1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực thị chính sách phát triển nguồn nhân lực tại sở tư pháp tỉnh vĩnh phúc

121 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách phát triển nguồn nhân lực công vụ nói chung và nguồn nhân lực công vụ thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp nói riêng trong những năm qua đã được triển khai khá đồ

Trang 1

i

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐINH THỊ PHƯƠNG THẢO

Trang 2

ii

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐINH THỊ PHƯƠNG THẢO

THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

NGUỒN NHÂN LỰC TẠI SỞ TƯ PHÁP TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Mã số: 60 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS BÙI HUY KHIÊN

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 3

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu độc lập của bản thân, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi số liệu nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như trên tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

về đề tài của mình./

Tác giả luận văn

Đinh Thị Phương Thảo

Trang 4

iv

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập chương trình cao học chuyên ngành Chính Sách Công tại Học viện hành chính quốc gia, đặc biệt là quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài luận văn thạc sỹ, cá nhân tôi luôn nhận được sự quan tâm, hướng dẫn nhiệt tình của quý thầy cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình, các đồng nghiệp và bạn bè

Cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn đến:

Toàn thể quý thầy cô trong Học viện hành chính Quốc gia, khoa Sau Đại học - Học viện hành chính Quốc gia, các giảng viên nhiều kinh nghiệm giảng dạy đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Bùi Huy Khiên, người đã hết lòng tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc, c ng tập thể đồng nghiệp, cán bộ của Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc đã nhiệt tình giúp đỡ tạo điều kiện cung cấp tài liệu, số liệu, hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè những người đã không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã bổ sung cho tôi những đóng góp quý báu để luận văn thêm hoàn chỉnh, có giá trị trong thực tiễn./

Tác giả luận văn

Đinh Thị Phương Thảo

Trang 5

v

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU x

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài luận văn 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 6

3.1 Mục đích nghiên cứu 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu 7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7

5.1 Phương pháp luận 7

5.2 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

7 Cấu trúc của luận văn 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH TƯ PHÁP 10

1.1 Một số khái niệm cơ bản 10

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 10

1.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực 12

1.1.3 Chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Tư pháp 15

1.2 Vai trò của nguồn nhân lực ngành tư pháp 16

1.3 Nội dung chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Tư pháp 18

1.3.1 Chính sách tuyển dụng và sử dụng nguồn nhân lực 18

1.3.2 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực 19

1.3.3 Chính sách tiền lương 20

1.4 Các bước tổ chức thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp 20

Trang 6

vi

1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách 20

1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách 22

1.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách 23

1.4.4 Duy trì chính sách 24

1.4.5 Điều chỉnh chính sách 25

1.4.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách 25

1.4.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm 26

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp 27

1.5.1 Môi trường thực thi chính sách 27

1.5.2 Mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi chính sách 27 1.5.3 Các yếu tố thuộc về đơn vị tổ chức thực thi chính sách 28

1.5.4 Năng lực thực thi của cán bộ, công chức, viên chức 29

1.6 Kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực ở một số quốc gia 33

1.6.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 33

1.6.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 34

1.6.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 35

1.6.4 Kinh nghiệm Singapore 36

1.7 Môt số giá trị rút ra từ nghiên cứu về kinh nghiệm thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực 37

Tiểu kết chương 1 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI SỞ TƯ PHÁP, TỈNH VĨNH PHÚC 41

2.1 Giới thiệu về Sở Tư pháp, tỉnh Vĩnh Phúc 41

2.1.1 Khái quát chung về Sở Tư pháp, tỉnh Vĩnh Phúc 41

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Sở Tư pháp, tỉnh Vĩnh Phúc 41

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Sở Tư pháp, tỉnh Vĩnh Phúc 43

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực của Sở Tư pháp, tỉnh Vĩnh Phúc 43

2.2.1 Số lượng nguồn nhân lực của Sở Tư pháp, tỉnh Vĩnh Phúc 43

2.2.2 Cơ cấu nguồn nhân lực của Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc 46

2.2.3 Phân bố nguồn nhân lực của Sở Tư pháp, tỉnh Vĩnh Phúc 47

Trang 7

vii

2.2.4 Chất lượng nguồn nhân lực của Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc 48

2.3 Thực trạng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp, tỉnh Vĩnh Phúc 51

2.3.1 Triển khai thực hiện chính sách 52

2.3.2 Thực trạng quy hoạch, tuyển dụng nguồn nhân lực ngành tư pháp 53

2.3.3 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực ngành tư pháp 56

2.3.4 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành tư pháp 57

2.3.5 Thực trạng tạo động lực làm việc cho nguồn nhân lực ngành tư pháp 62 2.4 Đánh giá chung về thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ở Sở Tư pháp, tỉnh Vĩnh Phúc 69

2.4.1 Những kết quả đã đạt được 69

2.4.2 Những hạn chế 71

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 72

Tiểu kết chương 2 75

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI SỞ TƯ PHÁP, TỈNH VĨNH PHÚC 76

3.1 Phương hướng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc 76

3.1.1 Quan điểm của Đảng và định hướng của ngành tư pháp về phát triển nguồn nhân lực tư pháp ở nước ta trong những năm tới 76

3.1.2 Phương hướng của tỉnh Vĩnh Phúc trong thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp 78

3.2 Các giải pháp đẩy mạnh việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc 80

3.2.1 Phân công, phối hợp tổ chức thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp 80

3.2.2 Đổi mới công tác quy hoạch, tuyển dụng nguồn nhân lực ngành tư pháp 84

3.2.3 Bố trí, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực ngành tư pháp 86

3.2.4 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành tư pháp 87

Trang 8

viii

3.2.5 Tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức ngành tư pháp

92

3.2.6 Đánh giá, khen thưởng, kỷ luật nguồn nhân lực ngành tư pháp công bằng, khách quan 95

3.2.7 Thực hiện các chế độ, chính sách đối với nguồn nhân lực ngành tư pháp 97

3.2.8 Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp tại Sở 99

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC

Trang 9

ix

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CBCCVC : Cán bộ công chức viên chức CCVC : Công chức viên chức

