải pháp có thể áp dụng cho Việt Nam

- Trong bài viết “Xã hội hóa dịch vụ công: Quan điểm tiếp cận và kinh nghiệm từ một số nước” của GS.TS Trần Ngọc Hiên, Học viện Chính trị -

Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, đăng trong Tạp chí Cộng sản ngày 18/6/2012 đã đề cập đến tính tất yếu phải xã hội hóa dịch vụ công trong nền kinh tế thị trường Tác giả nhấn mạnh, để nâng cao chất lượng cung ứng dịch

vụ công nhất định Việt Nam phải đổi mới cung ứng dịch vụ công và đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công Tuy nhiên, bài viết chưa khẳng định được vai trò quan trọng của Nhà nước trong khuyến khích và quản lý xã hội hóa dịch

- PGS.TS Đặng Khắc Ánh (2015), Hợp tác công – tư trong khu vực công ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 229 Trong bài viết này, tác

giả đã trình bày ý nghĩa của hợp tác công - tư (PPP) là một trong những phương thức huy động sự tham gia của khu vực tư nhân vào việc thực hiện các nhiệm vụ công đã được triển khai áp dụng phổ biến trong thực tế ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực Trong bào viết này tác giả đã trình bày các nội dung về tái cấu trúc khu vực công trong tiến trình đối mới; PPP trong XHH; thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai mô hình PPP ở Việt Nam; những định hướng cơ bản triển khai PPP ở Việt Nam trong tương lai

Trang 15

- PGS.TS Bùi Huy Khiên, Chuyển đổi một số đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế, giáo dục – đào tạo sang mô hình doanh nghiệp xã hội, tạp chí Khoa học Nội vụ, số 20/09-2017 Tác giả bài viết

đã đánh giá một số mô hình tổ chức, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập, từ đó đề xuất định hướng và các giải pháp chuyển đổi một số đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế, giáo dục, đào tạo sang mô hình doanh nghiệp xã hội góp phần đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ y tế

và giáo dục ở nước ta hiện nay

Trong thời gian qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng có nhiều tin bài về xã hội hóa giáo dục và cũng có một số công trình nghiên cứu khoa học của các tổ chức, cá nhân về xã hội hóa giáo dục

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, dựa trên cơ sở lý luận khoa học, từ đánh giá thực trạng đến tìm giải pháp thực hiện

xã hội hóa giáo dục cho tỉnh Điện Biên hiện nay Vì vậy, học viên nghiên cứu

đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong thời gian tới

3.1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để giải quyết được nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Làm rõ cơ sở khoa học về chính sách xã hội hóa giáo dục, ý nghĩa, mục tiêu, nội dung xã hội hóa giáo dục, các yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hóa dịch vụ giáo dục, kinh nghiệm của một số tỉnh về thực hiện chính sách

xã hội hóa giáo dục

Trang 16

- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên

- Đề xuất các giải pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong những năm tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp thu thập thông tin: Luận văn thu thập thông tin từ hai

nguồn chính: nguồn tin từ hệ thống cơ sở dữ liệu của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên và nguồn tin từ việc điều tra công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh từ 2013 đến nay Thông qua các nguồn tin này, luận văn đối chiếu với tình hình thực tế để có bức tranh tổng thể về thực trạng xã hội hóa giáo dục nói trên tại tỉnh Điện Biên

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Luận văn sử dụng phương pháp

phân tích để lý giải tính cấp thiết và ý nghĩa mà đề tài nghiên cứu đặt ra trong thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục tại tỉnh Điện Biên Luận văn phân

Trang 17

tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách này, phân tích nguyên nhân của những bất cập, hạn chế tạo cơ sở đề xuất các giải pháp

- Phương pháp thống kê: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê

trong chương 2 để thống kê các số liệu cụ thể về thực trạng thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục tại tỉnh Điện Biên

- Phương pháp so sánh: Xã hội hóa giáo dục đã được nhiều địa phương

quan tâm thực hiện với những mức độ thành công khác nhau Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu, so sánh việc thực hiện chính sách này ở các địa phương so với tỉnh Điện Biên để tìm ra những sự khác biệt và rút ra những bài học kinh nghiệm

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả trực

tiếp trao đổi, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý có kinh nghiệm về thực hiện chính sách xã hóa hóa giáo dục

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn đã tổng quát được những nội dung cơ bản lý luận về xã hội hóa giáo dục

- Đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong thời qua

- Đề ra các giải pháp đảm bảo việc thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong thời gian tới

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến việc thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Trang 18

Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Chương 3: Phương hướng và các giải pháp đảm bảo việc thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

1.1 Những vấn đề chung về chính sách công

1.1.1 Khái niệm chính sách công

Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội

Chính sách công là công cụ được Nhà nước sử dụng để giải quyết các vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của đất nước hoặc địa phương Cụm từ “chính sách công” được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, trong các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông Cho đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công được các học giả trong và ngoài nước đưa ra Tuy nhiên có thể hiểu: chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hàng, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển

1.1.2 Đặc điểm của chính sách công

Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hàng, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển Theo quan niệm về chính sách công nêu trên, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản về chính sách công sau đây:

Thứ nhất, chính sách công bắt nguồn từ các quyết định do Nhà nước

ban hành và nội dung của chính sách được thể hiện trong các văn bản quyết định của Nhà nước Ví dụ, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy

Trang 20

phạm pháp luật 2015, thì Quốc hội ban hành Luật để quy định: chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y

tế, khoa học, công nghệ, môi trường; chính sách dân tộc, tôn giáo; chính sách

cơ bản về đối ngoại (Khoản 1 Điều 15)

