Tuy nhiên, để có quỹ đất thực hiện các dự án trên thì Nhà nước đã phải thu hồi một diện tích lớn đất đai, trong đó phần lớn là đất nông nghiệp - tư liệu sản xuất chính của người nông dân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS CHU XUÂN KHÁNH
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tác giả Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2018
Tác giả
Lê Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo và các thầy cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia, đặc biệt cảm ơn TS Chu Xuân Khánh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Luận văn nghiên cứu dựa trên kết quả tiếp thu những kiến thức về chính sách công được học tại Học viện Hành chính trong khoá Cao học Chính sách công -CS2B1 vừa qua
Tác giả xin chân thành cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã ủng hộ, tạo điều kiện, chia sẻ khó khăn và thường xuyên động viên khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Lê Thu Hà
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.1.1 Lao động bị thu hồi đất 9
1.1.2 Chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất 12
1.2 Thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất 21
1.2.1 Chủ thể thực hiện 21
1.2.2 Quy trình thực hiện 24
1.2.3 Nội dung và tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách 26
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp 29
1.3 Kinh nghiệm về chính sách giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm 32
1.3.1 Kinh nghiệm về chính sách giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở một số địa phương 32
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho thành phố Việt Trì 38
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ GIAI ĐOẠN 2010 - 2016 42
2.1 Giới thiệu về thành phố Việt Trì 42
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 42
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội 43
Trang 72.2 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và ảnh hưởng của nó đến việc làm và đời
sống của người nông dân bị thu hồi đất 45
2.2.1 Hiện trạng quản lý và sử dụng đất 45
2.2.2 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Việt Trì 48
2.2.3 Ảnh hưởng của thu hồi đất nông nghiệp đến việc làm và đời sống của người nông dân bị thu hồi đất 49
2.3 Cơ sở pháp lý và thực trạng thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Việt Trì 53
2.3.1 Cơ sở pháp lý của việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm 53
2.3.2 Thực trạng bộ máy quản lý và tổ chức thực hiện chính sách giải phóng mặt bằng thành phố Việt Trì 54
2.3.3 Trình tự thực hiện chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất 59
2.3.4 Thực trạng thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Việt Trì 64
2.4 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân trên địa bàn thành phố Việt Trì 81
2.4.1 Ưu điểm 81
2.4.2 Tồn tại, hạn chế 83
Kết luận chương 2 89
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ 90
3.1 Dự báo tình hình thu hồi đất và nhu cầu giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất tại thành phố Việt Trì đến năm 2020 90
3.2 Quan điểm về giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa 91
3.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước 91
3.2.2 Quan điểm đề xuât đối với thành phố Việt Trì 92
Trang 83.3 Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt chính sách giải quyết việc làm khi Nhà
nước thu hồi đất thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố Việt Trì 95
3.3.1 Tổ chức rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống quy hoạch, kế hoạch vùng đất nông nghiệp, đất đô thị cần thiết phải giải tỏa, thu hồi 95
3.3.2 Giải pháp về cơ chế, chính sách 96
3.3.3 Nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện của cơ quan Nhà nước và các tổ chức khác: 100
Tiểu kết chương 3 103
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Danh mục hình
Hình 2.1 Biểu đồ cơ cấu các loại đất năm 2016 45
Hình 2.2 Sơ đồ phân quyền chỉ đạo và phản hồi trong công tác thực hiện chính sách giải phóng mặt bằng 55
Hình 2.3 Bộ máy tổ chức thực hiện chính sách giải phóng mặt bằng thành phố Việt Trì 56
Hình 2.4 Cơ cấu tổ chức Ban bồi thường GPMB thành phố Việt Trì 58
Hình 2.2 Biểu đồ cơ cấu diện tích theo loại đất 65
Hình 2.3 Cơ cấu diện tích thu hồi theo loại đất 71
Danh mục bảng Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2016 46
Bảng 2.2 Kết quả thu hồi đất của thành phố từ năm 2010 đến tháng 12/2016 48
Bảng 2.1 Đội ngũ nhân lực của Ban bồi thường GPMB thành phố Việt Trì 58
Bảng 2.8 Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án đường Nguyễn Tất Thành 66
Bảng 2.9 Tổng hợp kết quả thu hồi đất dự án hạ tầng hai bên Đường Nguyễn Tất Thành 68
Bảng 2.10 Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án hạ tầng hai bên 69
Đường Nguyễn Tất Thành 69
Bảng 2.11 Hiện trạng đất đai, dân số và nhà ở dự án xây dựng Quảng Trường Hùng Vương và Trung Tâm Dịch vụ tổng hợp 70
Bảng 2.3 Hệ thống chỉ tiêu số liệu năm 2012 74
Bảng 2.4 Hệ thống chỉ tiêu số liệu năm 2013 75
Bảng 25 Hệ thống chỉ tiêu số liệu năm 2014 76
Bảng 2.6 Hệ thống chỉ tiêu số liệu năm 2015 77
Bảng 2.7 Hệ thống chỉ tiêu số liệu năm 2016 78
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng, vừa có ý nghĩa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vừa nhằm đảm bảo ổn định đời sống
xã hội của mỗi quốc gia
Những năm qua, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã thúc đẩy quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp trên cả nước, nhiều dự án phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới, đường giao thông, công trình công cộng v.v… được triển khai xây dựng đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, làm thay đổi diện mạo các đô thị theo hướng văn minh, hiện đại, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, để
có quỹ đất thực hiện các dự án trên thì Nhà nước đã phải thu hồi một diện tích lớn đất đai, trong đó phần lớn là đất nông nghiệp - tư liệu sản xuất chính của người nông dân, điều này đồng nghĩa với việc người nông dân không có việc làm hoặc thiếu việc làm, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống của các
hộ sản xuất nông nghiệp, đồng thời kéo theo đó là nhiều hệ luỵ gây mất ổn định trật tự xã hội Vì vậy, giải quyết việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồi đất đã và đang trở thành vấn đề cấp bách, là thách thức lớn đối với chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung
Thành phố Việt Trì là đô thị trung tâm của Tỉnh Phú Thọ, đồng thời được xác định là một trong mười một trung tâm vùng của cả nước Ngày 02/11/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 277/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Việt Trì đến năm 2020, trong đó xác định xây dựng Việt Trì trở thành Thành phố lễ hội về với cội nguồn của dân tộc Việt Nam Hiện thành phố đang tập trung, tranh thủ mọi nguồn lực đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển hạ tầng đô thị nói riêng để từng bước khẳng định vai trò là đô thị trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học
Trang 11của tỉnh, trung tâm của vùng Để đạt được mục tiêu nêu trên, thành phố Việt Trì
đã và đang triển khai nhiều hoạt động như: Quy hoạch đô thị, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, quản lý đô thị, trong đó công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng được xác định là một trong những khâu đột phá để xây dựng phát triển thành phố, điều này đã giúp cho Việt Trì đạt được những thành tựu trong thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên cùng với quá trình đô thị hoá, quá trình phát triển kinh tế xã hội, diện tích đất nông nghiệp của thành phố đang dần thu hẹp, nhường chỗ cho các khu công nghiệp, khu đô thị các công trình hạ tầng kỹ thuật Với một thành phố đang trên