CNH : Công nghiệp hóa

NSLĐ : Năng suất lao động

LLLĐ : Lực lượng lao động

KT-XH : Kinh tế- xã hội

UBND : Ủy ban nhân dân

ĐTBD : Đào tạo bồi dưỡng

HCNN : Hành chính nhà nước

CCHCNN : Cải cách hành chính nhà nước XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 10

Bảng:

Bảng 2.1: Tổng số CBCCVC của Sở tư pháp năm 2016 43Bảng 2.2: Cơ cấu nhân lực theo độ tuổi giai đoạn 2012 - 2016 46Bảng 2.3 Thực trạng phân bố CBCCVC Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc năm

2016 47Bảng 2.4: Thống kê trình độ đào tạo của công chức Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc 49Bảng 2.5: Mức độ thỏa mãn tiền lương của người lao động 64Bảng 2.6: Mức độ hài lòng của CBCCVC với tiền thưởng 65

Trang 11

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Trong bất kỳ hình thức tổ chức bộ máy nhà nước nào, dù theo chế độ phân quyền hay quyền lực nhà nước là thống nhất, thì tư pháp vẫn được coi là một quyền năng hết sức quan trọng, thể hiện sức mạnh và uy quyền của nhà nước đối với xã hội V.I Lênin đã từng khẳng định: “Một nền tư pháp tồi, xã hội sẽ phải trả một giá đắt” [1, tr2] Nhận định này cho thấy, công tác tư pháp luôn có vai trò quan trọng trong các phương diện hoạt động của bất kỳ nhà nước nào Trong thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc lần thứ IV vào tháng 2 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền” [1,tr5] Trải qua lịch sử 70 năm xây dựng và phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng và điều hành Nhà nước, sự nỗ lực phấn đấu của nhiều thế hệ cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức, ngành tư pháp đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước

Nền tư pháp bao gồm hệ thống pháp luật và các thiết chế nhằm duy trì, bảo đảm việc thi hành pháp luật một cách nghiêm minh, phát huy hiệu quả thực tế của pháp luật trong đời sống xã hội Trong điều kiện quyền lực nhà nước thống nhất, tư pháp không thể hiểu là một quyền tách biệt, do một hệ thống cơ quan độc quyền nắm giữ, mà “tư pháp” cần hiểu theo ý nghĩa “bảo

vệ pháp luật”, có sự tham gia của nhiều hoạt động, nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau như: Tòa án, Viện kiểm sát, các cơ quan điều tra, công chứng, tổ chức giám định tư pháp, tổ chức luật sư, cơ quan hộ tịch, lý lịch tư pháp… Tư pháp được coi là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của nhà nước nhằm duy trì

an ninh, an toàn và công bằng xã hội

Hệ thống cơ quan tư pháp bao gồm các cơ quan và thiết chế nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo vệ công lý bằng các biện pháp và thủ tục

Trang 12

2

đặc thù dựa trên nguyên tắc tài phán Các cơ quan tư pháp gồm các cơ quan tài phán và cơ quan khác phục vụ trực tiếp cho hoạt động tài phán Cho đến nay, mặc dù vẫn còn nhiều ý kiến, quan niệm về nội hàm khái niệm tư pháp, bản chất và phạm vi hoạt động; quan niệm về hệ thống các cơ quan tư pháp; quan niệm về tư pháp trong mối liên hệ với lập pháp và hành pháp; bản chất của các quan hệ hành chính - tư pháp… song không thể phủ nhận vai trò và những thành tựu to lớn của công tác tư pháp đối với hoạt động quản lý nhà nước, đảm bảo trật tự an toàn xã hội

Công tác tư pháp mà các Sở Tư pháp đang đảm nhận mặc dù không phải

là việc thực hiện quyền tài phán - xét xử (tư pháp theo nghĩa hẹp), nhưng thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và theo dõi thi hành pháp luật, quản lý các hoạt động hành chính tư pháp và bổ trợ tư pháp giúp cho hoạt động xét xử được tiến hành thuận lợi, hiệu quả Kể từ khi Bộ Tư pháp được thành lập lại (năm 1981) đến nay, công tác tư pháp được quy định cụ thể hơn, ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của đời sống thực tiễn và nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng Đặc biệt sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện do Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, Bộ Tư pháp được giao nhiều trọng trách hơn, tổ chức của ngành Tư pháp cũng từng bước được mở rộng, đội ngũ CBCCVC được tăng cường, vai trò của công tác tư pháp và vị trí của ngành Tư pháp trong đời sống xã hội ngày càng được khẳng định Hoạt động tư pháp hiện đang phản ánh tính thống nhất của quyền lực nhà nước và mối liên hệ chặt chẽ của ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thể hiện rõ tính chất hành chính - tư pháp trong quản lý nhà nước đối với các hoạt động tư pháp cũng như những hoạt động khác nhằm bảo đảm việc tôn trọng, thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật trong mọi mặt của đời sống xã hội Công tác tư pháp đã và đang góp phần không nhỏ vào việc thực hiện chủ trương, yêu cầu hiện nay của Đảng và Nhà nước ta là ổn định trật tự xã hội và thực hiện quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật

Trang 13

3

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Sở

Tư pháp, yếu tố con người là yếu tố rất quan trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Cán bộ là gốc của mọi công việc Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Chất lượng hoạt động của một tổ chức phụ thuộc phần lớn vào chất lượng của đội ngũ nhân sự của tổ chức đó Vì vậy phát triển đội ngũ nhân sự luôn được xác định là một trong những yêu cầu cấp thiết, là tiền đề để một tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đáp ứng các đòi hỏi của môi trường để phát triển

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm tới chính sách phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực trong bộ máy nhà nước trong đó có nguồn nhân lực công vụ thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức viên chức đã trở thành một nội dung trọng tâm của công cuộc cải cách hành chính Chính sách phát triển nguồn nhân lực công vụ nói chung và nguồn nhân lực công vụ thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp nói riêng trong những năm qua đã được triển khai khá đồng bộ trên cả nước, góp phần vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực trong bộ máy nhà nước.Tuy nhiên, trong quá trình triển khai chính sách này tại các đơn vị địa phương cũng xuất hiện những bất cập nhất định cần điều chỉnh