Thứ hai, chính sách công bao gồm một tập hợp các quyết định được

ban hành qua một giai đoạn dài và kéo dài sang cả giai đoạn thực thi chính sách Chính sách công luôn không được thể hiện rõ ràng trong một quyết định đơn lẻ, mà có xu hướng được xác định dưới dạng một chuỗi các quyết định gắn liền nhau Ví dụ, Quốc hội ban hành Luật giao thông để quy định chính sách về an toàn giao thông, và trên cơ sở đó chính sách đó, Chính phủ ban hành Nghị định để quy định chi tiết, hoặc quy định các biện pháp cụ thể thi hành chính sách đất đai, các Bộ, ngành có liên quan hạn hành thông tư để hướng dẫn thi hành chính sách đất đai

Thứ ba, chính sách công hướng tới giải quyết vấn đề công và tác động

đến lợi ích của một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội Ví dụ, chính sách

về an toàn giao thông hướng tới giải quyết vấn đề an toàn giao thông và chính sách này tác động đến những người tham gia giao thông

Thứ tư, chính sách công bao gồm hai bộ phận cấu thành là mục tiêu và

giải pháp chính sách Ví dụ, mục tiêu của chính sách an toàn giao thông là nhằm giảm bớt tai nạn giao thông trên cả ba tiêu chí là số vụ, số người chết, số người

bị thương, và tất nhiên là giảm cả thiệt hại về tài sản do tai nạn giao thông gây ra Còn giải pháp giải quyết vấn đề mất an toàn giao thông bao gồm như ban hành các quy tắc tham gia giao thông để điều chỉnh các hành vi tham gia giao thông (gồm cả quy tắc đối với người tham gia giao thông, phương tiện tham gia giao thông), thông tin và tuyên truyền để nâng cao ý thức của người tham gia giao thông, thiết lập các chương trình, dự án đầu tư để cải thiện hạ tầng giao thông v.v…

Trang 21

Thứ năm, mục tiêu của chính sách công là tạo ra những thay đổi và

nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của đất nước và địa phương Ví dụ, chính sách an toàn giao thông hướng tới thay đổi hành vi của người tham gia giao thông, thay đổi các kết quả đầu ra như giảm số vụ, số người chết, số người bị thương, giảm thiệt hại về tài sản do tai nạn giao thông gây ra, và nhằm đạt được các mục tiêu về tuổi thọ bình quân, tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống của người dân về cả sức khỏe và tinh thần…

Thứ sáu, các chính sách công luôn thay đổi theo thời gian, bới vì

những quyết định sau có thể có những điều chỉnh so với những quyết định trước đó, hoặc do có những thay đổi trong định hướng chính sách ban đầu; hoặc là kinh nghiệm về thực thi chính sách công được phản hồi vào quá trình ra quyết định; và do định nghĩa về các vấn đề chính sách công cũng thay đổi qua thời gian Ví dụ, chính sách về an toàn giao thông thường xuyên được sửa đổi và hoàn thiện để phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn của Việt Nam như: sửa đổi các quy định theo hướng bảo đảm các phương tiện tham gia giao thông an toàn hơn, quy định mức xử phạt đối với hành vi

vi phạm quy định về an toàn giao thông cao hơn

Thứ bảy, về cơ bản chính sách công được xem là đầu ra của quá trình

quản lý Nhà nước, là sản phẩm trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước Ví dụ, chính sách an toàn giao thông được thể hiện trong Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy, Luật đường sắt, Luật hàng không, và các nghị định của Chính phủ, thông tư, thông tư liên tịch của các

Bộ, ngành… Chính các văn bản pháp luật này là sản phẩm đầu ra của hoạt động quản lý nhà nước, và là sự kết tinh trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức, các chuyên gia trong lĩnh vưc giao thông, của các cá nhân và tổ chức trong xã hội

Trang 22

1.1.3 Vai trò của chính sách công

- Chính sách công định hướng cho các chủ thể trong xã hội: Một trong những vai trò quan trọng của chính sách công là định hướng cho các hoạt động của các thực thể kinh tế - xã hội Mục tiêu chính sách thể hiện thái độ ứng xử của Nhà nước trước một vấn đề công, nên nó thể hiện rõ xu hướng tác động của Nhà nước lên các thực thể xã hội để chúng vận động phù hợp với những giá trị tương lai mà Nhà nước theo đuổi Các giá trị đó phản ánh ý chí của Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội Nếu các thực thể xã hội tiến hành các hoạt động phù hợp với mục tiêu chính sách thì cũng có nghĩa là đạt được mục tiêu phát triển chung và sẽ nhận được những trợ giúp từ phía Nhà nước Hơn nữa, bản thân các giải pháp chính sách cũng

có vai trò định hướng cho các thực thể kinh tế - xã hội trong việc đề ra biện pháp

- Tạo động lực cho các chủ thể trong xã hội: Thái độ ứng xử của chủ thể biểu lộ rõ những xu thế tác động đến các đối tượng để chúng vận động theo định hướng Tác động này tạo động lực mạnh mẽ đến các chủ thể trong quá trình hoạt động

Chẳng hạn, Nhà nước dùng chính sách khuyến khích đầu tư trang thiết bị kỹ thuật trong các đơn vị kinh tế vừa tạo việc làm, vừa tăng thu nhập cho lao động