đà phát triển như Việt Trì thì việc tạo việc làm cho nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp là một việc làm rất cấp thiết
Những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm tạo việc làm, nâng cao đời sống cho người nông dân trong đó quan tâm đến vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp Nhưng trên thực tế, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, việc giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp còn bộc lộ nhiều bất cập, việc chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân còn gặp nhiều khó khăn, công tác đào tạo nghề chưa mang lại những hiệu quả thiết thực
Vì vậy, sau một thời gian tìm hiểu về thực trạng việc làm và việc thực hiện các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp, tôi quyết định chọn đề
tài "Thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Việt Trì” làm Luận văn Thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề việc làm nói chung và chính sách giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng là vấn đề mang ý nghĩa quan trọng cả về kinh
tế, chính trị, xã hội Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này:
Trang 12“Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho người lao động”
của TS Nguyễn Hữu Dũng, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội 2005 Công trình nghiên cứu này đã phân tích sâu sắc các nội dung có liên quan đến lý luận về thị trường lao động, định hướng nghề nghiệp cho người lao động và mối quan
hệ với thị trường lao động; thực trạng thị trường lao động ở nước ta cũng như thực trạng định hướng nghề nghiệp cho người lao động thời gian qua; dự báo cung cầu của thị trường lao động, định hướng nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động Có thể nói đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện
về thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho người lao động của nước ta [7]
“Việc làm ở nông thôn - Thực trạng và giải pháp” của tác giả TS Chu
Tiến Quang - Viện nghiên cứu Kinh tế Trung ương, Ban Chính sách phát triển nông thôn - NXB Nông nghiệp năm 2011 Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng lao động, việc làm ở nông thôn nước ta, tác giả đã đưa ra những giải pháp mang tính toàn diện để giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, đời sống của lao động nông thôn nhất là trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế [14]
“Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt
Nam: Phương pháp tiếp cận, định giá đất và giải quyết khiếu nại của dân”,
Ngân hàng thế giới (2011) Ấn phẩm là kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam với chủ đề “ Xã hội và các xung đột đất đai” nhằm hỗ trợ Bộ tài nguyên và môi trường cải thiện chính sách và thực tiễn
về thu hồi và chuyển dịch đất đai để đạt được sự tăng trưởng bền vững trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng hiện nay [10]
“Tạo việc làm cho lao động nông thôn, lao động vùng giải toả, một hướng đảm bảo an sinh xã hội trên đia bàn Thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Nữ Đoàn Vy đăng trên Báo Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng Bài báo đã đánh giá những kết quả cũng như những kinh nghiệm hay của thành phố Đà Nẵng trong thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đặc biệt
là lao động vùng giải toả giai đoạn 2010-2014, đồng thời cũng chỉ ra những
Trang 13khó khăn, bất cập trong thực hiện chính sách ở địa phương, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, lao động bị mất đất nông nghiệp sau giải toả tại địa phương trong thời gian tiếp theo [24]
Năm 2007 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã cho xuất bản công trình nghiên cứu do Chính phủ giao Trường Đại học Kinh tế Quốc dân chủ trì,
GS.TSKH Lê Du Phong là chủ nhiệm đề tài: “Thu nhập, đời sống, việc làm của
những người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia” Công trình nghiên cứu này đã trình bày khá rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
có liên quan đến thu nhập, đời sống, việc làm của những người có đất bị thu hồi
để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu hạ tầng KT-XH, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia Đặc biệt, công trình nghiên cứu đã tập trung phân tích một cách sâu sắc và toàn diện thực trạng thu nhập, đời sống và việc làm của người có đất bị thu hồi trên phạm vi cả nước Trên cơ sở đó đã đưa ra các quan điểm và một hệ thống giải pháp toàn diện, đồng bộ, có cơ sở khoa học
và có tính khả thi để giải quyết việc làm, bảo đảm thu nhập và đời sống của những người có đất bị thu hồi, trong đó có sự quan tâm thỏa đáng đến đội ngũ lao động ở lứa tuổi người lao động
"Hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hưng Yên" - Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Thêm - chuyên ngành
Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia năm 2013 Trên cơ sở phân tích chính sách chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp; chính sách vốn, tín dụng; chính sách mở rộng thị trường lao động và hỗ trợ nông dân tiếp cận với các thị trường lao động, luận văn đề xuất một số giải pháp cho vấn đề chuyển đổi nghề cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Hưng Yên [17]
Năm 2012, Nguyễn Đình Tuấn, Học viện Chính trị - Hành chính đã hoàn
thành Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Giải quyết việc làm cho người nông dân bị
thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Thanh Hoá” Kết
Trang 14quả nghiên cứu của đề tài nêu lên sự cần thiết phải GQVL cho người nông dân
bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH, làm rõ hơn cơ sở lý luận và bài học kinh nghiệm về GQVL cho nông dân bị thu hồi đất ở nước ta nói chung Luận văn cho thấy thực trạng GQVL cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Thanh Hoá,
từ đó đề xuất định hướng và một hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi trong GQVL cho nông dân bị thu hồi đất để phát triển các KCN, khu đô thị ở tỉnh Thanh Hoá [19]
“Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân bị THĐ tại quận Long Biên -
Hà Nội”, luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Như Trang, Trung tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2012 Trên cơ
sở phân tích thực trạng thu hồi đất ở địa phương này, luận văn đã đưa ra những giải pháp tạo việc làm mới cho nông dân bị thu hồi đất ở Quận Long Biên nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung [18]
Các công trình khoa học nói trên chủ yếu đề cập đến vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nói chung, cho lao động nông thôn, lao động bị bi thồi đất nông nghiệp nói riêng trên cả nước và ở một số tỉnh, thành, địa phương nhất định, ít có công trình nghiên cứu nào đề cập và phân tích dưới phương diện chính sách nhất là đối với vấn đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Việt Trì - tỉnh Phú Thọ Tuy nhiên, đây là những công trình có giá trị quý báu để tôi tham khảo những vấn đề về lý luận và thực tiễn Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc, kế thừa và phát triển trong luận văn cùng với quá trình khảo sát thực tế tại địa phương, tôi có thể đề xuất những giải pháp phù hợp cho vấn đề GQVL cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Việt Trì trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Việt Trì (trong giai đoạn 2010 -2016), từ đó đề xuất các giải pháp
