Bảo đảm an toàn thực phẩm là một nội dung quan trọng trong công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân, nên cũng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm sâu sắc, điều này đã được thể hiện cụ thể bằng hành
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÂM THỊ HOÀNG YẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÂM THỊ HOÀNG YẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐẶNG THÀNH LÊ
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Học viên Lâm Thị Hoàng Yến- Người thực hiện luận văn này xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo, TS Đặng Thành Lê- người đã hướng dẫn tận
tình trong quá trình thực hiện luận văn
Học viên cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới đến các thầy, cô, các Khoa, Ban giám đốc Học viện Hành Chính, quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy Học viên trong suốt khóa học
Học viên xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian đọc và đóng góp ý kiến
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ động viên của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ khích lệ trong quá trình thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2017
Học viên
Lâm Thị Hoàng Yến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Học viên Lâm Thị Hoàng Yến- Người thực hiện luận văn này xin cam
đoan: Bản luận văn với những nội dung, số liệu sử dụng là công trình nghiên
cứu, sưu tầm, xử lý của cá nhân Ngoài ra những thông tin, số liệu trích dẫn, dẫn
chứng được minh chứng rõ ràng trong luận văn này, dưới sự hướng dẫn khoa
Trang 6MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 0
1 Tính cấp thiết của luận văn 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài: 7
4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: 7
5 Phương pháp nghiên cứu: 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn: 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 9
1.1 An toàn vệ sinh thực phẩm 9
1.1.1 Khái niệm cơ bản 9
1.1.2 Đặc điểm của vệ sinh an toàn thực phẩm 9
1.1.3 Nguyên tắc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 10
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 11
1.2 Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 13
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 13
1.2.2 Nguyên tắc QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm 15
1.2.3 Nội dung QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm 15
1.2.4 Tổ chức bộ máy QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm 19
1.3 Kinh nghiệm nước ngoài và trong nước 22
1.3.1 Kinh nghiệm nước ngoài 22
1.3.2 Kinh nghiệm trong nước 32
1.3.3 Bài học kinh nghiệm 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 37
Trang 72.1 Tổng quan về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn quận Long Biên 37
2.1.1 Tổng quan về quận Long Biên 37
2.1.2 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn quận Long Biên 42
2.2 Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội 45
2.2.1 Khung chính sách QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm 45
2.2.2 Tổ chức bộ máy QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm 48
2.2.3 Đẩy mạnh thủ tục hành chính 52
2.2.4 Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm 52
2.2.5 Kiểm tra, thanh tra QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm 53
2.2.6 Hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 55
2.3 Đánh giá chung 56
2.3.1 Kết quả 56
2.3.2 Hạn chế, tồn tại 58
2.3.3 Nguyên nhân 59
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 61
3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 61
3.1.1 Quan điểm 61
3.1.2 Mục tiêu 62
3.1.3 Định hướng bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm 65
3.2 Mục tiêu, định hướng phát triển của quận Long Biên đến năm 2020 66
3.2.1 Mục tiêu 66
3.2.2 Định hướng 67
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội 69
Trang 83.3.1 Hoàn thiện khung chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm 69
3.3.2 Kiện toàn tổ chức bộ máy QLNN về vệ sinhan toàn thực phẩm 71
3.3.3 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng trình độ nguồn nhân lực trong QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm 72
3.3.4 Xây dựng chiến lược truyền thông đảm bảo chất lượng thực phẩm 73
3.3.5 Đầu tư hệ thống kiểm nghiệm chất lượng thực phẩm 76
3.3.6 Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan QLNN về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm 77
3.3.7 Tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm 78
3.4 Các kiến nghị 80
3.4.1 Kiến nghị với Nhà nước 80
3.4.2 Kiến nghị với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương 80
3.4.3 Kiến nghị với UBND thành phố Hà Nội, Sở Y tế Hà Nội 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, vấn đề đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (sau đây gọi tắt là VSATTP) là yêu cầu cấp thiết thời sự hiện nay nhằm đảm bảo sức khỏe nhân dân
Bảo đảm an toàn thực phẩm là một nội dung quan trọng trong công tác bảo
vệ sức khỏe nhân dân, nên cũng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm sâu sắc, điều này đã được thể hiện cụ thể bằng hành động cụ thể: Luật An toàn thực phẩm năm 2010 (Luật ATTP) đã được ban hành và đi vào hoạt động thường xuyên trong quản lý về ATTP, luật trên đã chuyển hoạt động quản lý về an toàn thực phẩm (ATTP) sang cơ chế quản lý theo nhóm sản phẩm Đây được xem là một chính sách quan trọng của Luật ATTP, theo đó, việc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP được xác định theo hướng quản lý theo nhóm sản phẩm thay vì quản lý theo phân khúc sản xuất, kinh doanh thực phẩm với hi vọng khắc phục sự chồng chéo trong quản lý nhà nước về ATTP của các Bộ, ngành đồng thời xác định rõ hơn trách nhiệm mỗi Bộ, ngành trong lĩnh vực quản
lý nhà nước về ATTP Một phần của nội dung chính sách này là tư tưởng giảm
số Bộ tham gia quản lý nhà nước về ATTP từ 8 Bộ (theo Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003) xuống chỉ còn 3 Bộ là Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Công Thương
Quận Long Biên là một quận mới được thành lập tại Thành phố Hà Nội, tuy nhiên Long Biên là một quận có tốc độ đô thị hóa nhanh chóng Hiện nay, trên địa bàn đã và đang hình thành một số khu đô thị như khu đô thị Việt Hưng, khu đô thị Bồ Đề, khu đô thị Ngọc Thụy, khu đô thị Thượng Thanh, khu đô thị Sài Đồng, khu đô thị Thạch Bàn cùng với một số khu đô thị sinh thái như Vinhomes Riverside, Berriver Long Biên, Rice Home Sông Hồng Giao thông
có đầy đủ hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy Đường bộ có quốc lộ 1A, quốc lộ 5, đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, đường cao tốc Hà Nội – Lạng
Trang 10Sơn; Đường sắt có các tuyến đường sắt đi Hải Phòng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lào Cai; Đường thủy có sông Hồng, sông Đuống ,quận Long Biên cũng là đầu mối về thực phẩm cho thành phố Hà Nội từ phía Bắc, do đó công tác vệ sinh an toàn thực phẩm đã được quan tâm của các cấp chính quyền
Trong những năm qua các cấp, các ngành của quận Long Biên đã nỗ lực tham gia vào công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) và đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận Bên cạnh đó, thực trạng quản lý nhà nước
về VSATTP trên địa bàn cho thấy còn không ít khó khăn và bất cập như: chức năng quản lý của các ngành chưa rõ ràng, việc xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện chưa chi tiết, cụ thể và sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các ngành liên quan, đặc biệt chưa có sự đánh giá cụ thể về các hoạt động trong lĩnh vực VSATTP Nguồn nhân lực trong hệ thống quản lý còn thiếu về số lượng cũng như yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế Hệ thống kiểm nghiệm còn thiếu trang thiết bị, thiếu các văn bản kỹ thuật Chưa thiết lập được