- Vai trò khuyến khích và hỗ trợ: Để đạt được mục tiêu chính sách, Nhà nước ban hành nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp mang tính khuyến khích

và hỗ trợ tài chính như miễn thuế, hỗ trợ lãi suất, cho vay vốn lãi suất thấp hoặc không lãi suất, về trợ giá, trợ cấp… và các biện pháp kỹ thuật như đơn giản hóa thủ tục hành chính, hỗ trợ kỹ thuật để tạo thuận lợi cho các thực thể kinh tế - xã hội tham gia Các biện pháp này không mang tính bắt buộc, nó tạo

ra cơ chế khuyến khích sự tham gia tự nguyện của các thực thể kinh tế - xã

Trang 23

hội, nghĩa là khuyến khích các thực thể kinh tế - xã hội tiến hành những hoạt động mà Nhà nước mong muốn Ví dụ, chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Nhà nước ban hành nhiều giải pháp nhằm khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư xây dựng nhà máy để tiến hành hoạt động kinh doanh như miễn, giảm tiền thuê đất, đơn giản hóa thủ tục hành chính, hỗ trợ giải phóng mặt bằng v.v… Hoặc trong chính sách tam nông, Nhà nước ban hành các giải pháp khuyến nông như hỗ trợ về giống, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, thu mua lương thực với giá bảo đảm cho nông dân có một mức lợi nhuận nhất định, cho vay vốn lãi suất thấp…

- Phân bổ nguồn lực cho quá trình phát triển: Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng ổn định, bền vững, Nhà nước dùng chính sách để khuyến khích và điều tiết các quá trình khai thác sử dụng tài nguyên theo định hướng

- Tạo lập môi trường thích hợp cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh

kế - xã hội: Thống nhất thái độ ứng xử của chủ thể với các vấn đề kinh tế - xã hội chính là đã tạo ra một môi trường hướng đạo, giúp cho các thực thể xác định được mục tiêu vận động của mình Còn sự phong phú về các giải pháp thực hiện sẽ làm cho các thực thể năng động tìm cách ứng phó hiệu quả nhất với môi trường để tồn tại Điều này sẽ mang lại động lực mạnh cho các thực thể chiến thắng trong mội trường cạnh tranh

- Làm cơ sở phối hợp hoạt động của các chủ thể trong xã hội: Nhà nước

đề ra mục tiêu chính sách để thống nhất mọi thành phần xã hội đều hướng tới mục tiêu chung trên cơ sở thực hiện tốt những mục tiêu bộ phận của mình Do nắm chắc được mục tiêu chung các bộ phận sẽ tự biết được vai trò, vị trí, thời gian và mức độ hoàn thành các mục tiêu cụ thể của mình để tự giác phối hợp thực hiện mục tiêu chung

Trang 24

- Vai trò tạo lập: Thông qua các chính sách công, Nhà nước đưa ra những điều kiện cần thiết nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho các thực thể kinh tế - xã hội tiến hành các hoạt động Ví dụ, chính sách phát triển thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học – công nghệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường dịch vụ

Để kinh tế - xã hội đất nước phát triển một cách bình thường, ổn định, Nhà nước ban hành nhiều chính sách để bảo đảm các cân đối vĩ mô chính yếu như: cân đối giữa cung – cầu, hàng – tiền, xuất – nhập khẩu, đầu tư – tiêu dùng, tiết kiệm – tiêu dùng

- Vai trò điều tiết: Nhà nước cũng sử dụng các chính sách để điều tiết thu nhập giữa các cá nhân và doanh nghiệp trong xã hội, điều tiết các thị trường lao động, vốn… như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, quy định giá cả một số hàng hóa thiết yếu, bình ổn giá trên thị trường, chính sách tiền lương, chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá,…

Nhà nước dùng các chính sách để bảo đảm sự phát triển đồng đều giữa các vùng, miền thông qua việc phân bổ và tái phân bổ các nguồn lực của xã

hội

- Vai trò hiệu chỉnh những thất bại của thị trường: Trong kinh tế thị

trường, quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu, quy luật giá cả và các quy luật thị trường khác khuyến khích các thực thể kinh tế - xã hội đầu tư vốn, trí tuệ vào các hoạt động kinh doanh, nghiên cứu và phát triển, không ngừng đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hạ giá thành hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho xã hội Nhờ đó các cá nhân, tổ chức trong xã hội được hưởng lợi như hàng hóa và dịch vụ nhiều về số lượng, phong phú về chủng loại, chất lượng ngày càng tăng lên với giá ngày càng rẻ

Ở góc độ toàn xã hội, kinh tế thị trường góp phần vào việc phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của xã hội và gia tăng phúc lợi xã hội, tạo động lực thúc

Trang 25

đẩy kinh tế - xã hội phát triển Tuy nhiên, bản thân kinh tế thị trường cũng có nhiều khiếm khuyết mà các nhà kinh tế học gọi là thất bại của thị trường như độc quyền tự nhiên, cung cấp không đầy đủ hàng hóa công cộng, ngoại ứng, không đối xứng thông tin, sử dụng quá mức các tài nguyên sở hữu chung, bất

ổn kinh tế vĩ mô, gia tăng bất bình đẳng… những vấn đề đó ảnh hưởng không tốt lên xã hội và các thành viên của xã hội Vì vậy, nhà nước phải ban hành các chính sách để hiệu chỉnh những thấy bại của thị trường như chính sách tạo môi trường cạnh tranh và chống độc quyền; cung ứng dịch vụ công thông qua thành lập các doanh nghiệp nhà nước và tổ chức dịch vụ công; điều tiết những tác động tích cực và tiêu cực của ngoại ứng; bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên sở hữu chung; loại bỏ sự bất đối xứng thông tin giữa những người sản xuất và người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ; duy trì sự ổn định của nền kinh tế; bảo đảm sự công bằng xã hội

1.2 Những vấn đề chung về xã hội hóa giáo dục

1.2.1 Khái niệm dịch vụ công

Dịch vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện những chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm từ các hoạt động ban hành chính sách, pháp luật, tòa án…, cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng Dịch vụ công còn được hiểu là những hàng hóa dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả, công bằng trước đây, dịch vụ công do nhà nước cung cấp, nhưng do nhu cầu ngày càng cao của các tổ chức và công dân, vì vậy buộc phải xã hội hóa Xã hội hóa dịch vụ công nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội đáp ứng dịch vụ cho công dân, tạo điều kiện cho mọi người tham gia tích cực vào hoạt động này, phát huy khả năng, năng lực tiềm tàng trong xã hội; khơi dậy tính sáng tạo, chủ động, tích cực của người dân, nhờ đó đa dạng hóa và tăng nguồn cung ứng dịch vụ công cho xã hội;

