1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh nghệ an

120 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản và đề xuất những giải pháp quản lý nhà nước để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, G

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

DƯƠNG THỊ TRÚC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số : 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Phan Văn Hùng

HÀ NỘI – NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các thông tin, số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, việc trích dẫn được thực hiện đúng theo quy định

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Dương Thị Trúc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

và cảm ơn chân thành nhất đến TS Phan Văn Hùng – Vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương, Bộ Nội Vụ đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn các thầy, các cô Khoa Sau Đại học, quý thầy cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia đã trang bị cho em những kiến thức, kinh nghiệm quan trọng suốt thời gian theo học tại trường

Qua đây, em cũng xin cảm ơn lãnh đạo Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Nghệ An, lãnh đạo Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ, các

cô chú, anh chị đang công tác tại Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca

xứ Nghệ, đặc biệt cảm ơn NSND Trịnh Thị Hồng Lựu – Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ đã giúp đỡ, cung cấp cho em những thông tin mới, có giá trị cao cho bài Luận văn này

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người thân đã cổ vũ, động viên, tiếp thêm nghị lực để em hoàn thành tốt công trình khoa học này

Em xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Dương Thị Trúc

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ DÂN CA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH 8

1.1 Một số khái niệm 8

1.1.1 Văn hóa 8

1.1.2 Di sản Văn hóa 9

1.1.3 Di sản văn hóa phi vật thể 9

1.1.4 Quản lý nhà nước 12

1.1.5 Quản lý nhà nước về văn hóa 13

1.1.6 Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể 14

1.2 Giới thiệu chung về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh15 1.2.1 Tên gọi, nguồn gốc và quá trình phát triển 15

1.2.2 Phân loại 17

1.2.3 Nghệ nhân 19

1.3 Vai trò quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 20

1.3.1 Định hướng hoạt động 20

1.3.2 Điều chỉnh hoạt động di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 22

1.3.3 Hỗ trợ, tạo điều kiện cho di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh phát huy giá trị 23

Trang 6

1.4 Các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa

phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 25

1.4.1 Yếu tố khách quan 25 1.4.2 Yếu tố chủ quan 26

1.5 Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví,

Giặm Nghệ Tĩnh 28

1.5.1 Thể chế quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 28 1.5.2 Chính sách về quản lý di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 30 1.5.3 Bộ máy quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 31 1.5.4 Đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 32 1.5.5 Nguồn lực để phát triển di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 33 1.5.6 Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 34 1.5.7 Hợp tác quốc tế về quản lý di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 35 1.5.8 Tổng kết và đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 36

1.6 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn

hóa phi vật thể 37

1.6.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tại tỉnh Bắc Ninh 37 1.6.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản

Trang 7

1.6.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản

văn hóa phi vật thể tại Nhật Bản 40

1.6.4 Bài học cho hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam 41

Tiểu kết chương 1 43

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ DÂN CA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 44

2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Nghệ An 44

2.1.1 Vị trí địa lý 44

2.1.2 Lịch sử - văn hóa 45

2.1.3 Con người xứ Nghệ 46

2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An 48

2.2.1 Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 48

2.2.2 Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 53

2.2.3 Thực trạng xây dựng và củng cố tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 55

2.2.4 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 56

2.2.5 Thực trạng hỗ trợ và huy động các nguồn lực trong quản lý di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 57 2.2.6 Thực trạng thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 58 2.2.7 Thực trạng hợp tác quốc tế trong hoạt động quản lý nhà nước về

Trang 8

2.2.8 Thực trạng tổng kết, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 59

2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân

ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 61

2.3.1 Kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 61 2.3.2 Hạn chế trong quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân

ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 70 2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế trong quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 74

Tiểu kết chương 2 76 Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ DÂN CA

VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 77

3.1 Quan điểm của Đảng về bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa

phi vật thể 77

3.2 Định hướng và mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật

thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh ở tỉnh Nghệ An 79

3.3 Giải pháp nâng cao hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật

thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An 81

3.3.1 Ban hành và tổ chức thực hiện hiệu quả thể chế quản lý nhà nước

về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 81 3.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện chính sách về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 86 3.3.3 Xây dựng và củng cố tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 88

Trang 9

3.3.4 Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và bồi dưỡng nghiệp vụ cho viên chức chuyên môn về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm

Nghệ Tĩnh 90

3.3.5 Tăng cường hỗ trợ từ ngân sách, huy động nguồn lực tài chính và vật chất để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 92

3.3.6 Thanh tra, kiểm tra thường xuyên và xử lý nghiêm vi phạm về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 92

3.3.7 Tăng cường phối hợp giữa quản lý nhà nước và vai trò của cộng đồng, các tổ chức trong nước và quốc tế 94

3.3.8 Cụ thể hóa các tiêu chí tổng kết và đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 95

3.4 Khuyến nghị đối với chính quyền địa phương tỉnh Nghệ An và cơ quan quản lý nhà nước cấp Trung ương 95

3.4.1 Đối với chính quyền tỉnh Nghệ An 95

3.4.2 Đối với cơ quan quản lý cấp Trung ương 98

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Số lƣợng CLB từ năm 2013 đến nửa đầu năm 2017 64 Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ yêu thích thể loại Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh 67

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bản sắc dân tộc là vấn đề quan trọng luôn được các quốc gia quan tâm bảo vệ như một niềm tự tôn dân tộc Bản sắc ấy được hình thành từ hệ thống

di sản văn hóa trong đó có di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa là những

gì được sáng tạo trong quá khứ và truyền lại cho thế hệ sau, là những sáng tạo của cha ông, thể hiện được chiều sâu của dân tộc, mang tính lịch sử Di sản văn hóa phi vật thể nói riêng và hệ thống di sản văn hóa nói chung có quá trình hình thành và phát triển lâu đời, gắn bó hữu cơ với đời sống văn hóa, đời sống xã hội của mỗi quốc gia

