Như vậy, có thể nhận thấy, CCTTHC và kiểm soát chất lượng các quy định về TTHC đã được coi là nhiệm vụ quan trọng và đơn giản hoá TTHC trên các lĩnh vực quản lý của Nhà nước là đòn bẩy t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN NGỌC KHANH
KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI CỤC VĂN HÓA CƠ SỞ, BỘ VĂN HÓA,
THỂ THAO VÀ DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN NGỌC KHANH
KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI CỤC VĂN HÓA CƠ SỞ, BỘ VĂN HÓA,
THỂ THAO VÀ DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS,TS LƯU KIẾM THANH
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn đều trung thực, chính xác, nội dung trích dẫn đầy đủ, Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Khanh
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy và trang bị cho tôi những vốn kiến thức những kỹ năng sống vô cùng quý báu Tôi cũng xin cám ơn Ban Giám đốc, các thầy giáo, cô giáo, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức của Học viện hành chính Quốc gia đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đặc biệt tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới PGS,TS Lưu Kiếm Thanh người hướng dẫn khoa học đã hết lòng tạo điều kiện dành thời gian chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cám ơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Khanh
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 8
1.1 Khái niệm thủ tục hành chính 8
1.2 Phân loại thủ tục hành chính 9
1.3 Nguyên tắc xây dựng và đặc điểm của thủ tục hành chính 11
1.3.1 Nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính 11
1.3.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính 12
1.4 Vai trò của thủ tục hành chính trong bộ máy hành chính nhà nước 13
1.5 Kiểm soát thủ tục hành chính 21
1.5.1 Khái quát về kiểm soát thủ tục hành chính 21
1.5.2.Ý nghĩa của kiểm soát thủ tục hành chính 22
1.6 Kinh nghiệm của một số đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC 25
1.6.1.Tại Văn phòng Chính phủ 25
1.6.2 Tại một số bộ, ngành, địa phương 28
1.6.3 Một vài đánh giá về kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC tại bộ, ngành, và địa phương 30
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI CỤC VĂN HÓA CƠ SỞ, BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH 34
2.1 Giới thiệu chung về Cục Văn hóa cơ sở 34
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Văn hóa cơ sở 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Cục Văn hóa cơ sở 35
2.2 Tổng quan về thủ tục hành chính tại Cục Văn hóa cơ sở 35
2.2.1 Quy chế tổ chức và hoạt động của Cục Văn hóa cơ sở 35
2.2.2 Tổng quan về thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa cơ sở 37
Trang 72.3 Thực trạng công tác kiểm soát thủ tục hành chính của Văn phòng Cục Văn
hóa cơ sở 39
2.3.1 Kiểm soát thủ tục hành chính đối với công tác hành chính nội vụ 39
2.3.2 Kiểm soát thủ tục hành chính đối với công tác văn hóa cơ sở 52
Tiểu kết Chương 2 70
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI CỤC VĂN HÓA CƠ SỞ, BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH 71
3.1 Quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước về đẩy mạnh công tác kiểm soát thủ tục hành chính 71
3.2 Mục tiêu, định hướng đẩy mạnh kiểm soát thủ tục hành chính của Cục Văn hóa cơ sở 72
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng kiểm soát thủ tục hành chính tại Cục Văn hóa cơ sở trong điều kiện hiện nay 74
3.3.1.Về kiện toàn tổ chức bộ máy 74
3.3.2 Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 75
3.3.3 Tăng cường về cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin 76
3.3.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện 76
3.3.5 Tuyên truyền, phổ biến về nội dung thủ tục hành chính 77
3.3.6 Quy trình hóa các thủ tục hành chính theo TCVN ISO 9001:2015 78
3.3.7 Cải cách tài chính công 79
Tiểu kết Chương 3 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHẦN PHỤ LỤC 86
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH ẢNH
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính 26
Bảng 2.1 Số liệu thủ tục hành chính tại Cục Văn hóa cơ sở 50Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả rà soát một số thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục Văn hóa cơ sở năm 2017 60
Hình 2.1 Phần mềm quản lý hệ thống văn bản 57Hình 2.2 Xử lý văn bản trong phần mềm quản lý hệ thống văn bản 58
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
CCHC vừa là tiền đề vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Đây được coi là nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá tất yếu trong quá trình hội nhập và phát triển nhằm hướng đến một nền hành chính minh bạch, vững mạnh, hiệu lực và hiệu quả trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá X đã khẳng định: Cải cách hành chính là một khâu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới để phát triển đất nước và đã đưa ra những chủ trương, giải pháp nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước
Thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, nền hành chính nước ta đã tiến một bước quan trọng, mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp được cải thiện đáng kể, một loạt biện pháp như CCHC gắn với thực hiện cơ chế “một cửa, công khai hóa, minh bạch hóa các quy định, thủ tục hành chính được rà soát, sửa đổi, bãi bỏ theo hướng đơn giản hóa” đã tạo thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp Với kết quả đạt được, Chính phủ đã hoàn thành giai đoạn 2 của Đề án 30 từ năm 2001 -
2010, thông qua việc ban hành 25 Nghị quyết đơn giản hóa gần 5000 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của các Bộ, cơ quan ngang Bộ ngành làm cơ sở để làm cơ sở thực thi phương án đơn giản hóa các thủ tục hành chính Kết quả rà soát này sẽ là căn cứ để tiến hành cắt bỏ, tiết giảm các thủ tục không cần thiết Tuy nhiên, đây là một công việc khó khăn, lâu dài và gặp nhiều lực cản ngay cả trong chính bộ máy hành chính nhà nước
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là một trong số các bộ, ngành luôn coi trọng công tác CCHC Hiện nay, Bộ đang thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về các lĩnh vực: văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình Hầu hết các TTHC của ngành khi đã ban hành đều liên quan đến quyền lợi của nhân dân, doanh nghiệp,
tổ chức, có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội và sự phát triển
Trang 10bềnvững của đất nước Vì vậy, công tác CCTTHC của Bộ luôn được Nhà nước cũng như người dân quan tâm, tìm hiểu
Cục Văn hóa cơ sở là đơn vị quản lý nhà nước trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa cơ sở bao gồm: thiết chế văn hóa cơ sở, nếp sống văn hóa, nghệ thuật quần chúng, tuyên truyền cổ động và quảng cáo; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở theo quy định của pháp luật; được Bộ trưởng giao trách nhiệm chỉ đạo hướng dẫn nghiệp vụ văn hóa cơ
sở, phát triển sự nghiệp theo chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước theo Quyết định số 3765/QĐ-BVHTTDL ngày 30 tháng 10 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Kiểm soát TTHC tại Cục Văn hóa cơ sở từ lâu đã trở thành công việc thường xuyên, với chức năng của Cục hiện nay, Cục Văn hóa cơ sở đã thực hiện tốt kiểm soát TTHC ở một số lĩnh vực quản lý được giao Bên cạnh những kết quả tích cực, kiểm soát TTHC được coi là nhiệm vụ khá phức tạp, đôi khi Cục Văn hóa cơ sở đã không tránh khỏi việc xảy ra những mâu thuẫn với các cơ quan, đơn vị xây dựng, ban hành và thực thi TTHC Việc đánh giá tác động độc lập TTHC đối với nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có tính phức tạp, nhạy cảm cần có sự tham vấn ý kiến của các chuyên gia thuộc các lĩnh vực có
liên quan Vì vậy, việc nghiên cứu “Kiểm soát thủ tục hành chính tại Cục Văn
hóa cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” để từ đó đưa ra một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát TTHC tại Cục Văn hóa cơ sở, góp phần vào quá trình cải cách tổng thể bộ máy hành chính nhà nước và Cục Văn hóa cơ sở, rất có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Đây là lý do chọn đề tài luận văn thạc sĩ của học viên