hệ thống thông tin tuyên truyền về công tác VSATTP và cảnh báo nguy cơ, kiểm soát nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm Nhiệm vụ của các ngành còn chồng chéo và có lĩnh vực bị bỏ trống, quản lý về VSATTP ở một số địa bàn trong quận còn lỏng lẻo Sai phạm tại các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh còn nhiều Kiến thức, thực hành về VSATTP của cộng đồng còn hạn chế Nền sản xuất công nghiệp thực phẩm còn lạc hậu Đội ngũ giám sát, kiểm tra, thanh tra VSATTP còn mỏng, đặc biệt chưa có hệ thống thanh tra chuyên ngành Việc thi hành các văn bản pháp quy về quản lý VSATTP còn chưa nghiêm…
Nhận thức được vấn đề trên Học viên chọn đề tài “Quản lý nhà nước về an
toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội”
nhằm tìm hiểu sự tác động, ảnh hưởng của quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm, tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân việc quản lý nhà nước về an toàn
vệ sinh thực phẩm trên địa bàn, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm tại quận Long Biên, Thành phố Hà Nội
Trang 112 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về an toàn vệ sinh thực phẩm như:
- Với đề tài “Kiến thức- Thái độ- Thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người bán và người mua thức ăn đường phố ở thị xã Bến Tre- tỉnh Bến Tre năm 2007”, hai tác giả Lý Thành Minh, Cao Thanh Diễm Thuý đã tiến hành nghiên cứu trên 266 người bán, người tiêu dùng thức ăn đường phố Kết quả cho thấy: tình hình vệ sinh ATTP của các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố chưa được kiểm soát tốt, có nhiều người bán thức ăn đường phố chưa được khám sức khoẻ định kỳ và tập huấn kiến thức vệ sinh ATTP, tình hình vệ sinh cơ sở kém cần được người kinh doanh và cơ quan chức năng quan tâm hơn Ý thức vệ sinh
cá nhân của người bán thấp Người tiêu dùng thức ăn đường phố ở thị xã Bến Tre có ý thức khá tốt về vệ sinh an toàn thực phẩm, tuy vậy vẫn có 96,2 % sử dụng thức ăn đường phố Từ đó, nhóm tác giả đã đưa ra kiến nghị: cần tăng cường công tác quản lý có phân cấp hành chính nhất là tuyến xã phường để thúc đẩy người bán thức ăn đường phố đi khám sức khoẻ định kỳ, học tập kiến thức
vệ sinh ATTP để từ đó họ có ý thức giữ vệ sinh cá nhân cũng như vệ sinh cơ sở tốt hơn Tăng cường công tác truyền thông giáo dục để nâng cao ý thức cả cộng đồng, để người tiêu dùng cương quyết hơn không sử dụng những thức ăn đường phố kém vệ sinh, góp phần phần thúc đẩy người bán ý thức giữ vệ sinh tốt hơn Bên cạnh đó, cần thành lập mô hình tập trung cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố vào các khu vực ăn uống đã được một số nơi trong nước thực hiện, điều này giúp công tác quản lý được thuận lợi hơn
- Nhằm góp phần cải thiện tình hình và để nâng cao hiệu quả việc quản lý
vệ sinh ATTP tại địa phương, Lê Minh Uy và cộng sự đã tiến hành đề tài “Hiệu quả thay đổi về kiến thức thực hành của người tiêu dùng và công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm ở thành thị An Giang năm 2007” Mục tiêu của đề tài là: Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh ATTP của người tiêu dùng tại An Giang năm 2007; Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành
vệ sinh ATTP của người quản lý phường xã tại An Giang năm 2007 Bằng
Trang 12phương pháp nghiên cứu can thiệp trên nhóm người tiêu dùng (nội trợ) từ 18 tuổi trở lên cư trú tại An Giang và các cán bộ chủ chốt quản lý vệ sinh ATTP phường xã tại 30 cụm điều tra, tổng số mẫu điều tra là 598 người
Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ người tiêu dùng có kiến thức toàn diện
về vệ sinh ATTP chiếm tỷ lệ thấp Người tiêu dùng chỉ đạt yêu cầu trên 50% khi lựa chọn phương tiện phục vụ và nhận biết thức ăn an toàn, người tiêu dùng vẫn còn dễ dãi trong lựa chọn nơi bán hàng và người bán hàng Sau 09 tháng can thiệp, sự cải thiện về kiến thức tiêu dùng không nhiều 2 tiêu chí cải thiện là: Lựa chọn nơi bán và Người bán hàng đạt vệ sinh ATTP; còn lại 2 tiêu chí: phương tiện phục vụ, nhận biết thức ăn an toàn tăng không đáng kể Cán bộ quản lý vệ sinh ATTP đã được đào tạo bài bản không nhiều Điều đó làm cho công tác tổ chức quản lý vệ sinh ATTP gặp nhiều khó khăn Từ đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị như: cần phổ biến kiến thức nâng cao nhận thức bảo đảm vệ sinh ATTP cho người tiêu dùng và tiến hành tập huấn nâng cao trình độ quản lý vệ sinh ATTP cho các cấp quản lý, đặc biệt là tuyến
cơ sở
- Với luận án chuyên khoa cấp II “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm tại tỉnh An Giang năm 2009”, tác giả Từ Quốc Tuấn đã tiến hành khảo sát trên 721 cơ sở kinh doanh thực phẩm và 725 người tiêu dùng Kết quả cho thấy: đối với người kinh doanh thực phẩm, tỷ lệ đạt về kiến thức vệ sinh ATTP là 67,3%, thái độ đúng là 62,3%, thực hành đúng là 31,3% Giữa kiến thức và thực hành của người kinh doanh thực phẩm có các mối liên quan với việc tham dự các lớp tập huấn về vệ sinh ATTP, nơi sinh sống Người kinh doanh có tham dự các lớp tập huấn vệ sinh ATTP, sống ở thành thị sẽ có kiến thức, thực hành tốt hơn
Riêng thái độ của người kinh doanh chỉ có mối liên quan đến nơi sinh sống Đối với người tiêu dùng: tỷ lệ đạt về kiến thức vệ sinh ATTP là 31,4%, thái độ đúng là 65,9%, thực hành đúng là 37,4% Kiến thức của người tiêu dùng
Trang 13có mối liên quan đến tuổi, nơi sinh sống, học vấn Người tiêu dùng tuổi 18-40 tuổi, học vấn cao sẽ có kiến thức tốt hơn Thái độ và thực hành của người tiêu dùng có mối liên quan đến nghề nghiệp, học vấn, thu nhập và tham dự các lớp tập huấn vệ sinh ATTP Người tiêu dùng có nghề nghiệp là công nhân viên chức, buôn bán; học vấn cao; thu nhập ổn định và có tham dự các lớp tập huấn
vệ sinh ATTP sẽ có thái độ tốt hơn
- Bài viết “An toàn thực phẩm từ hệ thống phân phối bán lẻ tại các chợ đầu mối” (2011) của tác giả Phạm Thiên Hương dựa trên một nghiên cứu thuộc
dự án hợp tác VECO-IPSARD đã đưa ra một số các tiêu chuẩn ATTP của Việt Nam hiện nay, phân tích các văn bản chính sách liên quan, và tập trung vào phân tích thực trạng hệ thống phân phối bán lẻ tại một số chợ đầu mối lớn chuyên cung cấp thực phẩm ở Hà Nội, quá trình vận chuyển, phân phối, bảo quản và ý thức cộng động về vấn đề vệ sinh ATTP Từ đó tác giả đã đưa ra kết luận: vệ sinh ATTP trong cả nước nói chung và tại các chợ đầu mối Hà Nội nói riêng đang gây nhiều lo lắng cho người tiêu dùng Trên thực tế, nhiều sự kiện như việc
cố tình sử dụng những hoá chất cấm dùng trong bảo quản rau quả, thực phẩm, trong nuôi trồng, chế biến nông thủy sản, việc sản xuất một số sản phẩm kém chất lượng hoặc do quy trình chế biến hoặc do nhiễm độc từ môi trường, hoặc
do sử dụng chất bảo quản tùy tiện của người buôn bán đang gây ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và tiêu dùng Các vụ ngộ độc thực phẩm hàng loạt tại một số bếp
ăn, nhà hàng…đã làm bùng lên sự lo âu không ngớt của người dân Trên cơ sở
đó, tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp cụ thể cho từng nhóm đối tượng như:
từ góc độ người tiêu dùng, từ phía nhà cung cấp thực phẩm, từ phía quản lý nhà nước
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại Khánh Hòa” (2012) của Bác sĩ-Thạc sỹ Lê Tấn Phùng đã tiến hành khảo sát thực trạng vệ sinh ATTP tại các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà, đồng thời đánh giá năng lực quản lý vệ sinh ATTP trên toàn