Nghệ An là địa phương giàu truyền thống văn hóa, lịch sử và chứa đựng đa dạng, phong phú các loại hình văn hóa phi vật thể Tập trung nhiều nhất ở tập quán xã hội, ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian, nghề thủ công truyền thống, lễ hội, tiếng nói, chữ viết… Có thể nói, di sản văn hóa phi vật thể gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Từ cuộc sống lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ quê hương, đất nước, người Nghệ đã sáng tạo và lưu giữ được một nguồn di sản văn hóa dân gian vô cùng độc đáo mang đậm bản sắc địa phương Bao gồm các di sản như: Lễ hội Đền Cờn, Lễ hội Đền Chín Gian, Đền Cuông, đền thờ Mai Thúc Loan, đền Bạch Mã, đền thờ Nguyễn Xí, núi Lam Thành, núi Dũng Quyết – Phượng Hoàng Trung Đô, thành cổ Vinh, đình Quỳnh Đôi, di tích Tràng Kè, Truông Bồn, cột mốc số 0 – đường mòn Hồ Chí Minh… Trong đó, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là tài sản tinh thần vô giá, là một loại hình dân ca độc đáo, tạo nên bản sắc văn hóa của người dân xứ Nghệ Di sản đó đã hình thành và nuôi dưỡng nên cốt cách, tâm hồn của người dân nơi đây

Trang 13

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là loại hình di sản văn hóa phi vật thể mang đậm bản sắc văn hóa của người dân Xứ Nghệ, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân Nghệ An Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

đã đáp ứng được các tiêu chí như được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, phản ánh bản sắc văn hóa và sự kế tục những truyền thống tốt đẹp của cộng đồng; di sản có sức sống và sức lan tỏa mạnh mẽ, có những giá trị phổ biến, được thực hành trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội ngày nay

Trước xu thế toàn cầu hóa, nhiều di sản văn hóa phi vật thể trong đó có Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đang có nguy cơ biến mất do quá trình giao lưu văn hóa, đô thị hóa quá nhanh cũng như chúng ta chưa có chính sách bảo vệ thiết thực Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Nghệ An đang đặt ra nhiều thách thức trong gian đoạn hiện nay

Vì vậy, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể nói chung và dân ca Ví, Giặm nói riêng trên địa bàn tỉnh Nghệ An là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Xuất phát từ lý do trên và niềm đam mê tìm hiểu về di sản văn hóa phi vật thể học viên đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Nghệ An” Trong giới hạn của luận văn, học viên đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca

Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An” là cấp thiết và có ý nghĩa cả

về mặt lý luận và thực tiễn Đặc biệt là sau khi được UNESCO ghi danh Dân

ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản và đề xuất những giải pháp quản lý nhà nước để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

Trang 14

Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, thông qua việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng, từ cơ sở đó góp phần đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu

Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà khoa học

Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu, xây dựng hệ thống lý luận về quản lý di sản văn hóa phi vật thể, trong đó, di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được chú trọng Nhiều cuốn sách, đề tài nghiên cứu về Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên nhiều khía cạnh khác nhau Đặc biệt thời gian gần đây, nhiều học phần được đưa vào giảng dạy chính thức ở các cấp học Cụ thể:

Ninh Viết Giao, Thái Kim Đỉnh (1961), át phường Vải, Nxb.Văn học,

Trang 15

Nguyễn Văn Huyên (2003), át đối của nam nữ thanh niên ở Việt

Nam, in trong Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, tập I, Nxb

KHXH, Hà Nội [30]

Ninh Viết Giao (2004), Về văn học dân gian xứ Nghệ, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội [25]

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An (2012), Bảo tồn và phát huy

dân ca xứ Nghệ, Kỷ yếu hội thảo, Nxb Nghệ An [41]

Cao Đăng Vĩnh, Phạm Tiến Dũng, Tạ Quang Tâm (2012), Bảo tồn và

phát huy các giá trị dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ, Nxb Nghệ An [57]

Những tác phẩm này đề cập đến các loại hình, các giá trị của Dân ca

Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, tuyển tập các lời cổ, các bài đối đáp, những nét đặc sắc văn hóa vùng xứ Nghệ, nét đặc sắc của Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh… Về khía cạnh khoa học quản lý, các tác phẩm này chưa đề cập đến, chưa nêu thực trạng hiện nay cũng như đề ra các giải pháp cho hoạt động QLNN về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

Ngoài ra còn có các cuộc hội thảo khoa học tiêu biểu như:

Năm 2002, ội thảo hoa học 30 năm sân hấu hóa dân ca Nghệ

Tĩnh được Sở Văn hóa - Thông tin Nghệ An phối hợp với Viện Sân khấu tổ

chức, tổng kết lại quá trình nghiên cứu, thể nghiệm sân khấu hóa dân ca, đề ra những giải pháp đưa sân khấu hóa dân ca tiếp tục phát triển - xây dựng một hình thức sân khấu mới mang đậm bản sắc Nghệ An

Năm 2011, ội thảo hoa học về Bảo tồn và Phát huy giá trị Dân ca Ví

Giặm và ò nhằm nhìn nhận, khẳng định những giá trị tốt đẹp, vốn có của dân

ca xứ Nghệ để làm báo cáo đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ cho lập Hồ sơ trình UNESCO ghi danh Ví, Giặm xứ Nghệ là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Trang 16

Ngày 14-15/5/2014, Hội thảo khoa học quốc tế về bảo tồn và phát huy giá trị Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh diễn ra tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An với 83 tham luận khoa học, trong đó có 17 tham luận của các học giả đến từ các quốc gia như: Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Bỉ, Lào, Pháp, Thụy Sỹ, Indonesia…

Tuy nhiên, về góc độ quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa có nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào lĩnh vực quản lý nhà nước một cách cụ thể, toàn diện, nhất là giai đoạn từ sau khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Do đó, học viên đã cập nhật những kiến thức lý luận và thực tiễn hiện nay, kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó để làm hướng nghiên cứu và giải quyết những yêu cầu đặt ra cho đề tài luận văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động QLNN về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh nhằm đề ra những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh tại tỉnh Nghệ An, góp phần vào nỗ lực lưu giữ giá trị văn hóa dân gian, truyền thống của Việt Nam nói chung và Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, Luận văn tập trung vào những vấn đề sau: Khái quát cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