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Cho đến nay đã có các nghiên cứu về cải cách thủ tục hành chính như giáo trình Thủ tục hành chính của Học viện Hành chính quốc gia nhưng chỉ dừng lại
ở mức lý luận, chưa chỉ ra cụ thể các yếu tố cấu thành thủ tục hành chính, cũng
Trang 11chưa nêu rõ nội hàm của cải cách thủ tục hành chính Đặc biệt là nghiên cứu cụ thể các TTHC gắn với từng cấp chính quyền ở thành phố Hà Nội còn bị bỏ ngỏ chưa có công trình nào nghiên cứu Các yếu tố tác động đến CCTTHC cũng chưa được các cấp nghiên cứu đúng mức.Vấn đề CCTTHC để chống cửa quyền, nhũng nhiễu cũng chưa được đề cập nhiều
- Acuna-Alfaro, Jairo (2009), (chủ biên), Cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hỗ trợ cộng đồng Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, Việt Nam,
445 trang Cuốn sách “Cải cách cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực trạng
và giải pháp” đưa tiễn đến độc giả những bình luận chi tiết về sự phát triển nền hành chính ở Việt Nam trong hơn một thập kỷ đổi mới, cũng như đề xuất những giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình cải cách hành chính Cuốn sách, gồm phần giới thiệu chung và sáu (06) chương, đưa ra những cách nhìn nhận sâu sắc về sáu lĩnh vực chính và mang tính đan xen trong cải cách hành chính công ở Việt Nam, bao gồm (i) cải cách thể chế quản lý hành chính, (ii) cơ cấu tổ chức của chính phủ và bộ máy nhà nước, (iii) phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực công vụ, (iv) quản lý tài chính công, (v) phát triển kinh tế và cải cách hành chính công, và (vi) chống tham nhũng, phát triển và cải cách hành chính Cuốn sách là sản phẩm chung của 18 chuyên gia nghiên cứu cao cấp và trung cấp của Việt Nam và quốc tế, những người đã tham gia vào công trình nghiên cứu do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam chủ trì và Cố vấn chính sách về cải cách hành chính công và chống tham nhũng của UNDP làm trưởng nhóm và chủ biên, được tiến hành từ cuối năm 2008 và đầu năm 2009 Cuốn sách cũng có sự tham gia của hơn 100 người được phỏng vấn là những chuyên gia trong lĩnh vực hành chính công tại Việt Nam và đang phục vụ hoặc đã từng phục vụ trong các tổ chức chính trị, nhà nước, các tổ chức xã hội, các viện nghiên cứu ở Việt Nam Cuốn sách có thể thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch định chính sách Việt Nam, các trường đại học, các nhà nghiên cứu
Trang 12thực tiễn và các đối tác phát triển trực tiếp tham gia vào các nỗ lực cách hành chính công ở Việt Nam
- Nguyễn Văn Thâm (Chủ biên), Thủ tục hành chính - Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002 Cuốn sách nghiên cứu khá công phu về thủ tục hành chính đi từ khái niệm, phân loại, ý nghĩa, đặc điểm đến thực tiễn việc cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam và có đi phân tích cải cách thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực Đây là cuốn sách cung cấp nhiều tài liệu, luận cứ rất tốt để là cơ sở nghiên cứu đối với Luận văn
- Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa, (đồng chủ biên) Đổi mới cung ứng dịch
vụ công ở Việt Nam, Nxb Thống kê 2006 Cuốn sách đã nêu đầy đủ về khái niệm dịch vụ công, đánh giá được sự cung ứng dịch vụ công (có cả phần về thủ tục hành chính), và các giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa cung ứng các dịch vụ công ở Việt Nam Đặc biệt cuốn sách có nêu các giải pháp đơn giản hóa các TTHC thành lập các đơn vị cung ứng dịch vụ công
Bên cạnh những tài liệu trên, còn có các tài liệu quan trọng khác như:
- Báo cáo cải cách hành chính thành phố Hà Nội - Sở Nội vụ các năm
- Giáo trình Luật hành chính Việt Nam - Đại học Luật Hà Nội;
- Nguyễn Cửu Việt - Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2010;
- Kỷ yếu Hội thảo “Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà khoa học” - Học viện Hành chính quốc gia 2010;
Các công trình nghiên cứu nói trên tuy không trực tiếp nghiên cứu về kiểm soát TTHC của Cục Văn hóa cơ sở nhưng cũng gợi mở những vấn đề có ý
Trang 13nghĩa, bổ ích cho chúng tôi tiếp thu trong quá trình nghiên cứu làm Luận văn Tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm soát TTHC nhƣ thế nào để thực hiện tốt mục tiêu xã hội, phù hợp với điều kiện hiện có và đúng quy luật vận động của xã hội
là vấn đề cần có sự đầu tƣ nghiên cứu sâu sắc hơn nữa cả về lý luận và thực tiễn
Vì vậy, luận văn “Kiểm soát thủ tục hành chính tại Cục Văn hóa cơ sở -
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” là công trình nghiên cứu không trùng với bất
kỳ công trình khoa học nào đã đƣợc công bố cho đến thời điểm này
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích tìm hiểu, đánh giá thực trạng kiểm soát TTHC tại Cục Văn hóa
cơ sở hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng TTHC tại Cục trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hành chính, TTHC, kiểm soát TTHC;
- Khảo sát và đánh giá thực trạng kiểm soát TTHC tại Cục Văn hóa cơ sở thông qua nghiên cứu hệ thống văn bản liên quan tới TTHC Cục đã ban hành;
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng TTHC tại Cục
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động kiểm soát TTHC tại Cục Văn hóa cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch, tập trung chủ yếu vào hoạt động kiểm soát TTHC trong nội bộ và một số hoạt động kiểm soát hành chính bên ngoài, nghiên cứu cụ thể về TTHC ở tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Cục Văn hóa cơ sở
Trong khuôn khổ hạn chế của một luận văn thạc sỹ, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về lý luận và thực tiễn kiểm soát TTHC; những TTHC nghiên cứu thuộc thẩm quyền quản lý của Cục Văn hóa cơ sở Từ
đó có sự đánh giá về thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát TTHC hiện nay và những năm tiếp theo
Trang 144.1 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Từ 6/2016 - 6/2017
- Phạm vi không gian: Cục Văn hóa cơ sở
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp luận: Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở phương
pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, phân tích tài liệu liên quan: Là phương pháp được sử dụng xuyên suốt trong các chương của luận văn với việc tổng hợp các đánh giá khách quan về thực trạng kiểm soát TTHC tại Cục Văn hóa cơ sở thông qua việc sử dụng các tài liệu nghiên cứu trước đó có liên quan
Phương pháp nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Là cơ sở
lý luận mang tính pháp lý chặt chẽ giúp đề tài nghiên cứu sâu hơn
Phương pháp phỏng vấn sâu: bằng việc sử dụng những câu hỏi phỏng
vấn mang tính mở để khai thác những người thực hiện nội dung kiểm soát thủ tục hành chính tại Cục
Phương pháp mô hình hóa, đối chiếu, so sánh: là phương pháp được sử
dụng đối chiếu với một số đơn vị thực hiện kiểm soát TTHC để nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng thủ tục hành chính tại Cục
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Về mặt lý luận: Góp phần làm sáng tỏ hệ thống lý luận về TTHC ở nước
ta làm cơ sở lý luận cho các nghiên cứu khoa học
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn: Đánh giá tổng quát về công tác kiểm soát TTHC tại Cục
Văn hóa cơ sở, những đòi hỏi khách quan của công tác kiểm soát TTHC
Nâng cao sự nhận thức về vai trò to lớn của công tác cải cách TTHC đối với các cán bộ công chức trong lĩnh vực Văn hóa cơ sở
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ
Trang 15cho công tác văn phòng nói chung và công tác kiểm soát TTHC nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được xây dựng kết cấu như sau: Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo: Bố cục luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát thủ tục hành chính
- Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại Cục
