BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA SOM LI VA NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP TỈNH CỦA TỈNH U ĐÔM XAY, NƯỚC CỘNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
SOM LI VA
NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ
CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP TỈNH
CỦA TỈNH U ĐÔM XAY, NƯỚC CỘNG HÒA
DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
SOM LI VA
NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ
CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP TỈNH
CỦA TỈNH U ĐÔM XAY, NƯỚC CỘNG HÒA
DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI HUY KHIÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là những nghiên cứu của cá nhân tôi Các kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Nội dung luận văn có sử dụng tài liệu tham khảo đều được trích dẫn nguồn một cách đầy đủ và chính xác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Som Li Va
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, trách nhiệm và hiệu quả của PGS.TS Bùi Huy Khiên, người đã hết lòng giúp
đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo trong Học viện Hành chính đã tận tình giúp đỡ, giảng dạy, truyền thụ kiến thức Trân trọng cảm ơn lãnh đạo và chuyên viên các các Sở, ban, ngành trong tỉnh U Đôm Xay đã quan tâm, giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Som Li Va
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰCTHỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP TỈNH 9
1.1 Công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 9
1.1.1 Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 9
1.1.2 Đặc điểm của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 12
1.1.3 Vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 17
1.1.4 Tiêu chuẩn của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 19
1.2 Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 25
1.2.1 Khái niệm năng lực thực thi công vụ 25
1.2.2 Các yếu tố cấu thành nên năng lực thực thi công vụ 27
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 32
1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 35
1.3.1 Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 35
1.3.2 Do đòi hỏi của chính sách mở cửa hội nhập, xây dựng nền hành chính nhà nước chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả 36 1.3.3 Những hạn chế về năng lực của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 37
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 39
Trang 61.4.1 Các yếu tố chủ quan 39
1.4.2 Các yếu tố khách quan 42
1.5 Bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng công chức ở một số quốc gia và giá trị tham khảo cho Lào 43
1.5.1 Việt Nam 43
1.5.2 Thái Lan 44
1.5.3 Một số nhận xét và các giá trị tham khảo cho Lào 45
Tiểu kết chương 1 48
Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN TỈNH U ĐÔM XAY, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN LÀO 49
2.1 Khái quát về tỉnh U Đôm Xay, Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 49
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh U Đôm Xay, Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 49
2.1.2 Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến năng lực thực thi công vụ công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 55
2.2 Thực trạng công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay 56
2.2.1 Về phẩm chất chính trị, đạo đức 56
2.2.2 Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 58
2.2.3 Về kỹ năng làm việc 61
2.3 Phân tích thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chứccác cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay 63
2.3.1 Chất lượng thực thi công vụ 63
2.3.2 Sự hài lòng của đối tượng được phục vụ 66
Trang 72.4 Đánh giá chung về năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ
quan chuyên môn tỉnh của tỉnh U Đôm Xay 70
2.4.1 Những ưu điểm 70
2.4.2 Những hạn chế 72
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 74
Tiểu kết chương 2 76
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN
CHUYÊN MÔN TỈNH U ĐÔM XAY, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 77
3.1 Phương hướng nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn tỉnh U Đôm Xay 77
3.1.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Lào về nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 77
3.1.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng ủy và chính quyền tỉnh U Đôn Xay về nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức của tỉnh 81 3.2 Các giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn tỉnh U Đôm Xay 85
3.2.1 Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và tuyển dụng công chức 85
3.2.2 Đổi mới công tác bố trí, phân công việc cho công chức 87
3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức 90
3.2.4 Hoàn thiện công tác đánh giá, khen thưởng, kỷ luật công chức 92
3.2.5 Đầu tư cơ sở vật chất, cải thiện môi trường và điều kiện làm việc 97
3.2.6 Thực hiện cơ chế thanh tra, kiểm tra công chức 99
3.2.7 Nâng cao tính tự giác và ý thức trách nhiệm thực thi công vụ của công chức 102
Trang 83.2.8 Thực hiện các chế độ, chính sách đối với công chức 104
3.3 Kiến nghị với Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan chức năng tỉnh U Đôm Xay 106
3.3.1 Đối với Trung ương 106
3.3.2 Đối với tỉnh U Đôm Xay 107
Tiểu kết chương 3 108
KẾT LUẬN 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Trình độ chuyên môn của công chức tại 16 cơ quan chuyên môn cấp tỉnh U Đôm Xay 58 Bảng 2.2 Trình độ lý luận chính trị của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh U Đôm Xay 59 Bảng 2.3 Trình độ kiến thức quản lý nhà nướccủa công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh U Đôm Xay 60 Bảng 2.4 Trình độ ngoại ngữ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh U Đôm Xay 60 Bảng 2.5 Trình độ tin học của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh U Đôm Xay 61 Bảng 2.6 Mức độ đáp ứng các kỹ năng cần thiết của công chức 62
Trang 10Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân
Cơ quan hành chính nhà nước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cải cách hành chính
Cơ quan chuyên môn Cán bộ, công chức Đào tạo, bồi dưỡng
Ủy ban nhân dân
Trang 111
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Như chúng ta đã biết chính quyền địa phương là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực và là đầu mối đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào thực tiễn cuộc sống Đội ngũ công chức cấp tỉnh là đội ngũ cán bộ quan trọng,
là cầu nối giữa Đảng với dân, cấp Trung ương với địa phương Đây là đội ngũ cán bộ trực tiếp thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật từ cấp trên đồng thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với cấp trên Bên cạnh đó đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh phải giải quyết các công việc hàng ngày, tự quản mọi mặt ở địa phương
Các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh là cấp có vai trò quan trọng vừa là cấp chỉ đạo, vừa là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật cuả Nhà nước Trong quá trình thực thi công vụ cấp tỉnh phải chịu sự giám sát trực tiếp của cấp trên và của nhân dân Để xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, trong sạch, vững mạnh và hiện đại đòi hỏi đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh phải có năng lực, trình độ chuyên môn để đảm nhiệm những chức trách được giao có hiệu quả