Trang 15nhằm thực hiện tốt chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi
đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Việt Trì
Trang 16+ Phương pháp thu thập dữ liệu: Do tính chất đặc thù của chính sách GQVL cho nông dân bị THĐ trên địa bàn thành phố Việt Trì, nguồn dữ liệu chủ yếu được tác giả thu thập và phân tích từ nguồn dữ liệu thứ cấp, đó là các dữ liệu sẵn có và phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng trong toàn bộ các chương của luận văn, đặc biệt sử dụng nhiều nhất trong Chương 1 - Cơ sở khoa học của việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp Phương pháp này được sử dụng trong việc khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài, phân tích những nội dung chính, phương pháp được sử dụng và các kết luận đã đạt được cũng như những điểm cần tiếp tục nghiên cứu trong các nghiên cứu trước đó Hơn nữa, tác giả cũng kế thừa được một số nội dung cơ bản về mặt lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp và sử dụng cho việc phân tích nội dung các chương khác của luận văn
+ Phương pháp thống kê mô tả
Thông tin định lượng thu thập được từ các tài liệu thống kê và từ nguồn dữ liệu thứ cấp sẽ được xử lý, sắp xếp và mô phỏng dưới dạng các bảng biểu, các hình minh hoạ cho các bằng chứng định lượng về việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp phân tích được sử dụng để đánh giá sâu sắc từng khía cạnh khác nhau của chính sách giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, trong khi đó phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa các kết quả từ việc phân tích để đưa ra những nhận định và đánh giá chung về vấn
đề giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Phân tích và tổng hợp cũng được sử dụng để đánh giá thành công và hạn chế, nguyên nhân trong việc giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Trang 176 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Tác giả mong muốn luận văn sẽ có những đóng góp góp phần hệ thống hoá cơ sở khoa học và những vấn đề thực tiễn liên quan đến việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Kết quả nghiên cứu của đề tài cùng với những giải pháp được đề xuất có thể là tài liệu để các nhà tổ chức thực hiện chính sách tham khảo trong quá trình thực thi chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Việt Trì
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương gồm:
- Chương 1: Cơ sở khoa học của việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Việt Trì giai đoạn 2010-2016
- Chương 3: Giải pháp để thực hiện tốt chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Việt Trì
Trang 18* Khái niệm và đặc điểm của lao động nông thôn
- Khái niệm: Lao động nông thôn là lao động sinh sống và làm việc ở
khu vực nông thôn, bao gồm những người trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động đang có việc làm và cả những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm
- Đặc điểm của lao động nông thôn:
Ở nước ta lao động nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động của cả nước, chiếm tỷ trọng từ 65 - 70% tổng lao động toàn xã hội và có những
đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Là mang tính chất thời vụ cao và không thể xóa bỏ được tính
chất này Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các qui luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (khí hậu, đất đai,…)
Do đó, quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều Chính vì tính chất này đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trở nên phức tạp hơn
Thứ hai: Lao động nông thôn rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi và có thích
ứng lớn Do đó, việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lực lao động có ý nghĩa rất quan trọng và phức tạp, đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức quản lý lao động tốt để tăng cường lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp
Thứ ba: Lao động nông thôn đa dạng, ít chuyên sâu, trình độ thấp Sản
xuất nông nghiệp có nhiều việc gồm các khâu với các tính chất khác nhau Hơn
Trang 19nữa mức độ áp dụng máy móc thiết bị vào sản xuất còn thấp vì thế mà sản xuất nông nghiệp chỉ đòi hỏi về sức khỏe, sự lành nghề và kinh nghiệm Mỗi lao động có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên lao động nông thôn ít chuyên sâu hơn lao động trong các ngành công nghiệp và một số ngành khác Bên cạnh đó, phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm và sức khỏe, tổ chức lao động đơn giản, công cụ lao động cũng thô sơ mang tính tự chế cao Lực lượng chuyên sâu, lành nghề, lao động chất xám không đáng kể, phân bố lao động không đồng đều, vì vậy mà hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu công nghiệp hiện đại vào sản xuất
Nghiên cứu và tìm hiểu đầy đủ các tính chất của lao động nông thôn từ đó
có thể tìm ra những biện pháp sử dụng tốt nhất nguồn lao động trong nông thôn nói chung trong đó có lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
* Lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
- Thu hồi đất: Theo Khoản 11, điều 13 Luật Đất đai năm 2013 thì “Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu hồi lại quyền sử dụng đất của người được trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai" [16] Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ
đề cập đến việc Nhà nước quyết định thu hồi lại quyền sử dụng đất của người được trao quyền sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
- Lao động bị thu hồi đất nông nghiệp: Là những đối tượng lao động ở
khu vực nông thôn được trao quyền sử dụng đất nông nghiệp, nay bị Nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
Một số vấn đề chung về việc làm và giải quyết việc làm
* Việc làm
- Khái niệm:
Trang 20Khái niệm về việc làm được khẳng định trong Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" [15]
Từ quan niệm trên ta thấy: Khái niệm việc làm bao hàm các nội dung sau: + Là hoạt động lao động của con người
+ Hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập
+ Hoạt động lao động đó không bị pháp luật cấm
- Vai trò của việc làm:
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội
Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của
cá nhân Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ
sở hạ tầng, ), vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp, ) Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có
Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu
và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững đồng thời duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động
Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích
Trang 21cực, mặt khác nó tác động tiêu cực Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì
xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người
* Giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội
Giải quyết việc làm không đơn thuần là sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất với sức lao động, mà nó còn bao gồm cả yếu tố Nhà nước thông qua các chính sách và những yếu tố xã hội Muốn sự kết hợp đó diễn ra và không ngừng phát triển phải tạo ra được sự phù hợp cả về số lượng, chất lượng sức lao động với tư liệu sản xuất, trong môi trường kinh tế, chính trị, xã hội thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra Nói cách khác, giải quyết việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (lao động, vốn, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và quản lý)