Là một viên chức đang công tác tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc, tôi nhận thấy được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của đội ngũ CBCCVC của Sở Tư pháp trong tình hình mới Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc không thể hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình nếu không xây dựng được nguồn nhân lực có

đủ trình độ, năng lực và các phẩm chất cần thiết

Xuất phát từ các lý do trên, học viên chọn đề tài “Thực thi chính sách phát

triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài luận văn

cao học chuyên ngành Chính sách công của mình Nghiên cứu đề tài này, học viên mong muốn có những đóng góp nhất định để có thể góp phần vào việc

Trang 14

4

giúp cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực công

vụ nói chung và nguồn nhân lực công vụ thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp nói riêng đổi mới chính sách phát triển nguồn nhân lực đồng thời giúp Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc triển khai tốt hơn chính sách phát triển nguồn nhân lực, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực của mình trong những năm tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực của đất nước, trong đó có nguồn nhân lực ngành tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp Quản lý, phát triển nguồn nhân lực ngành

tư pháp ở nước ta đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của một số nhà khoa học và quản lý trong những năm gần đây

Đa số các công trình nghiên cứu có xu hướng tập trung xem xét vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô, gắn chính sách phát triển nguồn nhân lực với giải quyết công ăn việc làm, phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trong đó có một số nghiên cứu tiêu biểu như đề tài nghiên cứu khoa học

cấp Nhà nước năm 2000: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực phát

triển kinh tế - xã hội” của GS.TS Nguyễn Mạnh Đường làm chủ nhiệm; Đề

tài khoa học cấp Nhà nước năm 2004: “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực

của Việt Nam” của TS Nguyễn Tuyết Mai, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Năm 2005, Bộ Tư pháp đã nghiên cứu đề tài: “Xây dựng nguồn nhân lực

ngành tư pháp đáp ứng yêu cầu mở cửa hội nhập và cải cách hành chính nhà nước” Đề tài đã nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực ngành tư pháp, trên cơ

sở đó đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nguồn nhân lực ngành tư pháp đáp ứng yêu cầu mở của hội nhập và cải cách hành chính Trong các giải pháp đề xuất, các tác giả đề tài nhấn mạnh đến giải pháp quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tạo môi trường và động cơ làm việc cho nguồn nhân lực của ngành

Trang 15

5

Năm 2006, TS Lê Quang Hoành và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu

đề tài “Quản lý nguồn nhân lực ngành tư pháp trong thời kỳ công nghiệp hoá

- hiện đại hoá” Đây là một đề tài nghiên cứu khá toàn diện về quản lý nguồn

nhân lực ngành tư pháp, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn nhân lực ngành tư pháp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào nhóm các nhà quản lý các cấp từ trung ương đến địa phương, do đó các giải pháp nhóm tác giả đưa ra chưa bao quát được các đối tượng của toàn ngành

Năm 2009, Vũ Thị Minh Hạnh và cộng sự đã nghiên cứu đề tài “Đánh

giá nguồn lực và các yếu tố kinh tế, xã hội ảnh ưởng đến phát triển nguồn nhân lực” Đây là một đề tài rất rộng, nghiên cứu các yếu tố thuộc về nguồn

lực (trong đó có nguồn nhân lực) và các yếu tố về kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực, trong đó có nguồn nhân lực ngành tư pháp Tuy nhiên, cấu phần đánh giá nguồn nhân lực và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp chỉ là một khía cạnh nhỏ nên các phân tích còn chưa thật toàn diện và sâu sắc

Một số luận văn cao học cũng đã bước đầu nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực ngành tư pháp nói riêng:

- Luận văn thạc sĩ Quản lý công: “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với

phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp khu vực công tại Hà Nội” của Bùi

Huy Quyết, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2007

- Luận văn thạc sĩ Quản lý công: “Quản lý nhà nước về phát triển

nguồn nhân lực ngành tư pháp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” của Vũ Trọng

Tuấn, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2012

Ngoài ra còn một số bài viết tập trung nghiên cứu một số đối tượng cụ thể trong nguồn nhân lực ngành tư pháp, như:

Trang 16

6

- Bùi Thanh Tâm (2006): “Đánh giá thực trạng và xác định nhu cầu

đào tạo cán bộ tư pháp cấp xã ở nước ta hiện nay”

- Lưu Hoài Chuẩn (2006): “Đánh giá hiệu quả làm việc của cán bộ tư

pháp ở các xã, phường của một số địa phương”

Các công trình nghiên cứu khoa học và các luận văn, bài viết trên đã đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp ở thời điểm nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực ngành tư pháp của các địa phương nói riêng Tuy nhiên, hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp ở Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc, qua đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp của tỉnh Nhiệm vụ này được đặt ra đối với tác giả của luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua phân tích, đánh giá thực trạng việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở

Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp

- Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc

- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm việc thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm tới

Trang 17

7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước và của ngành Tư pháp về thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Tác giả luận văn nghiên cứu các văn bản quy phạm có liên quan đến đề tài nghiên cứu; Tài liệu của các hội nghị, hội thảo chuyên đề; Kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học có liên quan đã được công bố

- Phương pháp phân tích và tổng hợp:

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích để lý giải tính cấp thiết và ý nghĩa mà đề tài nghiên cứu đặt ra trong thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh, phân

Trang 18

- Phương pháp thống kê:

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê trong chương 2 để thống kê

số liệu cụ thể về thực trạng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại

Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc

- Phương pháp điều tra xã hội học:

Điều tra bằng bảng hỏi về thực trạng thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc

Học viên đã điều tra bằng bảng hỏi với 80 phiếu được phát ra, thu về 60 phiếu cho đối tượng là CBCCVC của Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận giải, hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp

- Những kết luận của luận văn là cơ sở để các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành tư pháp của