Văn hóa cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Chương 3: Giải pháp nâng cao kiểm soát thủ tục hành chính tại Cục Văn
hóa cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 16dụng, thủ tục là “cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước” Cũng có thể hiểu thủ tục là những quy tắc,
chế độ, phép tắc hay quy định chung phải tuân theo khi làm việc công [5, tr.17]
Thủ tục đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành bộ máy nhà nước cũng như bảo đảm quyền và lợi ích của người dân.Chính vì vậy, thủ tục tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước mới được quan tâm cả dưới góc độ nghiên cứu khoa học, xây dựng pháp luật thực hiện thủ tục trên thực tế Bản thân thủ tục không có mục đích tự thân, thủ tục chỉ biểu hiện cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của Nhà nước
Quan niệm chung cho rằng, thủ tục là phương cách, các quy tắc, chế độ, quy định để giải quyết công việc theo một trình tự nhất định; còn thủ tục hành chính là các loại thủ tục gắn liền với hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước
Trong nghiên cứu TTHC, có rất nhiều quan niệm đưa ra về phạm vi cụ thể của khái niệm TTHC Có quan niệm cho rằng, TTHC là trình tự mà các cơ quan quản lý nhà nước giải quyết trong lĩnh vực trách nhiệm hành chính và xử lý vi phạm hành chính Một quan niệm khác đưa ra, TTHC là trình tự giải quyết bất
kỳ một nhiệm vụ cá biệt, cụ thể trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Như vậy ngoài thủ tục xử lý các vi phạm hành chính thì thủ tục cấp phép, đăng
ký và giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng được coi là TTHC
Việc thống nhất một quan niệm chung nhất về TTHC là điều hết sức cần
thiết, đặc biệt trong tiến trình CCHC nhà nước hiện nay: TTHC là trình tự, cách
Trang 17thức giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ của hành chính và giữa các cơ quan hành chính nhà
nước với các tổ chức và cá nhân công dân
Trong hoạt động quản lý nhà rước, việc tuân thủ những quy tắc pháp lý, những quy định cụ thể về trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền nhà nước đối với từng cơ quan để giải quyết được gọi chung là những quy phạm thủ tục, trong đó có thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp và TTHC Tất cả các quy tắc pháp lý, quy định về trình tự thực hiện thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết các nhiệm vụ nhà nước và công dân tạo nên hệ thống quy phạm thủ tục
TTHC có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân Thông qua TTHC, các cá nhân, tổ chức thực hiện được quyền lợi, nghĩa vụ của mình và đồng thời, các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà
nước
1.2 Phân loại thủ tục hành chính
Phân loại TTHC theo một số đặc trưng nhất định trong thực tế như sau:
- Phân loại theo đối tượng quản lý hành chính nhà nước
Theo cách này, các TTHC được xác định cho từng lĩnh vực quản lý nhà nước và được phân chia theo cơ cấu chức năng của bộ máy quản lý hiện hành
Sự phân loại này giúp xác định được tính đặc thù của lĩnh vực quản lý làm cơ sở xây dựng những TTHC cần thiết, thích hợp, nhằm quản lý theo mục tiêu quản
lý Ví dụ như, tại Bộ Tài nguyên và Môi trường bao gồm thủ tục về các lĩnh vực đất, lĩnh vực nước, lĩnh vực môi trường, lĩnh vực địa chất khoáng sản, lĩnh vực
đo đạc và bản đồ, lĩnh vực khí tượng thuỷ văn, được phân theo các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ
Đặc điểm của các thủ tục này là gắn liền với hoạt động cụ thể của cơ quan, phản ánh tính đặc thù trong quá trình vận dụng các thủ tục đó vào thực tiễn Ví
Trang 18dụ: Thủ tục thông qua và ban hành văn bản trong cơ quan, TTHC về tuyển dụng công chức, TTHC về chế độ thanh tra kiểm tra trong đơn vị Trong mỗi loại thủ tục đó, có thể phân chia thành các loại thủ tục liên quan đến hoạt động cụ thể hơn Ví dụ như: Thủ tục thông qua và ban hành văn bản có thủ tục văn bản đi, thủ tục văn bản đến, thủ tục trình ký văn bản, thủ tục về chế độ báo cáo
Cách phân loại này giúp cho người thừa hành công vụ và những người thi hành các TTHC trong thực tế định hướng theo công việc dễ dàng và chính xác Chẳng hạn như một cơ quan bộ khi tuyển công chức cho các đơn vị trực thuộc thì thủ tục thi tuyển của từng đơn vị sẽ có những yêu cầu khác nhau Mục đích nhằm bảo đảm cho việc thi tuyển phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cụ thể mà từng đơn vị giao cho công chức đó
Cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý khi giải quyết công việc chúng có liên quan đến các tổ chức hoặc công dân, tìm được các hình thức giải quyết thích hợp theo đúng chức năng quản lý nhà nước của cơ quan Các loại thủ tục thuộc phân loại này bao gồm thủ tục cung cấp các dịch vụ công cho công dân và các tổ chức có nhu cầu Ví dụ như: thủ tục cho phép xuất khẩu các nguyên liệu hiếm, thủ tục kiểm tra mức độ an toàn trong lao động
thủ tục nội bộ, thủ tục liên hệ và thủ tục văn thư
TTHC nội bộ, đây là thủ tục liên quan đến quan hệ trong quá trình thực hiện các công việc nội bộ của các cơ quan, công sở trong hệ thông cơ quan nhà nước và trong bộ máy nhà nước nói chung Nó bao gồm các thủ tục về quan hệ lãnh đạo, kiểm tra các cơ quan nhà nước cấp trên với cấp dưới, quan hệ hợp tác, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước cùng cấp
Thủ tục liên hệ là thủ tục thực hiện thẩm quyền tiến hành giải quyết các công việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phòng ngừa, ngăn chặn, xử phạt các hành vi vi phạm hành chính, trưng thu, trưng mua các bất động sản của tổ chức và của công dân khi Nhà nước có nhu cầu giải quyết
Trang 19một nhiệm vụ nhất định vì lợi ích cộng đồng
Thủ tục văn thư là toàn bộ các hoạt động lưu trữ, xử lý, cung cấp các loại giấy tờ và đưa ra giải quyết một công việc nhất định Loại hoạt động này liên quan chặt chẽ vởi hoạt động văn thư
Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất một cách phân loại các thủ tục hành chính:
Phân loại dựa theo cấp có thẩm quyền ban hành Trong cách phân loại này, TTHC được chia thành TTHC do cấp trung ương ban hành và TTHC do cấp địa phương ban hành, cấp trung ương bao gồm các cơ quan có thẩm quyền riêng quản lý trong phạm vi ngành hoặc lĩnh vực như Bộ Công thương, Bộ Tài chính,
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Cấp địa phương bao gồm ủy ban nhân dân các cấp, là cơ quan quản lý chung mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi đối tượng tương ứng trong phạm vi đơn vị hành chính lãnh thổ (tỉnh, huyện, xã )
1.3 Nguyên tắc xây dựng và đặc điểm của thủ tục hành chính
1.3.1 Nguyên tắc xây dựng thủ tục hành chính
Khi xây dựng các TTHC cần áp dụng thống nhất các nguyên tắc chủ yếu sau:
cụ quản lý hữu hiệu cho bộ máy nhà nươc Các cơ quan có thẩm quyền ban hành TTHC phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về thẩm quyền và tính hợp pháp của TTHC: chỉ có cơ quan nhà nước có thấm quyền mới được ban TTHC và TTHC phải theo pháp luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, phải thực hiện đúng trình tự với phương tiện, biện pháp và hình thức được pháp luật cho phép
hội của đất nước TTHC phải được xây dựng trên cơ sở nhận thức đầy đủ yêu cầu khách quan của tiến trình phát triển xã hội Trong điều kiện sự nghiệp đổi mới đang diễn ra nhanh chóng, TTHC phải được xây dựng sao cho phù hợp với tình hình đó để tạo điều kiện cho các hoạt động quản lý kinh tế, quản lý xã hội được thực thi hữu hiệu
Trang 20- Nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu, thuận lợi cho việc thực hiện Nguyên tắc này đòi hỏi các TTHC khi ban hành cần có sự giải thích cụ thể, rõ ràng về, nội dung thủ tục cả phạm vi áp dụng của nó; cần đảm bảo mọi TTHC đều phải được công khai cho mọi người biết để tuân thủ
một lĩnh vực không được mâu thuẫn với nhau và mâu thuẫn với các lĩnh vực có liên quan
Những nguyên tắc trên đây có liên quan chặt chẽ với nhau Trong từng trường hợp cụ thể, khi vận dụng chúng để xây dựng các TTHC cần tính đến các yêu cầu thực tế để nhấn mạnh một nguyên tắc nào đó nhằm tạo ra những thủ tục hữu hiệu
1.3.2 Đặc điểm của thủ tục hành chính