Trang 26

huy động sự đóng góp cho hoạt động cung ứng dịch vụ công; giảm gánh nặng ngân sách cho nhà nước để nhà nước tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm phát triển đất nước

1.2.2 Phân loại dịch vụ công

Có nhiều cách phân loại dịch vụ công tùy thuộc vào các tiêu thức phân loại và ý đồ quản lý của nhà nước có thể chia thành các loại sau

- Dịch vụ công đặc thù hay còn gọi là dịch vụ công truyền thống nhằm thực hiện chức năng quản lý hay (chức năng cai trị) của Nhà nước đối với xã hội Đây là loại dịch vụ công do hệ thống các cơ quan công quyền của Nhà nước thực hiện thông qua hệ thống đội ngũ cán bộ công chức của mình Các loại dịch vụ công này Nhà nước không thể ủy quyền cho bất kỳ một tổ chức nào ngoài Nhà nước thực hiện; bao gồm các dịch vụ hình thành và phát triển đặc trưng, bản chất, hệ tư tưởng xã hội (các giá trị, các chuẩn mực xã hội…), nhằm bảo đảm cho bản sắc quốc gia, dân tộc; bảo đảm an ninh và trật tự xã hội tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho sự phát triển xã hội (tòa án, nhà

tù, công an, cảnh sát, phòng cháy, dịch bệnh…); bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia toàn vẹn lãnh thổ đất nước

Sản phẩm của dịch vụ công đặc thù là loại hàng hóa đặc thù không thể đem bán trên thị trường, nó thể hiện quyền lực đơn phương của Nhà nước gắn liền với sự sống còn của chế độ chính trị xã hội Hầu hết mọi Nhà nước trên thế giới ngày nay đều độc quyền thực hiện cung ứng loại hàng hóa này

- Dịch vụ hành chính công là các loại hoạt động của bộ máy hành pháp Nhà nước cung ứng trực tiếp cho các tổ chức và công dân các hàng hóa công cộng theo luật định nhằm vận hành xã hội trong trật tự, kỷ cương đã định, với mức thu phí bằng nhau không đáng kể; bao gồm cấp phép, cấp giấy xác nhận, công chứng…

Trang 27

- Dịch vụ sự nghiệp công là loại dịch vụ công cung cấp chủ yếu các hàng hóa công cộng (dưới dạng các phúc lợi công) cho dân cư như: giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, nghỉ ngơi, giải trí, bảo hiểm, an sinh xã hội Nhà nước có trách nhiệm cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo nguyên tắc có thu phí, nhưng có thể từng bước xã hội hóa lĩnh vực này bằng cách ủy quyền cho các cơ sở (cơ quan, cá nhân, tổ chức) ngoài Nhà nước thực hiện trong khuôn khổ và quy chế đã định, đây đang là định hướng được nhiều nước đang thực hiện

- Dịch vụ công cộng là các dịch vụ có thu phí nhằm đáp ứng các nhu cầu bức thiết của công dân mang tính phi lợi nhuận do các cơ sở thực hiện theo yêu cầu của cơ quan hành pháp Nhà nước (thông qua hợp đồng hoặc nhiệm vụ giao) như cung cấp nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường (thu gom rác thải), tang lễ, cây xanh chiếu sáng, giao thông vận tải, công cộng,tài chính, ngân hàng

1.2.3 Nội dung xã hội hóa dịch vụ công

Xã hội hóa dịch vụ công là quá trình huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân và các tổ chức vào hoạt động cung cấp dịch vụ công trên cơ sở phát huy tính sáng tạo và khả năng đóng góp của mỗi người Thực tế triển khai đã và đang phát huy được tiềm năng trong xã hội trong việc cung ứng các dịch vụ công có số lượng, chất lượng tốt hơn cho người dân, góp phần giảm bớt gánh nặng ngân sách Nhà nước

Xã hội hóa dịch vụ công đòi hỏi phải đảm bảo một số nguyên tắc cơ bản: các dịch vụ công nào mà kinh tế ngoài Nhà nước không làm được, không muốn làm hoặc không được phép làm nhưng xã hội có nhu cầu thì Nhà nước phải cung cấp; Nhà nước phối hợp với các tổ chức xã hội và tư nhân thực hiện cung ứng dịch vụ công theo pháp luật và quy chế những dịch vụ công nào mà các thành phần kinh tế khác có khả năng và muốn

Trang 28

tham gia thì được khuyến khích tham gia cung ứng cho xã hội, nhưng nhà nước vẫn chịu trách nhiệm trước xã hội về số lượng và chất lượng các dịch

vụ công để chuyển giao cho khu vực tư

Trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ, trí tuệ trở thành động lực chính của sự gia tăng tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, do đó giáo dục chính là một dịch vụ công do nhà nước cung cấp cho người dân qua các tổ chức nhà nước hay qua việc hỗ trợ tài chính cho các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân và giáo dục được coi là nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia trên con đường phát triển

1.2.4 Chính sách xã hội hóa giáo dục

Xã hội hoá giáo dục là một quá trình mà cả cộng đồng và xã hội cùng tham gia vào giáo dục Trong đó mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn

Xã hội hóa giáo dục là một xu hướng tất yếu hiện nay ở một số nước phát triển và các nước đang phát triển, tuy nhiên người ta không sử dụng thuật ngữ xã hội hóa giáo dục mà sử dụng các thuật ngữ khác nhưng cũng bao hàm các nội dung của xã hội hóa giáo dục, đó là:

Giáo dục đại chúng: Đưa học vấn đến cho mọi người dân

Giáo dục suốt đời: Nói về một quá trình học tập liên tục, trong đó mỗi người đều có cơ hội liên tục để không bị lạc hậu so với những biến đổi, phát triển của kỹ thuật, của xã hội, phát huy tối đa tiềm lực cá nhân trên mọi lĩnh vực;

Xã hội học tập: là giáo dục cho mọi người và mọi người làm giáo dục; Giáo dục cộng đồng: Mọi hoạt động giáo dục nhằm vào lợi ích của cộng đồng và hướng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống

Công bằng xã hội trong giáo dục: tạo ra cơ hội ngang bằng nhau và bình đẳng giữa mọi người trong sự tham gia đóng góp và hưởng thụ giáo dục

Trang 29

Ở nước ta thuật ngữ xã hội hóa giáo dục xuất hiện vào những năm cuối của thể kỷ XX, tuy nhiên cho đến nay không ít người còn hiểu khái niệm này đơn thuần chỉ là tăng cơ sở vật chất, tăng kinh phí cho giáo dục và đào tạo

Xã hội hóa giáo dục trước hết phải được hiểu là một sự nghiệp rộng lớn, đầy trách nhiệm và sự quan tâm chăm sóc của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, xã hội và toàn dân chăm lo cho phát triển giáo dục không những chỉ đối với thế hệ trẻ mà còn đối với tất cả mọi công dân Việt Nam không phân biệt già trẻ, nam nữ, giàu nghèo, dân tộc, vùng miền xã hội hóa giáo dục nhằm xây dựng một xã hội mà trong đó mọi người dân đều được hưởng sự công bằng, bình đẳng, công khai, dân chủ thực sự trong học tập, thông qua xã hội hóa giáo dục để xây dựng một xã hội học tập suốt đời

Xã hội hóa giáo dục là một cách làm giáo dục mà bản chất của nó là làm cho toàn xã hội tham gia vào giáo dục trên cả hai mặt: tiếp nhận giáo dục

và đóng góp cho sự phát triển của giáo dục

Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã xác định “Xã hội hóa công tác giáo dục là huy động sự tham gia của toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước”

Để cụ thể hóa hơn, Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ

về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo duc, y tế, văn hóa, thể thao đã chỉ rõ: “Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn

xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao trong sự phát triển về vật chất

và tinh thần của nhân dân”

Trang 30

Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược của Đảng và Nhà nước

ta, coi trọng sức mạng tổng hợp của toàn dân, của toàn xã hội là điều kiện tiên quyết để phát triển có chất lượng và hiệu quả các lĩnh vực văn hóa xã hội nói chung và giáo dục nói riêng

Chúng ta cần nhấn mạnh rằng, xã hội hóa giáo dục là việc làm vừa phù hợp với bản chất xã hội đích thực của giáo dục vừa phù hợp với tình hình thực tiễn của nước ta, vì thế xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lượng lâu dài chứ không phải là một giải pháp tình thế khi đất nước còn nghèo, đầu tư của Nhà nước cho giáo dục còn eo hẹp mà là một đường lối chỉ đạo của Đảng đối với sự phát triển giáo dục nhằm làm cho giáo dục thực sự là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân

Qua phân tích tính chất, phạm trù xã hội hóa để có thể xem xét công tác quản lý nhà nước về giáo dục trong quá tình đa dạng hóa, xây dựng, phát triển và quản lý các cơ sở giáo dục ngoài công lập, cần rút ra một vài nhận xét cơ bản:

Xã hội hóa là một quá trình, bởi vì nó diễn ra trong khoảng thời gian dài, có sự chuyển hóa dần trên cơ sở thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể

Trong điều kiện của nước ta hiện nay, xã hội hóa một số lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội nói chung và xã hội hóa giáo dục nói riêng là việc chia sẻ trách nhiệm của Nhà nước cho cộng đồng xã hội, giảm sự bao cấp, phát huy nội lực của các địa phương, các ngành;

Xã hội hóa một số lĩnh vực kinh tế xã hội gắn liền với việc đa dạng hóa các hoạt động trong lĩnh vực đó Vì vậy cùng với việc tăng cường vị trí, vai trò và đầu tư cho các khu vực thuộc Nhà nước, cần phải tạo cơ chế khuyến khích đầu tư, khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức quản lý do tập thể

và tư nhân thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Trang 31

Tóm lại: Xã hội hóa giáo dục nhằm thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài để phát triển giáo dục và đào tạo ở nước ta đã trở thành một chủ trương lớn, lâu dài và nhất quán, được quán triệt sâu sắc và triển khai rộng khắp đến các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và mọi đối tượng thành phần dân cư trong toàn xã hội Công tác xã hội hóa đã đem lại hiệu quả tích cực cho nền giáo dục và đào tạo trong thời gian qua

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đồng thời xác định định hướng nâng cao hiệu quả đầu

tư phát triển giáo dục và đào tạo Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 11-2013, của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về

4-“Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác định rõ các quan điểm, mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo trong thời gian tới; các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo; định hướng các mục tiêu, đối tượng cần

ưu tiên đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đổi mới chính sách, cơ chế tài chính để huy động sự tham gia đóng góp của xã hội vào phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hoàn thành mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Để tạo hành lang pháp lý cho các nguồn lực của xã hội đầu tư nhiều hơn vào giáo dục, đào tạo và tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục được hưởng chính sách ưu đãi xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2014/NĐ-

CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tiễn Trong đó, nhà đầu tư thực hiện xã hội hóa được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, như được Nhà nước giao đất, cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng; được hỗ trợ kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án đầu tư đã tự thực hiện công tác đền bù, giải phóng