Phân tích, đánh giá và xác định nguyên nhân thực trạng quản lý nhà nước

về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh tại tỉnh Nghệ An

Trang 17

Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những lý luận và thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh tại tỉnh Nghệ An

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Nghệ An Thời gian: Nghiên cứu thực trạng được thực hiện từ năm 2009, từ thời điểm Luật Di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung một số điều đến nay, đồng thời nghiên cứu định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh ở tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử trên cơ sở vận dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như:

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: được sử dụng với việc tìm hiểu các

công trình nghiên cứu đi trước, qua đó bổ sung các luận cứ khoa học khi đi vào nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân

ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh Trên cơ sở đó tập trung giải quyết những vấn đề còn vướng mắc về lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trong giai đoạn hiện nay

Trang 18

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: tập trung vào thống kê, báo cáo

thực tế nhằm làm phong phú hơn các tài liệu nghiên cứu, đây là phương pháp giúp tác giả tiếp cận và thu lượm được những thông tin chính xác, bổ sung nguồn số liệu định lượng cho luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài này đóng góp vào kho tàng lý thuyết cho xã hội khi tìm hiểu và nghiên cứu về văn hóa Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh Góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận cho công tác gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại – Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA

PHI VẬT THỂ DÂN CA VÍ, GIẶM NGHỆ TĨNH

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Văn hóa

Văn hóa là một trong những lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình Văn hóa là biểu hiện của trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định

Văn hóa là một phạm trù rất rộng lớn, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì

lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh ấy tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó

mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống

và đòi hỏi của sự sinh tồn” [38]

Như vậy, văn hóa có nhiều khái niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau Từ những quan niệm đó, ta nhận thấy:

Theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất, tinh thần do con

người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, mang tính chất chân, thiện, mỹ và phục vụ cho sự sinh tồn, phát triển của con người, xã hội loài người

Theo nghĩa hẹp, văn hóa là toàn bộ các giá trị tinh thần do con người

sáng tạo, tích lũy trong quá trình lịch sử xã hội

Trang 20

Theo Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 cũng đã thể hiện rõ 8 lĩnh vực lớn của văn hóa bao gồm: Tư tưởng, đạo đức, lối sống, đời sống văn hóa; Di sản văn hóa; Văn học nghệ thuật; Thông tin đại chúng; Giao lưu văn hóa với thế giới; Thể chế và thiết chế văn hóa; Giáo dục và Đào tạo; Khoa học và Công nghệ [46] Đây đều là những lĩnh vực cơ bản và quan trọng của văn hóa, do đó, hoạt động QLNN về văn hóa cũng chú trọng vào những lĩnh vực nói trên

1.1.2 Di sản Văn hóa

Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên,

Hà Nội - Đà Nẵng, xuất bản năm 1998, khái niệm di sản được chú thích là tài sản của người chết để lại; cái của thời trước để lại

Theo Từ điển Hán Việt Từ Nguyên của Bửu kế - Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999 thì khái niệm Di sản được giải thích là: di là để lại, sản là của cải

- của cải giá trị của người chết của người trước để lại Ví dụ: những giá trị quý báu của cha ông chúng ta cần giữ gìn, tiếp thu và phát triển

Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam [32] và Luật Di sản văn hóa sửa đổi, bổ sung năm 2009[33], Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại có vai trò lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta

1.1.3 Di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa phi vật thể cùng với di sản văn hóa vật thể là hai bộ phận hữu cơ cấu thành nên sự đa dạng của kho tàng văn hóa nhân loại Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ và tôn vinh lẫn nhau, nhưng vẫn

có tính độc lập tương đối

Trang 21

Di sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất, chứa đựng những hồi ức sống động của loài người, là bằng chứng vật chất của các nền văn hóa, văn minh nhân loại

Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, chỉ được lưu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác Phần lớn di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể biểu hiện các mặt giá trị thông qua các cử chỉ, hoạt động trình diễn của các nghệ nhân dân gian - những chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu các di sản

Di sản văn hóa vật thể - những thực thể vật chất (tồn tại vật lý) được cấu thành bởi các loại vật liệu khác nhau nên không có khả năng trường tồn mãi mãi cùng nhân loại Chúng ta, chỉ có thể bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại có trong tay kéo dài tuổi thọ, làm cho dạng vật chất đó ổn định, vững chắc (mang tính tạm thời) Đã là dạng vật chất thì tất yếu phải chịu tác động bởi quy luật tự hủy hoại của tự nhiên

Di sản văn hóa phi vật thể, tồn tại phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành vi của các chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản Trong những trường hợp cá biệt, chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản là một cộng đồng cư dân, thì ý chí, khát vọng, nhu cầu, thậm chí lợi ích của họ cũng có tác động không nhỏ đến sự tồn vong của di sản văn hóa phi vật thể Và chính họ

là nhân tố quyết định những di sản văn hóa phi vật thể nào cần được bảo tồn, phương cách bảo tồn, sử dụng và khai thác chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cá nhân và cộng đồng

Theo Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO: “Di sản văn hóa phi vật thể" được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác

và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người

Trang 22

và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên

và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự

kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện Quốc tế hiện hành

về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững [4]

“ Di sản văn hóa phi vật thể” như định nghĩa ở trên, ngoài các lĩnh vực khác, được thể hiện ở những hình thức sau:

a) các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể;

b) nghệ thuật trình diễn;

c) tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội;

d) tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ;

Trang 23

1.1.4 Quản lý nhà nước

QLNN là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học hành chính Với nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng tựu chung lại đều nhằm mục đích đưa ra các luận chứng, lý luận cần thiết để xây dựng phương hướng cải tiến, cải cách nền hành chính nhà nước làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước càng có hiệu lực, hiệu quả hơn

Một số nhà nghiên cứu hành chính, luật pháp cho rằng:

“QLNN là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước (công quyền) để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa – xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã hội và phát triển xã hội theo đúng mục tiêu

đã định” [42]

“QLNN là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước” [14]

QLNN là thuật ngữ chỉ “ Sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước” [52]

Như vậy, có thể hiểu QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Trang 24

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận về thuật ngữ QLNN nhưng thực chất về nội dung, chúng đều có những điểm giống nhau, có những điểm cơ bản phản ánh bản chất của quản lý nhà nước như sau:

Chủ thể của QLNN bao gồm: Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức và

cá nhân được nhà nước ủy quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước Các

cơ quan nhà nước là chủ thể của quản lý nhà nước bao gồm: Cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp

Khách thể của QLNN là trật tự quản lý nhà nước, trật tự xã hội do pháp luật quy định Chúng vừa chứa đựng lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân, vừa bao hàm mục đích mà bên tham gia quan hệ quản lý cùng hướng tới bảo vệ

1.1.5 Quản lý nhà nước về văn hóa

QLNN về văn hóa được hiểu là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa Cụ thể:

Chủ thể quản lý văn hóa: Nhà nước, các tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương

Khách thể quản lý văn hóa: Các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hóa hoặc có liên quan đến lĩnh vực văn hóa, các hoạt động văn hóa, các giá trị văn hóa

Mục đích quản lý văn hóa: Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần của dân tộc

Trang 25

1.1.6 Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể

QLNN về di sản văn hóa phi vật thể là việc thiết lập cơ sở pháp lý và khoa học – công cụ quản lý để tác động lên đối tượng quản lý nhằm bảo tồn

và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc

Về bản chất, quản lý di sản văn hóa phi vật thể là quản lý các hoạt động của con người/cộng đồng xã hội (nghiên cứu, kiểm kê, xếp hạng, tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị…) có thể tác động ở cả hai chiều thuận và nghịch tới di sản văn hóa phi vật thể Như vậy, cũng có thể hiểu, quản lý di sản văn hóa phi vật thể là thiết lập mối quan hệ gắn bó giữa cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và cộng đồng dân cư địa phương nơi có di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ, phát huy Người ta thường đề cập đến những hoạt động chính như: Bảo vệ di sản về mặt pháp lý và khoa học; Bảo vệ di sản về mặt khoa học – kỹ thuật; Phát huy giá trị di sản gắn với phát triển bền vững kinh tế, xã hội

Về mặt chiến lược, quản lý di sản văn hóa phi vật thể đặt ra những nhiệm vụ chính phải thực hiện là:

Nhận dạng các mặt giá trị tiêu biểu của di sản văn hóa phi vật thể và tình trạng kỹ thuật, hiện trạng môi trường thiên nhiên, xã hội xung quanh di sản

Làm rõ các yếu tố tác động tới di sản theo cả hai chiều thuận và nghịch

để có định hướng kiểm soát được những tác động tiêu cực làm ảnh hưởng tới

sự toàn vẹn và suy giảm giá trị của di sản

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp giảm thiểu các xung đột có thể xảy ra trong quá trình bảo tồn và phát triển, cũng tức là tạo lập sự cân bằng động giữa bảo tồn di sản văn hóa và phát triển kinh tế xã hội

Phát huy giá trị, truyền thống giáo dục, hình thành thái độ ứng xử văn hóa cho các cộng đồng có hoạt động liên quan tới di sản văn hóa phi vật thể

Trang 26

Huy động các nguồn lực xã hội, đồng thời đầu tư thỏa đáng cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản

1.2 Giới thiệu chung về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

1.2.1 Tên gọi, nguồn gốc và quá trình phát triển

Tên gọi:

Trước đây, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh có nhiều tên gọi như: Dân ca

hò, ví, giặm xứ Nghệ; dân ca xứ Nghệ; dân ca Nghệ Tĩnh… Những tên này được sử dụng mà không có sự tranh cãi, phản đối nào Từ khi UBND hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hoàn thành hồ sơ trình UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại thì tên gọi “Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh” được các nhà quản lý, các nhà khoa học thống nhất và thông cáo báo chí

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh ra đời từ trong lao động sản xuất, là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân ca chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Loại hình nghệ thuật này phổ biến trong đời sống của các cộng đồng xứ Nghệ, được hát trong hầu hết mọi hoạt động đời thường Môi trường diễn xướng của Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là hát phường, hát hội, hát trong các làng nghề truyền thống, hát ở sân đình, hát ở trên song, hát trên đồng lúc đi cấy, hát trên rừng lúc hái củi…

Dân ca Ví, Giặm là “thổ sản” độc đáo trong kho tàng dân ca Nghệ Tĩnh, thể hiện đậm nét bản sắc riêng của con người xứ Nghệ Hát Ví, hát Giặm đã tồn tại hàng trăm năm nay trong đời sống nhân dân xứ Nghệ, được lưu truyền qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay Trong quá trình ấy có những làn điệu được giữ nguyên gốc nhưng cũng có những làn điệu được sáng tác, cải biên

Trang 27

Lịch sử, nguồn gốc ra đời của Ví, Giặm xứ Nghệ có nhiều tài liệu nghiên cứu khác nhau Dân ca Ví, Giặm bắt nguồn từ cuộc sống và bộc lộ những sắc thái tính cách, tâm hồn con người, vùng đất sáng tạo ra nó Hàng thế kỷ qua, dân ca Ví, Giặm đã ra đời và gắn bó với cuộc sống lao động, thể hiện sự đa dạng của nghề nghiệp, lối sống, sinh hoạt văn hóa cũng như tâm tư, tình cảm của cư dân Việt ở vùng đất Nghệ Tĩnh

Từ thế kỷ XVII - XVIII thì hát Ví, Giặm đã phát triển và trở thành hình thức trình diễn dân gian phổ biến của cộng đồng với sự tham gia của nhiều tầng lớp, từ người lao động đến văn nhân, nho sĩ như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Quýnh Đây là thời kỳ Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh phát triển và trở thành hình thức trình diễn dân gian phổ biến của cộng đồng