Chính vì lẽ đó nâng cao năng lực thực thi công vụ công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh là nhiệm vụ trọng yếu, là yếu tố quyết định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công cuộc cải cách hành chính nhà nước ở Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay
Trước những yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Tỉnh ủy và chính quyền tỉnh U Đôm Xay luôn chú trọng đến nâng cao năng lực thực thi công vụ công chức các cơ quan chuyên môn Tỉnh đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức
Trang 122 các cơ quan chuyên môn, nâng cao chất lượng tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cho công chức, tạo môi trường và động cơ làm việc cho công chức, qua đó góp phần nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức, xây dựng được đội ngũ công chức vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực chuyên môn để thực hiện các nhiệm vụ được giao, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng Đảng, Chính quyền đảm bảo an ninh-chính trị-quốc phòng ở địa phương
Tuy nhiên trình độ và năng lực của công chức các cơ quan chuyên môn của tỉnh U Đôm Xay hiện nay vẫn còn thấp, chưa tương ứng với đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế và công cuộc cải cách hành chính Thiếu kiến thức quản lý nhà nước, chưa nắm bắt kịp thời pháp luật, chưa cập nhật ngoại ngữ, tin học và kỹ năng hoạt động hành chính Tinh thần trách nhiệm của đội ngũ công chức còn thấp, trì trệ, chậm đổi mới Thực hiện nếp sống, văn hóa công sở, giao tiếp hành chính trong công sở và thái độ ứng xử của một bộ phận công chức chưa đạt yêu cầu, chưa tuân thủ các chuẩn mực Một số công chức sa sút về phẩm chất đạo đức, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu gây phiền hà cho nhân dân Vì vậy việc nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay là rất cần thiết và cấp bách
Xuất phát từ những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài: “Nâng cao
của tỉnh U Đôm Xay, Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân Dân Lào” làm đề tài
nghiên cứu luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Liên quan tới đề tài luận văn đã có nhiều công trình khoa học như các công trình của Bộ Nội vụ, Học viện Hành chính Quốc gia Việt Nam Một số đề tài khoa học, luận án, luận văn, bài báo nghiên cứu về nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức của nhiều tác giả trong nước và ngoài nước
Trang 133 Chủ đề liên quan đến nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức có nhiều công trình đã được công bố và được nhìn nhận, đánh giá dưới các góc độ khác nhau
- PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm đồng chủ
biên (2001): Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội Đây là công trình được khá nhiều người quan tâm, đề cập đến nhiều nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
- TS Nguyễn Thị Hồng Hải, Một số vấn đề phát triển năng lực thực thi
công vụ của công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính,tham luận
tại Hội thảo: Cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà khoa học năm 2010 Bài tham luận, nhưng có thể tham khảo về các vấn đề phát triển năng lực thực thi công vụ của công chức đáp ứng yêu cầu CCHC
- TS Trần Anh Tuấn: “Vấn đề công vụ và trách nhiệm công vụ trong
Luật Cán bộ, công chức”; Caicachhanhchinh.gov.vn/…/ Tạp chí tổ chức nhà
nước Tác giả đã đưa ra các khái niệm về công vụ, trách nhiệm công vụ, thực trạng và định chế trách nhiệm công vụ trong Luật Cán bộ, công chức; đồng thời đề cập đến các nội dung cần chú ý về trách nhiệm công vụ khi triển khai thực
hiện Luật Cán bộ, công chức
- TS Ngô Thành Can: "Chất lượng thực thi công vụ - vấn đề then chốt của cải cách hành chính"; isos.gov.vn/ / Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước
Tác giả đã đưa ra quan điểm về chất lượng thực thi công vụ, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ; đánh giá thực trạng thực thi công vụ
và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực thi công vụ
- PGS.TS.Nguyễn Trọng Điều: "Hoàn thiện chế độ công vụ và nâng
cao chất lượng đội ngũ công chức"; Tạp chí Cộng sản, số tháng 2/2012 Tác
giả đã đưa ra quan điểm về hoàn thiện chế độ công vụ và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
Trang 144
- TS Bùi Huy Khiên:“Nâng cao năng lực cán bộ, công chức đáp ứng
yêu cầu cải cách hành chính ở nước ta hiện nay”, tạp chí Giáo dục lý luận,
Học viện Chính trị khu vực 1, số tháng 11/2012 Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng năng lực của cán bộ, công chức và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà
nước ở Việt Nam hiện nay
- Nguyễn Đăng Thanh: “Một số giải pháp nâng cao năng lực, hiệu lực
và hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở thành phố Huế”, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Tác giả luận văn
đã đề cập đến một số vấn đề lý luận chung về năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở thành phố Huế Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công của tác giả Nilaxay Tayphakkhanh năm 2010 nghiên cứu đề tài: “Nâng cao năng lực quản lý đội ngũ công chức lãnh đạo cấp huyện ở tỉnh Chăm pa sắc”
Luận văn thạc sĩ quản lý công của tác giả Likhit SaeTern năm 2016 nghiên cứu đề tài: “Năng lực thực thi công vụ của công chức ở tỉnh Xay Nha
Bu Li nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công của tác giả Nilaxay Tayphakkhanh năm 2010 nghiên cứu đề tài: “Nâng cao năng lực quản lý đội ngũ công chức lãnh đạo cấp huyện ở tỉnh Chăm pa sắc”
Luận văn thạc sỹ quản lý nhà nước của tác giả Khăm Chăn Khăm Vông Chay năm 2006 nghiên cứu đề tài: “Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt tỉnh phông Sa Ly”
- Có một số luận văn ngành Quản lý hành chính công cũng đã đề cập đến năng lực thực thi công vụ của công chức; như luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công của tác giả Hồ Thị Thu Hằng: "Năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức các phường trên địa bàn thành phố Huế", tác giả đã đề
Trang 155 cập đến một số vấn đề lý luận về năng lực thực thi công vụ, thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp phường trên địa bàn thành phố Huế; luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công của tác giả Nguyễn Mạnh Hà "Nâng cao năng lực thực thi công vụ cho công chức xã tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay", tác giả luận văn đã đề cập đến một số vấn đề về lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp
nâng cao năng lực thực thi công vụ công chức xã tỉnh Bắc giang"
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã đề cập đến sự cần thiết, yêu cầu và các giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Mỗi công trình nghiên cứu đề cấp đến các nội dung khác nhau nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu toàn diện, cụ thể về nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay, Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
- Phân tích thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay, đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
Trang 166
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay trong những năm tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay, Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: luận văn và nghiên cứu năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh dựa trên các yếu tố cấu thành năng lực và kết quả thực thi công vụ
