LỜI CẢM ƠNLuận văn “Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng- Chi nhánh Hà Nội” là kết quả của sự cố gắng, nỗ lực nghiê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ PHÚC
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM THỊNH
VƯỢNG VP BANK - CHI NHÁNH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8.34.02.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN MẠNH HÙNG
HÀ NỘI – 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Mạnh Hùng
Các thông tin, số liệu được sử dụng trong Luận văn là chính xác, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phúc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại
ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng- Chi nhánh Hà Nội” là kết quả của sự cố gắng, nỗ lực nghiên cứu của bản thân; sự giúp đỡ,
tạo điều kiện từ phía đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý các cơ quan chuyên môn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Mạnh Hùng, người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện Luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện Luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện Luận văn, tôi đã dành nhiều thời gian và công sức Tuy có nhiều nỗ lực, cố gắng song có nhiều kiến thức lý luận và thực tiễn lần đầu tôi được tiếp cận, vì vậy Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo và các bạn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Tổng quan về kinh doanh ngoại hối và rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Thương mại 6 1.1.1 Ngân hàng Thương mại và các hoạt động cơ bản của NHTM 6 1.1.2 Hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Thương mại 7 1.1.3 Rủi ro trong trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của các Ngân hàng thương mại 14 1.2 Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của các Ngân hàng thương mại 20 1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của việc quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM 20 1.2.2 Nội dung quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM 23 1.2.3 Các mô hình quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng thương mại 32 1.3 Tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối 33 1.3.1 Các tiêu chí đánh giá năng lực quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ở các Ngân hàng thương mại 33 1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ở các NHTM 39 1.4 Các kinh nghiệm trong quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của
Trang 61.4.1 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ ở các NHTM Việt Nam 44 1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam 46
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 50 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG (VP BANK) - CHI NHÁNH HÀ NỘI 50
2.1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng-
VP Bank 50 2.1.1 Vài nét về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh
Vượng VP Bank - Chi nhánh Hà Nội 50 2.2 Thực trạng kinh doanh ngoại hối và quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại VP Bank-Chi nhánh HN 57 2.2.1 Thực trạng kinh doanh ngoại hối tại VP Bank giai đoạn 2012-2016 57 2.2.2 Thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại VP Bank-Chi nhánh Hà Nội 60 2.3 Đánh giá việc quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại
VP Bank - Chi nhánh Hà Nội 74 2.3.1 Những kết quả đạt được trong hoạt động quản lý rủi ro của VP Bank - Chi nhánh Hà Nội 74 2.3.2 Những hạn chế trong quá trình quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của VP Bank -Chi nhánh Hà Nội 74 2.3.3.Nguyên nhân 75
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 78 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG VP BANK - CHI NHÁNH HÀ NỘI 79
3.1 Mục tiêu, định hướng nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong kinh
doanh ngoại hối tại VP Bank-Chi nhánh Hà Nội 79
Trang 73.1.1 Mục tiêu của VP Bank trong kinh doanh ngoại hối 79
3.1.2 Định hướng nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối VP Bank - Chi nhánh Hà Nội 80
3.2 Các giải pháp nâng cao quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại VP Bank-Chi nhánh Hà Nội 80
3.2.1 Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro ngoại hối 80
3.2.2 Một số kiến nghị 84
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tình hình kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng 44
Bảng 1.2: Kết quả hoạt động kinh doanh ngoại hối quý I/2016 46
Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh của VP Bank trong giai đoạn 2012-2016 56