Trang 14tỉnh Bằng việc kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng: Sử dụng hình thức thảo luận nhóm cho nghiên cứu định lượng để tìm hiểu thực trạng và các giải pháp cần thiết đảm bảo vệ sinh ATTP; Sử dụng bảng hỏi, bảng kiểm để khảo sát các đối tượng về kiến thức, thái độ và thực hành trong lĩnh vực vệ sinh ATTP Đồng thời tiến hành xét nghiệm hóa, lý và vi sinh các mẫu thực phẩm phổ biến (thịt, cá, rau, quả) Kết quả cho thấy kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm của các hộ gia đình vẫn có một số hạn chế nhất định Các cơ sở nhà hàng ăn uống, thức ăn đường phố chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí vệ sinh do
Bộ Y tế quy định Tình trạng ô nhiễm thực phẩm vẫn còn tồn tại, nhất là ô nhiễm vi sinh vật, hoá chất Các tác giả nhận định tốt về năng lực quản lý vệ sinh ATTP tại địa phương, nhưng nhấn mạnh sự cần thiết ban hành các văn bản quản lý nhằm tránh sự lạc hậu so với luật vệ sinh ATTP, tránh chồng chéo, và tăng cường sự phối hợp Trên cơ sở đó, một số khuyến nghị đã được đưa ra nhằm bảo đảm vệ sinh ATTP tại tỉnh Khánh Hòa
- Đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012” do tác giả Trương Văn Dũng tiến hành đã đặt ra 2 mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái
độ, thực hành của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012; Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012 Bằng phương pháp nghiên cứu ngang trên mẫu gồm 700 người tiêu dùng thực phẩm từ 18 tuổi trở lên tại huyện Châu Thành, kết quả cho thấy thực trạng, kiến thức, thực hành của người tiêu dùng thực phẩm: tỷ lệ người có kiến thức đúng 90,14%; tỷ lệ người có thái độ đúng 84,14%; tỷ lệ người có thực hành đúng 89,14%; Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi: có mối liên quan giữa kiến thức đúng với các yếu tố độ tuổi, học vấn, thời gian tham gia nội trợ, thu nhập kinh tế; Có mối liên quan giữa độ tuổi và thực hành đúng với các yếu tố học vấn, nghề nghiệp, thời gian nội trợ, thu nhập kinh tế và nhà ở Nghiên cứu cũng đã đưa ra kết luận đó là tỷ lệ người tiêu dùng trong huyện có kiến thức, thái độ và
Trang 15thực hành khá tốt về vệ sinh ATTP Cần tăng cường công tác tuyên truyền trực tiếp và tập trung vào nhóm những người tiêu dùng dưới 30 tuổi, những người có học vấn thấp, những người là nông dân làm ruộng, những người có kinh tế không ổn định, hộ cận nghèo và hộ nghèo
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Thị Linh “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn Hà Nội” tại Đại học quốc gia Hà Nội năm 2016, Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Hà Nội trong bối cảnh chung của cả nước Đánh giá thực trạng chung về việc thực hiện pháp luật VSATTP của Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp để khắc phục những hạn chế, thiếu sót của thực tại, hoàn thiện hệ thống pháp luật
Khúc “Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam năm 2014, Luận văn đã đánh giá tình hình quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Các công trình trên đã nghiên cứu về VSATTP ở các góc độ y tế, luật học, quản lý kinh tế Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ
ở góc độ quản lý công về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn cụ thể một địa phương là quận Long Biên, thành phố Hà Nội
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: QLNN về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội, qua nội dung quản lý nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài : QLNN về an toàn vệ sinh thực phẩm Qua thực tế tại quận Long Biên trong thời gian từ 2012 đến nay
4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu lý luận khoa học, kinh nghiệm các địa phương về QLNN về
an toàn vệ sinh thực phẩm Tiến hành đánh giá thực trạng việc QLNN về an toàn
vệ sinh thực phẩm trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội, qua đánh giá
Trang 16và quan điểm của Đảng, nhà nước và của Thành phố Hà Nội về an toàn vệ sinh thực phẩm để đề ra các giải pháp và kiến nghị của QLNN về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử; Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp đối chiếu so sánh; Phương pháp thống kê; Một số phương pháp khác
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn góp phần làm rõ thêm, thống nhất nhận thức về
an toàn vệ sinh thực phẩm và QLNN về an toàn vệ sinh thực phẩm
Về mặt thực tiễn, luận văn có thể được vận dụng vào thực tế hoạt động công tác an toàn vệ sinh thực phẩm ở các địa phương cũng như tham khảo cho các lĩnh vực khác trong công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm Luận văn còn là tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính công
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về QLNN về an toàn vệ sinh thực phẩm
Chương 2: Thực trạng QLNN về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN VỆ SINH
THỰC PHẨM 1.1 An toàn vệ sinh thực phẩm
1.1.1 Khái niệm cơ bản
Khái niệm an toàn thực phẩm
Là sự bảo đảm thực phẩm không gây hại cho người tiêu dùng khi nó được chuẩn bị hoặc ăn theo mục đích sử dụng
Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm
Là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển, cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khoẻ người tiêu dùng
Theo các chuyên gia của Tổ chức Lương Nông (FAO) và tổ chức y tế thế giới (WHO, 2000) thì: “Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh
có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng Quan niệm này rất đầy đủ, lột tả được bản chất của vấn đề nhưng để ngắn gọn và dễ hiểu mà vẫn bao hàm được
ý nghĩa trong quản lý nhà nước, khái niệm được chấp nhận hơn cả là: “Vệ sinh
an toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người, không chứa các tác nhân sinh học, hóa học, lý học quá giới hạn cho phép”
1.1.2 Đặc điểm của vệ sinh an toàn thực phẩm
Vệ sinh an toàn thực phẩm có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, vệ sinh an toàn thực phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe
của người dân và cộng đồng
Thứ hai, công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là công tác của toàn
xã hội từ nhà nước đến các doanh nghiệp, các tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân
Trang 18sản xuất thực phẩm và cả người tiêu dùng
Thứ ba, an toàn vệ sinh thực phẩm ảnh hưởng đến hàng hóa xuất khẩu
của nước ta ra thị trường thế giới và hàng hóa nhập khẩu từ các nước vào Việt Nam
Thứ tư, VSATTP không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ ảnh hưởng trực
tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng mà ở phạm vi rộng hơn là ảnh hưởng đến
sự phát triển kinh tế của một quốc gia, một vùng lãnh thổ và một địa phương nhất định
1.1.3 Nguyên tắc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Một số nguyên tắc cơ bản của quan điểm đảm bảo an toàn thực phẩm của chúng ta trong giai đoạn hiện nay là:
Một là, thay đổi cách tiếp cận từ “quản lý sản phẩm” sang “quản lý quá
trình”: hiện nay chúng ta đang thực hiện mô hình quản lý cắt ngang “chuỗi thực phẩm” thành nhiều công đoạn và kiểm soát sản phẩm của từng công đoạn đó thông qua việc ban hành các tiêu chuẩn “cho phép” Theo cách này, chúng ta sẽ luôn bị rơi vào tình trạng “thiếu tiêu chuẩn” bởi vì có quá nhiều loại thực phẩm
và các loại thực phẩm mới vẫn luôn được sáng tạo ra Việc kiểm tra các sản phẩm cuối cùng sẽ tốn kém rất nhiều nhân lực, và luôn đưa nhà quản lý vào thế
bị động (chỉ phát hiện ra sản phẩm vi phạm khi đã muộn: ví dụ như trường hợp sữa nhiễm melamine, chỉ phát hiện ra khi hàng loạt trẻ em nhập viện do sử dụng sản phẩm, hay việc rượu nhiễm metanol ở Việt Nam chỉ được phát hiện khi hàng loạt bệnh nhân ngộ độc/tử vong ) Việc chuyển đổi sang phương thức “quản lý quá trình” sẽ giúp chúng ta chuyển đổi từ thế “bị động” thành chủ động loại trừ hoặc giảm thiểu đến mức có thể chấp nhận được các yếu tố nguy cơ ra khỏi