Trang 32

mặt bằng; được hưởng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp; được tham gia cung cấp các dịch vụ công do Nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham gia đấu thầu nhận các hợp đồng, dự án sử dụng nguồn vốn trong và ngoài nước phù hợp với chức năng, nhiệm vụ hoạt động theo quy định của pháp luật; được đối

xử bình đẳng đối với các sản phẩm và dịch vụ của cơ sở thực hiện xã hội hóa

1.3 Thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục

Xã hội hóa là một khái niệm được nhiều tác giả quan tâm trong vài thập niên gần đây, cùng với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về xã hội hóa

Trên thế giới nhiều nước không dùng thuận ngữ xã hội hóa mà sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau có liên quan ít nhiều đến các nội dung của xã hội hóa như phi tập trung hóa: với hai nội dung phân quyền hạn, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền và huy động sự tham gia của cộng đồng, các tổ chức vào phát triển lĩnh vực xã hội

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cho rằng: xã hội hóa là sự chuyển hóa hình thức sở hữu từ tư nhân sang hình thức sở hữu công, sở hữu toàn dân Theo cách hiểu này, khái niệm xã hội hóa có tính tương đồng với khái niệm quốc hữu hóa

Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt – Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin trang 1848 giải thích thuật ngữ xã hội hóa như sau: xã hội hóa là làm cho thành chung của xã hội: xã hội hóa tư liệu sản xuất

Theo từ điển Anh – Việt, Nhà xuất bản thế giới, Xã hội hóa có nghĩa là tập thể hóa, đưa các phương tiện sản xuất từ tư nhân sang tập thể

Những quan niệm trên về xã hội hóa đều xuất phát từ một tiêu chí chung là chuyển đổi hình thức sở hữu tư nhân sang sở hữu tập thể hoặc sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân

Trang 33

Theo cuốn: Một số thuật ngữ hành chính của Viện nghiên cứu hành chính – Học viện Hành chính Quốc gia thì khái niệm về xã hội hóa theo nghĩa truyền thống như trên là đúng nhưng chưa đủ, bởi vì thực tế hiện nay có rất nhiều lĩnh vực được “xã hội hóa” mà không liên quan đến điều kiện chuyển đổi hình thức sở hữu Xã hội hóa ở đây được sử dụng theo nghĩa chung để chỉ quá trình mở rộng phạm vi, quy mô tham gia của xã hội vào một lĩnh vực, một công việc nào đó Ví dụ: xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa thể dục thể thao,

xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Với quan niệm như vậy, xã hội hóa là sự thể hiện đường lối vận động quần chúng, huy động sức mạnh của toàn xã hội và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng ta luôn coi trọng trong suốt quá trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng Tuy nhiên thuật ngữ “xã hội hóa” chỉ mới được chính thức sử dụng từ Đại hội Đảng lần thứ VII Nó được coi như một quan điểm chỉ đạo không những để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo nói riêng mà để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội nói chung

Trên cơ sở xem xét các yếu tố trên, có thể đưa ra khái niệm xã hội hóa như sau: “Xã hội hóa là một quá trình chuyển hóa, tạo lập cơ chế hoạt động

và cơ chế tổ chức quản lý mới của một số lĩnh vực kinh tế - xã hội, trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm nhằm thu hút sự tham gia rộng rãi của nhân dân, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”

1.3.1 Ý nghĩa của xã hội hóa giáo dục

1.3.1.1 Thực hiện chức năng quản lý xã hội của nhà nước trong giáo dục

Trong các lĩnh vực xã hội, giáo dục được coi là yếu tố quan trọng, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội, là chìa khóa để Việt Nam có thể khẳng định vị trí của mình ở khu vực và thế

Trang 34

giới Các cơ sở giáo dục đào tạo nói chung, giáo dục mầm non, phổ thông giáo dục thường xuyên nói riêng đều là các đối tượng xã hội chịu sự quản lý của Nhà nước

Quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội không phải

là sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào hoạt động của các lĩnh vực đó mà là việc tạo ra khung pháp lý để làm cơ sở chỉ đạo, điều hành; để thực hiện kiểm tra, đôn đốc, tạo ra điều kiện, tiền đề đảm bảo cho các hoạt động giáo dục diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước

Để quản lý và điều hành các hoạt động xã hội nói chung và hoạt động giáo dục nói riêng Nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau để quản lý: pháp luật, chính sách, kế hoạch chiến lược, tài chính, trong đó tài chính là một trong những công cụ quan trọng để thực hiện các mục tiêu chiến lược

Để thực hiện chức năng quản lý giáo dục, trong điều kiện nước ta còn nghèo, kinh phí cho giáo dục còn hạn chế, Nhà nước phải có biện pháp để vận động được toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển giáo dục Nhà nước cần ban hành các cơ chế, chính sách đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, khuyến khích sự tham gia rộng rãi của nhân dân của toàn xã hội vào phát triển sự nhiệp giáo dục

Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, hệ thống các cơ sở giáo dục ngoài công lập phát triển ở hầu hết các cấp học, Nhà nước cho phép thành lập và hoạt động vì lợi ích chung, lợi ích của toàn xã hội Hoạt động của các cơ sở giáo dục này cần có cơ sở pháp lý và các điều kiện cần thiết

mà chỉ có Nhà nước mới tạo ra được

Xu hướng “thương mại hóa” các cơ sở giáo dục ngoài công lập đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước nhằm đảm bảo cho các cơ sở này hoạt động đúng định hướng Các cơ sở giáo dục ngoài công lập được thành lập nhằm

Trang 35

đáp ứng nhu cầu của người học hay nói cách khác là nó có nhiệm vụ cung cấp các “dịch vụ giáo dục” theo nhu cầu đòi hỏi của thị trường, do đó hoạt động của các cơ sở này dễ chạy theo lợi nhuận, tăng học phí, không đảm bảo chất lượng giaoc dục Mặt khác, dịch vụ giáo dục là các dịch vụ công cộng đặc biệt, hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng nên Nhà nước phải đảm bảo để chúng hoạt động theo nguyên tắc của một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động vì lợi ích chung