Thứ nhất, TTHC được điều chỉnh bằng các quy phạm TTHC Không phải
tất cả các hoạt động quản lý nhà nước đều phải điều chỉnh bằng quy phạm TTHC, mà có thể do các quy định nội bộ điều chỉnh Chỉ có các thủ tục quan trọng mới được quy định bởi pháp luật, nhằm đảm bảo cho sự tuân thủ chúng thật chặt chẽ và thống nhất
Thứ hai, TTHC do nhiều cơ quan và công chức nhà nước thực hiện nên
ngoài những khuôn mẫu ổn định tương đối, TTHC còn mang tính linh hoạt, sáng tạo
Thứ ba, TTHC rất đa dạng, phức tạp Đặc điểm này của TTHC được quy
định bởi hoạt động quản lý nhà nước là hoạt động được diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Mặt khác, bộ máy hành chính bao gồm rất nhiều các cơ quan từ trung ương tới địa phương Căn cứ vào thẩm quyền của mình, mỗi cơ quan này đều phải tuân theo những TTHC
Hơn nữa, nền hành chính của chúng ta đang chuyển từ nền kinh tế hành chính cai quản sang nền hành chính phục vụ, làm dịch vụ cho xã hội; từ quản lý tập trung sang cơ chế thị trường làm cho hoạt động quản lý hành chính đa dạng
về nội dung và phong phú về hình thức, biện pháp; đồng thời xu hướng hợp tác
Trang 21quốc tế làm cho các TTHC phải tính đến yếu tố nước ngoài Do vậy, TTHC nay rất đa dạng, phong phú và tính phức tạp cũng tăng lên gấp bội
Thứ tư, TTHC có tính năng động hơn và đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn
so với các quy phạm nội dung và của Luật hành chính nhà nước
TTHC do các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước có thẩm quyền đặt
ra để giải quyết các công việc; Do đó, nó lệ thuộc đáng kể vào nhận thức chủ quan của những người xây dựng nên Nếu nhận thức đó phù hợp với thực tế khách quan thì TTHC sẽ mang tính tiến bộ, thiết thực phục vụ cho cuộc sống Ngược lại, sẽ xuất hiện các TTHC lạc hậu kìm hãm sự phát triển của xã hội
Thứ năm, TTHC gắn chặt với công tác văn thư Các TTHC do nhà nước
thực hiện chủ yếu tại văn phòng của công sở nhà nước và phương tiện truyền đạt quyết định cũng như các thông tin quản lý phần lớn là văn bản Vì thế, nó gắn liền với công tác văn thư, với việc tổ chức ban hành, sử dụng và quản lý văn bản trong cơ quan nhà nước
1.4 Vai trò của thủ tục hành chính trong bộ máy hành chính nhà nước
TTHC có ý nghĩa rất lớn đối với các cơ quan nhà nước và trong hoạt động của đời sống xã hội; TTHC có các vai trò cơ bản như sau:
Thứ nhất, TTHC là nền tảng để hướng dẫn việc thực hiện pháp luật
Những quy định của pháp luật muốn đi vào đời sống xã hội rất cần đến các TTHC Các loại TTHC quy định các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội giúp cho các hoạt động của thực tiễn xã hội được thực hiện thuận lợi, nhanh chóng và đồng bộ Có như vậy các quy định của pháp luật mới đi vào thực tiễn cuộc sống một các nhanh chóng, đúng đắn, phù hợp với những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Thứ hai, TTHC bảo đảm cho công việc được tiến hành theo một trật tự cần
thiết và có thể kiểm soát được Đây là một ý nghĩa rất to lớn nhằm đảm bảo cho các cơ quan nhà nước thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời tạo thuận lợi trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước của quần chúng nhân dân
Trang 22Thứ ba, TTHC nhằm để xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân
TTHC phù hợp với thực tế, đơn giản, nhanh chóng, đem lại hiệu quả cao trong đời sống xã hội sẽ góp phần tạo niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, Nhà nước và cơ quan chính quyền TTHC như vậy sẽ thiết lập mối quan hệ thân thiện giữa Nhà nước và nhân dân; ngược lại sự bất cập trong các TTHC là nguyên nhân khiến mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân ngày càng tách rời nhau
Thứ tư, TTHC là cơ sở để xác định trách nhiệm giữa các bên trong công
việc được giao Từ đó phát huy hết chức trách, nhiệm vụ của từng nhân viên trong công sở; đồng thời tạo thuận lợi cho thủ trưởng trong việc giám sát, kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức trong
cơ quan, tổ chức của mình
Vì TTHC cũng là bộ phận của pháp luật về hành chính nên việc xây dựng và thực hiện tốt các TTHC sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng
và triển khai luật pháp Nếu không nhanh chóng CCTTHC theo lộ trình thì dù hệ thống pháp luật của chúng ta có được bổ sung và hoàn thiện đến đâu, vai trò của nhà nước vẫn không thể nâng cao cho phù hợp với tình hình mới
Do vậy, để phát huy hơn nữa vai trò của TTHC trong đời sống xã hội, Nhà nước cần đẩy mạnh CCTTHC theo hướng:
Một là, các TTHC cần được xây dựng trên cơ sở pháp luật, nhằm mục
đích thực hiện luật Chỉ điều đó mới đảm bảo sự thống nhất giữa các cơ quan nhà nước trong việc đưa pháp luật vào thực tiễn đời sống xã hội TTHC cũng chính là phương tiện, cách thức nhằm hướng dẫn một cách cụ thể việc thực hiện những điều quy định của pháp luật Là cơ sở để các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng của mình và các tổ chức, công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ cơ bản trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Hai là, TTHC phải linh hoạt, mềm dẻo nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu
của đời sống xã hội TTHC tuy là những quy định mang tính chất pháp lý, bắt buộc để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cả phía Nhà nước và công dân,
Trang 23nhưng trong đời sống xã hội luôn có những tình huống nằm ngoài ý chí của Nhà nước cũng như ý muốn của người dân Do vậy, TTHC cần phải linh hoạt để thực hiện được mục tiêu quản lý và phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân được tốt nhất
Ba là, các TTHC khi chuẩn bị ban hành cần có sự tham gia góp ý từ phía
các cán bộ, công chức và từ phía người dân, các tổ chức xã hội Nhà nước ban hành TTHC với mục tiêu là nâng cao chất lượng và hiệu quả phục vụ “khách hàng” trong việc cung ứng các dịch vụ công Vì vậy, sự tham gia góp ý của cán
bộ, công chức và người dân là hết sức cần thiết; điều đó vừa phát huy Quy chế dân chủ cơ sở, vừa phát huy vai trò giám sát, đánh giá của người dân đối với các hoạt động của cơ quan nhà nước
Bốn là, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, rà soát các TTHC
trên từng lĩnh vực Đây là cơ sở để xem xét tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả của TTHC đang được thực hiện trong đời sống xã hội Đồng thời đây là cơ sở để các cơ quan nhà nước phát hiện những bất cập đã và đang tồn tại trong từng loại thủ tục; làm căn cứ để sửa đổi, bổ sung và ban hành các TTHC phù hợp với tình hình thực tiễn cuộc sống
Như vậy, có thể nhận thấy, CCTTHC và kiểm soát chất lượng các quy định về TTHC đã được coi là nhiệm vụ quan trọng và đơn giản hoá TTHC trên các lĩnh vực quản lý của Nhà nước là đòn bẩy thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình cải cách TTHC đã gây được những ấn tượng tốt đẹp với người dân và doanh nghiệp nhưng cũng cho chúng ta thấy rõ bức tranh toàn cảnh về những yếu kém của nền hành chính Việt Nam, đặc biệt là chất lượng của việc ban hành, thực hiện các quy định TTHC trong suốt thời gian qua, đó là:
Thứ nhất, TTHC được ban hành một cách tùy tiện, do nhiều cơ quan và
dưới nhiều hình thức văn bản khác nhau, kể cả công văn hành chính;
Thứ hai, chất lượng các quy định TTHC không được kiểm soát chặt chẽ,
vẫn còn hiện tượng “nhóm lợi ích” cục bộ; nhiều thủ tục con, giấy phép con trái luật vẫn được áp dụng thực hiện
Trang 24Thứ ba, với cách ban hành theo kiểu “cổ cồn trong phòng lạnh”, hoàn
toàn thiếu tính thực tiễn, thiếu sự đánh giá tác động nên nhiều TTHC không cần thiết, không hợp lý và không hiệu quả vẫn được “lưu thông” đã gây nên sự tốn kém cho xã hội, cho người dân và doanh nghiệp
Thứ tư, quy trình thực hiện TTHC thiếu sự công khai, minh bạch Nhiều cơ
quan tự quy định thêm giấy tờ, hồ sơ, kéo dài thời gian thực hiện thủ tục, yêu cầu
bổ sung giấy tờ nhiều lần gây tâm lý lo ngại, chán nản cho người làm thủ tục