“chuỗi thực phẩm” ngay từ khi nó có thể hình thành đảm bảo an toàn tuyệt đối cho sản phẩm cuối Theo đó, thay việc chứng nhận sản phẩm chúng ta chuyển sang “chứng nhận quy trình” như là: quy trình nuôi trồng; quy trình sản xuất, chế biến; quy trình bảo quản, phân phối Thay việc ban hành các tiêu chuẩn cho phép cho từng sản phẩm, sẽ ban hành các hành vi, giới hạn cấm vi phạm
Trang 19Hai là, xây dựng hệ thống labo kiểm nghiệm thực phẩm, nghiên cứu khoa
học thực phẩm, công nghệ, sinh học thực sự mạnh và có chiều sâu, bảo đảm:
- Đủ năng lực kiểm nghiệm tất cả các chỉ số kiểm soát chất lượng, vệ sinh,
an toàn thực phẩm, ứng phó được các hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu
và kiểm soát được sản phẩm nhập khẩu vào thị trường trong nước
- Cập nhật nhanh nhất các kỹ thuật, phát kiến mới liên quan đến lĩnh vực quản lý (độc chất, phụ gia, chất bảo quản, GMO )
- Triển khai hệ thống phân tích, giám sát nguy cơ ô nhiễm thực phẩm
- Đáp ứng đòi hỏi trong các tình huống khẩn cấp về an toàn thực phẩm
Ba là, pháp luật về an toàn thực phẩm đóng vai trò sống còn trong thời đại
thương mại quốc tế; phải xây dựng được một hệ thống pháp luật đủ mạnh, phù hợp với thông ước quốc tế, kèm theo nguồn lực tương xứng đảm bảo kiểm tra, giám sát, cưỡng chế nghiêm khắc và phản ứng nhanh từ các cấp chính quyền đối với những vi phạm về an toàn thực phẩm
Bốn là, hội nhập quốc tế: duy trì mối quan hệ chặt chẽ với các quốc gia, tổ
chức quốc tế có liên quan trong việc chia sẻ thông tin, giải quyết tranh chấp, sự
cố khẩn cấp về an toàn thực phẩm
Năm là, An toàn thực phẩm không phải là vấn đề chuyên môn sức khỏe
thuần túy, mà liên quan trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, an sinh, an toàn xã hội, hợp tác quốc tế, an ninh quốc gia do đó, công tác quản lý an toàn thực phẩm phải là công tác liên ngành và gắn liền với chính sách phát triển kinh tế,
xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại của nhà nước Công tác này phải được đầu tư nguồn lực (nhân lực, vật lực) tương xứng với yêu cầu thực tiễn Phải coi công tác đầu tư cho an toàn thực phẩm là đầu tư cho phát triển, an toàn và an sinh xã hội Cần phát huy vai trò của các tổ chức nghề nghiệp, hội hiệp hội liên quan tham gia công tác xây dựng chính sách, giám sát an toàn thực phẩm; coi các tổ chức này như là “cánh tay nối dài” của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 20Bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng trong
sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh Mặc dù cho đến nay đã
có khá nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong công tác bảo vệ và an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như biện pháp về quản lý giáo dục như ban hành luật, điều
lệ và thanh tra giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng các bệnh do kém chất lượng về vệ sinh thực phẩm và thức ăn ở Việt Nam vẫn chiếm tỷ lệ khá cao Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường Các loại thực phẩm sản xuất, chế biến trong nước và nước ngoài nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều chủng loại Việc sử dụng các chất phụ gia trong sản xuất trở nên phổ biến Các loại phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng trong pha chế nước giải khác, sản xuất bánh kẹo, chế biến thức ăn sẵn như thịt quay, giò chả, ô mai … Nhiều loại thịt bán trên thị trường không qua kiểm tra vệ sinh thú y Tình hình sản xuất thức ăn, đồ uống giả, không đảm bảo chất lượng và không theo đúng thành phần nguyên liệu cũng như quy trình công nghệ đã đăng
ký với cơ quan quản lý Nhãn hàng và quảng cáo không đúng sự thật vẫn xảy
ra Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật bao gồm thuốc trừ sâu, diệt
cỏ, hóa chất kích thích tăng trưởng và thuốc bảo quản không theo đúng quy định gây ô nhiễm nguồn nước cũng như tồn dư các hóa chất này trong thực phẩm Việc bảo quản lương thực thực phẩm không đúng quy cách tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển đã dẩn đến các vụ ngộ độc thực phẩm Các bệnh
do thực phẩm gây nên không chỉ là các bệnh cấp tính do ngộ độc thức ăn mà còn
là các bệnh mạn tính do nhiễm và tích lũy các chất độc hại từ môi trường bên ngoài vào thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể, trong đó có bệnh tim mạch và ung thư Do vậy để khỏi bị nhiễm độc, tốt nhất bạn nên ra chợ
tự mua thực phẩm, chọn những con vật (cá, tôm, gà vịt…) đang còn sống Với những thực phẩm đã giết mổ, pha chế sẵn thì nên mua ở những nơi có uy tín, có bảo hành chất lượng cho các sản phẩm của mình và dĩ nhiên nên lưu lại các hóa
Trang 21đơn mua hàng để sau đó nếu có ngộ độc xảy ra còn biết do loại nào, do ai bán…
để làm các thủ tục pháp lý và đền bù thỏa đáng Cần lưu ý đến ngay cả khâu chế biến thực phẩm của mỗi cá nhân và gia đình Đảm bảo các dụng cụ nhà bếp phải thật sạch Sắn (khoai mì) chứa xyanua, cả trong phần thịt và phần vỏ (thường có hàm lượng cao hơn) Cách tốt nhất để loại bỏ xyanua trong khoai mì là phải lột
vỏ, ngâm trong nước lạnh nhiều giờ trước khi luộc, trong lúc luộc nên mở nắp nồi
để xyanua bay đi Đối với khoai tây, khoai mì, đậu phộng, người tiêu dùng hoàn toàn không nên dự trữ lâu Để tránh ngộ độc solanin có trong khoai tây, không nên ăn những củ khoai đã mọc mầm hay những củ có vỏ đã chuyển sang màu xanh, những củ đã đào khỏi mặt đất quá lâu Nên thận trọng với những thức ăn để lâu hay bảo quản không tốt mà chuột, bọ, dán, ruồi… có thể động chạm đến
1.2 Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, đó là quản
lý toàn xã hội Nội hàm của quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử và đặc điểm văn hoá, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi một quốc gia qua các giai đoạn lịch sử Xét về mặt chức năng, quản lý nhà nước bao gồm 3 chức năng: thứ nhất, chức năng lập pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện; thứ hai, chức năng hành pháp( hay chấp hành và điều hành) do
hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm; thứ ba, chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện
Trong hệ thống xã hội, có nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: tổ chức chính trị, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội So với quản lý của các tổ chức khác, thì quản lý nhà nước có những điểm khác biệt như sau:
Trước hết, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy
nhà nước được trao quyền gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan
tư pháp;
Trang 22Thứ hai, đối tượng quản lý của Nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức
sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia
Thứ ba, quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao;
Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ
pháp luật nhà nước, chính sách để quản lý xã hội
Thứ năm, mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự
ổn định và phát triển của toàn xã hội
Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản
lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ hoạt động về vệ sinh an toàn thực phẩm
Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là quản lý theo ngành do nhiều cơ quan thực hiện Đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, cơ chế và chính sách phát triển lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội
Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh
và người tiêu dùng trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về VSATTP