Bảng 2.2: Số lượng mua và bán ngoại hối tại VP Bank 57
giai đoạn 2012-2016 57
Bảng 2.3: Kinh doanh ngoại hối phân theo đôi tượng khách hàng giai đoạn 2012-2016 58
Bảng 2.4: Kinh doanh ngoại hối phân theo nghiệp vụ kinh doanh giai đoạn 2012-2016 59
Bảng 2.5: Tỷ giá một số loại ngoại tệ tại 31/12/2015 và 31/12/2016 62
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, do vậy thu thập của ngân hàng phụ thuộc vào các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Mặt khác, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoa đòi hỏi sự hội nhập của hệ thống ngân hàng nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của các quốc gia Trong các hoạt động của ngân hàng thương mại, hoạt động kinh doanh ngoại hối là hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng Vì vậy vấn đề quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối là một trong những vấn đề sống còn đảm bảo thu nhập
và thương hiệu của các ngân hàng trong nền kinh tế thị trường Ngoài ra, vấn
đề đảm bảo và nâng cao chất lượng quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối
là cấp thiết vì nó ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra hết sức sôi động
Cả lý thuyết và thực tế đều cho thấy các quốc gia không thể tách mình ra khỏi quá trình này, ngược lại, các nước, nhất là các nước đang phát triển và chậm phát triển cần nhanh chóng hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu Kể từ ngày07/11/2006,Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO và đang trong tiến trình cải cách để hội nhập vào nền kinh tế thế giới và song song là tiến trình tự do hóa nền kinh tế mà lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu chính là lĩnh vực tài chính ngân hàng.Tiến trình tự
do hóa kinh tế tất yếu dẫn đến tự do hóa các dòng vốn, tự do hóa lãi suất và tự
do hóa tỷ giá hối đoái.Từ trước tới nay, nhờ chính sách can thiệp của nhà nước đã giúp cho lãi suất và tỷ giá hối đoái rất ổn định, ngoại trừ một sốthời điểm đặc biệt như khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á năm1997-
Trang 10vào khâu tín dụng, có những ngân hàng hoạt động kinh doanh tín dụng chiếm đến hơn 90% Vì thế, vấn đề kinh doanh ngoại hối cũng như rủi ro trong kinh doanh ngoại hối chưa được các ngân hàng quan tâm đúng mức.Trong thực tế,
do thiếu kinh nghiệm thực tiễn, thời gian tham gia vào hoạt động ngoại hối quốc tế chưa nhiều, trình độ nghiệp vụ chuyên môn chưa cao, kinh nghiệm quản lý yếu kém nên không ít ngân hàng thương mại Việt nam đã gặp phải những rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, gây thiệt hại không nhỏ Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thịnh vượng- VP Bank cũng không nằm ngoài thực tế như trên của các NHTM ở Việt Nam Bên cạnh những thành tựu đã đạt được VP Bank cũng có những tồn tại và hạn chế Do
đó, quản lý rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối là một vấn đề hết sức bức xúc, đòi hỏi sự nghiên cứu tìm ra những giải pháp góp phần nâng cao khả năng quản lý rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài: “Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh
doanh ngoại hối tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng- Chi nhánh Hà Nội” đã được chọn làm đề tài nghiên cứu khoá luận
tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn
Trong những năm gần đây từ khi thị trường chứng khoán sôi động, tỷ giá một số ngoại tệ tăng giảm nhanh, giá vàng biến động mạnh, tỷ trọng kinh doanh tín dụng giảm dần, nhiều loại hình kinh doanh mới xuất hiện như đầu
tư tài chính, kinh doanh vàng, v.vv… áp lực cạnh tranh trên thị trường tăng cao thì các ngân hàng mới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến việc sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho KDNH và các giải pháp khác trong việc quản lý rủi ro trong hoạt động KDNH
Trang 11Trong các giáo trình về ngân hàng thương mại, giáo sư Nguyễn Văn Tiến đã có nghiên cứu và viết về vấn đề này như: “Toàn tập Quản trị ngân hàng Thương Mại”-NXB Lao Động- 2015
- Trong tạp chí Nghiên cứu kinh tế tháng 3/2013, hai tác giả Phạm Thị Hoàng Anh & Nguyễn Thị Hồng Hải đã có bài “Đánh giá hoạt động thị trường ngoại hối Việt Nam trong năm 2012”
Ngoài ra một sô đề tài nghiên cứu về vấn đề này tại các ngân hàng thương mại khác đã được thực hiện như:
-Luận văn thạc sỹ “Phát triển kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng TMCP
Ngoại Thương chi nhánh Nha Trang” của tác giả Đỗ Thị Hòa năm 2013 tại Đại học Đà Nẵng
- Luận văn thạc sỹ kinh tế của Đào Hữu Thành về “Phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” tại trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân năm 2010