Có nhiều nguyên nhân của sự tồn tại, yếu kém nêu trên nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là chưa có một cơ chế kiểm soát đồng bộ đối với việc ban hành các quy định về TTHC Nhận thức rõ vấn đề này, kết hợp với kinh nghiệm sau 3 năm triển khai Đề án 30 cũng như tham khảo những kinh nghiệm của thế giới về cải cách thể chế như Croatia, Hàn Quốc, Hà Lan, Đức, Pháp, Anh, Mê xi cô, Hoa kỳ… đồng thời thể chế hóa tinh thần chỉ đạo của Đảng về CCTTHC tại Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 1/8/2007 về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 về kiểm soát TTHC Theo đó, các quy định về TTHC được kiểm soát chặt chẽ từ khâu dự thảo cho tới việc thực hiện nhằm từng bước khắc phục những hạn chế, tiếp tục nâng cao chất lượng TTHC để cắt giảm gánh nặng hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, từng bước cải thiện quan hệ giữa nhân dân với chính quyền, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng nguồn lực xã hội và thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, đáp ứng yêu cầu quản lý đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế
TTHC chỉ được ban hành trong các văn bản QPPL đã làm cho quy định TTHC ngày càng được minh bạch, rõ ràng, tránh sự “xen, lồng” những lợi ích của nhiều cơ quan mang tính “tư lợi”
Ví dụ như thủ tục nhằm giải quyết vấn đề nào của mặt chính sách; có giải pháp nào có thể thay thế việc quy định TTHC để giải quyết vấn đề trên…Sau khi xác định được sự cần thiết của việc ban hành quy định TTHC, cơ quan soạn
Trang 25thảo đánh giá tính hợp lý của quy định về TTHC đối với từng nội dung cụ thể, nhƣ tên TTHC, cách thức thực hiện, trình tự thực hiện, hồ sơ bằng cách trả lời
13 câu hỏi trong Biểu mẫu tính hợp lý của quy định TTHC Nhƣ vậy, cơ quan
soạn thảo phải đƣa ra nhiều giải pháp khác nhau trong việc thiết kế từng nội dung quy định của TTHC và trên cơ sở đánh giá tác động sẽ lựa chọn giải pháp nào đƣợc coi là hợp lý, tối ƣu nhất Tiếp đến là xem xét tính hợp pháp của TTHC, nghĩa là là xem xét thẩm quyền ban hành, hình thức quy định, tính thống nhất, đồng bộ với các quy định của pháp luật hiện hành cũng nhƣ các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia Nhƣ vậy, với trên 50 câu hỏi cụ thể theo mẫu thống nhất thuộc 4 nhóm tiêu chí về: sự cần thiết, tính hợp lý, hợp pháp và tính hiệu quả mà cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định TTHC phải trả lời, việc ban hành quy định TTHC đã đƣợc đƣa qua một “tấm thảm lọc”
để đảm bảo chất lƣợng của TTHC khi ban hành cùng với các yếu tố về sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và hiệu quả của TTHC
Việc tham gia ý kiến của cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC là một nội dung mới đƣợc tiến hành sau khi các cơ quan soạn thảo hoàn thiện đánh giá tác động TTHC và đồng thời với việc lấy ý kiến các cơ quan liên quan khác Khi nhận đƣợc hồ sơ đề nghị tham gia ý kiến đối với quy định về TTHC trong dự thảo VBQPPL của cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC
sẽ tiến hành đánh giá tác động độc lập cùng với tham vấn ý kiến của các chuyên gia, các tổ chức và cá nhân là đối tƣợng tác động của TTHC, trên cơ sở đó đƣa
ra ý kiến phản biện để cơ quan soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh sửa
Đánh giá tác động TTHC và lấy ý kiến cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC đối với quy định về TTHC được xem là một công đoạn mới bổ sung vào quy
trình xây dựng các VBQPPL có quy định TTHC Quy định này hoàn toàn phù hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, không làm kéo dài thời gian xây dựng VBQPPL nhƣng lại giúp nâng cao chất lƣợng VBQPPL nói chung và TTHC nói riêng khi thời gian tham gia ý kiến về TTHC là 20 ngày nằm trong khuôn khổ thời gian 60 ngày mà cơ quan dự thảo đăng tải dự án, dự
Trang 26thảo văn bản QPPL lên cổng thông tin điện tử của Chính phủ để lấy ý kiến nhân dân theo quy định của Luật
Thông qua việc đánh giá tác động độc lập, ý kiến phản biện của hệ thống
cơ quan kiểm soát TTHC góp phần nâng cao chất lượng TTHC, kịp thời phát hiện và khắc phục những bất cập của TTHC, bảo đảm nguyên tắc chỉ duy trì những thủ tục thật sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và có chi phí tuân thủ thấp nhất Hiện nay, khi hệ thống cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC đang từng bước chuyển sang ngành Tư pháp thì nội dung trên của Nghị định 63/2010/NĐ-CP cũng đã được sửa đổi, bổ sung để đảm bảo tính phù hợp nhưng sẽ không làm mất đi giá trị và ý nghĩa về mặt chuyên môn của việc tham gia ý kiến này
Cơ chế kiểm soát TTHC ngay từ khâu dự thảo đã được thiết lập bằng sự ra đời của Nghị định 63/2010/NĐ-CP Qua theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện công tác kiểm soát TTHC tại các Bộ, ngành, địa phương, vẫn tồn tại tình trạng một số cơ quan soạn thảo chưa tuân thủ đúng quy định về thẩm quyền, hình thức quy định TTHC, đặc biệt là quy trình đánh giá tác động TTHC và gửi lấy ý kiến
về quy định TTHC Điều này đã làm ảnh hướng đến chất lượng của các văn bản QPPL nói chung và quy định về TTHC nói riêng, gây nên những cản trở cho quá trình cải cách và kiểm soát chất lượng các quy định về TTHC trong thời gian qua
Một trong những nguyên nhân cơ bản nhất của vấn đề tồn tại trên là quy định kiểm soát TTHC hiện nay đang chỉ mới dừng ở “cấp” Nghị định, chưa đủ tầm cũng như chưa tạo lập được hành lang pháp lý có giá trị cao hơn để buộc các cơ quan, tổ chức soạn thảo văn bản QPPL phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu cần thiết của việc xây dựng và ban hành các quy định về TTHC Chính
vì vậy, theo tôi, trong nội dung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật lần này, việc đưa một số nội dung quy định cụ thể sau đây vào trong Luật là cần thiết
Chất lượng của chính sách cũng như của TTHC được ban hành có ảnh hưởng to lớn đến người dân, doanh nghiệp và xã hội Vì vậy việc xây dựng và
Trang 27ban hành chính sách cũng như TTHC cần phải được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ được gọi là “quy trình 2 bước” Cụ thể như sau:
Bước 1: Để đảm bảo chất lượng chính sách trước khi ban hành VBQPPL
và quy định về TTHC, cơ quan nhà nước đóng vai trò tham mưu phải có trách nhiệm đề xuất chính sách và dự kiến quy định TTHC lên Cơ quan có thẩm quyền ban hành để xem xét, quyết định Kèm theo bản đề xuất, dự kiến về chính sách và TTHC, cơ quan tham mưu đề xuất phải có sự đánh giá tác động đầy đủ với những tiêu chí về sự cần thiết, tính hợp lý, hợp pháp và hiệu quả của các chính sách và thủ tục Trên cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành thẩm tra về các đề xuất này Quá trình này có thể bao gồm cả việc tham vấn các đối tượng liên quan và các chuyên gia Sau cùng, cơ quan có thẩm quyền sẽ thống nhất, quyết định việc ban hành chính sách, thủ tục hay không Như vậy, ở bước này, những vấn đề về nội dung mang tính chất “linh hồn” của VBQPPL đã được thông qua Vấn đề còn lại chỉ mang tính chất kỹ thuật lập pháp, xây dựng văn bản theo quy trình, thủ tục đã xác định
Bước 2: Soạn thảo văn bản QPPL để thế chế hóa, quy phạm hóa chính
sách và quy định về TTHC liên quan Trong quá trình soạn thảo, cơ quan chủ trì phải thể hiện trung thực những nội dung chính sách, thủ tục đã được thông qua bằng ngôn ngữ luật pháp Khi dự án, dự thảo văn bản đã hoàn tất, cơ quan soạn thảo sẽ thực hiện quy trình thủ tục của việc ban hành VBQPPL để đảm bảo tính toàn diện, hợp hiến, hợp pháp của văn bản khi được ban hành
a) Hoàn thiện và đẩy mạnh hoạt động của Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước để đến năm 2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc; bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan; hầu hết các giao dịch của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử,
Trang 28mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa phương tiện; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau;
b) Ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong quy trình xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công;
c) Công bố danh mục các dịch vụ hành chính công trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet Xây dựng và sử dụng thống nhất biểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức và