Quản lý nhà nước về VSATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, chiến lược, kế hoạch
Trang 23có liên quan đến vấn đề VSATTP và công tác tổ chức tuyên truyền, giáo dục, công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý và nghiên cứu khoa học
1.2.2 Nguyên tắc QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm
Theo quy định của Luật an toàn thực phẩm năm 2010, nguyên tắc quản lý
an toàn thực phẩm được quy định như sau:
Đảm bảo an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm
Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh
Quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do
tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng
Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm
Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành
Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội
1.2.3 Nội dung QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm
1.2.3.1 Ban hành và triển khai các văn bản
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về vệ
sinh an toàn thực phẩm;
Chiến lược là một chương trình hành động tổng quát, triển khai các giải pháp để đạt được các mục tiêu toàn diện về phát triển trong một khoảng thời gian tương đối dài (10 năm, 20 năm)
Kế hoạch là một chương trình hành động cụ thể để đạt đến các mục tiêu định trước trong những khoảng thời gian nhất định (5 năm, hàng năm) Kế
Trang 24hoạch bao gồm những mục tiêu cụ thể và những giải pháp hành động cụ thể được lựa chọn để đạt được những mục tiêu này
Chiến lược và kế hoạch là những công cụ quan trọng của quản lý Sau khi chiến lược và kế hoạch được phê chuẩn, chúng là những căn cứ pháp lý để hướng dẫn hoạt động và đánh giá hoạt động của các chủ thể tham gia thực thi chiến lược và kế hoạch đề ra
Để đảm bảo VSATTP và phát triển bền vững đất nước, một chiến lược quốc gia về VSATTP với tầm nhìn phù hợp, làm cơ sở cho các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển khác là rất cần thiết đối với mỗi quốc gia trong đảm bảo VSATTP Chiến lược này sẽ là cơ sở để phát huy năng lực của toàn đất nước, tiến hành đồng thời các giải pháp về VSATTP đảm bảo sức khỏe của nhân dân
Ở Việt Nam, tùy từng giai đoạn với những diễn biến của điều kiện môi trường thực tế, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo xây dựng các chiến lược, chương trình các
kế hoạch để định hướng thực hiện các mục tiêu về đảm bảo VSATTP
sinh an toàn thực phẩm, các quy định và tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm;
Nhà nước là chủ thể tổ chức nghiên cứu xây dựng đồng bộ các cơ chế,
chính sách, pháp luật về VSATTP phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất
nước Hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước và được Nhà nước sử dụng để
điều chỉnh và tạo ra các hành vi và mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, các tổ chức nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một hoạt động quan trọng thể hiện bản chất chấp hành và điều hành của quản lý nhà nước Trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định, cơ quan QLNN xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP nhằm đảm bảo thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước
Khung thể chế hướng đến tăng cường sự tham gia của toàn hệ thống chính trị trong tổ chức chỉ đạo, phối hợp liên ngành về VSATTP; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý các vấn đề về VSATTP từ trung ương đến địa
Trang 25phương Nhà nước nghiên cứu hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức
và nguồn nhân lực để đảm bảo VSATTP Xây dựng và triển khai hệ thống theo dõi, báo cáo và thẩm định trong các hoạt động của công tác đảm bảo VSATTP
Xây dựng đồng bộ các cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút sự tham gia của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện công tác đảm bảo VSATTP
1.2.3.2 Huy động các nguồn lực
Bố trí nguồn lực cho bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP đảm bảo hoạt động có hiệu quả
Thực hiện đảm bảo VSATTP không chỉ cần nỗ lực đơn lẻ của nhà nước
mà còn cận sự nỗ lực chung của cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong cả nước Chính vì vậy, một trong những nội dung quản lý nhà nước là cần phải huy động
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong đảm bảo VSATTP Các nguồn lực thực hiện đảm bảo VSATTP rất đa dạng và phong phú từ nguồn lực tài chính đến nguồn lực về khoa học, công nghệ Các chính sách về VSATTP cần bao quát được các nguồn lực từ vật lực và nhân lực để tạo lập chính sách, thể chế cần thiết
1.2.3.3 Quản lý nhà nước về đội ngũ cán bộ, công chức
Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về
VSATTP Đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò nòng cốt trong tổ chức đảm bảo
VSATTP Nhà nước cần phát triển và có chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao các chuyên ngành liên quan đến đảm bảo VSATTP Các hoạt động phát triển nguồn nhân lực cần được tiến hành ở tất cả các ngành, các cấp từ trung ương tới địa phương Nội dung đào tạo cán bộ làm công tác đảm bảo VSATTP như sau:
- Đánh giá nhu cầu đào tạo cho từng giai đoạn, từng ngành, từng cấp;
- Đánh giá tiềm lực của các cơ sở đào tạo hiện có trong nước;
- Xác định những lĩnh vực chuyên ngành cần đào tạo liên quan tới VSATTP;
Trang 26- Xây dựng chiến lược và kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực trong nước và
ở nước ngoài; tăng cường đào tạo nhân lực chuyên sâu nghiên cứu VSATTP;
- Xây dựng chương trình, giáo trình, quy trình đào tạo cho các khoá bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về VSATTP;
- Xây dựng cơ chế thu hút nhân tài và tạo điều kiện để các nhà khoa học trẻ phát triển;
- Khuyến khích các nhà khoa học trong nước tham gia các chương trình nghiên cứu KHCN về VSATTP
1.2.3.4 Hợp tác quốc tế
Tham quan, học tập kinh nghiệm các nước trên thể giới về quản lý nhà nước trong lĩnh vực ATTP áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt nam Khuyến khích các doanh nghiệp thực phẩm trong nước áp dụng quy trình HACCP “Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn”,
1.2.3.5 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
- Kiểm tra, thanh tra, đánh giá là một khâu tất yếu trong chu trình quản lý nhà nước Hoạt động kiểm tra, thanh tra, đánh giá không chỉ là hoạt động nhằm phát hiện những sai phạm trong quá trình thực hiện mà còn là kênh để đánh giá, hoàn thiện chính sách, thể chế quản lý nhà nước về VSATTP, cung cấp thông tin thực tiễn cho việc hoàn thiện thể chế, chính sách, thu thập những kinh nghiệm
về VSATTP phù hợp có khả năng khái quát thành thể chế tầm quốc gia
quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính về vệ sinh an toàn thực phẩm và các quy định về chứng nhận y tế trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm
Đồng thời, thông qua hoạt động thanh, kiểm tra, đánh giá sẽ cung cấp những bằng chứng xác thực về những bất cập trong chính sách, thể chế quản lý,
cơ chế điều hành thuộc lĩnh vực quản lý đối với VSATTP giúp cấp thẩm quyền
Trang 27điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế Hơn nữa, hoạt động thanh tra, kiểm tra và đánh giá thường xuyên cũng được coi một “yếu tố tạo áp lực” cho các cá nhân, tổ chức trong xã hội nâng cao tính tuân thủ pháp luật, thực hiện nghiêm các qui định của Nhà nước trong quản lý, điều tiết thực hiện đảm bảo VSATTP
1.2.4 Tổ chức bộ máy QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm
Tổ chức bộ máy là một cơ cấu hoàn chỉnh của hệ thống, trong đó được phân thành các bộ phận có nhiệm vụ khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, phối hợp hoạt động, hợp tác, tác động và tạo thành một tổng lực hướng theo mục tiêu chung