Từ thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX (khoảng năm 1945), dân ca Ví, Giặm được lưu truyền rộng rãi, hình thức sinh hoạt tự túc, bình dân gắn với lao động nghề nghiệp như quay tơ dệt vải, cày cấy, trèo non hay chèo thuyền trên sông nước

Từ 1945 đến nay, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã có những thay đổi về môi trường diễn xướng, về hình thức thể hiện, về đề tài phù hợp với sự thay đổi của hình thái kinh tế - xã hội và nhu cầu của công chúng Cụ thể:

Từ 1945 - 1975, sinh hoạt Ví, Giặm ở các làng, xã không được quan tâm và không được diễn ra thường xuyên và công khai như trước Sinh hoạt dân ca dưới hình thức cộng đồng, tập thể bị lắng xuống Thay vào đó, dân ca

đã được sinh hoạt dưới một hình thức mới, dân ca được đưa vào cổ vũ, động viên tinh thần cho bộ đội trong chiến trường

Trang 28

Từ 1976 - 1995, thời kỳ này hòa bình được lập lại, để phù hợp với sự phát triển của xã hội và nhu cầu cuộc sống hiện đại, dân ca cũng được chuyển hóa từ hình thức diễn xướng dân gian lên hình thức diễn xướng chuyên nghiệp

Từ 1995 đến nay, đất nước đã đi vào ổn định, đời sống kinh tế được cải thiện, sinh hoạt dân ca đang dần được phục hồi trở lại trong các đội văn nghệ, các lễ mít tinh, hội họp đoàn thể, lễ hiếu, hỉ, mừng sinh nhật, mừng thọ,

Có thể khẳng định rằng Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh từ sơ khai đến ngày nay dù lúc thăng lúc trầm, đó là một sự phát triển xuyên suốt và không

hề đứt quãng Ngược lại nó đã cho ta thấy một sức sống mạnh liệt, thấy được những giá trị đặc sắc của loại hình văn hóa nghệ thuật độc đáo này Nó trở thành món ăn tinh thần không chỉ của riêng 2 tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh mà của

cả người dân ở hầu khắp mọi vùng miền nước Việt

1.2.2 Phân loại

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được phân thành hai loại chính: thể hát Ví

và thể hát Giặm, cụ thể:

Thứ nhất, thể hát Ví

Nhiều người cho rằng Ví là ví von, so sánh; hoặc Ví là Với, bên nam hát

“với” bên nữ Hát Ví còn có nghĩa là hát Vói, bên nam đứng ngoài đường,

ngoài ngõ “hát vói” vào sân, vào nhà với bên nữ, người ở ruộng này “hát vói” sang ruộng kia, người đi trên đường “hát vói” với người ở dưới ruộng , nghĩa

là giao tiếp bằng lời hát trên một không gian rộng

Ví thường là hát tự do, phoáng khoáng, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co giãn một cách ngẫu hứng Âm điệu cao thấp, dài ngắn tuỳ thuộc vào trường độ của lời thơ, vào vần, bằng hay trắc, kết cấu ít từ hay nhiều từ Ví thuộc thể ngâm vịnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể

Trang 29

Hát ví ra đời từ lao động sản xuất, gắn liền với không gian, môi trường diễn xướng Do đó, tính biểu cảm của hát ví tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời gian và tình cảm diễn xướng (tâm tình của người hát) Âm vực của ví thường không quá một quãng 8 Tình điệu ví nghe trang trải mênh mang sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình Tuy vậy, vẫn có loại ví ghẹo

và ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước, nghịch ngợm hồn nhiên tươi trẻ

Hát ví hát giao duyên nam nữ được phổ biến vùng Nghệ Tĩnh, các thể

kỷ trước dùng để trao đổi tình cảm giữa đôi trai gái Vào các đêm trăng sáng thường đi ngắm trăng Hát theo lối tường thuật ngẫu hứng một câu chuyện nào đó trong quá trình lao động và nông nhàn, trong lối sống thường nhật lâu dần được dân gian hóa

Mỗi làn điệu Ví có một tên gọi gắn bó với từng lĩnh vực, ngành nghề lao động cụ thể như: ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví trèo non, ví mục đồng, ví chuỗi, ví ghẹo

Người ơi! Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục Thì biết sông cuộc đời răng là nhục là vinh Thuyền em lên thác xuống ghềnh Nước non là nghĩa là tình ai ơi

có 5 câu (câu 5 thường điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ (không kể phụ âm

Trang 30

đệm) Tuy vậy, cũng có những bài “giặm vè” không phân khổ rõ ràng, mà cứ hát một lèo, có khi đến hàng chục hàng trăm câu, và mỗi câu cũng không nhất

nhất 5 chữ mà có thể 4 hoặc 6, 7 chữ (do lời thơ biến thể)

Giặm rất giàu tính tự sự, trữ tình, kể lể khuyên răn, phân trần, giãi bày Cũng có loại dặm dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng và có cả dặm trữ tình giao duyên

Có các làn điệu của hát dặm như: Dặm xẩm, dặm nối, dặm vè, dặm của quyền, dặm kể…

Thương anh lắm anh ơi Chứ nhớ anh lắm anh ơi Chứ thương đáo để cục nhôi Nhớ ngao ngán trần đời

Ngoài hai thể hát Ví và hát Giặm, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh còn có thể hát Hò và thể hát Ru rất đặc sắc Hò thường mô phỏng các nhịp điệu lao động như Hò khoan, Hò dật, Hò xẻ gỗ, Hò kéo lưới, Hò đi đường… điệu hò thường mang màu sắc trưởng với quãng bốn đặc trưng nghe rất sáng và khỏe Hát ru là thể loại nhạc sơ khai nhất, giai điệu đơn giản, có tính trùng lặp, nhịp điệu tự do, ngâm nga Những câu ru chủ yếu là trong tục ngữ, ca dao, dân ca của từng vùng miền và người ru tự sáng tạo ra