Như vậy, giải quyết việc làm theo nghĩa rộng là tổng thể những cơ chế, chính sách, biện pháp kinh tế - xã hội của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động có việc làm Tạo việc làm theo nghĩa hẹp là các biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo ra chỗ làm việc cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp
1.1.2 Chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất
* Chính sách công
- Khái niệm
Trong hệ thống các công cụ quản lý nhà nước, chính sách được coi là một trong những công cụ quan trọng và hữu hiệu nhất vì nó là tiền đề, là nền tảng và
Trang 22định hướng cho các công cụ quản lý khác Hiện nay công cụ chính sách được sử dụng khá phổ biến trong mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội trên cả phạm vi
vĩ mô và vi mô
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: "Chính sách là những chuẩn tắc vụ
thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá " [13, tr 475]
Theo định nghĩa này thì mục đích của chính sách là thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng chứ không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải quyết những vấn đề công, nói cách khác nó là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của Nhà nước
Theo cuốn “Chính sách công - Những vấn đề cơ bản” (do PGS.TS
Nguyễn Hữu Hải biên soạn) quan niệm: “Chính sách công là kết quả ý chí chính
trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết các vấn đề công trong xã hội”[9]
Khái niệm trên đây vừa thể hiện đặc trưng của chính sách công do Nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản lý một cách tương đối ổn định, cho thấy bản chất của chính sách công là công cụ định hướng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội Để đạt được mục tiêu đề ra, trước hết chính sách phải tồn tại trong thực tế, nghĩa là chính sách phải thể hiện được vai trò định hướng hành động theo những mục tiêu nhất định Điều kiện tồn tại của một chính sách công là tổng hoà những tác động tích cực của hệ thống thể chế do nhà nước thiết lập và tinh thần nghiêm túc thực hiện, tự chủ, sáng tạo của các chủ thể tham gia giải quyết vấn đề chính sách trong một phạm vi thời gian và không gian nhất định Điều kiện tồn tại
Trang 23được thể hiện bằng các nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, môi trường chính trị, pháp lý, văn hoá, xã hội và cả sự đảm bảo bằng nhà nước
Hoạch định chính sách công là quá trình nghiên cứu, xây dựng và ban hành một chính sách để giải quyết một vấn đề công Quy trình hoạch định chính sách công gồm thiết lập chương trình nghị sự hay chương trình xây dựng chính sách, soạn thảo chính sách, quyết định chính sách
Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tế nhằm hiện thực hoá mục tiêu chính sách Đây là giai đoạn tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách đã lựa chọn và theo dõi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện Giai đoạn có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của một chính sách công
Đánh giá chính sách công là giai đoạn đo lường chi phí, kết quả của việc thực hiện chính sách và các tác động thực tế của chính sách trong mối liên hệ với mục tiêu chính sách công, từ đó xác định hiệu lực và hiệu quả của một chính sách trong thực tế Trên cơ sở đánh giá chính sách công, các cơ quan Nhà nước
có thể đưa ra những điều chỉnh chính sách nếu thấy cần thiết (có thể là điều chỉnh mục tiêu, thay đổi hoặc bổ sung giải pháp mới, tiếp tục hay chấm dứt chính sách )
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá khâu thực hiện, thực thi chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
- Ý nghĩa, tầm quan trọng của tổ chức thực hiện chính sách công
Về mặt bản chất, chính sách là kết tinh ý chí của chủ thể về phương thức tác động đến các đối tượng chính sách nên cũng được coi như những dạng thức
Trang 24vật chất đặc biệt, vì vậy chính sách chỉ được hiện thực hoá khi nó tham gia vào quá trình thực thi chính sách công là yêu cầu tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của chính sách với tư cách là công cụ vĩ mô theo yêu cầu quản lý Nhà nước và cũng là mục tiêu mà chính sách theo đuổi Như vậy, có thể hiểu việc tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo cách thức khác nhau nhằm hiện thực hoá nội dung chính sách công một cách hiệu quả
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách công
Quá trình chính sách công diễn ra trong thời gian dài có liên quan đến nhiều tổ chức, các nhân vì thế kết quả thực hiện chính sách sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Dựa theo nguyên nhân chi phối của chủ thể hay khách thể có thể phân loại các yếu tố ảnh hưởng thành yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan
+ Yếu tố khách quan:
Tính chất của vấn đề chính sách: Là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến
việc tổ chức thực thi chính sách nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn
Môi trường thực thi chính sách công: Nếu các bộ phận cấu thành môi
trường vận động phù hợp với trình độ tổ chức điều hành của cơ quan nhà nước, với cơ chế, chính sách đang tồn tại sẽ có tác dụng thúc đẩy các hoạt động tổ chức thực thi chính sách Ngược lại nó sẽ kìm hãm, ngăn trở các hoạt động này dẫn đến thực thi chính sách công kém hiệu quả
Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách: Mối quan hệ này
thể hiện sự thống nhất hay không thống nhất về lợi ích của các đối tượng trong thực hiện mục tiêu chính sách công
Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách: Yếu tố này được hiểu là
thực lực và tiềm năng mà mỗi nhóm có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực của nhóm lợi ích được thể hiện trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội về cả quy mô và trình độ
Đặc tính của đối tượng chính sách công: Đặc tính gắn liền với mỗi đối
tượng thực thi chính sách, nên các chủ thể tổ chức điều hành cần biết cách khơi
Trang 25gợi hay kiềm chế nó để có được hiệu quả tốt nhất cho quá trình tổ chức thực hiện chính sách
+ Yếu tố chủ quan: Là các yếu tố thuộc về chủ thể tổ chức thực thi chính sách Có thể kể đến các yếu tố đó là: Năng lực thực thi chính sách của cán bộ
công chức (Đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện
chính sách công); các điều kiện vật chất để thực thi chính sách công; Sự đồng
tình ủng hộ của người dân
* Chính sách giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn Giải quyết việc làm cho người lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực và thế giới
Chính sách việc làm là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, các giải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lượng lao động và tạo việc làm cho lực lượng lao động đó Nói cách khác chính sách việc làm là sự thể chế hoá pháp luật của nhà nước trên lĩnh vực lao động, việc làm, là hệ thống quan điểm, phương hướng, mục tiêu và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động
* Chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
- Khái niệm:
Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất là một bài toán khó đối với các nhà hoạch định chính sách cũng như thực thi chính sách bởi nó liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Để giải quyết vấn đề này cần huy động nhiều nguồn lực, nhiều công cụ quản lý nhà nước, trong đó hữu dụng nhất là công cụ chính sách Trong khuôn khổ nghiên cứu luận văn, chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất là một bộ phận của chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng và có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác như: chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, chính sách phát triển nguồn nhân lực,