Tổ chức bộ máy quản lý về VSATTP được thiết kế từ trung ương đến tỉnh, huyện và xã thông qua cơ quan tổ chức cán bộ làm nhiệm vụ quản lý chung về y tế trong đó có đội ngũ cán bộ làm công tác đảm bảo VSATTP
Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với VSATTP có vai trò quan trọng trong việc quản lý chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm hiện nay Đây chính là các bộ phận tổ chức thực hiện các chính sách của Nhà nước đối với VSATTP, là các chủ thể định hướng phát triển đội ngũ này nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của công tác đảm bảo VSATTP
Tổ chức bộ máy quản lý đối với VSATTP cần bảo đảm các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, hình thành cơ cấu tổ chức hợp lý trong một tổng thể thống nhất
Ở bất kỳ hệ thống quản lý nào, các bộ phận cấu thành đều phải được sắp xếp trong một cơ cấu được thiết kế hợp lý, có mối quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, nhằm tạo ra một tổng lực hướng tới mục tiêu chung Hệ thống tổ chức quản lý
về VSATTP cần được thiết kế từ tuyến trung ương xuống tuyến huyện, xã có mối liên hệ qua lại hữu cơ trong một tổng thể thống nhất để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với đội ngũ này một cách hiệu quả
Thứ hai, phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức trong
hệ thống Việc phân định rõ và hợp lý quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức
Trang 28trong hệ thống sẽ giúp cho toàn hệ thống vận hành một cách hiệu quả, đồng thời phát huy vai trò của từng tổ chức, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức trong việc thực hiện các quyền hạn và trách nhiệm được giao, tránh sự chồng chéo, trùng lắp, bảo đảm sự vận hành thông suốt của hệ thống
Thứ ba, kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ Quản lý nhà nước
về VSATTP cần bảo đảm sự kết hợp giữa quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, nhằm bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa chính quyền địa phương với các bộ ngành ở trung ương trong quản lý lĩnh vực VSATTP ở từng địa phương, tạo ra
sự đồng thuận, hỗ trợ lẫn nhau, bổ sung cho nhau để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm VSATTP từng địa phương nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung
Thứ tư, bảo đảm sự phù hợp giữa quyền hạn với trách nhiệm của các tổ
chức Mỗi tổ chức thực thi các quyền hạn được giao, đồng thời phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình trước cơ quan quản lý cấp trên, đồng thời trước những người dân địa phương trong việc đảm bảo VSATTP Việc gắn quyền hạn với trách nhiệm là yêu cầu tất yếu để Nhà nước và mọi người dân có thể giám sát hoạt động của các tổ chức này nhằm mục tiêu quản lý tốt công tác VSATTP đảm bảo sức khỏe của nhân dân
Xây dựng bộ máy có vai trò quan trọng trong hoạt động QLNN về VSATTP Vấn đề trọng tâm là cần phải xác định được cụ thể vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ Hơn nữa, VSATTP liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau, việc tổ chức bộ máy cần tạo ra cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng trong thực hiện đảm bảo VSATTP
Trang 29BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VSATTP
Sự phối hợp của cơ quan Quản lý nhà nước
Liên kết, phối kết hợp là cùng nhau làm việc theo một kế hoạch chung để đạt mục đích chung Đó là một trong những kỹ năng quan trọng của nhà quản lý Bởi
lẽ mỗi người, mỗi đơn vị chỉ có thời gian, năng lực để làm một lĩnh vực nào đó, không thể bao quát tất cả các lĩnh vực Cơ quan y tế trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm là cơ quan thường trực, đầu mối của Ban chỉ đạo liên ngành về VSATTP Vì vậy giữa cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm với
Công tác viên ATVSTP
Trang 30các cơ quan liên quan cần có sự phối hợp với nhau để việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đạt được kết quả tốt, thông qua các cuộc thanh tra liên ngành được tổ chức thường xuyên, liên tục vào các dịp cao điểm trong năm như: Tết Nguyên đán, tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tết Trung thu hay thanh tra theo chuyên đề phối kết hợp trong các hoạt động thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền, đào tạo, nghiên cứu khoa học hay trong hoạt động kiểm nghiệm Thường xuyên duy trì phối hợp với các cơ quan thông tin như: Đài, báo, truyền hình… đưa tin các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, qua
đó tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật
Cục an toàn vệ sinh thực phẩm là cơ quan quản lý ngành thực hiện chức năng QLNN về VSATTP ở Trung ương, Cục VSATTP thuộc Bộ Y tế, ở địa phương có các Chi cục VSATTP thuộc Sở y tế các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, ở các huyện là các Khoa VSATTP thuộc Trung tâm y tế các huyện,
ở dưới là các trạm y tế và các công tác viên
Bộ máy quản lý nhà nước đối với VSATTP được xây dựng theo trục dọc đây chỉ là việc thực hiện chỉ đạo mang tính chức năng, ngoài ra các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương là cơ quan trực tiếp chỉ đạo công tác đảm bảo VSATTP ở địa phương, đó là sự chỉ đạo trực tiếp của UBND các địa phương trong công tác đảm bảo VSATTP
1.3 Kinh nghiệm nước ngoài và trong nước
1.3.1 Kinh nghiệm nước ngoài
Kinh nghiệm của một số nước Châu Á trong quản lý nhà nước đối với
VSATTP
Xuất phát từ tầm quan trọng của thực phẩm đối với cộng đồng rất lớn nên các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm đến vấn đề này Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã có những quy định rất cụ thể để quản lý thực phẩm ở nhiều cấp
độ khác nhau Dưới đây là một số nét khái quát
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Ban hành Pháp lệnh thực phẩm năm 1963
Trang 31Bộ Y tế công cộng có trách nhiệm thi hành pháp lệnh thực phẩm
- Một số vấn đề đáng chú ý của pháp lệnh thực phẩm của Thái Lan là:
Bộ trưởng Bộ Y tế có nhiệm vụ:
+ Quy định thực phẩm được kiểm soát
+ Quy định chất lượng hoặc tiêu chuẩn của thực phẩm được kiểm soát bằng cách xác định tên, loại, nhóm hoặc bản chất của thực phẩm cũng như các nguyên tắc, điều kiện phương pháp sản xuất để bán, nhập khẩu để bán
+ Quy định chất lượng hoặc tiêu chuẩn của thực phẩm khác với thực phẩm được kiểm soát đã quy định ở điểm cùng với hoặc không cùng với nguyên tắc, điều kiện và phương pháp sản xuất để bán, nhập khẩu để bán;
+ Quy định tỷ lệ thành phần được sử dụng trong sản xuất thực phẩm bằng cách xác định tên, nhóm, loại hoặc bản chất của thực phẩm sản xuất để bán, nhập khẩu để bán, bao gồm việc sử dụng chất tạo màu và chất tạo hương vị
+ Quy định nguyên tắc, điều kiện và phương pháp của việc sử dụng các chất bảo quản và các phương pháp bảo quản, pha trộn tạo màu hoặc các chất khác trong thực phẩm được sản xuất để bán, nhập khẩu để bán và bán
+ Quy định chất lượng và tiêu chuẩn của bao bì và sử dụng bao bì bao gồm việc cấm sử dụng bất kỳ nguyên liệu bao gói nào khác với bao bì thực phẩm
+ Quy định các phương pháp sản xuất, dụng cụ và thiết bị sử dụng trong sản xuất và bảo quản thực phẩm mục đích tránh nhiễm bẩn thực phẩm được sản xuất ra để bán, nhập khẩu để bán theo Pháp lệnh này
+ Quy định thực phẩm cấm sản xuất, nhập khẩu hay bán
+ Quy định các nguyên tắc, điều kiện và phương pháp kiểm tra, bảo quản, lưu giữ và phương pháp phân tích thực phẩm kể cả các tài liệu tham khảo
+ Quy định yêu cầu về nhãn, nội dung ghi nhãn, điều kiện và cách trình bày nhãn cũng như nguyên tắc và phương pháp quảng cáo trên nhãn mác đối với các nhóm và loại thực phẩm được sản xuất để bán, nhập khẩu để bán