1.2.3 Nghệ nhân

Nhìn chung, nghệ nhân dân ca có những đặc thù nhất định Số lượng vốn ít nay lại đứng trước sự mai một của những con người được xem là

“bảo tàng sống” của di sản Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

Theo số liệu hiện có, số lượng nghệ nhân hiện nay ở Nghệ An còn lại rất ít, và đã ở độ tuổi “xưa nay hiếm”, có những người không còn sinh sống ở

Trang 31

địa phương Chính quyền tỉnh Nghệ An đã có những động thái quan tâm đến chính sách, chế độ cho các nghệ nhân Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 919 nghệ nhân dân gian thuộc lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể

Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An đã tôn vinh được 23 nghệ nhân đàn hát dân ca (trong dịp đi sưu tầm, khảo sát dân ca những năm 1975 – 1980) Hội văn nghệ dân gian Việt Nam vinh danh 8 nghệ nhân dân gian hát dân ca (chủ yếu hát Ví ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn) Hiện nay, chỉ còn lại 6 nghệ nhân và đều đang ở độ tuổi xưa nay hiếm Hiện, TTBT&PHDS dân ca xứ Nghệ đang xúc tiến lập hồ sơ đề nghị UBND tỉnh Nghệ An phong tặng danh hiệu nghệ nhân dân gian cho những nghệ nhân dân ca hát – trao truyền dân ca xứ

Nghệ tiêu biểu ở một số huyện, thị

Công tác thống kê các nghệ nhân đã truyền nghề cho bao nhiêu thế hệ và

truyền được bao nhiêu làn điệu hiện nay là rất khó xác định Hầu hết các cụ còn

thể hiện những đoạn hát khá rõ ràng, tuy nhiên, hoạt động truyền dạy cho lớp trẻ tại địa phương còn vắng bóng, chủ yếu truyền dạy cho các thành viên trong câu lạc bộ khi đến dịp hội diễn

1.3 Vai trò quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

1.3.1 Định hướng hoạt động

Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh nhằm định hướng và vạch ra đường đi cho Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trong quá trình bảo tồn và phát triển Trong bối cảnh Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đứng trước nguy cơ dần mai một, việc định hướng hoạt động là vô cùng quan trọng và cần thiết

Trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian nói chung, di sản văn hóa phi vật thể nói riêng

Trang 32

trong chính sách xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh cần hoạt động theo các định hướng cụ thể như sau:

Thứ nhất, bảo tồn và phát huy toàn diện, tổng thể Dân ca Ví, Giặm

Nghệ Tĩnh Bảo tồn và phát huy di sản Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh cần được thực hiện toàn diện và tổng thể trên các mặt:

- Nội dung văn học của di sản Ví – Giặm: kho tàng về ngôn ngữ, thể loại

- Âm nhạc: cả làn điệu nguyên gốc và làn điệu cải biên

- Bảo tồn và phát triển không gian diễn xướng

- Nguồn nhân lực: các nghệ nhân, diễn viên

- Tập quán xã hội: lề lối sinh hoạt, phong cách sinh hoạt…

Thứ hai, vừa thực hiện bảo tồn “tĩnh” vừa thực hiện bảo tồn “động”

Có thời kỳ, khi môi trường diễn xướng dân ca đã không còn phù hợp với nhịp sống mới, chúng ta đã có những nhìn nhận khác nhau về phương pháp bảo tồn các giá trị di sản văn hóa Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh Có lúc, chúng ta chỉ muốn được bảo tồn “tĩnh” di sản Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chủ yếu được lưu vào tư liệu thành văn (lưu giữ trong các công trình nghiên cứu, sưu tầm của các nhạc sĩ, nhà khoa học) mà ít hoặc hầu như bị lãng quên trong đời sống nhân dân Chính điều này mà trong một thời gian dài, các làn điệu gốc đã bị mai một, các nghệ nhân dân gian ra đi theo thời gian

Vì vậy, trong công tác bảo tồn di sản Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh cần tránh quan điểm định hướng bảo tồn cực đoan của các nhà bảo tàng học: phải giữ nguyên như cổ truyền, đó là quan điểm có tính bảo thủ Dân ca dù không còn thích hợp với môi trường đồng ruộng, quay tơ, dệt vải thì cũng cần được bảo tồn trong nhân dân bằng cách phục dựng, thay thế bằng môi trường diễn xướng mới Có như vậy, di sản mới có thể tồn tại

Trang 33

Thứ ba, vừa giữ gìn giá trị gốc vừa khuyến khích sáng tạo cách tân, cải

biên Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

Di sản Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh cũng như hầu hết các di sản văn hóa phi vật thể khác, không chỉ gắn bó với các chủ thể văn hóa mà còn hòa quyện vào không gian sinh thái – nhân văn, nơi chúng được sáng tạo ra và đang diễn biến, tiếp diễn trong đời sống đương đại của cộng đồng cư dân xứ Nghệ Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh hàm chứa những yếu tố mang tính lịch sử, đồng thời mang hơi thở của thời đại mà chủ thể văn hóa cũng như chủ sở hữu

nó đang sống và làm việc, truyền thống nào cũng luôn luôn được lịch sử bồi đắp và bổ sung Chính vì thế, định hướng hoạt động di sản Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh phải vừa giữ gìn được những giá trị gốc vừa khuyến khích sáng tạo cách tân, cải biên để phù hợp với thời đại

1.3.2 Điều chỉnh hoạt động di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

Việc điều chỉnh nhằm hướng các hoạt động của di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đi vào chiều sâu, tránh tình trạng hoạt động phân tán, nhỏ lẻ không hiệu quả

Thực tế hiện nay, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh hoạt động chưa đi vào nề nếp, hoạt động chưa có chiều sâu và theo đúng quy hoạch, kế hoạch của các cấp quản lý Các hoạt động dạy hát trên phát thanh – truyền hình, hoạt động đưa Dân

ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vào trường học… và đặc biệt là hoạt động của các CLB Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chưa thực sự mang lại hiệu quả