-Về không gian: Nghiên cứu năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh củatỉnh U Đôm Xay
-Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay từ năm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp phân tích - tổng hợp
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích để lý giải tính cấp thiết và ý nghĩa mà đề tài nghiên cứu đặt ra trong nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay, phân tích nguyên nhân của những hạn chế tạo cơ sở đề xuất các giải pháp và kiến nghị
Trang 177 Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp để tóm lược nội dung sau mỗi phần phân tích, đánh giá Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát vấn đề, tóm lược nội dung của từng mục và các kết luận của từng chương của luận văn
b Phương pháp thống kê
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê để thống kê các số liệu cụ thể
về thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay, Nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào
c Phương pháp so sánh
Nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức đã được nhiều địa phương, nhiều cơ quan, tổ chức quan tâm thực hiện với những mức độ thành công khác nhau Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu, so sánh việc thực hiện nhiệm vụ này ở các quốc gia và các địa phương với tỉnh U Đôm Xay để tìm ra sự khác biệt và rút ra những bài học kinh nghiệm
d Phương pháp điều tra xã hội học
Tác giả luận văn đã xây dựng bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi ý kiến đối với cán bộ lãnh đạo tỉnh (phát ra 40 phiếu, thu lại 32 phiếu), công chức các cơ quan chuyên môn trên địa bàn tỉnh (phát ra 110 phiếu, thu lại 96 phiếu) và ý kiến đánh giá của người dân (phát ra 200 phiếu, thu về 160 phiếu) Dựa trên kết quả điều tra xã hội học và các số liệu của tỉnh
U Đôm Xay, luận văn đưa ra kết luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh; năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh; các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
Trang 188
6.2 Ý nghĩa thực tế của luận văn
- Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh của tỉnh U Đôm Xay, luận văn đề xuất phương hướng và các giải pháp nâng cao năng lực thực thi công
vụ của công chức các cơ quan chuyên môn tỉnh U Đôm Xay góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu CCHC nhà nước
- Các kết quả nghiên cứu của luận văn làm cơ sở để chính quyền tỉnh U Đôm Xay nghiên cứu, vận dụng vào thực tế địa phương Nội dung của luận văn cũng có thể làm tư liệu tham khảo cho những người quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cầu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
Chương 2 Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn tỉnh UĐôm Xay Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân Lào
Chương 3 Giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn tỉnh U Đôm Xay, Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân Lào
Trang 199
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰCTHỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP TỈNH
1.1 Công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
1.1.1 Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
Khái niệm công chức
Khái niệm “công chức”gắn liền với sự ra đời công chứcở các nước tư bản phương Tây Vào khoảng giữa những năm nửa cuối thể kỷ XIX, tại các nước Phương Tây đã thực hiện chế độ công vụ, công chức Ngày nay, khái niệm công chức được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới và tại mỗi quốc gia lại có những quan niệm và định nghĩa khác nhau về công chức
Cộng hòa Pháp định nghĩa: “công chứclà những người được tuyển dung, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm
cả trung ương và địa phương nhưng không kể đến các công chứcđịa phương thuộc các hội đồng thuộc địa phương quản lý”
Ở nước Anh, công chức bao gồm 2 bộ phận sau:
- Những người do nhà vua trực tiếp bổ nhiệm hoặc được ủy ban dân sự cấp giấy chứng nhận hợp lệ cho phép tham gia công tác ở cơ quan dân sự
- Những người mà toàn bộ tiền lương được cấp từ ngân sách thống nhất của Vương quốc liên hợp hoặc từ các khoản được quốc hội thông qua
Tại Nhật Bản, công chức được phân thành hai loại chính, gồm công chức nhà nước và công chức địa phương Công chức nhà nước gồm những người được nhận chức trong bộ máy Chính phủ trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, trường công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh được lĩnh lương của ngân sách nhà nước công chứcđịa phương gồm những người làm việc và lĩnh lương từ tài chính địa phương
Trang 2010 Khái niệm công chức tại Trung Quốc được hiểu là: “công chức nhà nước là những người công tác trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ công chức gồm hai loại:
- Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước Các công chức này bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp
- Công chứcn ghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm,
do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức Họ chiếm tuyệt đại đa số trong công chứcnhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật”
Tại Việt Nam, khái niệm công chức đã được xác định trong Nghị định
số 06/2010/NĐ-CP ban hành ngày 25/10/2010 quy định những người là công chức: “công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định: các cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, kiểm toán nhà nước; Bộ, cơ quan ngang bộ và các
tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập; Cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện; Hệ thống Tòa án nhân dân; Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân; Cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội; Cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và công an nhân dân; Bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập”
Ở Nước CHDCND Lào, sau khi giải phóng đất nước năm 1975 vẫn sử dụng cụm từ cán bộ Sau khi có Hiến pháp năm 1991, để phù hợp với pháp luật Chính phủ đã ban hành Nghị định số 171/TTg ngày 11/11/1993 về Quy chế công chức Nước CHDCND Lào Quy định công chức của CHDCND Lào
là người được biên chế và bổ nhiệm làm việc thường xuyên tại các Bộ, cơ
Trang 2111 quan Trung ương, địa phương hoặc đi làm việc tại cơ quan đại diện Nước CHDCND Lào ở nước ngoài; được hưởng lương, các khoản thu phụ cấp từ quỹ ngân sách nhà nước Bộ đội, công an không tính vào danh sách công chứcvà có quy định riêng [27 tr 6]
Sau 10 năm thực hiện Nghị định trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/CP ngày 19/5/2003 để thay thế Nghị định số 117/CP ngày 11/11/1993 và khái niệm công chức đã được sửa đổi, bổ sung Điều 2 Nghị định số 82/CP ngày 19/5/2003 quy định: công chức Nước CHDCND Lào là công dân Lào, được tuyển dụng và bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên ở các cơ quan tổ chức Đảng, nhà nước, tổ chức quần chúng ở trung ương, cấp địa phương và cơ quan thay mặt nước CHDCND Lào ở nước ngoài
và được hưởng lương và tiền hỗ trợ khác từ ngân sách nhà nước [29 tr 7]