Tư vấn cho Bộ trưởng là Hội đồng thực phẩm
Trang 32Hội đồng được gọi là “Hội đồng thực phẩm” gồm có Thư ký thường trực của Bộ Y tế công cộng là Chủ tịch, các thành viên gồm có Tổng thư ký của Cục dược và thực phẩm, Tổng Giám đốc Cục y tế hoặc đại diện, Tổng Giám đốc Cục dược hoặc đại diện, Tổng Giám đốc Cục kiểm soát bệnh truyền nhiễm hoặc đại diện, Tổng Giám đốc Khoa học dược hoặc đại diện, Tổng Giám đốc Cục Khoa học và Dịch vụ hoặc đại diện, Tổng Giám đốc Cục nội thương hoặc đại diện, Tổng Giám đốc Cục hải quan hoặc đại diện, đại diện của Bộ Quốc phòng, đại diện của Bộ Nông nghiệp, và đại diện của Hội đồng luật pháp và không quá 9 thành viên có trình độ chuyên môn được Bộ trưởng chỉ định Trong nhóm này không quá 4 người có thể đại diện cho các nhà sản xuất, nhập khẩu hoặc phân phối thực phẩm
Không ai có thể sản xuất thực phẩm để bán, nhập khẩu thực phẩm mà không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền Đơn xin cấp giấy phép và việc cấp giấy phép được tiến hành theo nguyên tắc, thủ tục do Bộ Y tế quy định Có
54 loại thực phẩm phải kiểm tra theo luật
Có 4 loại thực phẩm cấm sản xuất, nhập khẩu Nếu vi phạm sẽ bị tù giam
2 đến 10 năm và phạt tiền tới 50.000 bạt
Bốn loại thực phẩm đó là: Thực phẩm không sạch; Thực phẩm giả mạo; Thực phẩm không đủ tiêu chuẩn; Thực phẩm khác với thực phẩm đã được Bộ trưởng quy định
+ Thực phẩm miêu tả dưới đây sẽ được coi là thực phẩm không sạch: Thực phẩm có chứa bất cứ một chất nào gây nguy hiểm tới sức khoẻ; Thực phẩm mà trong đó một chất hoặc một hoá chất đã bị trộn lẫn có thể gây suy giảm chất lượng thực phẩm trừ khi những chất pha thêm đó là cần thiết cho quá trình sản xuất và việc sản xuất đã được nhân viên có thẩm quyền cho phép; Thực phẩm được sản xuất, bao gói hoặc lưu giữ mất vệ sinh; Thực phẩm được sản xuất từ những động vật có bệnh có thể gây lây nhiễm cho con người; Thực phẩm trong các bao bì được làm từ các vật liệu gây nguy hiểm đến sức khoẻ
+ Thực phẩm được miêu tả dưới đây sẽ được coi là giả mạo:
Trang 33Thực phẩm mà trong đó các chất khác được thay thế một phần hoặc các chất có giá trị bị loại bỏ một phần hoặc hoàn toàn và vẫn được bán dưới tên của thực phẩm đích thực Các chất hoặc thực phẩm được sản xuất như là chất thay thế cho bất cứ thực phẩm nào và được phân phối như là thực phẩm gốc Thực phẩm mà được trộn lẫn hoặc được chế biến bằng cách nào đó để che dấu các khuyết tật hoặc chất lượng thấp của thực phẩm Thực phẩm được ghi nhãn để đánh lừa hoặc cố gắng đánh lừa người mua về chất lượng, số lượng, công dụng hoặc bản chất đặc biệt của thực phẩm hay về địa điểm hoặc nước sản xuất Thực phẩm mà không đạt chất lượng hoặc tiêu chuẩn được Bộ trưởng quy định và chất lượng hoặc tiêu chuẩn của thực phẩm đó cao hơn hoặc thấp hơn 30% so với những giới hạn đã quy định hoặc sai lệnh của nó có thể gây ảnh hưởng đến người sử dụng
+ Thực phẩm không đạt tiêu chuẩn là thực phẩm không đạt tới chất lượng hoặc tiêu chuẩn đã được Bộ quy định
+ Thực phẩm được miêu tả dưới đây được coi là thực phẩm khác với thực phẩm do Bộ Y tế quy định
Không an toàn cho sử dụng; Chỉ dẫn không đáng tin cậy; Giá trị hoặc công dụng không thích hợp với người sử dụng
Về quảng cáo thực phẩm: Pháp lệnh quy định rõ:
Bất cứ một người nào muốn quảng cáo số lượng, công dụng hoặc đặc trưng của một thực phẩm nào đó bằng đài, vô tuyến, phim ảnh, báo chí hoặc các phương tiện in ấn hoặc bằng các biện pháp vì mục đích kinh doanh sẽ phải nộp nội dung quảng cáo hoặc tranh ảnh, phim cho nhà chức trách xem xét và chỉ được quảng cáo sau khi được cho phép
Cán bộ quản lý thực phẩm (cán bộ có thẩm quyền) được phép:
+ Vào nơi sản xuất, khu vực lưu giữ bảo quản thực phẩm, nơi bán hoặc văn phòng của người sản xuất, người coi kho, người phân phối, kể cả văn phòng của người nhập khẩu để kiểm tra liên quan đến việc thực hiện pháp lệnh này trong thời gian làm việc
Trang 34+ Vào nơi sản xuất hoặc phương tiện vận chuyển khi có sự nghi ngờ vi phạm pháp lệnh này để kiểm tra thực phẩm và điều hành bắt giữ hoặc tịch thu thực phẩm hoặc các dụng cụ liên quan đến vi phạm bao gồm các đồ chứa đựng hoặc bao bì thực phẩm và các tài liệu có liên quan đến thực phẩm đó
+ Lấy một lượng hợp lý thực phẩm để kiểm tra và phân tích
+ Bắt giữ hoặc tịch thu thực phẩm hoặc kiện hàng bị nghi ngờ là có khả năng gây nguy hại đến sức khoẻ để phân tích
+ Bắt giữ hoặc tịch thu những thực phẩm không sạch, thực phẩm giả mạo hoặc thực phẩm không đủ tiêu chuẩn, bao bì có khả năng gây nguy hại đến sức khoẻ hoặc thực phẩm có bản chất không phù hợp với chất lượng hoặc tiêu chuẩn
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
- Cơ quan quản lý thực phẩm là Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi
- Nhật Bản có luật thực phẩm từ năm 1947
- Một số điểm đáng chú ý là:
Bộ Y tế - Lao động và Phúc lợi có nhiệm vụ:
- Ban hành các tiêu chuẩn thực phẩm
- Ban hành các tiêu chuẩn về nhãn thực phẩm
- Quy định về phụ gia thực phẩm
- Ban hành danh mục thực phẩm cấm bán
- Quy định việc cấm bán các thực phẩm mới
- Quy định việc cấm bán các loại thịt bị bệnh
- Ban hành tiêu chuẩn phòng chống ô nhiễm thực phẩm
Trang 35- Trực tiếp chứng nhận HACCP cho 6 ngành chế biến thực phẩm có nguy
cơ cao đó là:
+ Chế biến sữa, sản phẩm sữa
+ Chế biến bơ và sản phẩm có bơ
+ Sản xuất đồ uống không cồn
+ Chế biến thịt và sản phẩm thịt
+ Cá và sản phẩm cá
+ Sản xuất đồ hộp
Hiện có 494 cơ sở đã được chứng nhận HACCP
Việc kinh doanh thực phẩm ở nội địa nếu nằm trong danh sách 34 mặt
hàng có nguy cơ cao thì phải có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền (2.707
411 cơ sở) Việc nhập khẩu thực phẩm nếu nằm trong danh sách 26 mặt hàng do
Bộ Y tế quy định thì phải kiểm tra và lấy mẫu xét nghiệm Nếu nằm ngoài đó, chỉ việc kiểm tra hồ sơ, nếu đủ theo quy định thì được nhập khẩu
Về kiểm soát cá nóc:
Ở Nhật Bản, cá nóc là món ăn đặc sản Trung bình 20 gam thịt cá nóc giá
880 yên Tại thủ đô Tokyo có: 3802 quán ăn cá nóc Các tỉnh thành phố khác đều có từ 100 đến vài ngàn quán ăn cá nóc Việc mở quản ăn cá nóc do chủ quán chịu trách nhiệm và phải qua 1 khoá học, thi đỗ (trung bình mỗi khoá chỉ đỗ 50%) Sau đó làm hồ sơ trình cơ quan Y tế quận hoặc tỉnh Cơ quan Y tế xem xét đủ điều kiện thì trình tỉnh trưởng hoặc thị trưởng Tokyo cấp giấy phép mở quán ăn cá nóc
Thanh tra chuyên ngành VSTP: do Bộ Y tế quyết định nếu là thanh tra ở
Trung ương, do Tỉnh trưởng quyết định nếu là thanh tra VSTP ở địa phương Đến năm 2002, ở Nhật Bản có: 12.566 thanh tra chuyên ngành gồm:
+ Thanh tra chuyên ngành VSTP ở Trung ương: 264 người
+ Thanh tra chuyên ngành do tỉnh trưởng bổ nhiệm: Thanh tra VSTP là 7.436 người; Thanh tra về thịt là 4.866 người
1.3.1.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trang 36- Ban hành “Luật Vệ sinh thực phẩm” năm 1995
- Cơ quan quản lý nhà nước về VSTP thuộc Quốc vụ viện
- Những vấn đề nổi bật trong pháp lệnh VSTP là:
Tất cả các quy định về VSTP đều bao hàm cả chất lượng, an toàn thực phẩm, duy nhất do 1 cơ quan quản lý
Pháp lệnh nêu những thực phẩm cấm sản xuất kinh doanh rất cụ thể
Nghiêm cấm sản xuất, kinh doanh những thực phẩm dưới đây:
- Đã bị thiu, thối, chua, biến chất, nhiễm bẩn khác hoặc có dị vật, hoặc tình trạng cảm quan dị thường có thể gây hại đối với con người
- Có chất độc hại, hoặc nhiễm độc hại gây ảnh hưởng sức khoẻ con người
- Có ký sinh trùng gây bệnh, có vi sinh vật hoặc vi sinh vật độc hại vượt quá Tiêu chuẩn Quốc gia quy định
- Thịt hoặc chế phẩm chưa qua kiểm tra thú y hoặc kiểm tra không đạt yêu cầu
- Thịt gia cầm, gia súc, thuỷ sản và chế phẩm chết do bị bệnh, bị ngộ độc hoặc không rõ nguyên nhân