Để có được hiệu quả lâu dài mang tính bền vững cần có các cấp quản lý quan tâm, điều chỉnh các hoạt động hướng đến bảo tồn và phát huy tối đa giá trị di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

Trang 34

1.3.3 Hỗ trợ, tạo điều kiện cho di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh phát huy giá trị

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh mang những giá trị to lớn như:

Thứ nhất, giá trị văn hóa: Sự ra đời của Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã

góp phần làm đa dạng thêm kho tàng văn hóa dân gian của dân tộc Việt Nam Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh từ nội dung đến ngôn từ đều thể hiện lối sống, sinh hoạt hàng ngày của người dân nơi đây Đây chính là biểu hiện của giá văn hóa tín ngưỡng dân gian Ở góc độ văn học và âm nhạc, Ví, Giặm đã thể hiện tài năng sáng tạo của nhân dân lao động bằng một kho tàng đồ sộ những câu thơ độc đáo, sâu sắc về nội dung, điêu luyện về nghệ thuật

Thứ hai, giá trị truyền thống lịch sử: Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh mang

giá trị truyền thống lịch sử lâu bền gắn liền với sự hình thành và phát triển của đất nước Nội dung mà Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh thể hiện đã ghi lại những dấu mốc lịch sử quan trọng của đất nước trong suốt chiều dài lịch sử dựng và giữ nước của nhân dân ta Những sự kiện và nhân vật lịch sử được thể hiện trong nội dung của Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là điểm sáng trong giáo dục

truyền thống lịch sử

Thứ ba, giá trị nhân văn: Thông qua nội dung và nét đặc trưng của

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã mang tới những giá trị nhân văn sâu sắc cho cuộc sống đương đại Đó chính là ca ngợi cái cao quý cái đẹp, trân trọng cái truyền thống quý báu nhằm giáo dục ý thức hành động của con người Giá trị nhân văn ấy thể hiện qua việc giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn; hướng về nguồn côi; khắc ghi công ơn của tổ tiên, người

có công với dân với nước Đó chính là nét đẹp truyền thống của dân tộc ta bao đời nay Giá trị nhân văn mà Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh mang lại đó chính là giáo dục con người, hướng con người tới những điều tốt đẹp

trong cuộc sống

Trang 35

Thứ tư, giá trị khoa học: Khi tìm hiểu về Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh,

những người quan tâm có điều kiện tiếp cận một kho tàng tư liệu về lịch sử- văn hoá, trong đó lưu giữ những giá trị đặc sắc về tri thức dân gian, nghệ thuật trình diễn, âm nhạc… Về mặt ca từ, dân ca Ví, Giặm là nơi lưu giữ nhiều vốn ngôn ngữ cổ Về thể thơ, Ví, Giặm xứ Nghệ là lối hát ứng tác -

ứng khẩu mà thành thơ, thành nhạc

Thứ năm, giá trị inh tế: Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh mang lại giá trị

về kinh tế Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhận loại là một lợi thế rất lớn cho tỉnh Nghệ An để phát triển du lịch Đây là điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với du lịch và thưởng thức nghệ thật Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh Kéo theo đó là sự phát triển của nhiều loại hình dịch vụ khác trên địa bàn tỉnh Nghệ An góp phần đáng kể trong việc phát tiển kinh tế

địa phương, giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người dân

Từ những giá trị to lớn kể trên, ta thấy rằng việc hỗ trợ, tạo điều kiện cho di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh phát huy tối đa các giá trị là

vô cùng cần thiết và cấp bách Để làm được điều đó chúng ta cần có một hệ thống quản lý, chính sách và điều hành hiệu quả Trước mắt, chúng ta cần:

- Xây dựng và ban hành các chính sách về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh từ cấp trung ương đến địa phương

- Nghiên cứu đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và cơ cấu tổ chức của các đơn vị chuyên môn, đơn vị sự nghiệp trực tiếp quản lý di sản, các hội văn học nghệ thuật từ trung ương đến địa phương theo phương thức xã hội hóa

Trang 36

1.4 Các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

1.4.1 Yếu tố khách quan

Thứ nhất, quá trình toàn cầu hóa cùng với những tác động tiêu cực của

nền kinh tế thị trường, nhiều loại hình văn hóa không lành mạnh đã du nhập vào nước ta, cùng với đó là những giá trị truyền thống, những di sản văn hóa mang bản sắc dân tộc đang dần bị biến tướng, có nguy cơ mai một vĩnh viễn

và có thể bị rút danh hiệu “di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại” Toàn cầu hóa là quá trình tất yếu không thể chối bỏ, mà ngược lại, chúng ta phải chủ động hội nhập để tranh thủ tận dụng những cơ hội mà nó đưa lại nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia chỉ có thể xây dựng nguồn nội lực đủ mạnh trên cơ sở một nền tảng tinh thần thật vững chắc, đó là bản sắc văn hóa dân tộc và tính thống nhất trong đa dạng văn hóa Điều này càng khẳng định vai trò, vị trí và tầm quan trọng của di sản văn hóa trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Thực tế đã chỉ rõ, toàn cầu hóa không chỉ là cơ hội, mà kèm theo đó còn là những thách thức không nhỏ cần khắc phục như: sự áp đặt có chủ đích lối sống phương Tây xa lạ với phong tục, tập quán của cộng đồng dân tộc Việt Nam; xu thế “đua đòi”, tiếp thu thiếu chọn lọc những yếu tố văn hóa ngoại lai trong lớp trẻ hiện nay cũng là một thách thức không nhỏ

Thứ hai, sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, internet đã

tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực văn hóa Đối với Di sản văn hóa phi vật thể, việc quản lý trong thời đại công nghệ thông tin lại càng đặt ra những vấn đề mới cần được giải quyết