Sở trong những năm tới

- Luận văn là tài liệu tham khảo cho những cán bộ và học viên quan tâm đến đề tài triển khai thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành

tư pháp tại các địa phương

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Trang 20

10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH TƯ PHÁP

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực không phải là một phạm trù mới, nó đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới nhưng mới được biết đến ở Việt Nam trong thời gian gần đây Mặc dù còn mới mẻ nhưng khái niệm này đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, nó được sử dụng không chỉ trong nghiên cứu khoa học mà còn được sử dụng nhiều trong các tổ chức doanh nghiệp và các cơ quan, trường học trong cả nước Từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì vấn đề NNL trở thành đề tài nhận được quan tâm đặc biệt

Khái niệm NNL đã được nhiều tác giả, nhà khoa học, nhà kinh tế nghiên cứu, phân tích và đề cập ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau NNL là một khái niệm rất rộng, rất phong phú và đa dạng, vì vậy hiện nay vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm này Xin nêu một số quan điểm:

- Trong lý thuyết về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định NSLĐ và tiến bộ xã hội Ở đây, con người được xem xét từ góc độ

là LLLĐ cơ bản của xã hội

- Theo thuyết tăng trưởng kinh tế, thì NNL chính là nguồn lực chủ yếu tạo động lực cho sự phát triển Vì vậy, NNL được coi là yếu tố cơ bản hàng đầu và đóng một vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế

- Theo đánh giá của Liên hợp quốc thì, nguồn nhân lực bao gồm những người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động

Trang 21

11

- Theo giáo sư, tiến sỹ khoa học Phạm Minh Hạc: “nguồn lực con người cần được hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất

và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [14, tr40]

- Theo quan điểm của một số nhà khoa học khác, thì NNL được xem

là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất, tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực, phẩm chất, thái độ và phong cách lao động Chất lượng NNL phải gắn liền với truyền thống văn hoá dân tộc

Tuy có các quan niệm khác nhau về NNL, nhưng nhìn chung các quan

điểm đều có sự thống nhất chung ở những nội dung cơ bản sau: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, giữ vai trò trung tâm và quyết định đến sự phát triển KT-XH của một quốc gia, đồng thời là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển, tiến bộ xã hội của quốc gia đó

Khi xem xét NNL người ta có thể xem xét trên hai góc độ, số lượng và chất lượng của NNL

Về số lượng: NNL được hiểu thông qua các chỉ tiêu về quy mô và tốc

độ tăng trưởng của NNL Các chỉ tiêu này có liên quan mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số, tuổi thọ bình quân Số lượng NNL đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia Nếu số lượng NNL không tương xứng với sự phát triển (thiếu hoặc thừa) thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển KT-XH của quốc gia đó

Như vậy, số lượng NNL được đo bằng tổng số người đang có việc làm,

số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng Nhưng đối với một doanh nghiệp, hay một cơ quan hành chính nhà nước thì NNL không bao gồm những người trong độ tuổi lao động của toàn xã hội mà chỉ tính những người trong độ tuổi lao động đang làm việc tại doanh nghiệp hay một cơ quan hành chính nhà nước

Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ,

Trang 22

12

động cơ và ý thức lao động Nói đến chất lượng lao động của NNL là nói đến hàm lượng trí tuệ, trong đó bao gồm trình độ tay nghề, phẩm chất đạo đức và tinh thần, thái độ làm việc Ba mặt thể lực, trí lực, tinh thần thái độ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và thống nhất cấu thành mặt chất lượng NNL Trong đó thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn, ý thức, tinh thần, đạo đức, tác phong là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hoá của thể lực, trí tuệ thành thực tiễn Trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng NNL

Như vậy, khái niệm nguồn nhân lực ngoài nghĩa rộng được hiểu như khái niệm “nguồn lực con người”, thường còn được hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lao động (số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng), thậm chí có khi còn được hiểu là LLLĐ (số người trong

độ tuổi lao động mà có khả năng lao động) Tổng quát có thể nói rằng, NNL bao gồm các mặt thể lực, trí lực, tinh thần và được đánh giá thông qua về số lượng và chất lượng NNL

Từ những quan niệm trên có thể hiểu: NNL là tổng hoà thể lực và trí

lực tồn tại trong toàn bộ LLLĐ xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của một đất nước

1.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực, là sự kết hợp của các yếu tố sau:

- Thể lực:

Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của tứng cá nhân cụ thể Một cơ thể khỏe mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng do nó sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó Thể lực có ý nghĩa quan trọng, quyết

Trang 23

- Đạo đức, phẩm chất:

Đạo đức, phẩm chất là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của nguồn nhân lực, bao gồm toàn bộ tình cảm, tập quán, phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tư tưởng, đạo đức, nghệ thuật gắn liền với truyền thống văn hóa Một nền văn hóa với bản sắc riêng luôn là sức mạnh nội tại của một dân tộc Kinh nghiệm thành công trong phát triển kinh tế của Nhật Bản và các nước NICs châu Á là tiếp thu kỹ thuật phương Tây trên cơ sở khai thác và phát huy các giá trị tốt đẹp của nền văn hóa dân tộc để đổi mới và phát triển

Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau và là tiền đề phát triển của nhau Muốn nâng cao chất lượng NNL phải nâng cao cả

ba mặt: thể lực, trí lực và đạo đức, phẩm chất Tuy nhiên, mỗi yếu tố trên lại liên quan đến các lĩnh vực rộng lớn khác Thể lực gắn với dinh dưỡng, y tế và chăm sóc sức khỏe; trí lực gắn với lĩnh vực giáo dục đào tạo, còn đạo đức, phẩm chất chịu ảnh hưởng của truyền thống văn hóa dân tộc, nền tảng văn hóa và thể chế chính trị Vì vậy, để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực thường phải xem xét trên ba mặt: sức khỏe, trình độ văn hóa và chuyên môn

kỹ thuật, năng lực, phẩm chất của người lao động

Trang 24

14

Như vậy, chất lượng của nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp,

bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất Nó thể hiện trạng thái nhất định của NNL với tư cách vừa là một khách

thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ

xã hội

Chất lượng NNL là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của NNL Nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển KT-XH cũng như mức sống, dân trí của dân cư Cách mạng khoa học kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa đang tác động đến sự phát triển của NNL

Sự vận động tích cực của NNL ở trình độ ngày càng cao hơn mang tính quy luật, là cơ sở để cải biến xã hội và không ngừng nâng cao đời sống vật chất - tinh thần và hoàn thiện con người lao động