Trang 26Có thể hiểu: Chính sách việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
là tổng thể các quan điểm, mục tiêu và hành động của Nhà nước được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật, nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho đối tượng nêu trên có được việc làm phù hợp, giúp họ vượt qua những khó khăn do bị thu hồi đất, ổn định cuộc sống trước mắt và lâu dài, góp phần ổn định và phát triển KT -
XH ở địa phương nói riêng, cả nước nói chung
Chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất khác với các chính sách giải quyết việc làm nói chung ở đối tượng mà nó tác động -
đó là những người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp Cần đặt chính sách này trong hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nước, chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất không chỉ được thực hiện thông qua các biện pháp về kinh tế (trợ cấp, đền bù ) mà phải chú trọng đến các biện pháp mang tính xã hội (giáo dục đào tạo, tư vấn việc làm ) Sự kết hợp hài hoà các biện pháp phù hợp với tình hình thực tiễn, nhu cầu, nguyện vọng, tâm lý, tập quán của nhân dân sẽ là nhân tố đảm bảo sự thành công của chính sách
- Đặc điểm của chính sách
Với dân số hoạt động nông nghiệp lớn lại phân bố rộng, đối tượng thụ hưởng chính sách có tính đa dạng và tính đặc thù vì vậy đặc điểm của chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất bị chi phố bởi đặc điểm của đối tượng chính sách
Trước hết, đây là chính sách mang tính cấp bách Việc làm luôn là vấn đề mang tính kinh tế - chính trị - xã hội được Nhà nước quan tâm giải quyết Với tốc độ thu hồi đất để phục vụ cho CNH, ĐTH như hiện nay, nếu không thực hiện tốt chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất sẽ gây ra những tổn hại cho nền kinh tế do một số lượng lớn lao động không được sử dụng vào sản xuất; khiếu kiện và nhiều tiêu cực sẽ nảy sinh do thiếu việc làm, gây mất ổn định xã hội Do vậy, quá trình thực thi chính sách cần đặc biệt chú trọng, đảm bảo khẩn trương, kịp thời, tránh để người nông dân rơi vào tình trạng không có việc làm
Trang 27Thứ hai, các chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi
đất mang tính hỗ trợ là chủ yếu Giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm
của riêng Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt là cần sự nỗ lực cố gắng tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp từ chính những người nông dân bị thu hồi đất
Thứ ba, đây là loại hình chính sách mang tính xã hội rõ nét Đây là một trong những nội dung cơ bản của công bằng xã hội và phát triển cuộc sống con người do vậy chính sách giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất mang đầy đủ đặc trưng của một chính sách xã hội, mục tiêu của nó là hiệu quả
xã hội, góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội, đảm bảo cuộc sống của hàng triệu nông dân bị thu hồi đất và đảm bảo tính công bằng, bình đẳng Việc làm còn là cơ sở để giải quyết các vấn đề mang tính xã hội khác như hạn chế tệ nạn xã hội hay những tiêu cực khác nảy sinh do thiếu việc làm
Thứ tư, chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất
có tính vùng, tính khu vực rõ nét Trong điều kiện dân cư nông thôn phần đông
là dân trí thấp và không đồng đều, hoạt động nông nghiệp lại chịu sự tác động của điều kiện tự nhiên đã tạo ra những đặc điểm tâm lý, tập quán canh tác khác nhau giữa các vùng, miền Trong điều kiện như vậy, việc tổ chức triển khai văn bản chính sách phải phụ thuộc vào các đặc điểm tâm lý, tập quán của người nông dân, của lao động vùng bị thu hồi đất, những chính sách tác động đến nông dân phải có những biện pháp tổ chức thích hợp mới mang lại hiệu quả Tính không đồng đều còn thể hiện ở vị trí địa lý của từng khu vực, có những khu vực đất đai có giá trị cao hơn khu vực khác, có khu vực lại thu hút đầu tư, xây dựng các khu công nghiệp mạnh mẽ hơn khu vực khác Vì vậy, căn cứ vào nguồn lực
và điều kiện thực tế của từng địa phương để tổ chức thực hiện chính sách một cách hợp lý
- Mục tiêu chính sách:
Cũng giống như mục tiêu chính sách giải quyết việc làm nói chung thì mục tiêu của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất
Trang 28nhằm góp phần đảm bảo ASXH, ổn định và phát triển KT- XH ở địa phương nói riêng, cả nước nói chung
+ Toàn dụng lao động tại các vùng bị thu hồi đất, nghĩa là tất cả những
người lao động có khả năng lao động và có nguyện vọng lao động đều có việc làm phù hợp Mục tiêu này thường được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu về số lượng việc làm được tạo ra hàng năm cho người lao động tại các khu vực này, giảm tỉ lệ thất nghiệp
+ Chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm theo hướng tiến bộ, tức là
tăng tỉ trọng việc làm trong khu vực công nghiệp, dịch vụ, việc làm sử dụng công nghệ hiện đại có năng suất cao
+ Nâng cao thu nhập từ việc làm, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Việc làm có thu nhập cao không chỉ giúp họ thoát nghèo, ổn
định cuộc sống, mà còn phải nâng cao chất lượng cuộc sống Mục tiêu này được
cụ thể hóa thành thu nhập bình quân đầu người, tri thức, sức khỏe
+ Xã hội hóa trong thực thi chính sách Trước đây trong cơ chế kế hoạch
hóa tập trung, Nhà nước phải lo mọi vấn đề về GQVL, từ đào tạo, phân bổ đến
sử dụng và đãi ngộ Trong cơ chế thị trường, Nhà nước, DN, các tổ chức xã hội
và mọi người dân đều có trách nhiệm tham gia vào việc giải quyết việc làm; và chính sách chỉ có thể có hiệu lực và hiệu quả cao khi có được sự tham gia, phối hợp của cả Nhà nước, DN, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, đặc biệt là bản thân người lao động Xã hội hóa chính sách việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất còn giúp huy động mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế tham gia vào GQVL, giảm bớt gánh nặng cho NSNN cũng như khó khăn cho đối tượng người lao động nông thôn trong diện bị thu hồi đất
Trang 29+ Đồng bộ Đối với người nông dân, thu hồi đất ảnh hưởng rất lớn tới
công ăn việc làm và đời sống của họ Thu hồi đất khiến họ không còn ruộng đất
để sản xuất dẫn đến phải chuyển đổi nghề nghiệp và tìm việc làm mới; hơn nữa còn phải di chuyển đến nơi tái định cư Với họ mất đất là mất tư liệu sản xuất, mất chỗ ở, mất việc làm, trong khi bản thân họ thiếu vốn, thiếu kiến thức và kĩ năng, trong khi đó để làm quen với nghề mới, công việc mới và cuộc sống tại nơi ở mới không đơn giản, bởi vì phong tục tập quán và thói quen đã gắn bó với
họ từ lâu Muốn vậy, các chính sách việc làm cho người lao động vùng thu hồi đất phải được giải quyết đồng bộ từ vấn đề đào tạo nghề, bồi thường và sử dụng đất đai, cho đến hỗ trợ tín dụng cho người bị thu hồi đất, phát triển các DN, các làng nghề, đẩy mạnh XKLĐ
+ Kịp thời Việc làm cho người lao động tại các vùng thu hồi đất là vấn đề
nóng và cấp bách hơn bất cứ nơi nào, bởi nó liên quan trực tiếp đến thu nhập và đời sống của một bộ phận lao động chủ yếu ở nông thôn, nếu không giải quyết kịp thời thì gia đình họ sẽ lâm vào cảnh khó khăn cùng cực Đó không chỉ là vấn
đề thất nghiệp hay kinh tế đơn thuần, mà còn gây ra những bất ổn định về xã hội
và chính trị Vì vậy chính sách cần được ban hành và thực thi một cách kịp thời,
để không làm ảnh hưởng đến quá trình CNH, HĐH đất nước đồng thời bảo đảm được an ninh chính trị và trật tự xã xã hội
+ Phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại Đó là các xu hướng:
Phát triển bền vững Bao gồm bền vững về kinh tế, về xã hội và về môi