cá nhân, đáp ứng yêu cầu đơn giản và cải cách thủ tục hành chính;
d) Thực hiện có hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng trong các cơ quan hành chính nhà nước;
đ) Thực hiện Quyết định số 1441/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch đầu tư trụ sở cấp xã, phường bảo đảm yêu cầu CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước;
TTHC là một bộ phận quan trọng của thể chế hành chính nhà nước, thông qua việc thiết lập trật tự trong quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội TTHC chất lượng thấp là rào cản của hoạt động kinh doanh và đời sống của người dân; ngược lại, TTHC đạt chất lượng tốt sẽ là động lực để giải phóng các nguồn lực xã hội, phát huy tính sáng tạo, thu hút đầu tư, tạo việc làm và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững TTHC là một công cụ đắc lực, giúp các cơ quan quản lý nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng quản lý của mình
Do vậy, nếu TTHC minh bạch, đơn giản và hiệu quả sẽ thúc đẩy hoạt động quản
lý hành chính nhà nước có hiệu quả Ngược lại, nếu TTHC rườm rà, phức tạp sẽ gây tốn kém tiền bạc và thời gian, trở thành lực cản cho sự phát triển của các cơ quan hành chính nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung
Trang 291.5 Kiểm soát thủ tục hành chính
1.5.1 Khái quát về kiểm soát thủ tục hành chính
Trong công tác CCHC, nhiệm vụ CCTTHC về đơn giản hóa TTHC được Chính phủ xác định đóng vai trò đặc biệt quan trọng Công tác kiểm soát TTHC nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả mục tiêu CCTTHC, bảo đảm điều phối, huy động sự tham gia tích cực, rộng rãi của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào quá trình kiểm soát TTHC
Kiểm soát TTHC là việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính (Khoản 5 điều 3 Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát TTHC) Từ
đó, nhằm kịp thời phát hiện để loại bỏ hoặc chỉnh sửa TTHC không phù hợp, phức tạp, phiền hà; bổ sung TTHC cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế; bảo đảm quy định TTHC đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện TTHC
Việc thực hiện công tác này được quy định tại Nghị định số
63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ, theo đó kiểm soát TTHC được thực hiện ngay khi dự thảo quy định về TTHC và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC, bao gồm các công việc chủ yếu sau :
pháp luật mới ban hành;
Trang 30- Rà soát, đánh giá và kiểm tra việc thực hiện TTHC
Kiểm soát TTHC có tác động, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh
và phát triển kinh tế:
Đầu tiên Kiểm soát TTHC có hiệu quả trong việc công khai, minh bạch TTHC và cắt giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp Theo Nghị định 63/2010/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm soát TTHC, việc kiểm soát TTHC bắt đầu từ việc đánh giá tác động các TTHC trong quá trình dự thảo do các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật thực hiện; gửi lấy ý kiến của cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC; công khai, minh bạch TTHC sau khi ban hành; kiểm soát việc thực thi trong thực tiễn; và tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính nhằm phát hiện và giải quyết những bất cập của các quy định hành chính, cũng như giám sát việc thực thi TTHC của đội ngũ cán bộ, công chức Như vậy, mọi TTHC sẽ được công
khai hóa và thường xuyên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, tránh tình
trạng tùy tiện, thiếu công khai, minh bạch trong việc ban hành và thực hiện TTHC tại nhiều cơ quan hành chính
Văn bản được soạn trước khi gửi thẩm định, cơ quan được giao chủ trì soạn thảo phải gửi lấy ý kiến cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC đối với dự thảo văn bản có quy định về thủ tục hành chính Cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC có trách nhiệm nghiên cứu, đưa ra ý kiến phản biện để hỗ trợ các cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo hoàn thiện dự thảo, bảo đảm nguyên tắc tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức, cắt giảm chi phí tuân thủ nhưng vẫn bảo đảm được mục tiêu quản
lý của nhà nước Làm tốt việc này sẽ giúp nâng cao chất lượng các thủ tục hành chính dự kiến được ban hành và cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh của địa phương, trong cả nước
1.5.2.Ý nghĩa của kiểm soát thủ tục hành chính
Có thể nhận thấy rất rõ, việc kiểm soát TTHC để nâng cao chất lượng hệ thống các quy định hành chính không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC mà đòi hỏi sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống hành chính, từ cơ
Trang 31quan, đơn vị chịu trách nhiệm dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có các quy định về TTHC tới các bộ phận trực tiếp thực hiện TTHC; từ trách nhiệm của cán
bộ, công chức đến trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, các đối tượng tham gia vào TTHC
Kiểm soát TTHC có hiệu quả là hoạt động mang lại lợi ích trực tiếp cho các cá nhân, tổ chức nhưng đồng thời không để sơ hở trong công tác quản lý nhà nước Đây là một quy trình bắt đầu từ việc đánh giá tác động các quy định về trong quá trình dự thảo do các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật thực hiện; gửi lấy ý kiến của cơ quan, đơn vị kiểm soát TTHC; công khai, minh bạch TTHC sau khi ban hành; kiểm soát việc thực thi TTHC trong thực tiễn Cuối cùng là tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức
về các quy định hành chính nhằm phát hiện và giải quyết những bất cập của các quy định hành chính, cũng như giám sát việc thực thi TTHC của đội ngũ cán bộ, công chức Thông qua việc kiểm soát TTHC, mọi TTHC sẽ được công khai hóa
và thường xuyên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, tránh tình trạng tùy tiện, thiếu công khai, minh bạch trong việc ban hành và thực hiện TTHC tại nhiều cơ quan hành chính như thời gian qua
Thực tế đã chỉ ra rằng, nếu không làm tốt công tác giám sát, kiểm soát TTHC thì các hoạt động nhằm CCTTHC đôi khi chỉ mang tính hình thức Sẽ có
nhiều thủ tục được “cải cách” trên giấy tờ, không có tính thực thi trong thực tế
Do vậy, để bảo đảm tính khả thi của TTHC thì bước đầu tiên của quy trình kiểm soát chính là việc tổ chức đánh giá tác động của quy định về TTHC Việc làm
này có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường “trách nhiệm giải trình” trước
nhân dân của các ban soạn thảo về sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp và tính hiệu quả của quy định về TTHC dự kiến ban hành Đây là một việc làm cần thiết vì mỗi giờ lao động dành cho việc đánh giá tác động sẽ giúp cắt giảm hàng ngàn, hàng vạn giờ không cần thiết của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện TTHC sau này, nhưng đây cũng là một việc làm khó, đòi hỏi các cán bộ, cơ
Trang 32quan, đơn vị soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải đầu tư thời gian, công sức để đưa ra các phương án tối ưu
Nội dung công khai TTHC sẽ được thực hiện theo nguyên tắc đầy đủ, thường xuyên, rõ ràng, đúng địa chỉ, dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử dụng và phải đăng tải trên cơ sở dữ liệu quốc gia và thông tin rộng rãi cho người dân biết trên các phương tiện thông tin đại chúng Khi thực hiện các TTHC với cơ quan hành chính, người dân có quyền được biết, được hướng dẫn đầy đủ để thực hiện TTHC và từ chối thực hiện những TTHC do các cơ quan hành chính và cán bộ, công chức tự đặt ra Việc này sẽ hạn chế và dần đi đến chấm dứt các hành vi nhũng nhiễu, hành dân của một bộ phận cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền các cấp hiện nay Thực tế đã phát sinh rất nhiều trường hợp, cán bộ, công chức trong quá trình giải quyết TTHC đã lợi dụng sự mập mờ, bất cập của pháp luật để tự ý đặt ra các loại thủ tục, hồ sơ, giấy tờ nhằm gây khó khăn, sách nhiễu với người dân Nhiều trường hợp đã bị xem xét, xử lý kỷ luật Chính vì vậy, công khai TTHC là một yêu cầu không thể thiếu trong kiểm soát TTHC