Giữa chất lượng NNL và NNL chất lượng cao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Nói đến chất lượng NNL là muốn nói đến tổng thể NNL của một quốc gia, trong đó NNL chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất Bởi vậy, khi bàn về NNL chất lượng cao không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng NNL nói chung của một đất nước NNL chất lượng cao là NNL phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường,

đó là: có kiến thức: chuyên môn, kinh tế, chính trị, pháp luật, ngoại ngữ, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc

Trong thế giới hiện đại, khi chúng ta đang chuyển dần sang nền kinh tế trí thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, NNL chất lượng cao ngày càng thể hiện rõ vai trò và tầm quan trọng của nó Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng NNL

Trang 25

15

Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là NNL chất lượng cao

1.1.3 Chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Tư pháp

Để hiểu khái niệm chính sách phát triển NNL Ngành Tư pháp cần phải hiểu về các khái niệm chính sách, chính sách công, chính sách phát triển NNL

“ Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy”[39, tr3]

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm

vụ chính trị, kinh tế, văn hóa”[40, tr457]

Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về chính sách, nhưng các quan điểm đều có điểm chung: Chính sách là sự lựa chọn hành động của Nhà nước (hay chủ thể) tác động lên đối tượng để đạt mục tiêu nhất định

- Khái niệm chính sách công

"Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó

Trang 26

Hay “ Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với các giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền” [10, tr37]

Theo tác giả có thể hiểu: Chính sách công là sự lựa chọn hành động của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định liên quan với nhau

do Nhà nước ban hành tác động lên đối tượng để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu nhất định

- Khái niệm chính sách phát triển nguồn nhân lực

Chính sách phát triển nguồn nhân lực: “Chính sách phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ các hành động, do nhà nước đề ra nhằm nâng cao năng lực của

cá nhân (hoặc một nhóm người) đang hoạt động trong khu vực nhà nước về mọi mặt: Thể lực, Trí lực, Tâm lực; đồng thời phân bổ, sử dụng khai thác phát huy hiệu quả nhất nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội”

Như vậy, Chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Tư pháp có thể

hiểu là các hành động của nhà nước cũng như của Ngành Tư pháp đưa ra nhằm nâng cao năng lực, chất lượng làm việc của đội ngũ công chức, viên chức đang hoạt động trong ngành về thể lực, trí lực, tâm lực; phát huy hiệu quả nguồn lực phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

1.2 Vai trò của nguồn nhân lực ngành tư pháp

Nguồn nhân lực ngành tư pháp là một bộ phận không thể tách rời trong NNL của đất nước Phát triển NNL ngành tư pháp phải đặt trong mối quan hệ

Trang 27

17

với phát triển NNL của các ngành, các cấp và địa phương

Phát triển NNL ngành tư pháp phải xuất phát từ thực tiễn gắn với việc thực hiện chiến lược phát triển toàn ngành đến năm 2020, là khâu đột phá phát triển ngành tư pháp, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Phát triển NNL ngành tư pháp bảo đảm phát huy tối đa thế mạnh của từng cơ quan, đơn vị và địa phương; bảo đảm cân đối, hài hòa giữa các v ng, miền trong toàn quốc và phải bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, kế thừa và phát huy tối đa nguồn lực công chức, viên chức của ngành tư pháp hiện có, bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững, có trọng tâm, trọng điểm và ph hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam

Ngành Tư Pháp được Đảng ta xác định là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Tuy nhiên, trước yêu cầu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì công tác Tư pháp phải được thực hiện ở một tầm cao hơn, với một tư duy mới hơn, toàn diện hơn, thiết thực và khoa học hơn Thực tiễn hoạt động Tư pháp thời gian qua cho thấy để nâng cao hiệu quả công tác Tư Pháp thì nhân tố con người là quan trọng nhất, nó quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ngành Điều đó đòi hỏi chúng ta phải tăng cường củng cố, kiện toàn và xây dựng đội ngũ làm công tác Tư pháp, cán bộ quản lý hoạt động Tư pháp vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, có phẩm chất chính trị tốt, trình độ chuyên môn vững vàng, am hiểu pháp luật và kiến thức xã hội Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quan điểm coi con người là trung tâm của

sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đã xác

định: “Chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát

triển và hội nhập của đất nước”;“Nâng cao nhận thức và năng lực pháp lý,

đặc biệt là luật pháp quốc tế, thương mại quốc tế, trước hết là của cán bộ chủ

Trang 28

18

chốt các ngành và chính quyền các cấp, doanh nghiệp, cán bộ làm công tác tố tụng, đội ngũ luật sư và những người trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế

quốc tế” [9, tr15] Bên cạnh đó, Văn kiện Đại hội XII của Đảng còn đề ra

nhiều yêu cầu, nhiệm vụ đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

“Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối

sống cho cán bộ, đảng viên”; “Chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc” [9, tr23]

Trước yêu cầu đó, việc phát triển nhân lực nói chung và nguồn nhân lực thực hiện công tác Tư pháp nói riêng, hơn lúc nào hết, cần phải có tầm nhìn chiến lược phát triển tổng thể và dài hạn, nhưng đồng thời, trong mỗi thời kỳ nhất định, cần xây dựng những định hướng cụ thể, để từ đó đánh giá thời cơ, thách thức, những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân… để đề ra mục tiêu và giải pháp phát triển thích hợp đáp ứng yêu cầu của công tác tư pháp và đất nước trong tình hình mới

1.3 Nội dung chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Tư pháp

Từ những đặc điểm của nguồn nhân lực Ngành Ngành Tư pháp, nhà nước đã ban hành các chính sách phát triển nguồn nhân lực cho Ngành Chính sách phát triển nguồn nhân lực Ngành Tư pháp chia ra làm các chính sách như chính sách tuyển dụng, sử dụng nguồn nhân lực; chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Ngành Tư pháp