trường sinh thái, chú ý sự phát triển cả trong hiện tại và tương lai Quan điểm phát triển bền vững về mặt kinh tế đòi hỏi chính sách việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp phải gắn với tăng số lượng, chất lượng và hiệu quả việc làm, ngày càng tạo được nhiều việc làm có giá trị cao Về mặt xã hội, cần tăng cường đưa các dự án việc làm về các vùng nông thôn có đất bị thu hồi, tạo công
ăn việc làm ổn định lâu dài cho người lao động tại nơi họ sinh ra, giảm thiểu dòng
di dân tự do gây đổ vỡ các quy hoạch phát triển, giảm tải sức ép lên các cơ sở hạ tầng KT- XH ở các trung tâm kinh tế vùng và cả nước, giảm giờ làm/tuần và nâng
Trang 30cao chất lượng cuộc sống thực tế của người lao động Về mặt môi trường sinh thái, chính sách việc làm gắn liền với phát triển các KCN nhưng không phá cảnh quan địa phương, cân nhắc tới yêu cầu và biện pháp bảo vệ môi trường
Cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế Xu hướng này đòi hỏi phải nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng giáo dục đào tạo để đáp ứng các yêu cầu của thị trường, của CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Chỉ như vậy mới nâng cao khả năng và sự tự tin cho người lao động, tạo cho họ cơ hội tìm kiếm, lựa chọn việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo, lựa chọn nơi làm việc hoặc có thêm việc làm mới với thu nhập cao hơn, đặc biệt là có khả năng tự tạo việc làm cho mình và xã hội
Kết hợp hài hòa lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và
xã hội Về mặt nguyên tắc, đối tượng hưởng lợi của các chính sách này là những
người lao động nông thôn trong diện bị thu hồi đất, giúp họ có việc làm, thu nhập và cuộc sống ổn định Chính sách cũng mang lại lợi ích cho DN với tư cách là người tuyển dụng, sử dụng trực tiếp lao động, qua đó đáp ứng nhu cầu về
số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của DN cũng như các tổ chức sử dụng lao động khác Lợi ích xã hội mà chính sách mang lại, đó là giảm gánh nặng NSNN phải chi cho thất nghiệp, giúp toàn dụng lao động xã hội, góp phần ổn định an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế cho đất nước một cách bền vững Tuy nhiên điều cần lưu ý là: đối tượng thụ hưởng của chính sách này là trụ cột lao động của gia đình và xã hội, họ có phần thiệt thòi và chịu rủi ro do bị thu hồi đất, do vậy chính sách cần quan tâm đến các nhu cầu hợp lý của họ để tránh những biến động lớn về kinh tế, xã hội và chính trị
1.2 Thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất
1.2.1 Chủ thể thực hiện
Có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình thực hiện chính sách và các chủ thể có mối quan hệ tương tác với nhau trong quá trình thực hiện chính sách Có
Trang 31thể nhóm các chủ thể tham gia thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất thành ba nhóm như sau:
* Chủ thể là cơ quan nhà nước (Đây là chủ thể chịu trách nhiệm tổ chức
thực thi chính sách công)
Đối với mỗi một chính sách công nói chung và chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nói riêng thì Chính phủ là cơ quan ban hành các văn bản chính sách liên quan đến vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân
bị thu hồi đất để triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước, huy động sự tham gia quản lý và huy động nguồn lực của nhiều cấp, nhiều ngành Theo đó các cơ quan
có trách nhiệm tham gia là các bộ ngành trung ương và uỷ ban nhân dân các cấp Các bộ, ngành trung ương có liên quan đến vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất có trách nhiệm ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn những nội dung liên quan thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý của mình
Chính quyền địa phương là nơi trực tiếp triển khai các chính sách của nhà nước Trên cơ sở các chính sách chung của Nhà nước và thực trạng lao động việc làm của nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn để có biện pháp triển khai cụ thể, phù hợp
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có định hướng quy hoạch, kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, chủ động xây dựng kế hoạch dạy nghề và tạo việc làm từ dự án nghề cho lao động nông thôn, cho vay vốn giải quyết việc làm cho người nông dân ngay trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch thu hồi đất nông nghiệp, nắm chắc tình hình nguồn lao động và cơ cấu lao động - việc làm vùng chuyển đổi để có biện pháp, đề án hỗ trợ tái định cư, xây dựng và phát triển các hợp tác xã dịch vụ tại vùng bị thu hồi đất, phát triển ngành nghề truyền thống tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hướng dẫn và vận động nhân dân chủ động
Trang 32tham gia học nghề để chuyển nghề và tìm việc làm phù hợp nhằm nhanh chóng
ổn định cuộc sống
Ngoài các cơ quan hành chính nhà nước, quá trình thực hiện chính sách
giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất cần có sự tham gia tích
cực từ các tổ chức chính trị - xã hội; hệ thống các cơ sở đào tạo nghề, các trung
tâm tư vấn, xúc tiến việc làm, hệ thống ngân hàng chính sách ở các địa phương
* Chủ thể là các doanh nghiệp
Giải quyết việc làm là trách nhiệm của doanh nghiệp như trong điều 13
Bộ luật lao động nước CHXHCN Việt Nam đã quy định Giải quyết việc làm cho
người lao động chính là duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Người
lao động là một trong những yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp, quyết định sự
thành bại của doanh nghiệp Giải quyết việc làm đầy đủ cho người lao động sẽ
làm tăng thu nhập, sức mua cũng tăng lên, thúc đẩy sản xuất phát triển Vai trò
tạo việc làm của doanh nghiệp thể hiện ở chỗ:
- Doanh nghiệp là nơi để đào tạo và truyền nghề mới, chuyển đổi nghề
nghiệp cho người nông dân bị thu hồi đất
- Là nơi tiếp nhận một lượng lớn lao động trong đó có người nông dân bị
thu hồi đất tại địa phương và các vùng lân cận
- Môi giới việc làm giữa các thành phần kinh tế và khu vực kinh tế nông
thôn, đô thị nhằm xúc tiến việc làm và tạo ra các luồng di chuyển lao động và
trung chuyển việc làm hợp lý, hiệu quả trong xã hội
- Doanh nghiệp có vai trò tận dụng mọi nguồn lực xã hội nhằm từng bước
giiar quyết việc làm cho người lao động
- Người nông dân bị thu hồi đất chưa qua đào tạo hoặt quá tuổi đào tạo có
thể tham gia vào các lĩnh vực dịch vụ cho các khu công nghiệp, các doanh
nghiệp trong vùng hoặc kinh doanh các loại hình dịch vụ phục vụ hoạt động của
người lao động quanh các khu công nghiệp, doanh nghiệp
* Chủ thể là người nông dân bị thu hồi đất (đây là đối tượng thụ hưởng
trực tiếp của chính sách)
Trang 33Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất cần sự nỗ lực của chính bản thân họ Việc thực hiện chính sách sẽ không mang lại hiệu quả nếu bản thân người nông dân không tiếp cận được các chính sách của Nhà nước Người nông dân có thể bị hạn chế thông tin hoặc có thể không hợp tác với các chương trình chính sách Vì vậy, để việc thực hiện chính sách thực sự mang lại hiệu quả, người nông dân cần tích cực, chủ động trong việc nâng cao trình độ dân trí, kỹ năng nghề nghiệp, nắm bắt thông tin và cơ hội để tìm kiếm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp khi bị thu hồi đất; khuyến khích con em mình học tập để trang bị kiến thức, tay nghề Có kế hoạch sử dụng tiền đền bù đất và các khoản hỗ trợ khác của Nhà nước hợp lý để tìm việc làm
Như vậy, để tổ chức thực thi chính sách thì cần sự tham gia của nhiều chủ thể, nó cần có sự hợp sức từ nhiều phía nhà nước, doanh nghiệp, người lao động Nếu không thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp này thì việc thực hiện chính sách khó khả thi và khó đạt được mục tiêu
1.2.2 Quy trình thực hiện
Quy trình tổ chức thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân
bị thu hồi đất nông nghiệp gồm những bước cơ bản như sau:
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách
Bước này gồm: Xây dựng kế hoạch tổ chức, điều hành; kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực; kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách và dự kiến những nội dung quy chế về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật đối với những tập thể, cá nhân trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách
- Phổ biến, tuyên truyền chính sách:
Bước này cần tổ chức, phổ biến, tuyên truyền cho các đối tượng chính sách và các bộ phận có liên quan, bộ máy cán bộ công chức tham gia thực hiện Công việc này cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với đối tượng tiếp nhận hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng Thiếu năng lực tuyên truyền, vận động sẽ làm
Trang 34cho chính sách bị biến dạng, làm cho lòng tin của nhân dân vào Nhà nước bị giảm sút
- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách:
Trên thực tế, việc phân công cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp thực hiện thường được đề ra ngay trong kế hoạch triển khai thực hiện chính sách nhưng sự phối hợp trong quá trình thực hiện chính sách mới là điều quan trọng Chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất hướng đến đối tượng thụ hưởng là người nông dân không có việc làm hoặc thiếu việc làm do bị thu hồi đất nhưng quá trình thực hiện lại liên quan đến nhiều bộ phận khác nhau nên cần phân công trách nhiệm phối hợp cụ thể để việc thực hiện đảm bảo nhịp nhàng, thống nhất, hiệu quả, tránh chồng chéo, đáp ứng các yêu cầu quản lý Đối với chính sách giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất cần có sự tham gia của nhiều phòng, ban, ngành, tổ chức đoàn thể Đối với cấp huyện, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng là cơ quan chủ trì thực hiện, phòng Lao động - Thương binh - Xã hội, phòng Tài chính - Kế hoạch, phòng Kinh tế, các tổ chức đoàn thể, chính quyền phường, xã là các đơn vị phối hợp thực hiện
- Duy trì chính sách:
Việc duy trì chính sách là làm cho chính sách sống trong môi trường thực
tế và phát huy tác dụng Các cơ quan có trách nhiệm phải thường xuyên tuyên truyển, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực hiện, tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách Các cơ quan Nhà nước có thể sử dụng nhiều biện pháp để duy trì chính sách, đồng thời thực hiện dân chủ để người dân mạnh dạn tham gia quản lý xã hội trong đó tự giác chấp hành chính sách, đề xuất các giải pháp thực hiện mục tiêu
- Điều chỉnh chính sách:
Đây là hoạt động cần thiết trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách Để chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế thì cần chủ động điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh mới Cơ quan nhà nước, các ngành, các cấp điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả, miễn là
Trang 35không làm thay đổi mục tiêu chính sách Tuy nhiên, việc điều chỉnh này phải đảm bảo nguyên tắc chỉ điều chỉnh biện pháp, cơ chế thực hiện hoặc bổ sung, hoàn thiện mục tiêu theo yêu cầu thực tế, không được điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu chính sách
- Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc:
Trong quá trình thực hiện, nhà quản lý phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện của các bộ phận liên quan Căn cứ kế hoạch kiểm tra, phát hiện, đánh giá những điểm mạnh, yếu của công tác thực hiện, giúp phát hiện những thiếu xót trong công tác lập kế hoạch thực hiện để điều chỉnh; tạo điều kiện phối hợp nhịp nhàng các hoạt động độc lập của cơ quan và đối tượng thực hiện mục tiêu chính sách; kịp thời khuyến khích những nhân tố tích cực trong thực hiện chính sách
- Đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm:
Đánh giá việc thực hiện của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách, bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp, gián tiếp từ chính sách Cơ sở đánh giá là các kế hoạch, nội quy, quy chế hoạt động, các tiêu chí cụ thể của chính sách Việc đánh giá này thường được thực hiện theo định kỳ hằng năm, theo giai đoạn hoặc theo yêu cầu của chính sách
1.2.3 Nội dung và tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách
* Nội dung giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra và kết hợp giữa các yếu tố tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện KT - XH khác để đảm bảo cho việc làm diễn ra và duy trì việc làm Tạo việc làm liên quan đến nhiều chủ thể, bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước Tạo việc làm cho nông dân
bị thu hồi đất chính là quá trình mà người nông dân sử dụng sức lao động của mình có thể tự do tìm kiếm được một công việc phù hợp, cũng như là quá trình
mà người sử dụng lao động có thể tìm kiếm được những người lao động thoả mãn được những yêu cầu của mình về cả mặt số lượng và chất lượng, là quá trình Nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi để người nông dân bị thu hồi đất có
Trang 36thể thực hiện quá trình lao động của họ Do vậy, nội dung của giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất gồm:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tổng thể về việc thu hồi đất nông nghiệp và kế hoạch tạo việc làm cho nông dân khi thu hồi đất Trước khi tiến hành thu hồi đất, Nhà nước dựa trên quy hoạch tổng thể về kế hoạch sử dụng đất do Chính phủ ban hành để thực hiện việc thu hồi như: tổng diện tích đất thu hồi, vị trí đất thu hồi Sau đó, Nhà nước tiến hành điều tra, đánh giá xã hội ban đầu để nắm được chính xác đặc điểm cộng đồng dân chuyển cư, nguồn lao động của cộng đồng người sẽ bị ảnh hưởng bởi dự án; thống kê, phân tích thực trạng cơ cấu và chất lượng nguồn lao động của nhóm dân cư đó theo tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, đặc điểm gia đình và mức sống; đánh giá tổng quát những ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến việc làm thu nhập, đời sống của người nông dân
- Xây dựng môi trường pháp lý, các điều kiện KT - XH cần thiết nhằm phát triển thị trường sức lao động Dựa trên việc đánh giá những tác động của thu hồi đất đến việc làm của nông dân, Nhà nước xây dựng các văn bản pháp quy để bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư người nông dân bị thu hồi đất theo hướng bảo đảm ổn định việc làm và thu nhập hợp pháp cho bản thân người nông dân và gia đình của họ
- Phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là những ngành nghề sử dụng nhiều lao động để thu hút lao động nông nghiệp sau khi thu hồi đất Sau khi thu hồi đất, nhà nước và doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động nhằm phát triển sản xuất kinh doanh từ đó tạo ra nhu cầu về việc làm và tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
- Xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp để người nông dân có cơ hội tìm được việc làm Vì người nông dân mất việc làm do không có trình độ, chuyên môn nghề nghiệp, do vậy, Nhà nước xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp cho người nông dân theo hướng phù hợp với khả năng của nông dân
Trang 37- Phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với các doanh nghiệp - chủ đầu tư sử dụng đất thu hồi trong việc đào tạo và bố trí việc làm cho nông dân
bị thu hồi đất vào làm việc trong các doanh nghiệp này Xây dựng cơ chế ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp sử dụng đất thu hồi của người nông dân trong việc giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