Tuy nhiên, không phải chỉ ở phía các cơ quan hành chính Một vấn đề vô cùng quan trọng, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng hoạt động kiểm soát TTHC chính là thái độ và nhận thức của người dân khi tiếp cận TTHC Do thiếu hiểu biết pháp luật, không nắm rõ các quy trình, quy định, cộng với tâm lý
phải “nhờ vả, xin cho” vô hình chung cũng đã tạo điều kiện cho công chức nảy
sinh các hiện tượng tiêu cực Thậm chí, nhiều trường hợp dù biết rõ công chức Nhà nước thực hiện sai quy định nhưng để đạt mục đích của mình, người dân vẫn buộc phải làm theo, không có ý kiến phản hồi hoặc phản ánh, báo cáo với cơ quan có thẩm quyền
Trước thực trạng như vậy, hoạt động kiểm soát TTHC đã thiết lập cơ chế tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính nhằm kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan chức năng xử lý; qua đó, giúp cơ quan hành chính các cấp kịp thời phát hiện và chấn chỉnh hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong quá trình giải quyết TTHC Đây là
Trang 33một yêu cầu quan trọng, thiết yếu; góp phần thực hiện nhiệm vụ chung là xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả và hiện đại
1.6 Kinh nghiệm của một số đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC
1.6.1.Tại Văn phòng Chính phủ
Kiểm soát TTHC là hoạt động nhằm đảm bảo các TTHC được ban hành là thực sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và hiệu quả cao nhất để tránh phát sinh thủ tục gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp; đồng thời bảo đảm bảo kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện TTHC tại các cấp chính quyền để duy trì kỷ luật, kỷ cương hành chính trong phục vụ nhân dân
Công tác kiểm soát TTHC tại Văn phòng Chính phủ có thể được chia làm
2 giai đoạn như sau:
TTHC, ngày 22/11/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 74/2010/QĐ -TTg thành lập Cục Kiểm soát TTHC trực thuộc Văn phòng Chính phủ Sau đó, hệ thống các cơ quan kiểm soát TTHC đã được thành lập tại các
Bộ, cơ quan ngang Bộ và UBND cấp tỉnh
trì bền vững kết quả cải cách TTHC của Đề án 30, đồng thời phải bảo đảm chỉ duy trì những TTHC thực sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp, hiệu quả cũng như bảo đảm TTHC được thực hiện nghiêm trên thực tế cuộc sống; Văn phòng Chính phủ đã phối hợp cùng với các bộ, ngành, UBND các tỉnh thực hiện tốt kiểm soát TTHC từ khâu dự thảo đến khâu ban hành và thực hiện trên thực tế cuộc sống; bảo đảm kiểm soát chặt chẽ các thủ tục hiện hữu cũng như các thủ tục sẽ được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới
Khi thành lập, Cục Kiểm soát TTHC có chức năng giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc kiểm soát TTHC; tổ chức thực hiện việc kiểm soát TTHC, quản lý cơ
sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính trong phạm vi cả nước theo quy định
Trang 34của pháp luật
Về cơ cấu, tổ chức của Cục bao gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng; Văn phòng, Phòng kiểm soát TTHC khối kinh tế tổng hợp, Phòng kiểm soát TTHC khối kinh tế ngành, Phòng kiểm soát TTHC khối khoa giáo văn xã, Phòng kiểm soát TTHC khối Nội chính
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính
(Nguồn: Website http ://thutuchanhchinh vn)
Về tổ chức cán bộ: Cục gồm 04 lãnh đạo (01 Cục trưởng và 03 Phó Cục trưởng), và 50 chuyên viên trong đó: Văn phòng 13 chuyên viên
Bên cạnh công tác kiện toàn tổ chức bộ máy, Cục Kiểm soát TTHC đã xây dựng hệ thống các văn bản, quy trình, quy chế, công cụ tương đối hoàn chỉnh để thực hiệc công tác kiểm soát TTHC, CCTTHC:
Thứ nhất, đối với hoạt động kiểm soát quy định TTHC trong dự án, dự thảo
văn bản QPPL, Văn phòng Chính phủ có nhiệm vụ cho ý kiến đối với quy định
về TTHC được thực hiện cùng thời điểm với thời điểm cơ quan chủ trì soạn thảo gửi lấy ý kiến các cơ quan, đơn vị có liên quan và đối tượng chịu tác động của văn bản QPPL
Tiếp theo, Văn phòng Chính phủ thẩm tra các quy định về TTHC, được thực
Phòng kiểm soát TTHC khối kinh tế ngành
Phòng kiểm soát TTHC khối khoa giáo văn xã
Phòng kiểm soát TTHC khối Nội chính
Trang 35hiện trong giai đoạn cơ quan soạn thảo đã hoàn tất hồ sơ và trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
Thứ hai, cùng với việc ra đời của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, Văn phòng
Chính phủ có nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về kiểm soát TTHC tại các bộ, cơ quan ngang
bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Với sự kiểm tra, đánh giá của Văn phòng Chính phủ, đến nay đã có 18/24 Bộ, 54/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung quy định về đánh giá tác động của các quy định về TTHC vào quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL thuộc thẩm quyền bộ, ngành, địa phương
Thứ ba, theo quy định tại Nghị định số 20/2008/NĐ-CP, Văn phòng Chính
phủ có chức năng giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước Sau khi Cục Kiểm soát TTHC được thành lập, nhiệm vụ này được giao cho Cục thực hiện, về cơ bản, Cục Kiểm soát TTHC sẽ là đầu mối giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ tiếp nhận các phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính; chủ trì, phối hợp với các Vụ, Cục chức năng
xử lý đối với các phản ánh, kiến nghị quy định về TTHC
Thứ tư, Cục Kiểm soát TTHC và Trung tâm tin học trong xây dựng và quản
lý cơ sở dữ liệu quốc gia Cục Kiểm soát TTHC chịu trách nhiệm về phần nội dung của cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC
Thứ năm, Tại Quyết định số 74/2010/QĐ-TTg, Cục Kiểm soát TTHC được
giao nhiệm vụ giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ thực hiện nhiệm vụ rà soát TTHC Theo đó, các bộ, ngành và địa phương có trách nhiệm thực hiện rà soát TTHC
Trong quý I năm 2012, các bộ, ngành đã tiến hành rà soát 30 TTHC quy định tại 11 văn bản QPPL; các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát
124 TTHC được quy định tại 24 văn bản QPPL Năm 2012, Văn phòng Chính
Trang 36phủ đã tổ chức được 04 lớp tập huấn về nghiệp vụ rà soát quy định, TTHC cho cán bộ, công chức của các bộ, ngành, địa phương
Thứ sáu, về công tác tuyên truyền hỗ trợ CCTTHC: xây dựng và thực hiện
kế hoạch truyền thông hàng năm; thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng nội dung, tin, bài trên trang tin điện tử của Cục Kiểm soát TTHC; phối hợp tốt với Cổng thông tin điện tử Chính phủ để thực hiện hoạt động truyền thông trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Cuộc thi “Chung tay CCTTHC” được Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương hưởng ứng tham gia góp phần nâng cao nhận thức về công cuộc CCHC
- Giai đoạn 2: Để đảm bảo công tác kiểm soát TTHC gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành pháp luật; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, qua đó tăng cường vai trò, hiệu quả của các cơ quan kiểm soát TTHC, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1668/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2012 về việc chuyển nhiệm vụ và
bộ máy tổ chức của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính từ Văn phòng Chính phủ sang Bộ Tư pháp Theo đó, chức năng, nhiệm vụ kiểm soát TTHC và tổ chức, biên chế làm công tác kiểm soát TTHC được quy định tại Quyết định số 74/2010/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Kiểm soát TTHC được chuyên từ Văn phòng Chính phủ sang Bộ Tư pháp kể từ ngày 19/11/2012 Bộ Tư pháp với tư cách là cơ quan thẩm định, trình Chính phủ, Quốc hội các văn bản quy phạm pháp luật, bộ luật trong đó chứa đựng nhiều thủ tục Cho nên, việc chuyển giao Cục Kiểm soát TTHC về Bộ Tư pháp sẽ làm cho cơ quan kiểm soát TTHC mạnh hơn, làm rõ hơn vai trò quản lý nhà nước cũng như tạo điều kiện thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về các TTHC
1.6.2 Tại một số bộ, ngành, địa phương
(1) Bộ Nội vụ
Bộ Nội vụ là cơ quan phối hợp với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, biên chế của bộ phận kiểm soát TTHC