1.3.1 Chính sách tuyển dụng và sử dụng nguồn nhân lực

Tuyển dụng nguồn nhân lực được coi là cánh cửa đầu vào của nguồn nhân lực Nói cách khác, chất lượng ban đầu nguồn nhân lực phụ thuộc rất

nhiều vào công tác thực thi chính sách tuyển dụng Để thực hiện tốt chính sách này cần phải đảm bảo các nguyên tắc: Xuất phát từ yêu cầu công việc

mà tuyển dụng người phù hợp; đảm bảo tiêu chuẩn theo chức danh cần tuyển; đảm bảo công khai, bình đẳng và công minh trong tuyển dụng Bắt buộc phải

Trang 29

cơ quan tổ chức Còn việc sử dung nguồn nhân lực hiệu quả nhất lại là yếu tố quyết định đến chất lượng hiệu quả hoạt động của tổ chức

Sử dụng nguồn nhân lực là công việc phức tạp, tinh tế nhất về nguồn nhân lực, vì nó luôn động chạm đến những vấn đề lợi ích vật chất, tinh thần của người lao động trong tổ chức, ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, nguyệnvọng, đời sống của người lao động Chính vì thế, việc sử dụng nguồn nhân lực cần có những chính sách, nguyên tắc và quy trình nhất định, đảm bảo tính khách quan, hiệu quả của hoạt động này

Sử dụng nguồn nhân lực bao gồm các nội dung: sắp xếp, bố trí nguồn nhân lực đúng người, đúng việc để họ phát huy cao nhất khả năng, năng lực của mình cho cơ quan, tổ chức; sử dụng nguồn nhân lực cũng chính là sử dụng các chính sách quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ một cách khách quan, khoa học, minh bạch, tạo điều kiện để tổ chức phát triển ổn định, bền vững

Việc sử dụng nguồn nhân lực cũng phải luôn chú ý đến chính sách khen thưởng để kịp thời động viên, khuyến khích nguồn nhân lực công tác hiệu quả nhƣng đồng thời công tác kỉ luật cũng cần được thực hiện nghiêm minh để răn đe, ngăn chặn đối với những cá nhân vi phạm

1.3.2 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực

Chính sách đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm mục đích giáo dục,

bồi dưỡng tri thức cũng như kĩ năng chuyên môn, nâng cao năng suất lao động của cá nhân hoạt động trong tổ chức Việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực được thực hiện bởi nhiều hình thức khác nhau như đào tạo từ xa, tại chức, tập

Trang 30

1 tháng 7 năm 2017 mức lương tối thiểu là 1.210.000 đồng/tháng

1.4 Các bước tổ chức thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp

Thực thi chính sách có vai trò quan trọng trong chu trình chính sách Nếu hoạch định chính sách đã làm tốt rồi thì việc tiếp theo là phải làm tốt giai đoạn 2 của chu trình chính sách là thực thi chính sách mới góp phần làm cho chính sách đạt được mục tiêu và hiệu quả Việc thực thi chính sách đòi hỏi phải tuân thủ các bước sau đây:

1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Tổ chức thực thi chính sách là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, lên chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động

Kế hoạch triển khai thực thi chính sách được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực thi chính sách đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực thi chính sách Kế hoạch triển khai thực thi chính sách phát triển NNL bao gồm những nội dung chính sau đây:

Trang 31

21

Một là, lập kế hoạch tổ chức, điều hành

Kế hoạch này bao gồm những dự kiến về:

- Các chủ thể, cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực thi chính sách phát triển NNL

- Số lượng và chất lượng NNL tham gia thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực

- Xác định chế độ trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực thi chính sách phát triển NNL

- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cấp, các tổ chức trong thực thi chính sách phát triển NNL

Hai là, xây dựng kế hoạch dự kiến các nguồn lực

Kế hoạch này bao gồm:

- Dự kiến về các cơ sở vật chất, máy móc, xe cộ, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách phát triển NNL

- Các nguồn lực tài chính, các vật tư, văn phòng phẩm v.v…

Ba là, xây dựng kế hoạch thời gian triển khai thực hiện

Là dự kiến về thời gian duy trì chính sách; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện các mục tiêu Có thể dự kiến mỗi bước cho ph hợp với một chương trình cụ thể của chính sách

Bốn là, xây dựng kế hoạch kiểm tra, đ n đốc thực thi chính ách

- Là những dự kiến về hình thức, phương thức kiểm tra, giám sát tổ chức thực thi chính sách

- Dự kiến những nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành hệ thống tham gia thực thi chính sách

- Dự kiến về trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn của CBCC và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách

Trang 32

1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Sau khi bản kế hoạch thực thi được thông qua, các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là truyên truyền vận động các cá nhân tham gia thực hiện chính sách Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa quan trọng với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách, qua đó để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Phổ biến, tuyên truyền chính sách còn giúp cho mỗi CBCCVC có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện các mục tiêu chính sách và triển khai thực thi chính sách có hiệu quả

Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách cần được thực hiện nghiêm túc

và phải đầu tư đầy đủ các trang thiết bị kỹ thuật, nguồn lực con người ph hợp Trong thực tế có không ít cơ quan, địa phương do thiếu năng lực tuyên truyền, vận động đã làm cho chính sách bị biến dạng, làm cho người dân hiểu không đầy đủ, hiểu sai về chính sách, lòng tin của nhân dân vào nhà nước bị giảm sút

Trang 33

1.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Bước tiếp theo là phân công, phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL theo kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Chính sách phát triển NNL tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc được thực thi trên địa bàn tỉnh, vì thế số lượng các đối tượng thực thi chính sách là khá rộng

Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng chịu sự tác động của chính sách này

và bộ máy tổ chức thực thi chính sách trên địa bàn tỉnh Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia vào quá trình thực thi chính sách.

Việc thành công của một chính sách do nhiều yếu tố cấu thành Do đó,

để việc thực thi chính sách phát triển NNL tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện được đúng mục tiêu quản lý thì cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận, đối tượng tác động có liên quan

Trang 34

24

Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách

Việc phân công, phối hợp phải đảm bảo phát huy được tính năng động, sáng tạo của các yếu tố cấu thành và tác động.