Trang 37

Thứ ba, tác động tiêu cực, mặt trái của quá trình công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước làm cho xã hội biến đổi sâu sắc, đặt ra những vấn đề nan giải trong quản lý Làm sao để hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, làm sao để phát triển có chọn lọc, không lạc hậu mà vẫn đáp ứng được sự tiến bộ vượt bậc của xã hội, làm sao để hòa nhập mà không hòa tan… Đó là những câu hỏi lớn đặt ra đối với các nhà quản lý về di sản văn hóa phi vật thể Hiện nay, mức độ đô thị hóa ngày càng cao, công cuộc xây dựng nông thôn mới, xã hội ngày càng phát triển làm cho lối sống, phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt hàng ngày của nhân dân lao động thay đổi Điều này cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể

Thứ tư, việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật

thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có một ý nghĩa lớn lao và quan trọng Cơ chế thị trường làm cho tích cực xã hội được phát huy Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng tiềm ẩn những khó khăn, rủi

ro và phức tạp Mặt trái của cơ chế thị trường tác động đến từng cá nhân, gia đình, quan hệ xã hội, đòi hỏi phải có sự đổi mới của công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể, tạo hành lang pháp lý để đảm bảo cho sự phát triển văn hóa dân tộc theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước trong cơ chế thị trường

1.4.2 Yếu tố chủ quan

Thứ nhất, chủ trương, chính sách, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

về quản lý văn hóa nói chung và quản lý di sản văn hóa phi vật thể nói riêng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả quản lý di sản văn hóa Rõ ràng, có một

hệ thống pháp lý đầy đủ, cụ thể, chi tiết thì việc quản lý càng đạt hiệu quả cao

Thứ hai, Bộ máy nhà nước chuyên quản lý nhà nước về di sản văn hóa

còn cồng kềnh; quản lý văn hóa nói chung và quản lý di sản văn hóa phi vật

Trang 38

thể nói riêng đòi hỏi sự hợp tác của các đơn vị, các ngành lĩnh vực khác nhưng trên thực tế việc phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa có nhiều; việc phân định chức năng, nhiệm vụ còn chưa rõ rang dẫn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý là yếu tố ảnh

hưởng lớn hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Đội ngũ quản lý càng có kinh nghiệm, trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức thì hoạt động quản lý càng đạt hiệu quả cao nhất

Thứ tư, nguồn tài chính là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động quản

lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Hàng năm, nguồn ngân sách từ trung ương, nguồn thu từ các dự án, các nguồn tài trợ, viện trợ, ủng hộ của các cá nhân tổ chức là động lực để các nhà quản lý đẩy mạnh công tác bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa phi vật thể thông qua các hoạt động cụ thể Không

có nguồn tài chính, hoạt động quản lý di sản văn hóa phi vật thể rất khó khăn

và dẫn đến nhiều hệ lụy Bởi lẽ, nếu không có nguồn tài chính duy trì các hoạt động, di sản văn hóa phi vật thể dần mai một qua năm tháng, dẫn đến nguy cơ

bị tước danh hiệu, mất đi giá trị truyền thống mà ông cha để lại…

Thứ năm, nhận thức của cộng đồng về công tác bảo tồn và phát huy giá

trị di sản văn hóa phi vật thể cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến công tác quản

lý Công tác tuyên truyền, kêu gọi hưởng ứng từ toàn dân trong công cuộc bảo

vệ, gìn giữ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể sẽ có hiệu quả cao nếu người dân ý thức được trách nhiệm của mình cũng như thấy được vai trò của mỗi người trong công cuộc chung của toàn xã hội không riêng gì của các nhà quản lý Ngược lại, nhận thức yếu kém, cùng với suy nghĩ cho rằng đó là việc của các nhà quản lý, thì đó lại là thách thức lớn đối với công cuộc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể Đặc thù của di sản văn hóa phi vật thể mang tính

Trang 39

nước về văn hóa sẽ ảnh hưởng không nhỏ và đòi hỏi các nhà quản lý cần có cách thức, biện pháp để nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong công cuộc chung về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể

1.5 Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

1.5.1 Thể chế quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

QLNN về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh trước hết là việc xây dựng và ban hành, tổ chức thực thi các văn bản pháp luật về hoạt động QLNN về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh Đây là công cụ quan trọng và hữu hiệu trong công tác quản lý

Từ khi nhà nước xuất hiện pháp luật đã thể hiện vai trò của mình và ngày càng được chú trọng để hoàn thiện hơn trong việc quản lý xã hội Vì vậy cũng như những lĩnh vực khác, pháp luật là công cụ quan trọng nhất để điều chỉnh các hoạt động nhằm mục tiêu quản lý di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

Hiến pháp 2013 của Việt Nam, Điều 60, Chương III quy định: Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng

và lành mạnh của Nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của Nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam

có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân [25]

Trang 40

Nhà nước đã xây dựng một hành lang pháp lý thống nhất để bảo tồn

và phát huy hệ thống di sản văn hóa thông qua các văn bản và các văn bản

đó đã cụ thể hóa chính sách, phương hướng, mục tiêu cũng như những cách thức để thực hiện hoạt động bảo tồn, phát huy di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể nói riêng trong đó có di sản văn hóa phi vật thể Dân

ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

Trong Nghị quyết TW 5 (khóa VIII, thông qua ngày 16/07/1998) về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: "Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian, văn hóa cách mạng ) bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể" [16]

Bên cạnh đó, Đại hội Đảng lần thứ XI cũng đưa ra chiến lược phát triển văn hóa - xã hội cho giai đoạn 2011 - 2020: "Xây dựng và nâng cấp đồng bộ

hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao Coi trọng bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân" [18]

Như vậy, Nhà nước đã đề cập đến việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa như một vấn đề không thể thiếu trong quá trình xây dựng đất nước, hướng đến việc xây dựng, bảo tồn và kế hoạch thực hiện việc xây dựng, bảo tồn di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể nói riêng cùng với chiến lược phát triển đất nước

Luật di sản văn hóa năm 2011 đã dành trọn vẹn chương II, từ điều 17 đến điều 21 để đề cập vấn đề di sản văn hóa phi vật thể từ trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan Nhà nước đến các nguyên tắc bảo vệ và phát huy

Ngày đăng: 28/12/2020, 17:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w