Trang 37thuộc Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ, Văn phòng UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Bộ luôn đi đầu, thực hiện tốt công tác kiểm soát TTHC Trong năm 2012, Bộ đã xây dựng kế hoạch rà soát quy định, TTHC của Bộ trên
cơ sở hướng dẫn của Văn phòng Chính phủ
Trong năm 2011, Bộ đã trình và Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30c/2011/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 ban hành Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2011-2020
Bộ đã tổ chức Hội nghị triển khai công tác và Tập huấn nghiệp vụ cho Lãnh đạo và một số cán bộ, công chức các đơn vị trực thuộc Bộ Nội vụ trong năm 2011 Việc rà soát TTHC, Bộ Nội vụ đã rà soát được số lượng 175/180 TTHC Kết quả cụ thể: 15/175 TTHC đề nghị giữ nguyên; 03/175 TTHC kiến nghị bãi
bỏ, hủy bỏ; 154/175 TTHC kiến nghị sửa đổi, bổ sung
(2) Tỉnh Quảng Ninh
Tỉnh Quảng Ninh là một trong số ít các đơn vị đi đầu trong công tác CCHC Quán triệt chỉ đạo của Trung ương về CCHC, tỉnh Quảng Ninh đã xác định CCHC là một nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị, tập trung vào công tác tổ chức, bộ máy cán bộ và CCTTHC Theo công bố chỉ số cải cách hành chính (CCHC) năm 2015, tỉnh Quảng Ninh từ vị trí thứ 14 (2014) lên vị trí thứ 6 (2015), nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước Theo đó, toàn tỉnh triển khai nhiều giải pháp cải cách thủ tục hành chính (CCTTHC), nâng cao chất lượng công tác CCHC ở cơ sở; nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, chỉ số quản trị hành chính công và CCHC Với mục tiêu xây dựng nền hành chính phục
vụ, tỉnh Quảng Ninh thực hiện CCHC theo hướng tách các hoạt động cung ứng dịch vụ công cộng với các hoạt động công quyền; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động hướng vào phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp Tỉnh Quảng Ninh phê duyệt và thực hiện Đề án chính quyền điện tử với kinh phí đầu
tư trên 600 tỷ đồng Trong đó, điểm nhấn là xây dựng Trung tâm hành chính công Đây là đầu mối và chịu trách nhiệm trong việc tiếp nhận, hướng dẫn và giải quyết hồ sơ, TTHC của tổ chức và cá nhân theo quy định Đến nay, tỉnh
Trang 38Quảng Ninh thành lập Trung tâm hành chính cấp huyện ở 14 địa phương tạo sự đồng bộ, liên kết đến cấp xã, xây dựng mô hình một cửa liên thông hiện đại Các Trung tâm giải quyết TTHC theo nguyên tắc “tiếp nhận, thẩm định và phê duyệt tại chỗ” bảo đảm thuận tiện, công khai, minh bạch; người dân và doanh nghiệp chỉ đến một địa chỉ để giải quyết TTHC Đến nay, có 80/186 xã, phường, thị trấn tại 14 địa phương triển khai Đề án ứng dụng công nghệ thông tin điện tử hiện đại giải quyết các TTHC liên thông với cấp huyện Trung tâm hành chính công
là bước đột phá trong CCHC, thay đổi phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh và các địa phương, tạo sự chuyển biến cơ bản trong quan
hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, công dân, làm tăng hiệu quả làm việc trong quá trình hoạt động, giảm phiền hà, chi phí, thời gian, công sức cho tổ chức, công dân Hiện 95% TTHC thực hiện tại Trung tâm hành chính công, 15/24 sở, ngành đưa 100% TTHC vào giải quyết tại Trung tâm hành chính công tỉnh Trong 6 tháng đầu năm 2016, Trung tâm hành chính công tỉnh Quảng Ninh tiếp hơn 40.000 lượt công dân; tiếp nhận 24.747 hồ sơ, có 97% hồ sơ được giải quyết trước và đúng hạn; cắt giảm 40% thời gian giải quyết so với quy định Trung tâm hành chính công cấp huyện tiếp hơn 180.000 lượt công dân, tiếp nhận 115.773 hồ sơ, có 97,6 % hồ sơ được giải quyết trước và đúng hạn Qua khảo sát (trực tuyến trên cổng thông tin, phiếu góp ý và hòm thư, đánh giá trực tiếp của người dân tại hệ thống bình chọn), trên 98,3% người dân và doanh nghiệp hài lòng với Trung tâm hành chính công Từ 2016, Quảng Ninh triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với 509 thủ tục của các sở, ban, ngành cấp tỉnh
1.6.3 Một vài đánh giá về kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ kiểm soát TTHC tại bộ, ngành, và địa phương
Các kết quả đạt được trong thời gian qua:
việc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL của cơ quan mình, theo đó phải thực hiện đánh giá tác động và lấy ý kiến
Trang 39đơn vị kiểm soát TTHC đối với dự thảo quy định về TTHC; ban hành theo thẩm quyền quy chế phối hợp giữa Văn phòng Bộ, ngành với các Tổng cục, Vụ, Cục trong việc công bố, công khai TTHC thuộc phạm vi thẩm quyền quản lý; ban hành quy chế phối hợp trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính; xây dựng kế hoạch kiểm soát TTHC và
kế hoạch truyền thông phục vụ kiểm soát TTHC của bộ, ngành, địa phương
- Hiện nay, công tác về tổ chức và nhân sự của phòng kiểm soát TTHC, hệ thống các cán bộ đầu mối kiêm nhiệm làm công tác kiểm soát TTHC tại các bộ, ngành, UBND đang được kiện toàn và hoàn thiện nhanh chóng
- Về tình hình triển khai thực thi các Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa TTHC thuộc phạm vi chức năng quản lý của các Bộ, tính đến tháng 10/2011, các Bộ đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và ban ngành theo thẩm quyền các văn bản QPPL để thực thi phương án đơn giản hóa của 735/1043 TTHC (đạt tỷ lệ 70,46% số TTHC phải đơn giản hóa theo Nghị quyết của Chính phủ)
- Về phía các địa phương, triển khai phương án đơn giản hóa TTHC đã được phê duyệt trên cơ sở kết quả tự rà soát TTHC trong khuôn khổ Đề án 30, đến nay, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã chủ động ban hành văn bản thuộc thẩm quyền để thực thi phương án đơn giản hóa 334/407 TTHC (đạt tỷ lệ 82.06% số TTHC phải đơn giản hóa thuộc thẩm quyền ban ngành của địa phương)
- Từ Trung ương đến địa phương đang đẩy mạnh việc sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý các TTHC Mục tiêu đến năm 2020 tất cả các văn bản, tài liệu và các giao dịch của các cơ quan hành chính nhà nước
sẽ được thực hiện trên môi trường điện tử mọi lúc, mọi nơi dựa trên các ứng dụng của công nghệ thông tin Vì thế dịch vụ công trực tuyến đang được các cơ quan hành chính nhà nước triển khai nhằm đáp ứng được nhu cầu thực tế, phục
vụ được người dân và các doanh nghiệp mọi lúc, mọi
Một số khó khăn, vướng mắc:
Trang 40- Nhận thức chung về triển khai hoạt động kiểm soát TTHC còn chưa đáp ứng được yêu cầu; chỉ đạo của các cấp lãnh đạo thiếu quyết liệt so với triển khai
Đề án 30
- Một trong những nguyên nhân dẫn đến các nội dung thực thi TTHC thuộc thẩm quyền ban hành của các Bộ chậm so với yêu cầu của Chính phủ là
do một số văn bản QPPL đã được Bộ trình Chính phủ nhưng chậm được ban hành; chưa có sự chủ động phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc thực thi các TTHC liên bộ, ngành
- Hiện nay, nhiều văn bản QPPL có quy định nội dung TTHC có tác động rất lớn đến người dân, doanh nghiệp nhưng vẫn chưa được các bộ, ngành tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định hoặc ban hành Thông tư để hướng dẫn thực hiện dẫn đến khó khăn cho các cơ quan giải quyết TTHC và ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân và doanh nghiệp
- Một số bộ, ngành Trung ương chưa ban hành văn bản QPPL hướng dẫn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung TTHC theo Nghị quyết của Chính phủ; nhiều văn bản của bộ, ngành Trung ương đã được ban hành, nhưng chưa được cập nhật kịp thời trên cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC;
- Cán bộ làm công tác kiểm soát TTHC phần lớn là mới, chưa có kinh nghiệm nên còn hạn chế trong việc nghiên cứu, tham mưu, đề xuất thực hiện công tác kiểm soát TTHC tại cơ quan, đơn vị
- Các đơn vị đã cử cán bộ đầu mối kiểm soát TTHC nhưng tại nhiều đơn
vị cán bộ đầu mối chưa được yêu cầu tham gia ngay từ đầu vào các hoạt động
xây dựng, đánh giá tác động nội dung TTHC trong các dự thảo văn bản QPPL, chỉ khi hồ sơ xin thẩm định văn bản bị trả về mới liên hệ với phòng Kiểm soát TTHC
- Trong quá trình triển khai công tác kiểm soát TTHC, các đơn vị còn bộc
lộ một số tồn tại, khó khăn, vướng mắc sau:
+ Ý thức trách nhiệm của một số cơ quan, đơn vị mà trực tiếp là ở người đứng đầu chưa cao, chưa thực sự quan tâm đến việc triển khai thực hiện các