Khái niệm “công chức” tại Nghị định 74/CP của Thủ tướng Chính phủ Lào ban hành ngày 18/12/2015 đã có sự thay đổi Nghị định đã đưa ra khái niệm công chức như sau: công chức là công dân Lào, được tuyển dụng và bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Lào xây dựng đất nước và tổ chức quần chúng ở Trung ương, cấp địa phương và cơ quan thay mặt nước CHDCND Lào ở nước ngoài và được hưởng lương và tiền hỗ trợ khác từ ngân sách nhà nước [28Tr 9]
Khái niệm công chức cơ quan hành chính nhà nước
Trong quản lý nhà nước, HCNN là hoạt động phục vụ nhân dân và công chức thực hiện các chính sách, pháp luật do người nhà chính trị ban hành Hành chính nhà nước liên quan đến các thủ tục, biên chế các chính sách, quy định pháp luật thành hành động và quản lý công sở Như vậy, HCNN là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước trong quản lý xã hội theo khuôn khổ pháp luật nhà nước nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội [13]
Trang 2212
Từ khái niệm HCNN đã nêu ở trên, tác giả hiểu khái niệm cơ quan hành chính nhà nước như sau: Cơ quan HCNN là một bộ phận của bộ máy nhà nước, do Nhà nước lập ra để thực hiện chức năng quản lý HCNN, bao gồm các cơ quan: Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp và các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND Cơ quan HCNN ở địa phương nằm trong
bộ máy chính quyền địa phương được tổ chức quản lý theo lãnh thổ hành chính Theo Điều 2 của Luật Hành chính địa phương của Nước CHDCND Lào năm 2003 thì: “chính quyền địa phương chịu sự quản điều hành của hành chính nhà nước ở trung ương, chính quyền địa phương gồm có 3 cấp: chính quyền cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện và chính quyền cấp bản - làng” [37] Như vậy, công chức hành chính nhà nước là những người hoạt động trong các
cơ quan hành chính nhà nước đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước Hiện nay ở Nước CHDCND Lào sau khi có Nghị định về công chức sửa đổi, bổ sung lần thứ hai năm 2003, thì cán bộ công tác ở cấp cơ sở đã được công nhận
là công chức, trong số công chứcnày công chức HCNN được xác định bao gồm một số chức danh chủ yếu như chủ tịch và phó chủ tịch UBND các cấp
Như vậy, công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh là những người được tuyển dụng, thi tuyển vào làm việc trong các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được sử dụng quyền nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chuyên môn đại diện cho nhà nước cấp tỉnh trong thực thi công vụ
1.1.2 Đặc điểm của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
Đội ngũ công chức hành chính là chủ thể của nền hành chính nhà nước,
là những người thực thi quyền lực công và được đảm bảo những điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để thực thi công vụ
Trong hoạt động của bộ máy HCNN, cán bộ, công chức đóng vai trò quan trọng, là mắt xích không thể thiếu trong bất kỳ nền HCNN nào, đặc biệt
là đội ngũ công chức trong bộ máy hành chính, thực thi pháp luật và thi hành
Trang 2313 công vụ nhằm phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội Đây là yếu tố quyết định đảm bảo cho bộ máy HCNN hoạt động có hiệu lực hiệu quả
Công chức là những người thực thi công vụ, trực tiếp thi hành quyền lực nhà nước, cụ thể hóa những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước vào thực tế đời sống xã hội Lao động của công chức khác với các dạng lao động khác trong xã hội Sản phẩm lao động của công chức là các văn bản quy phạm pháp luật, quyết định hành chính… để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, thi hành pháp luật và đưa pháp luật vào đời sống
Được Nhà nước trao quyền để thực thi quyền lực của Nhà nước, công chức có trách nhiệm, nghĩa vụ được quy định trong các văn bản của Nhà nước liên quan đến chức trách nhiệm vụ được giao Họ có thể bị từ chức, truy cứu trách nhiệm hoặc phải bồi thường thiệt hại nếu không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, ra quyết định hành chính làm tổn hại lợi ích hợp pháp của tổ chức công dân Để thực hiện công vụ, công chức được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để tiến hành thực thi công vụ Họ được đảm bảo quyền lợi chính đáng về vật chất và tinh thần như: hưởng lương từ ngân sách của nhà nước tương xứng với chức trách và công việc, nhận các loại trợ cấp, phụ cấp, quyền được nghỉ ngơi, nghiên cứu khoa học, khen thưởng khi có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ Công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh có các đặc điểm chính sau đây:
Một là, công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp cao
Các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương được
tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định để thực thi quyền hành pháp của Nhà nước để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội Phạm vi hoạt động của cơ quan HCNN trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mang tính phức tạp, vì vậy đòi hỏi đội ngũ công chức phải có tính chuyên
Trang 2414 nghiệp, chính xác Bởi lẽ các chính sách tham mưu của đội ngũ công chức chuyên môn nghiệp vụ và quyết định của công chức lãnh đạo quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, phát triển kinh tế- xã hội của người dân
Tính chuyên nghiệp của công chức được quy định bởi địa vị pháp lý và thể hiện qua hai yếu tố: thời gian, thâm niên công tác và trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp Thời gian, thâm niên công tác tạo cho công chức sự thành thạo, những kinh nghiệm trong thực thi công vụ, còn trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ tạo cho họ khả năng, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, qua thời gian công tác trình độ kỹ năng ngày càng được hoàn thiện Trong nền kinh tế thị trường hội nhập kinh tế thế giới, việc nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng trở nên quan trọng để đáp ứng yêu cầu của quản lý HCNN trong tình hình hiện nay
Hai là, công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh phải am hiểu và nghiêm chỉnh tuân thủ các chính sách, pháp luật
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật chiếm vị trí tối cao trong hoạt động nhà nước, công cụ để quản lý xã hội Trong đó, công chức là những thực thi công vụ, thực thi quyền hành pháp; vì vậy hoạt động công vụ của công chức phải tuân thủ theo pháp luật Trong bộ máy HCNN, công chức là lực lượng tham mưu kiến tạo nên hệ thống pháp luật của nhà nước phù hợp với điều kiện của thực tiễn Pháp luật là hành lang pháp lý điều chỉnh hành vi, quyền và trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ Trong các trường hợp công chức vi phạm, gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của tổ chức cá nhân thì chịu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự nhất định Đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, đội ngũ công chức phải có kiến thức, am hiểu pháp luật và thông lệ quốc tế Vấn đề đặt ra công chức phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức pháp luật và trình độ ngoại ngữ
Trang 25Trong quá trình thực thi công vụ phục vụ nhân dân, đòi hỏi công chức phải có đạo đức công vụ Đạo đức công vụ là những giá trị đạo đức và chuẩn mực pháp lý được áp dụng cho cán bộ, công chức nhà nước khi thi hành công
vụ Đạo đức công vụ chính là sự thể hiện quá trình tự ý thức về lương tâm, trách nhiệm của mình để từ đó tự giác hành động vì các lợi ích đó Người công chức để thực hiện là công bộc của dân, ngoài yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì phẩm chất đạo đức là yêu cầu tất phải có Bởi vậy người công chức phải có đầy đủ chuẩn mực đạo đức vừa “hồng”, vừa “chuyên”,
“cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” Bởi vì mục đích cuối cùng của nền công vụ là phục vụ nhân dân, có trách nhiệm với nhân dân
Bốn là, Tính nghề nghiệp thể hiện ở việc Công chức Cơ quan chuyên
môn cấp tỉnh thực hiện thường xuyên một công vụ theo nghiệp vụ chuyên môn mà công chức đó đảm nhiệm Đội ngũ công chức này có chức năng thực thi pháp luật và thi hành công vụ nhằm phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội Đây là hạt nhân cơ bản của nền công vụ, là chủ thể thực sựtiến hành các công
vụ cụ thể và cũng chính là yếu tố đảm bảo cho nền công vụ hoạt động, vận hành có hiệu lực, hiệu quả
Năn là, Tính pháp lý: công chức thực hiện công vụ theo một quy trình
công tác đã được pháp luật xác định và họ không có quyền thay đổi nếu không được pháp luật cho phép Công chức Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh là
Trang 2616 những người được tuyển dụng trên cơ sở năng lực và phẩm chất phù hợp để thực hiện những công việc được giao
Sáu là, Tính thứ bậc: Công chức Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được
chia thành những bậc hạng khác nhau tuỳ theo tính chất, yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ của công việc và được bổ nhiệm vào vị trí công tác theo thứ bậc đó Ví dụ như phân loại công chức theo trình độ đào tạo, Điều 6 Nghị định 82/CP nước CHDCND Lào (2003) đã chia công chức ra thành 5 hạng
+ Công chức hạng V: là những công chức có trình độ chuyên môn cao, giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy, hoặc các chuyên gia có khả năng nghiên cứu, phân tích và đưa ra những quan điểm, chiến lược, các kế hoạch quan trọng
+ Công chức hạng IV: là loại công chức có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hơn hạng A, có khả năng giữ những cương vị lãnh đạo, chỉ huy ở cấp thấp hơn như Phó chủ tịch UBND huyện, quận; Phó giám đốc các Sở, ban, ngành của tỉnh….và những chuyên viên chính có khả năng nghiên cứu, tham mưu và thực thi những vấn đề mà độ phức tạp ít hơn loại trên
+ Công chức hạng III: là loại công chức thừa hành công việc dưới sự chỉ huycủa các công chức lãnh đạo công chức hạng C cũng có trình độ chuyên môn kỹthuật, nhưng được đào tạo ở mức thấp hơn như trung học, được tuyển thẳng vào bộmáy nhà nước để làm việc
+ Công chức hạng II+I: là các nhân viên phục vụ trong bộ máy hành chính như tạp vụ, hoặc những người làm các công việc không đòi hỏi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao
Người ta cũng phân loại công chức theo quá trình đào tạo hoặc trình độ văn hóa tương đương như sau:
+ Hạng V: có trình độ trên đại học hoặc đại học, có kinh nghiệm công tác lâunăm và làm việc có hiệu quả cao
+ Hạng IV: có trình độ đại học
+ Hạng III: có trình độ dưới đại học
Trang 2717 + Hạng II: có trình độ trung học
+ Hạng I: có trình độ dưới trung học
Tuy nhiên việc phân hạng công chức cũng không hoàn toàn căn cứ vào bằng cấp, mà còn phải xem xét khả năng thực tế, vị trí công tác hiện tại của công chức đểsắp xếp, quy hoạch đội ngũ Vì vậy, việc phân hạng công chức theo trình độ đào tạo cũng chỉ mang ý nghĩa định tính mà chưa xác định rõ thứ bậc của người công chức
Bẩy là, Tính được nhà nước trả lương Vì công chức thực thi công vụ
nhà nước do vậy được hưởng lương từ ngân sách của nhà nước Đặc điểm này giúp ta phân biệt công chức với những người là việc ở các doanh nghiệp và khu vực tư nhân hưởng lương không do nhà nước chi trả.Trong kinh tế thị trường, tiền lương và thu nhập của Công chức Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh mặc dù do nhà nước trả từ ngân sách, song chính sách tiền lương công chức phải đặt trong mối tương quan với mặt bằng tiền lương, thu nhập khu vực thị trường Bởi thực tế tiền lương của Công chức Cơ quan chuyên môn cấp tỉnh nước CHDCND Lào rất thấp và thấp hơn khu vực sản xuất kinh doanh, chưa bảo đảm cho công chức sống chủ yếu bằng tiền lương; thu nhập ngoài lương lớn Và đây cũng là một trong những nguyên nhân của tiêu cực, tham nhũng; tăng dòng “chảy máu chất xám” từ khu vực hành chính nhà nước ra khu vực thị trường khi mà quan hệ tiền lương chưa hợp lý, các mức lương theo hệ số tiền lương gắn quá chặt với tiền lương tối thiểu chung; tiền lương chưa gắn thật chặt với vị trí, chức danh và hiệu quả công tác, chất lượng cung cấp dịch
Trang 2818 chuyên môn cấp tỉnh là những người hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với dân, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và biến thành hành động cách mạng của quần chúng Công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh là cầu nối giữa Đảng - Nhà nước với nhân dân Thông qua đội ngũ này, Đảng, Nhà nước ta đánh giá được tính đúng đắn của đường lối, chính sách, kịp thời phát hiện được những thiếu sót của bản thân chính sách và những nhu cầu mới phát sinh từ thực tế khách quan để bổ sung và hoàn thiện chính sách
Công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh đóng vai trò quan trọng trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước Công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh phải có phẩm chất chính trị, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ,
có tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước Công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quan trọng trong thực hiện các nhiệm vụ của địa phương
Công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnhlà nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính, là một trong những nguồn nhân lực quan trọng trong việc thực hiện công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của địa phương Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế, trong điều kiện hội nhập kinh tếquốc tế, vai trò của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnhcàng trở nên quan trọng, bởi các lý do sau đây:
- Kinh tế - xã hội phát triển toàn diện khiến cạnh tranh trên thị trường thêmquyết liệt, đòi hỏi càng nhiều phương án, quyết định quản lý và sự lựa chọn phươngán tối ưu càng khó khăn, phức tạp hơn
- Sự tác động của các quá trình quản lý đối với thực tiễn trong điều kiện mớicàng trở nên quan trọng Các quyết định quản lý sâu sắc, lâu dài, có thể đem lại hiệuquả lớn, công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnhphải có trách nhiệm cao về chất lượng, về tính khoa học trong cácquyết định quản lý
Trang 2919
- Sự tăng nhanh khối lượng tri thức và độ phức tạp của cơ cấu tri thức, trongđó có tri thức kinh tế và quản lý kinh tế hiện đại, đặc biệt sự xuất hiện của hệ thốngthông tin mới, gồm cả thông tin quản lý đã và đang được mở rộng đòi hỏi công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnhphải có khả năng, trình độ để xử lý thông tin
Công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnhgiữ vị trí quan trọng trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, vì lợi ích của toàn xã hội Hiệu quả hoạt động của đội ngũ này là góp phần quan trọng vào sự phát triển và tăng trưởng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và khoa học Chức năng quản lý nhà nước mà công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thực hiện không chỉ bao gồm tham mưu hoạch định chính sách cho nhà nước,
mà còn thể hiện ở cả việc tổ chức hướng dẫn hoặc trực tiếp triển khai, thựchiện chế độ, chính sách, cơ chế; chỉ đạo hoặc trực tiếp thực hiện kiểm tra việc thực hiện, phát hiện các sai phạm để các cấp quản lý uốn nắn, điều chỉnh; tập hợp đánh giá hiệu quả và thanh tra xử lý sai phạm hoặc ngăn chặn các vi phạm pháp luật