1.3.1.2 Xã hội hóa giáo dục nhằm tăng cường các nguồn lực để tạo điều kiện phát triển giáo dục

Sự tham gia của toàn xã hội vào công tác giáo dục góp phần làm phong phú, đa dạng các nguồn lực nhằm giải quyết mâu thuẫn bao trùm đã từng kéo dài và gây hậu qủa lớn cho chất lượng giáo dục, đó là mâu thuẫn giữa yêu cầu

về phát triển quy mô, chất lượng đòi hỏi ngày càng cao của giáo dục với khả năng và điều kiện còn hạn chế của nền kinh tế

Xã hội hóa giáo dục nhằm huy động các nguồn lực trong xã hội vào sự nghiệp giáo dục, nguồn lực rất đa dạng chứ không chỉ là nguồn tài chính, đó

là nhân lực, vật lực và tài chính; việc đa dạng hóa, đa phương hóa các nguồn đầu tư tài chính cho sự nghiệp giáo dục vô cùng quan trọng khi tiềm năng của

xã hội ngày càng lớn, ngân sách của Nhà nước dành cho giáo dục còn hạn chế Tuy nhiên một mặt chúng ta phải yêu cầu sự đầu tư kinh phí từ nguồn ngân sách Trung ương phải thỏa đáng nhưng mặt khác chúng ta cũng đòi hỏi

sự đóng góp của địa phương vào sự nhiệp giáo dục Ngoài ra cần huy động nhiều nguồn vốn cho giáo dục bằng sự vận động của các lực lượng xã hội, các

tổ chức Chính phủ và Phi chính phủ cùng mỗi người dân đóng góp để ngày càng tăng cường các nguồn lực để xây dựng sự nghiệp giáo dục

Việc đa dạng hóa các nguồn lực còn có ý nghĩa là phát triển và huy động mọi tiềm năng tùy theo đối tượng, một mặt phải tăng cường đầu tư của

Trang 36

Nhà nước, nhưng biết sử dụng đúng mục tiêu và chú trọng các ưu tiên Không phải chỉ nhằm vào phụ huynh học sinh và trong phụ huynh học sinh không phải chỉ huy động sự đóng góp tiền của, khả năng chính và rất cần thiết của phụ huynh là chăm lo việc nuôi dưỡng và dạy dỗ con cái trong gia đình, kết hợp với giáo dục nhà trường và xã hội Mỗi lực lượng xã hội có sức mạnh riêng, có chức năng riêng, cần huy động đúng khả năng của họ vào việc định hướng chính cho công tác xã hội hóa giáo dục

1.3.1.3 Xã hội hóa giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy hiệu quả xã hội của giáo dục

Nói đến giáo dục là nói đến chất lượng vì mục tiêu hàng đầu của giáo dục là chất lượng, trước hết là chất lượng nhân cách của những con người được giáo dục, được đào tạo, xã hội hóa giáo dục là một phương thức tích cực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

Nhà nước chủ trương thực hiện xã hội hóa giáo dục và đào tạo, khuyến khích mọi thành phần tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đa dạng hóa các loại hình trường lớp, tạo môi trường cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục; có cạnh tranh thì mới có các bước đột phá về chất lượng giáo dục, mới có uy tín và thu hút được nhiều học sinh

Xã hội hóa giáo dục hỗ trợ và tạo nên những thuận lợi cho việc tổ chức quá trình giáo dục của nhà trường để làm nên chất lượng, sự tham gia của xã hội góp phần cụ thể hóa mục tiêu giáo dục thích hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và của từng địa phương, góp phần mở rộng nội dung giáo dục cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống, xây dựng nên môi trường thuận lợi cho việc giáo dục và đào tạo con người, tăng cường lực lượng của người dạy và người học, phát triển yếu tố nội sinh là chính con người trong giáo dục, đa dạng hóa các nguồn lực tạo điều kiện vật chất và tinh thần để nâng cao chất lượng giáo dục

Trang 37

1.3.1.4 Xã hội hóa giáo dục tạo ra một xã hội học tập, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

Khi nói đến xã hội hóa giáo dục không có nghĩa chỉ khai thác sự đóng góp của các lực lượng xã hội để làm giáo dục mà còn là sự vận động của toàn

xã hội tham gia vào việc học tập, việc hưởng thụ lợi ích giáo dục, đây vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ và trách nhiệm đối với bản thân, với cộng đồng và đất nước Xã hội hóa giáo dục chính là công cụ để tăng cơ hội tiếp cận với giáo dục cho mọi người, đóng góp thêm vào ngân sách nhà nước để đầu tư mạnh vào giáo dục và thúc đẩy tiến trình tiến tới một xã hội học tập

Muốn có một xã hội học tập, phải thực hiện đúng đắn và sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục cho mọi người “Ai cũng được học hành” Muốn vậy, cần phải cải cách nền giáo dục nước ta thành nền giáo dục mở, không chỉ khép kín trong nhà trường mà học ở mọi nơi, mọi lúc, học liên tục, học suốt đời để ai cũng có học, có nghề, có cơm ăn áo mặc, cuộc sống hạnh phúc Muốn cho cả nước trở thành một xã hội học tập không thể không tiến hành xã hội hóa giáo dục, nó là cơ sở, là điều kiện để các chính quyền địa phương thi đua xây dựng các “Trung tâm học tập cộng đồng xã” hay “xã hội hiếu học tiên tiến ba tốt”: phổ cập giáo dục tốt, trình độ cao nhất ở địa phương; phổ cập và cải tiến nhề nghiệp tốt như nắm bắt tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển dịch mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, làm giàu cho bản thân và cộng đồng; có tổ chức và có các điều kiện khuyến học, khuyến tài tốt như trường trung học, trung tâm học tập cộng đồng, hội khuyến học, gia đình hiếu học, dòng học khuyến học