- Tuyên truyền, vận động, giúp đỡ người nông dân khi bị mất đất chủ động tìm kiếm và lựa chọn nghề nghiệp và việc làm mới phù hợp với bản thân thông qua các chính sách trợ giúp của Nhà nước và các doanh nghiệp, đồng thời bản thân người nông dân cũng có cơ hội tìm việc làm và duy trì việc làm ở các dự án sử dụng đất nông nghiệp thu hồi hoặc tìm được các công việc khác do sự phát triển
KT - XH tạo ra
* Tiêu chí đánh giá kết quả tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
Thứ nhất, tỷ trọng số người nông dân khi thu hồi đất tìm được việc làm và
được làm việc trong các khu công nghiệp và khu đô thị mới trong tổng số lao động nông thôn bị thu hồi đất Tiêu chí đánh giá này phản ánh hiệu quả của các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, của doanh nghiệp và khả năng thích nghi của chính bản thân người nông dân
Thứ hai, tỷ trọng số nông dân bị thu hồi đất được hỗ trợ, đào tạo lại nghề,
chuyển đổi nghề nghiệp và tỷ trọng những người được đào tạo phù hợp với nhu cầu của thị trường sức lao động trong tổng số nông dân bị thu hồi đất Tiêu chí đánh giá này phản ánh hiệu quả công tác hỗ trợ, đào tạo lại nghề, chuyển đổi ngành nghề cho nông dân bị thu hồi đất
Thứ ba, tỷ trọng những người nông dân khi thu hồi đất không kiếm được
việc làm ổn định, đời sống bấp bênh, gặp nhiều khó khăn trong tổng số nông dân
bị thu hồi đất Tiêu chí đánh giá này phản ánh kết quả của công tác giải quyết việc làm cho nông dân, nếu tỷ trọng những người nông dân khi thu hồi đất không kiếm được việc làm ổn định, đời sống bấp bênh, gặp nhiều khó khăn càng lớn thì chứng tỏ các giải pháp của Nhà nước, địa phương và doanh nghiệp là chưa hiệu quả và không gắn với thực tế của địa phương đó
Trang 38Thứ tư, tỷ trọng số người nông dân sau khi thu hồi đất được Nhà nước hỗ
trợ xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm trong tổng số nông dân bị thu hồi đất Tiêu chí đánh giá này phản ánh hiệu quả hoạt động xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
Thứ năm, mức độ phối hợp giữa chính quyền địa phương với chủ đầu tư
các dự án trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, đào tạo lại nghề cho người nông dân bị thu hồi đất để có thể thu hút họ vào làm việc trong các dự
án đầu tư Tiêu chí đánh giá này phản ánh hiệu quả sự phối hợp hoạt động giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp, chủ đầu tư các dự án trong đào tạo, đào tạo lại nghề cho nông dân bị thu hồi đất để giải quyết việc làm cho họ
Thứ sáu, việc thực hiện các chính sách của Trung ương và địa phương về
giải quyết việc làm cho người nông dân khi thu hồi đất Với tiêu chí này sẽ cho thấy hiệu quả của việc thực hiện các chính sách về giải quyết việc làm cho người nông dân khi thu hồi đất Nếu việc thực hiện các chính sách của Trung ương và địa phương về giải quyết việc làm cho người nông dân khi thu hồi đất có tính minh bạch, hiệu quả
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách diễn ra trong thời gian dài và liên quan đến nhiều tổ chức cá nhân vì vậy kết quả tổ chức thực hiện chính sách cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Có thể kể đến là các yếu tố khách quan
Với đường lối mở cửa và quan điểm “thông thoáng” trong thu hút đầu tư
và phát triển các thành phần kinh tế, nhiều KCN, khu chế xuất và vùng kinh tế
Trang 39trọng điểm ở các vùng nông thôn được thành lập, góp phần tăng trưởng kinh tế
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ; đồng thời với những đổi mới
về chính trị pháp lý (như xây dựng và đổi mới luật pháp, cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính…), sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho hoạch định
và thực thi các chính sách việc làm
- Các yếu tố về kinh tế: Sự biến động của thị trường lao động đặc biệt về
cung lao động Cung lao động trên thị trường càng lớn thì người lao động càng phải cạnh tranh và khó khăn hơn trong quá trình tìm việc làm cho mình Ở Việt Nam, dân số đông và trẻ, lực lượng lao động tập trung chủ yếu là người lao động
ở khu vực nông thôn, nên nguồn cung lao động khá dồi dào Tuy nhiên, vẫn thiếu lao động có nghề để làm việc tại các DN mặc dù lực lượng lao động trẻ ở nông thôn rất đông đảo Do đó, chiến lược dạy nghề, việc làm vẫn phải ưu tiên cho khu vực nông thôn, đối tượng người lao động và lao động trẻ Về cầu lao động: Cầu lao động trên thị trường lao động càng lớn, thì cơ hội có việc làm tốt càng được mở rộng cho người lao động Cầu lao động thấp khi nền kinh tế suy giảm, các DN thiếu việc làm và khi đó người lao động rất khó có được việc làm Khi cầu nhỏ hơn cung về lao động thì người lao động sẽ bất lợi trong tìm việc làm và trong mối quan hệ với chủ sử dụng lao động
- Các yếu tố văn hóa xã hội: Phong tục tập quán và quan niệm của xã hội
có ảnh hưởng nhất định đến chính sách việc làm Nhận thức của xã hội, của người lao động về dạy nghề và việc làm, phong tục tập quán của mỗi quốc gia, dân tộc, vùng miền cũng có ảnh hưởng nhất định đến định hướng nghề nghiệp cũng như chính sách việc làm cho người lao động Khả năng và trình độ dân trí ở nông thôn Kiến thức, kĩ năng, phẩm chất, thể chất, ý thức chấp hành pháp luật, trình độ văn minh của xã hội, v.v cũng là các yếu tố có ảnh hưởng đến chính sách việc làm Do người lao động nông thôn ít có điều kiện tiếp cận với khoa học kĩ thuật hiện đại, tiếp cận với thông tin … nên chính sách việc làm phải chú ý đến các giải pháp về đào tạo nghề, truyền thông, tư vấn, giúp đối tượng tự tin, nâng cao khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm
Trang 40- Các yếu tố về toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Xu thế toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trước hết là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, góp phần giải quyết việc làm cho lao động trong nước trong đó có lao động nông thôn Toàn cầu hoá thu hút nhiều DN nước ngoài đầu tư vào các nước đang phát triển, mà Việt Nam
là một thị trường hấp dẫn, điều này tạo ra nhiều việc làm cho lao động tại các KCN, khu chế xuất nhưng cũng đòi hỏi Chính phủ và chính quyền địa phương phải ban hành các chính sách, quy định về sử dụng đất đai, đào tạo nghề, thuế, tín dụng, môi trường, XKLĐ nhằm mục tiêu nâng cao số lượng và chất lượng
việc làm
Tiến bộ của khoa học, công nghệ sẽ làm tăng yêu cầu việc làm cho lao
động phức tạp, có kỹ thuật và ngược lại, làm giảm việc làm đối với lao động giản đơn Quá trình phát triển của mỗi quốc gia ngày nay được cấu trúc lại dựa trên những lợi thế của nguồn lực con người với hàm lượng trí tuệ ngày một gia tăng Nhờ có sự tiến bộ của KHCN mà phần tỷ lệ lao động chân tay kết tinh vào sản phẩm ngày một giảm rõ rệt, hàm lượng lao động "chất xám" kết tinh vào sản phẩm ngày càng cao Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, là lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất vật chất Vì vậy, đòi hỏi người lao động phải có phẩm chất trí tuệ cao; nghĩa là người lao động phải có năng lực sáng tạo, áp dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ tiên tiến, khả năng biến tri thức của mình thành kỹ năng nghề nghiệp, thể hiện qua trình độ tay nghề thành thạo, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, làm chủ được công nghệ, hoàn thành tốt công việc mà mình đảm nhiệm
Yếu tố chủ quan: Là các yếu tố thuộc về chủ thể tổ chức thực thi chính
sách, trong đó đội ngũ cán bộ, công chức chủ động chi phối đến toàn bộ quá trình có ý nghĩa quan trọng
Thành công của việc thực thi chính sách phụ thuộc rất lớn và khả năng tổ chức thực thi chính sách của cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý nhà nước Năng lực này được thể hiện thông qua các mặt như: đạo đức công vụ, năng lực