1.1.4 Tiêu chuẩn của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
Trong hoạt động thực tiễn, các cơ quan quản lý công chức đều căn cứ vào tiêu chuẩn công chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý công chức Có thể coi tiêu chuẩn công chức là nền móng để tạo nên và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Trong quá trình thực hiện việc tiếp tục cải cách công vụ, công chức, vấn
đề quan trọng và không thể xem nhẹ là tiêu chuẩn công chức Một mặt, đây là một trong các tiêu chí đo lường chất lượng đội ngũ công chức; mặt khác, đó còn là nhân tố tạo nên hiệu quả của tiến trình cải cách công vụ, công chức Tiêu chuẩn công chức cơ bản tương đối ổn định, nhưng có thể thay đổi và cần thiết phải thay đổi khi yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, yêu cầu cải cách hành chính làm thay đổi nội dung và chất lượng hoạt động công vụ.Tiêu chuẩn
Trang 3020 công chức bao gồm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể Tiêu chuẩn chung
là điều kiện cần, mang tính chất “cứng” mà bất cứ công dân nào muốn tham gia công vụ đều phải hội đủ Tiêu chuẩn cụ thể là điều kiện đủ, gắn với từng
vị trí việc làm cụ thể Nó thể hiện tính chất, đặc điểm riêng của ngành, lĩnh vực và mang tính chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể Người được tuyển dụng vào mỗi vị trí công tác cụ thể hoặc bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý, bên cạnh tiêu chuẩn chung đối với công chức, còn phải đạt các tiêu chuẩn cụ thể liên quan đến ngạch công chức hoặc chức vụ tương ứng
Theo Nghị định 74/CP của Thủ tướng Chính phủ Lào ban hành ngày 18/12/2015 đã đề ra tiêu chuẩn chung đối với công chức bao gồm:
- Phải là công dân Lào, mang một quốc tịch là quốc tịch Lào Hoạt động công vụ là một hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, thực thi và thừa hành pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhân dân, của xã hội và quốc gia, công chức phải có nghĩa vụ trung thành với thể chế chính trị, với Nhà nước Vì vậy, nhất thiết công chức Lào tham gia vào công vụ phải là công dân Lào và chỉ mang một quốc tịch là quốc tịch Lào Thông lệ và tình hình chung ở các nước khác cũng vậy, người đăng ký tuyển dụng vào công chức chỉ được phép mang một quốc tịch của nước đó
- Đạt độ tuổi quy định từ đủ 18 tuổi trở lên Đây cũng là điểm mới trong tuyển dụng công chức Trước đây, pháp luật quy định tuổi đăng ký dự tuyển công chức là từ đủ 18 tuổi đến 35 tuổi, một số trường hợp tuổi dự tuyển
có thể cao hơn nhưng không quá 40 tuổi Quy định như vậy là nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người tham gia vào công chức khi đến tuổi được nghỉ chế độ trong điều kiện chế độ bảo hiểm xã hội trước đây còn những hạn chế Nhưng quy định như vậy đã hạn chế cơ hội của công dân, không tạo điều kiện thu hút được người có tài năng từ khu vực tư tham gia vào công vụ Do đó, Luật cán bộ, công chức chỉ quy định tuổi tuyển dụng ở mức sàn-là từ đủ 18 tuổi trở lên - mà không khống chế độ tuổi tuyển dụng ở mức trần, miễn là còn
Trang 3121 trong độ tuổi lao động Điều này có nghĩa là nếu còn trong độ tuổi lao động - dưới 55 tuổi với nữ và dưới 60 tuổi với nam - mọi công dân có đủ điều kiện quy định đều có cơ hội tham gia vào công vụ
- Đủ sức khỏe công tác Tiêu chuẩn này nhiều khi chưa được chú trọng đúng mức và thống nhất trong cách hiểu Đây là tiêu chuẩn nhưng đồng thời cũng là điều kiện để tham gia công vụ Sức khỏe không chỉ đơn thuần liên quan đến ốm đau, bệnh tật mà trong đó còn bao hàm cả khía cạnh tâm lý, tinh thần Không ai có thể hoàn thành tốt công vụ khi luôn ở trạng thái không cân bằng về tâm lý và mất ổn định về tinh thần ở nhiều nước, người dự tuyển công chức khi nộp hồ sơ dự tuyển không phải nộp giấy khám sức khỏe của cơ quan y tế Người ta chỉ kiểm tra sức khỏe đối với người đã trúng tuyển (đạt kết quả qua các vòng thi trước) Việc kiểm tra sức khỏe được coi như vòng cuối - thuộc nội dung của kỳ tuyển dụng Nếu không bảo đảm sức khỏe sẽ không được tuyển dụng, mặc dù có thể đã trúng tuyển qua các vòng trước
- Phải có đơn tự nguyện đăng ký dự tuyển vào công chức Chế độ công
vụ hiện nay của nhiều nước vẫn theo phương thức thuận nhận Người sử dụng lao động - Nhà nước - được quyền lựa chọn người vào công chức Còn người
dự tuyển mặc dù có nguyện vọng tuyển dụng nhưng có thể được hoặc không được toại nguyện Nghĩa vụ và quyền của công chức đã được pháp luật quy định Công dân có nguyện vọng gia nhập vào công vụ thì khi viết đơn đăng ký
dự tuyển (theo mẫu quy định) chính là một sự cam kết sẽ thực hiện đủ và đúng các nghĩa vụ và quyền đó Vì vậy, không nên hiểu làm đơn đăng ký chỉ
là thủ tục mà cần phải được coi là tiêu chuẩn để đăng ký tuyển dụng
Luật cán bộ, công chức cũng quy định một số trường hợp không được đăng ký dự tuyển vào công chức chuyên môn, đó là:
- Không cư trú tại Lào Quy định này nhằm bảo đảm cho công chức có thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và chức trách của mình Thực tế cho thấy không ai có thể làm việc trong một quốc gia mà lại không thường trú tại quốc
Trang 3222 gia đó, hơn nữa đó lại là công chức Các nước trên thế giới đều quy định như vậy đối với công chức
- Mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của tòa án mà chưa được xóa án tích
Như vậy, theo các quy định của tại Nghị định 74/CP của Thủ tướng ban hành ngày 18/12/2015 của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, tiêu chuẩn công chức đã có nhiều điểm cơ bản được sửa đổi để đáp ứng yêu cầu cải cách chế độ công vụ, công chức, phù hợp với các văn bản pháp luật khác và yêu cầu phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế
1.5 Bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng công chức ở một số quốc gia và giá trị tham khảo cho Lào
1.5.1 Việt Nam
Để thực hiện có hiệu quả cải cách nền hành chính nhà nước Việt Nam cần giải quyết thành công một trong những nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng đội ngũ công chức đủ "tâm", đủ "tầm", trước những yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn Giải pháp để giải quyết vấn đề con người bao gồm:
- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức Đây là giải pháp mang tính quyết định để thực hiện thành công cải cách nền hành chính, trong đó tập trung vào những việc sau:
+ Thực hiện tuyển dụng theo nguyên tắc đúng người, đúng việc; lấy công việc và hiệu quả công việc làm tiêu chí lựa chọn nhân sự
+ Thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tuyển dụng, sử dụng, quản lý biên chế cho người đứng đầu tổ chức sử dụng công chức
+ Thực hiện bố trí, sử dụng nhân sự theo cơ chế giao việc, khoán việc
và quy trách nhiệm đến cùng Áp dụng chế độ vị trí việc làm để xác định tiền lương, tiền công và các chế độ, chính sách đối với đội ngũ công chức
+ Có thái độ kiên quyết, dứt khoát đối với những công chức không đáp ứng được công việc
Trang 3323 + Thực hiện đánh giá công chức dựa trên hiệu quả công việc
- Cải cách chế độ, chính sách để tạo động lực cho cán bộ, công chức Động lực làm việc của người lao động gắn liền với lợi ích vật chất và tinh thần; công chức cũng không nằm ngoài quy luật đó Do vậy, muốn công chức làm việc tốt phải giải quyết hài hòa bài toán lợi ích vật chất và tinh thần của họ