- Tổ chức phối hợp thống nhất, hiệu quả, đồng bộ giữa Sở Tư pháp với

cơ quan khác; giữa Sở Tư pháp với nhân dân

- Đảm bảo các điều kiện về nhân lực, vật lực, tài lực và các phương tiện

kỹ thuật hỗ trợ

- Đảm bảo kế hoạch hóa về thời gian và quy trình thủ tục thực hiện

- Đảm bảo thông suốt về thông tin trong quá trình thực hiện, triển khai, duy trì chính sách

- Đảm bảo sự thống nhất giữa việc kiên trì mục tiêu chính sách với việc sáng tạo trong khi sử dụng các biện pháp, hình thức, chương trình hành động

cụ thể thích hợp với điều kiện cụ thể của tỉnh

Duy trì chính sách phát triển NNL tại Sở Tư pháp là làm cho chính sách này tồn tại và phát huy hết tác dụng trong môi trường thực tế Muốn cho chính sách được duy trì, đòi hỏi phải có sự nhất trí và quyết tâm cao của người tổ chức và người thực thi.

Trang 35

25

Đối với các cơ quan nhà nước của tỉnh, người tổ chức thực thi chính sách phát triển NNL tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc phải thường xuyên quan tâm tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách Nếu việc thực thi chính sách gặp phải những khó khăn do môi trường thực tế biến động, thì các cơ quan nhà nước sử dụng

hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách

1.4.5 Điều chỉnh chính sách

Điều chỉnh chính sách là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực thi chính sách Nó được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Theo quy định cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế thì việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách diễn ra rất năng động, linh hoạt, vì thế cơ quan nhà nước các nghành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách

Điều chỉnh chính sách đòi hỏi phải chính xác, hợp lý, nếu không sẽ làm sai lệch, biến dạng chính sách, làm cho chính sách trở nên kém hiệu quả, thậm chí không tồn tại được Muốn đáp ứng những đòi hỏi trên đây, các cơ quan nhà nước của tỉnh phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách, kịp thời phát hiện những chênh lệch để điều chỉnh bổ sung

1.4.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

Để chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện đạt hiệu quả, các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh phải tiến hành theo dõi, kiểm tra đôn đốc việc thực thi chính sách Qua kiểm tra, đôn đốc các mục tiêu và biện pháp chủ yếu của chính sách lại được khẳng định để nhắc nhở mỗi CBCCVC tập trung chú ý tới các nội dung ưu tiên trong quá trình

Trang 36

26

thực thi chính sách Căn cứ kế hoạch kiểm tra, đôn đốc đã được phê duyệt các

tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện hoạt động kiểm tra có hiệu quả

Kiểm tra thường xuyên giúp cho nhà quản lý nắm chắc được tình hình thực thi chính sách, từ đó đánh giá khách quan về những điểm mạnh, điểm yếu của công tác tổ chức thực thi chính sách; giúp phát hiện những thiếu sót trong quá trình thực thi chính sách điều chỉnh; tạo ra sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu chính sách; kịp thời khuyến khích những nhân

tố tích cực để tạo ra phong trào thiết thực cho việc thực hiện mục tiêu

Công tác kiểm tra, đôn đốc còn giúp cho các đối tượng thực thi chính sách biết được những hạn chế của mình để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện; giúp họ nhận thức đúng được vị trí của mình để họ yên tâm thực hiện có trách nhiệm công việc được giao

Kiểm tra, theo dõi tình hình tổ chức thực thi chính sách để kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách, chấn chỉnh công tác tổ chức thực thi chính sách nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách

1.4.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm

Tổ chức thực thi chính sách được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình đó người ta có thể đánh giá từng phần hay toàn

bộ kết quả thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính sách Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thực thi chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về sự chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách

Đối tượng được xem xét đánh giá tổng kết về chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách là các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Ngoài ra, còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách Cơ sở để đánh giá tổng kết công tác chỉ đạo điều hành thực thi chính sách trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế đã được xây dựng

Trang 37

27

Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước của tỉnh, chúng ta còn xem xét, đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành tư pháp

Trong quá trình thực thi chính sách sẽ có liên quan đến nhiều tổ chức,

cá nhân vì thế kết quả tổ chức thực thi chính sách cũng sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố khách quan và chủ quan

Các yếu tố khách quan là các yếu tố xuất hiện và tác động đến việc tổ chức thực thi chính sách từ bên ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản

lý Các yếu tố này vận động theo quy luật khách quan nên các nhà quản lý thường không quan tâm nhưng chúng lại tác động lớn đến quá trình thực thi chính sách Các yếu tố chủ quan là các yếu tố bên trong thuộc về các cơ quan nhà nước và đội ngũ CBCCVC chi phối đến quá trình thực thi chính sách nên

nó có ảnh hưởng lớn đến việc thực thi chính sách

1.5.1 M i trường thực thi chính ách

Môi trường thực thi chính sách là các yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá,

xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và quốc tế Các hoạt động này diễn ra theo quy luật trong những điều kiện cụ thể nên nó độc lập với quá trình thực thi chính sách Theo nghĩa rộng, môi trường thực thi chính sách chứa đựng toàn bộ các thành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực hiện chính sách như các nhóm lợi ích có được từ chính sách trong xã hội; các điều kiện vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế; bầu không khí chính trị; trật tự xã hội; quan hệ quốc tế Một xã hội ổn định, ít biến động về chính trị sẽ đưa đến sự ổn định về hệ thống chính sách cũng góp phần thuận lợi cho thực thi chính sách Nếu các bộ phận cấu thành môi trường vận động phù hợp với trình độ tổ chức điều hành của các cơ quan nhà nước, với cơ chế, chính sách đang tồn tại sẽ có tác dụng thúc đẩy các hoạt động tổ chức thực thi chính sách Ngược lại, nó sẽ kìm hãm, ngăn trở các hoạt động này, dẫn đến việc thực thi chính sách công kém hiệu quả.