Xã hội hóa giáo dục là tạo phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội, vận động toàn dân, trước hết là thế hệ trẻ và những người trong độ tuổi lao động thực hiện học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời, làm cho

xã hội ta trở thành một “xã hội học tập” để làm việc tốt hơn, có thu nhập cao

Trang 38

hơn và có cuộc sống đầy đủ hơn Xã hội hóa giáo dục và học tập suốt đời luôn gắn bó hữu cơ với nhau và là một nhu cầu bức xúc trong một thị trường lao động đang biến động và phát triển ở nước ta

Xã hội hóa giáo dục còn là cách thức thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, bởi xã hội hóa có nguồn gốc sâu xa từ bản chất công bằng, nhân văn của giáo dục nhằm xây dựng một nền giáo dục của toàn dân

Công bằng xã hội trong giáo dục là tạo điều kiện để mọi người đều được học hành, thực hiện phổ cập giáo dục, nâng cao mặt bằng dân trí Công bằng xã hội trong giáo dục là một nội dung quan trọng trong quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc, đó cũng là ước nguyện của mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước, nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII): “Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục Người đi học phải đóng học phí, người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo, Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học, khắc phục tình trạng bỏ học vì lý do khó khăn về tài chính”

Muốn vậy chúng ta phải thực hiện xã hội hóa giáo dục, nhằm tạo ra một

hệ thống giáo dục “mở” thường xuyên cho mọi người học tập suốt đời, xã hội hóa giáo dục nhằm đa dạng hóa các hình thức học tập, các loại hình trường lớp tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần đều có thể được học tập thường xuyên, học tập suốt đời

Giáo dục cho mọi người, mọi người làm giáo dục tạo ra một “xã hội học tập” là trực tiếp nâng cao trình độ dân trí của cộng đồng; dân trí cao là nền tảng, là điều kiện để phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đó cũng là cơ sở để lựa chọn và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

Trang 39

1.3.1.5 Xã hội hóa giáo dục góp phần làm cho giáo dục phục vụ đắc lực những mục tiêu kinh tế - xã hội địa phương

Giáo dục và kinh tế - xã hội vốn có những mối quan hệ mang tính chất quy luật, sự tham gia của xã hội ở tầm vĩ mô cũng như vi mô vào giáo dục sẽ làm cho giáo dục gắn với mọi mặt của đất nước và từng địa phương, nhà trường sẽ gắn với xã hội, giáo dục gắn với cộng đồng và phát triển bằng sức mạnh của cộng đồng, vì những mục tiêu của cộng đồng Nếu như quan điểm

xã hội hóa công tác giáo dục thực sự thấm nhuần về từng vùng, từng địa phương thì sẽ là một công cụ đắc lực phục vụ cho những mục tiêu phát triển địa phương và bản thân giáo dục sẽ thu hút được sức mạnh, tiềm năng của địa phương

Để thực hiện xã hội hóa giáo dục cần nâng cao trách nhiệm của toàn dân đối với giáo dục nhưng đồng thời cũng đòi hỏi giáo dục phải phục vụ toàn dân, đảm bảo tốt công bằng xã hội, vừa khai thác vừa bồi dưỡng sức dân, khai thác để phục vụ nhân dân được tốt hơn

1.3.1.6 Xã hội hóa giáo dục góp phần thực hiện dân chủ hóa giáo dục

Dân chủ trong giáo dục là một quyền của nhân dân, để người dân có quyền thực sự về giáo dục, không những họ phải được học mà còn được tạo điều kiện để có trình độ và năng lực tham gia giáo dục, làm giáo dục

Dân chủ hóa giáo dục là tạo điều kiện để mọi người có cơ hội được học tập theo nhu cầu chính đáng của mình, đồng thời có điều kiện để mọi người tham gia vào quá trình giáo dục; từ việc tham gia vào mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, đánh giá giáo dục đến việc xây dựng kế hoạch, chương trình, quản lý giáo dục khắc phục dần lối quản lý áp đặt, dân chủ hóa quản lý giáo dục tức là thực hiện quyền làm chủ của mình đối với sự nghiệp giáo dục

Trang 40

Do đó, xã hội hóa giáo dục và dân chủ hóa giáo dục có mối quan hệ biện chứng với nhau, nhờ dân chủ hóa giáo dục mà các thành phần tham gia

xã hội hóa công tác giáo dục trở nên đông đảo, cởi mở, rộng khắp ở mỗi địa phương, trường học Ngược lại, nếu xem dân chủ trong giáo dục là mục đích thì xã hội hóa giáo dục là phương tiện thực hiện mục đích

1.3.2 Mục tiêu của xã hội hoá giáo dục

- Tạo ra sự thay đổi về cơ bản cơ chế quản lý, vận hành và tổ chức hoạt động giáo dục theo hướng dân chủ hoá, đa dạng hoá, phù hợp với cơ chế của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Phát huy cao độ nội lực tiềm tàng trong xã hội; khơi dậy tính chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân tạo ra những nguồn lực phong phú đa dạng từ trong và ngoài nước để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục đào tạo phát triển nhanh, mạnh và vững chắc, phục vụ kịp thời những yêu cầu to lớn của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới

- Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, từng bước không ngừng nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục đào tạo của mỗi người dân; hình thành trong mọi tầng lớp nhân dân ý thức học tập thường xuyên, học tập suốt đời, tiến tới xây dựng một xã hội học tập

1.3.3 Nội dung thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục

Đảng, Nhà nước ta đã xác định xã hội hóa giáo dục là “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước” Quan niệm này đã thể hiện rõ nội dung của xã hội hóa công tác giáo dục, thực chất nội dung của xã hội hóa giáo dục là huy động các lực lượng xã hội tham gia vào các công việc sau:

Ngày đăng: 28/12/2020, 18:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w