+ Về lợi ích vật chất: chính sách tiền lương đối với công chức phải tương xứng với giá trị sức lao động bỏ ra và phải bảo đảm được ba phương diện: duy trì cuộc sống của bản thân, một phần tích lũy cho gia đình và một phần để đề phòng rủi ro có thể xảy ra (ốm đau, về hưu…)
+ Về lợi ích tinh thần: cần đổi mới công tác thi đua - khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng, môi trường và điều kiện làm việc
+ Trong cơ quan nhà nước phải tạo dựng và duy trì được nét văn hóa lấy giá trị công việc, hiệu quả công việc, sự hài lòng của công dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá năng lực của công chức
- Nâng cao ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức Khi đội ngũ công chức có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu công việc và giải quyết hài hòa bài toán lợi ích giữa công chức với lợi ích của nhà nước và cộng đồng thì cần phải có những giải pháp khác để nâng cao ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ Những biện pháp cần chú trọng là:
1.5.2 Thái Lan
Thái Lan đã định hướng phát triển, nâng cao chất lượng công chức từ khâu xây dựng chính sách, chương trình đến tổ chức thực hiện Điển hình như chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức được chính phủ thông qua tháng 11/1996, tập trung vào các vấn đề: công tác đào tạo, bồi dưỡng phải được tiến hành ở mọi cấp, và nhiệm vụ công tác; trang bị những kiến thức và kỹ năng tiên tiến; thực hiện việc luân chuyển cán bộ, công chức vì lợi ích phát triển của công chức; đào tạo, bồi dưỡng phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, mang tính thực tế và phù hợp với các biện pháp tổ chức, thực hiện có kết quả
Trang 3424
cụ thể, đồng thời thực hiện việc kiểm tra đánh giá nghiêm túc các kết quả; có chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cho những cán bộ, công chức được
đề bạt, hoặc thuyên chuyển công tác sang vị trí, nhiệm vụ mới; phải tích cực
hỗ trợ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức HCNN; chú trọng sử dụng kỹ thuật mới, hiện đại trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và phát triển nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực hiện có, hạn chế việc tăng thêm biên chế; thực hiện việc phối hợp trong việc điều phối công chức và sử dụng nguồn nhân lực nhằm tăng cường cho các CQHCNN và cho các cơ quan của Chính phủ, cơ quan nghiên cứu và khu vực tư nhân nói chung nhằm đảm bảo mang lại hiệu quả cao, tránh dư thừa, lãng phí; thực hiện việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trong các cơ quan, đơn vị ở trung ương và địa phương, tăng cường sự phối hợp và hỗ trợ giữa các cơ quan đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của các ngành, các địa phương và trung ương về ngân sách, nguồn nhân lực và sự giúp đỡ hợp tác của nước ngoài; có cơ chế thích hợp để theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Chương trình đào tạo, bồi dưỡng ở Thái Lan gồm: đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, điều hành, cấp cao, trung cấp, cán bộ giám sát, cán bộ nữ…; đào tạo, bồi dưỡng cải cách quản lý dịch vụ công ; đạo đức công vụ, tăng cường đạo đức, văn hóa ứng xử của công chức; phát triển công nghệ thông tin cho cán bộ lãnh đạo, điều hành cấp cao; đào tạo về kỷ luật công vụ; đào tạo, bồi dưỡng về quản lý dịch vụ công, văn bản và kỹ thuật xây dựng văn bản; chuẩn bị cho cán bộ, công chức nghỉ hưu sớm
1.5.3 Một số nhận xét và các giá trị tham khảo cho Lào
Từ kinh nghiệm xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước ở một số nước nêu trên, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho CHDCND Lào như sau:
Trang 3525 Một là, tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, đều nhận thức rõ tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức trong hoạt động của bộ máy nhà nước
1.2 Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
1.2.1 Khái niệm năng lực thực thi công vụ
* Khái niệm năng lực
Có nhiều tài liệu định nghĩa khác nhau về năng lực Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực là khả năng đủ để làm một công việc nào đó; hay năng lực là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó Theo quan điểm của các nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhằm đảm bảo cho hoạt động đạt hiệu quả cao
Năng lực được cấu thành bởi kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để đạt được những mục tiêu cụ thể trong các một điều kiện xác định, trong đó:
- Kiến thức là những hiểu biết chung và hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể
- Kỹ năng là quá trình chuyển hóa từ những tri thức, kiến thức của mình vào hoạt động thực tiễn
- Thái độ, hành vi là trạng thái tinh thần, hành vi ứng xử của cá nhân đối với công việc, các mối quan hệ với những người khác trong công việc
Trên thực tế, khi thực hiện các hoạt động công việc hay ngành nghề nhất định, con người không chỉ sử dụng một năng lực duy nhất mà sẽ phối hợp với các năng lực khác nhau để thực hiện thành công một hoạt động hay công việc nào đó với mục tiêu là đạt được hiệu quả cao nhất Đồng thời, mỗi thời kỳ, hoàn cảnh, môi trường khác nhau đặt ra các yêu cầu về năng lực không giống nhau Hơn nữa, các hoạt động, sự vật, hiện tượng luôn luôn biến đổi, nguồn năng lực của cá nhân không phải là bất biến mà trong quá trình hoạt động nghề
Trang 3626 nghiệp của mỗi cá nhân, năng lực luôn biến động, hoàn thiện và kết hợp với các năng lực khác để giúp cá nhân đạt được mục tiêu của tổ chức đã đặt ra Như vậy có thể khái quát, năng lực là khả năng đáp ứng về kiến thức, kỹ năng và thái độ, hành vi một cách tốt nhất trong thực hiện công việc hoặc giải quyết vấn đề để đạt những mục tiêu đã đề ra
* Khái niệm năng lực thực thi công vụ
Trên cơ sở khái niệm về năng lực, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về năng lực thực thi công vụ của công chức như sau: Năng lực thực thi công vụ của công chức là khả năng đáp ứng về kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi của công chức một cách tốt nhất trong thực thi công vụ để hoạt động của các
cơ quan nhà nước đạt được mục tiêu đã để ra
Năng lực của công chức các cơ quan nhà nước được coi là khả năng của một người để hoàn thành công việc được giao, xử lý tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong môi trường xác định Như vậy, năng lực của mỗi công chức các cơ quan nhà nước bao gồm việc sử dụng tổng hợp các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi, phong cách cá nhân để đạt được những mục tiêu cụ thể Ngoài ra còn bao gồm khả năng quan hệ giữa công chức các cơ quan hành chính nhà nước, quan hệ với lãnh đạo, quản lý, với các tổ chức cá nhân trên cở sở những thái độ, kỹ năng giao tiếp cần thiết
* Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
Đội ngũ công chức chuyên môn cấp tỉnh đóng vai trò quan trọng trong việc tham mưu, dự thảo các chính sách, kế hoạch, chỉ tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương, tham mưu quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội trong phạm vi địa phương; đồng thời tham mưu triển khai các chính sách của Trung ương và địa phương thuộc thẩm quyền quản lý Đặc biệt mỗi địa phương trong cả nước có đặc điểm kinh tế-xã hội, trình độ phát triển dân trí khác nhau Sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương phụ thuộc rất lớn