1.5.2 Mức độ tuân thủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi chính sách

Quy trình thực thi chính sách được coi là những nguyên lý khoa học được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống Việc tuân thủ quy trình cũng là một nguyên tắc hành động của các nhà quản lý Mỗi bước trong quy

Trang 38

28

trình đều có vị trí, ý nghĩa to lớn đối vối quá trình thực thi chính sách Ví như, trước khi thực thi chính sách, chính sách phải được phổ biến rộng rãi đến mọi đối tượng và toàn dân để họ nhận thức được đầy đủ ý nghĩa, mục tiêu chính sách, đồng thời cũng thấy được ích lợi mang lại từ chính sách, qua đó củng cố lòng tin của nhân dân vào chính sách của nhà nước Sau khi làm rõ lợi ích của chính sách đối với đời sống xã hội, các cơ quan nhà nước tiếp tục vận động các đối tượng tích cực thực hiện chính sách Kết hợp các hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách với vận động thực thi sẽ giúp cho các đối tượng chính sách nêu cao tinh thần tự giác trong thực hiện chính sách

1.5.3 Các yếu tố thuộc về đơn vị tổ chức thực thi chính sách

Mục tiêu của đơn vị: Mỗi đơn vị đều có mục tiêu chiến lược cần hướng

tới Những mục tiêu này phải cụ thể, rõ ràng để thúc đẩy CBCCVC làm việc tốt hơn đạt được mục tiêu của đơn vị

Chính sách quản lý nhân sự của đơn vị: Chính sách nhân sự là các

chính sách do lãnh đạo đơn vị đề ra trên cơ sở phù hợp với chức năng, nhiệm

vụ và tình hình thực tế của đơn vị, như vấn đề lương, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật… Các chính sách này hướng vào việc đạt được mục tiêu của đơn vị Hệ thống chính sách này góp phần quan trọng khuyến khích CBCCVC thực hiện chính sách Vì vậy, các chính sách nhân sự phải khoa học, công khai, minh bạch, công bằng

Phong cách lãnh đạo của người lãnh đạo, quản lý: Với bất cứ đơn vị

nào, mục tiêu chiến lược, các chính sách thực thi bị ảnh hưởng rất lớn bởi phong cách lãnh đạo của người lãnh đạo, quản lý Có ba loại phong cách lãnh đạo cơ bản: Phong cách lãnh đạo độc đoán, Phong cách lãnh đạo dân chủ, Phong cách lãnh đạo tự do Mỗi phong cách lãnh đạo có những ưu điểm, nhược điểm riêng, vì vậy cần áp dụng các phương pháp lãnh đạo khoa học, phù hợp với đối tượng quản lý, phù hợp với tính chất công việc và hoàn cảnh thực tế

Nguồn tài chính và cơ ở vật chất đảm bảo thực thi chính sách: Để

thực thi chính phát triển NNL ngành tư pháp có kết quả, trước hết phải có đủ nguồn tài chính và điều kiện cơ sở vật chất của các đơn vị Khi khả năng tài

Trang 39

1.5.4 Năng lực thực thi của cán bộ, công chức, viên chức

Chất lượng, hiệu quả thực thi chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi chính sách phát triển NNL ngành tư pháp Nếu CBCCVC thực thi chính sách có trình độ năng lực yếu; không có các kiến thức, kỹ năng triển khai thực thi chính sách sẽ dẫn đến hạn chế, bất cập trong thực thi và làm cho chính sách bị méo mó không đúng với mục tiêu, mục đích của chính sách

Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách công phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ CBCCVC tham gia thực hiện chính sách Do đó, muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi chính sách cần phải có các giải pháp đồng bộ nâng cao năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ CBCCVC Năng lực của CBCCVC được hội tụ bởi ba yếu tố là: kiến thức, kỹ năng và thái độ của CBCCVC trong thực thi công vụ

Năng lực của CBCCVC trong thực thi chính sách bao gồm:

a Năng lực xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Đó là kiến thức, hiểu biết chuyên môn, kỹ năng tác nghiệp và tinh thần, thái độ, trách nhiệm của CBCCVC trong xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách Kế hoạch thực hiện chính sách là cơ sở quan trọng triển khai đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống Trong xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách phải xác định được chính xác, cụ thể các nội dung, nhiệm vụ trong kế hoạch

tổ chức điều hành; trong kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực cho việc thực hiện chính sách; trong kế hoạch kiểm tra đôn đốc thực thi chính sách và việc xác định hợp lý thời gian thực hiện chính sách Cùng với bản kế hoạch thực

Trang 40

30

hiện chính sách phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách Năng lực xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách được thể hiện, được đo bằng độ chính xác, tính khả thi của bản kế hoạch Năng lực xây dựng

kế hoạch thực hiện chính sách tốt chính là khả năng xây dựng được bản kế hoạch thực hiện chính sách có độ chính xác và tính khả thi cao, không phải điều chỉnh bổ sung nhiều trong quá trình thực hiện

b Năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách

Là kiến thức hiểu biết về chính sách và các kỹ năng, giải pháp phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách của CBCCVC Năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách được thể hiện qua khả năng phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách có hiệu quả cao Do đó, đòi hỏi CBCCVC phải am hiểu chính sách; nắm chính xác, đầy đủ mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu, phạm vi, đối tượng của chính sách Trên cơ sở đó lựa chọn các kỹ năng, giải pháp, hình thức phổ biến, tuyên truyền chính sách phù hợp với từng loại đối tượng như:

mở các lớp tập huấn tập trung để quán triệt nghiên cứu các nội dung chính sách, các giải pháp và phân công thực hiện; tổ chức các lớp tuyên truyền chính sách cho các cơ quan thông tin đại chúng, cán bộ làm công tác tuyên truyền; xây dựng văn bản hướng dẫn phổ biến cụ thể việc thực hiện chính sách gửi cho các cơ quan hữu quan để họ tự nghiên cứu xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách Ngoài ra, có thể đăng tải, tuyên truyền trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử để các đối tượng được thụ hưởng chính sách và mọi người dân biết để thực hiện Trong xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể thực hiện chính sách cũng như các văn bản phổ biến, hướng dẫn phải đảm bảo chính xác, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện

c Năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Năng lực phân công, phối hợp thực hiện chính sách là khả năng tổ chức điều hành thực hiện chính sách một cách chặt chẽ, khoa học và hợp lý Đó là việc phân công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân có liên quan trong

Ngày đăng: 28/12/2020, 18:06

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w