- Nhiễm bẩn do bao gói, đồ chứa đựng không sạch, bị vỡ, rách trong quá trình vận chuyển
- Giả dối, gian lận ảnh hưởng đến vệ sinh, dinh dưỡng
- Gia công từ nguyên liệu phi thực phẩm; cho thêm hoá chất phi thực phẩm
- Quá hạn sử dụng
- Do yêu cầu đặc thù để phòng bệnh, cơ quan quản lý về vệ sinh trực thuộc Quốc vụ viện hoặc Cơ quan chuyên ngành cấp Tỉnh, khu tự trị, Thành phố trực thuộc Trung ương có quy định cấm bán
- Có chứa chất phụ gia chưa được Cơ quan quản lý về vệ sinh trực thuộc Quốc vụ viện phê duyệt hoặc có chứa dư lượng nông dược vượt quá mức quy định
Trang 37- Không phù hợp tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm và các yêu cầu vệ sinh khác
Việc xây dựng tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm:
- Cơ quan quản lý Nhà nước về vệ sinh trực thuộc Quốc vụ viện chịu trách nhiệm xây dựng và ban hành Tiêu chuẩn vệ sinh quốc gia, những quy trình kiểm nghiệm và những quy định về quản lý vệ sinh đối với thực phẩm, chất phụ gia,
đồ chứa đựng, vật liệu bao gói thực phẩm, dụng cụ thiết bị dùng trong ngành thực phẩm, chất tẩy rửa, chất tiêu độc dùng để tẩy rửa thực phẩm, dụng cụ, thiết
bị và hàm lượng cho phép chất phóng xạ, vật chất nhiễm bẩn có trong thực phẩm
- Đối với những thực phẩm mà Nhà nước chưa xây dựng tiêu chuẩn vệ sinh, do Chính quyền nhân dân cấp Tỉnh, Khu tự trị, Thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng Tiêu chuẩn vệ sinh địa phương và báo cáo lên Cơ quan quản lý về vệ sinh trực thuộc Quốc vụ viện và Cơ quan Tiêu chuẩn hoá trực thuộc Quốc vụ viện
- Trong Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Quốc gia của chất phụ gia thực phẩm có chỉ tiêu mang ý nghĩa vệ sinh học, thì nhất thiết phải qua thẩm tra và được sự đồng ý của Cơ quan quản lý về vệ sinh trực thuộc Quốc vụ viện
- Việc đánh giá tính an toàn của hoá chất dùng trong nông nghiệp như nông dược, phân bón, cần phải qua thẩm tra và được sự đồng ý của Cơ quan quản lý về vệ sinh trực thuộc Quốc vụ viện
+ Cơ quan hữu quan trực thuộc Quốc vụ viện vùng với cơ quan quản lý về
vệ sinh trực thuộc Quốc vụ viện xây dựng quy trình kiểm nghiệm vệ sinh thú y của các lò giết mổ gia súc, gia cầm
Việc xây dựng các xí nghiệp, cơ sở thực phẩm nhất thiết phải đệ trình tư
liệu cần thiết về đánh giá vệ sinh và đánh giá dinh dưỡng, việc kinh doanh
Xí nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm và những người buôn bán nhỏ thực phẩm phải có Giấy chứng nhận vệ sinh của Cơ quan quản lý về vệ sinh trước khi xin Đăng ký kinh doanh với Cơ quan quản lý công thương Khi chưa
Trang 38có Giấy chứng nhận vệ sinh thì không được hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm
Về kiểm soát vệ sinh thực phẩm:
Cơ quan quản lý VSTP từ cấp huyện trở lên thực hiện chức năng kiểm soát VSTP
Nhiệm vụ kiểm soát vệ sinh thực phẩm là:
- Tiến hành đo đạc, kiểm nghiệm và chỉ đạo kỹ thuật về vệ sinh thực phẩm
- Bồi dưỡng nhân viên sản xuất, kinh doanh thực phẩm, giám sát việc kiểm tra sức khoẻ của nhân viên sản xuất, kinh doanh thực phẩm
- Tuyên truyền vệ sinh thực phẩm, phổ biến kiến thức về dinh dưỡng, tiến hành đánh giá vệ sinh thực phẩm, công bố tình hình vệ sinh thực phẩm
- Tiến hành thẩm tra vệ sinh đối với việc chọn địa điểm và thiết kế của xí nghiệp mới xây dựng để sản xuất, kinh doanh thực phẩm Xí nghiệp mở rộng hoặc cải tạo, đồng thời tham gia nghiệm thu công trình
- Tiến hành điều tra sự cố có chất độc trong thức ăn và ô nhiễm thực phẩm, đồng thời tìm biện pháp khống chế chúng
- Tiến hành thanh tra, kiểm tra lưu động đối với những hành vi vi phạm Luật này
- Truy cứu trách nhiệm và tiến hành xử phạt hành chính đối với những hành vi vi phạm Luật này
- Chịu trách nhiệm những sự việc khác về kiểm soát vệ sinh thực phẩm
Pháp lệnh có quy định 2 hình thức xử phạt tù giam và phạt tiền, tuỳ mức
độ vi phạm
1.3.1.4 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Luật Vệ sinh thực phẩm được ban hành từ năm 1962, qua 13 lần sửa đổi Những điểm đặc biệt của luật là:
Trang 39Quốc hội ban hành Luật Vệ sinh thực phẩm đồng thời kèm theo Nghị
định thi hành luật vệ sinh thực phẩm thể hiện bằng lệnh của Tổng thống và quy tắc thi hành luật vệ sinh thực phẩm thể hiện bằng lệnh của Bộ Y tế
Thực phẩm và các vấn đề liên quan đến thực phẩm từ con người, trang bị,
nguyên liệu, chỉ bị chi phối bởi luật vệ sinh thực phẩm, không bị chi phối chồng chéo như ở Việt Nam
Giấy phép kinh doanh thực phẩm do Giám đốc Cục thực phẩm và dược
phẩm cấp hoặc do Chủ tịch tỉnh, thành, quận cấp tuỳ theo ngành kinh doanh thực phẩm thuộc điểm quy định nào trong luật
Trong hệ thống quản lý, có tổ chức hệ thống giám sát vệ sinh thực phẩm,
có quyền hạn, nhiệm vụ rõ ràng và cụ thể
Trong luật quy định rõ việc giáo dục vệ sinh do Phó Bộ trưởng Bảo vệ sức
khoẻ và Phúc lợi trực tiếp quản lý, trong đó quy định rõ: Người sản xuất kinh doanh thực phẩm phải qua lớp đào tạo, thi đỗ mới được cấp giấy hành nghề Thời gian đào tạo 4 – 6 – 12 giờ tuỳ theo loại ngành sản xuất kinh doanh thực phẩm
Điểm đặc biệt trong luật của Hàn Quốc là việc quy định “Người kinh
doanh bếp ăn tập thể và người kinh doanh ngành thực phẩm tiếp khách phải có đầu bếp”, cụ thể là:
- Kinh doanh quán ăn cá nóc
- Bếp ăn phục vụ các cơ quan Nhà nước
- Bếp ăn trường học, bệnh viện, các cơ quan phúc lợi
- Bếp ăn các khu công nghiệp, khu xây dựng địa phương
Đồng thời muốn kinh doanh bếp ăn tập thể đều phải đăng ký và được cấp phép
Quy định về báo cáo điều tra ngộ độc thực phẩm
Luật quy định rõ từ các y, bác sĩ khám bệnh, các cơ sở y tế, khi khám, chữa, chẩn đoán là NĐTP phải báo cáo ngay cho cơ quan y tế, cơ quan y tế (quận huyện, tỉnh) phải điều tra, xác định và báo cáo lên cơ quan y tế cấp trên
Trang 40Việc báo cáo, điều tra, được quy định rất cụ thể, nếu vi phạm đều bị xử lý phạt theo quy định
Trong luật này cũng quy định các chuẩn mức cho từng loại ngành thực
phẩm đối chiếu ra, chính là các yêu cầu của “Thực hành vệ sinh tốt” (GHP), trong đó quy định về tiêu chuẩn của thiết bị, nguyên liệu, nơi sản xuất, sàn, trần, nền nhà, cơ sở chế biến, cơ sở cấp nước, nhà vệ sinh, kho tàng, phòng kiểm tra
Luật quy định về thực phẩm biến đổi gen, được xác định là những thực
phẩm hoặc chất bổ sung thực phẩm sản xuất hoặc gia công từ nông, thuỷ hải sản được nuôi trồng sử dụng công nghệ biến đổi gen, trong đó quy định 26 loại thực phẩm biến đổi gen được phép sử dụng với điều kiện được kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn (dưới mức biến đổi của ADN và protein) và dán nhãn theo quy định
Về xử phạt, cũng được quy định luôn trong luật một cách cụ thể, rõ ràng
bằng việc xây dựng Danh mục xử phạt rất đầy đủ cho tất cả các vi phạm, chỉ cần đối chiếu vào đây là xác định ngay được mức phạt Mức phạt có thể tới 300 triệu Won và 5 năm tù giam
Quy định về kiểm tra thực phẩm (xét nghiệm thực phẩm): Luật quy định
rõ: nhóm, chủng loại thực phẩm, loại hình, hạng mục quy định, các hạng mục kiểm tra trọng điểm và quy định rõ đối tượng lấy mẫu, số lượng lấy mẫu của thực phẩm, phụ gia thực phẩm và bao bì thực phẩm
1.3.2 Kinh nghiệm trong nước
1.3.2.1 Kinh nghiệm của Đà Nẵng
Các biện pháp hạn chế ngộ độc thực phẩm tại Thành phố Đà Nẵng
Nhờ sự tích cực vào cuộc của các cấp, các ngành, cùng với ý thức của người dân trong việc đảm bảo VSATTP được nâng lên nên trong 6 tháng đầu năm 2016, toàn TP không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra Các sự cố về ATTP trong địa bàn cả nước như gừng Trung Quốc nghi nhiễm Aldicard, Chlorpyrifos; bún nghi nhiễm Tinopal, acid Oxalic; khô mực giả, dăm bông có đường hóa học Cyclamate đều không có mặt tại Đà Nẵng
Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều nỗi lo do một số người ý thức trách nhiệm