Trang 3727 vào năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh, phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, kỹ năng, thái độ hành vi của công chức trong thực thi công vụ
Như vậy, năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh
là khả năng đáp ứng về kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi của công chức trong việc tham mưu, triển khai các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, quản
lý các lĩnh vực của đời sống xã hội tại địa phương, đảm bảo cơ quan hành chính nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
Đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh đóng vai trò là hạt nhân cơ bản đảm bảo hoạt động công vụ tại các cơ quan HCNN tại địa phương hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Chất lượng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương phụ thuộc vào phần lớn năng lực của đội ngũ công chức chuyên môn Vì vậy vấn đề cần đặt ra là nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan HCNN của địa phương
1.2.2 Các yếu tố cấu thành nên năng lực thực thi công vụ
1.2.2.1 Trình độ chuyên môn và kiến thức cơ bản
Trình độ chuyên môn và kiến thức cơ bản về hình thức được thể hiện thông qua văn bằng, chứng chỉ của cấp học, ngành học Đây là một trong các tiêu chí để tuyển dụng công chức HCNN nói chung và công chức chuyên môn cấp tỉnh nói riêng, liên quan đến yếu tố kiến thức của năng lực, là kết quả của quá trình đào tạo của cá nhân Những kiến thức chuyên môn mà cá nhân sử dụng trong quá trình giải quyết công việc là cơ sở đánh giá trình độ chuyên môn của công chức đó trong lĩnh vực được phân công công tác
Trong quá trình thực thi công vụ đòi hỏi công chức các cơ quan HCNN phải đảm bảo các yêu cầu về trình độ, kiến thức sau đây:
* Trình độ chuyên môn
Trình độ chuyên môn của công chức được đào tạo thông qua hệ thống cơ
sở giáo dục, đào tạo, được cấp các văn bằng, chứng chỉ chuyên môn phù hợp
Trang 3828 với yêu cầu công việc Ở Nước CHDCND Lào, các văn bằng chứng chỉ được chia thành: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học Trong hoạt động thực thi công vụ cần xem xét sự phù hợp của trình độ chuyên môn được đào tạo với yêu cầu vị trí công việc được giao đảm nhận, bởi nó là yếu tố tiên quyết để công chức giải quyết công việc hiệu quả trong thực thi công vụ
* Trình độ lý luận chính trị
Lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ thực tiễn khách quan, tri thức cả về tự nhiên và xã hội trong tiến trình lịch sử được biểu đạt dưới dạng quy luật, tư tưởng, quan điểm…nhằm giúp con người chi phối và cải tạo thực tiễn Trong hoạt động thực thi công vụ của công chức, việc học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị là cần thiết Ngoài kiến thức về trình độ chuyên môn, công chức hành chính nhà nước phải được trang bị, đào tạo trình độ lý luận chính trị phù hợp với vị trí công tác, mục đích giúp cho công chức nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước để vận dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước Các chương trình, đào tạo, bồi dưỡng
lý luận chính trị ở Nước CHDCND Lào bao gồm: sơ cấp, trung cấp, cao cấp
* Trình độ quản lý nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước là lĩnh vực quản lý phức tạp về nội dung, phạm vi và đối tượng quản lý, bởi phạm vi quản lý của nó là các lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và công chức chuyên môn cấp tỉnh nói riêng phải được đào tạo về kiến thức quản lý nhà nước Trình độ quản lý nhà nước là những kiến thức, kỹ năng mà công chức được đào tạo bồi dưỡng để phù hợp với từng chức danh, ngạch, vị trí công việc của công chức để đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước Kiến thức quản lý nhà nước thông qua chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn về ngạch bao gồm: bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch cán sự và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
Trang 3929 chính và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương
* Trình độ ngoại ngữ, tin học
Trình độ ngoại ngữ, tin học là kiến thức bổ trợ cần thiết để công chức hành chính nhà nước thực thi công việc đạt hiệu quả cao Đặc biệt trong khi nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế thế giới, đòi hỏi công chức làm việc trong bộ máy công quyền phải đạt chuẩn về trình độ ngoại ngữ, tin học Kiến thức về ngoại ngữ, tin học của công chức phải được đánh giá thông qua việc vận dụng chúng vào quá trình thực thi công vụ
1.2.2.2 Kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp
Kỹ năng nghề nghiệp là khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết về kiến thức hoặc kinh nghiệm
để tạo ra kết quả mong đợi Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng Kinh nghiệm công tác là những hiểu biết, kiến thức có được do hoạt động thực tế, từng trải trong cuộc sống, trong lao động và công tác Kỹ năng của cá nhân có được dựa trên cơ sở hiểu biết, kiến thức còn kinh nghiệm công tác có được khi trải qua một quá trình lao động, công tác
Kỹ năng nghề nghiệp là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích lũy kinh nghiệm thông qua đào tạo tạo, bồi dưỡng và quá trình công tác Trong hoạt động thực thi công vụ, công chức cần có những kỹ năng cụ thể
Kỹ năng của công chức các cơ quan hành chính nhà nước được phân thành kỹ năng công chức lãnh đạo quản lý và kỹ năng công chức chuyên môn Kỹ năng của công chức lãnh đạo bao gồm: lập kế hoạch, xây dựng chiến lược, phân tích và giải quyết vấn đề, ra quyết định, tổng hợp, thuyết trình, thanh tra, xử lý xung đột, tạo động lực… Kỹ năng của công chức chuyên môn bao gồm soạn thảo văn bản, giao tiếp hành chính, thu thập và xử lý thông tin, quản lý hồ sơ, làm việc nhóm, viết báo cáo, nghe và gọi điện thoại…
Trang 4030
Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng thực thi công vụ của công chức Đây là những yếu tố cần thiết khi công chức thực thi công vụ Ngoài những kỹ năng chung đối với mọi công chức, mỗi nhóm công chức nhất định phải có những kỹ năng riêng để phù hợp với từng vị trí công tác
1.2.2.3 Thái độ, hành vi của công chức
Thái độ được hiểu là cách nghĩ, cách nhìn nhận và cách hành động theo một hướng nào đó về một vấn đề hay tình hình cụ thể Thái độ của công chức trong hoạt động thực thi công vụ được hiểu là cách suy nghĩ, ứng xử, nhìn nhận vấn đề trong hoạt động công vụ Thái độ chi phối cách ứng xử, hành vi
và tác phong của công chức, khi giải quyết công việc công chức đều có thái
độ tích cực hoặc không tích cực Vì vậy yêu cầu đặt ra phải có chuẩn mực của công chức trong thực thi công vụ để hạn chế những thái độ không tốt và phát huy thái độ tích cực của công chức Thái độ, hành vi của công chức trong thực thi công vụ được thể thông qua tác phong, phong cách làm việc của cá nhân; trách nhiệm trong công việc; tinh thần phối hợp trong công tác và thái độ phục vụ nhân dân
* Tác phong, phong cách làm việc
Tác phong của người công chức được coi là phù hợp khi họ có những thái độ, cách ứng xử phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, với từng đối tượng, sự việc và từng người nhất định, đặc biệt là những người liên quan đến công việc của họ, tạo điều kiện để giải quyết công việc nhanh chóng, đạt hiệu quả cao
Phong cách làm việc là cách thức làm việc, mang sắc thái của mỗi cá nhân Phong cách làm việc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực; vị trí, chức năng, nhiệm vụ, điều kiện làm việc, sự giáo dục, rèn luyện…