- Luận văn thạc sỹ “Quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ của Ngân Hàng TMCP Hàng Hải” của tác giả Nguyễn Thanh Hải năm 2012 tại Đại học Kinh
Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Tuy nhiên, về vấn đề quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại VP Bank chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách xuyên suốt từ thực trạng đến giải pháp Đó chính là lý do đề tài này được chọn để nghiên cứu
3 Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ vấn đề lý luận về quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của NHTM
- Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng- Chi nhánh Hà Nội
Trang 12- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng- Chi nhánh Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về lý luận và thực
tế về quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng- Chi nhánh Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: Quản lý rủi ro ngoại hối tại NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng- Chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2012 – 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn:
- Phương pháp luận : Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin và hệ thống cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
+Phương pháp thống kê, thu thập thông tin
+ Phương pháp phân tích - tổng hợp
+ Phương pháp đối chiếu - so sánh
- Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phân tích, tập hợp các ý tưởng thực tiễn tại Việt Nam, cũng như dựa trên quy luật phát triển tất yếu khách quan của một vấn đề kinh tế xã hội để hình thành nên luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi
ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
- Phân tích tổng quan hoạt động kinh doanh ngoaị hối tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng- Chi nhánh Hà Nội, thực trạng quản lý các rủi ro kinh doanh ngoại hối thường gặp trong hoạt động kinh
Trang 13doanh ngoại hối, đồng thời trình bày các biện pháp quản trị rủi ro được áp dụng tại ngân hàng, trên cơ sở đó đưa ra các điểm hạn chế trong hoạt động quản trị rủi ro kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng- Chi nhánh Hà Nội
- Đánh giá nhằm rút ra những giải pháp và kiến nghị cho việc nâng cao chất lượng quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng- Chi nhánh Hà Nội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở khoa học về quản trị rủi ro trong hoạt động kinh
doanh ngoại hối của NHTM
- Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank)- Chi nhánh Hà Nội
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản
trịrủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng TMCP Việt
Nam Thịnh Vượng (VP Bank)- Chi nhánh Hà Nội
Trang 14Ngân hàng thương mại có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch
vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Song xét trên giác độ những loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp, khái niệm Ngân hàng thương mại được định nghĩa như sau: Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế
NHTM là loại ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh
tế xã hội đã chứng minh rằng: ở đâu có một hệ thống ngân hàng thương mại phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế - xã hội Luật Các Tổ chức tín dụng do Quốc hội Khóa X thông qua vào ngày12 tháng 12 năm 1997 và sửa đổi vào ngày 15/6/2004, định nghĩa: Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan Luật này còn định nghĩa: Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thànhlập theo quy định của Luật này và các quy định pháp luật khác của phápluậtđể hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dụngnhậntiền gửi
và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Trang 15Theo Luật Ngân hàng Nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 và sửa đổi bổ sung 17/6/2003 Luật Ngân hàng Nhà nước định nghĩa “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiềnnàyđể cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”
Như vậy, có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội
1.1.2 Hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Thương mại
Khác với hoạt động kinh doanh vốn dựa trên lãi suất, hoạt động kinh doanh ngoại hối dựa trên tỷ giá Lãi, lỗ trong kinh doanh ngoại hối chính là chênh lệch giữa tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra Các ngân hàng thương mại thường có các hoạt động kinh doanh ngoại hối gồm: kinh doanh ngoại tệ phục
vụ nhu cầu chuyển tiền và thanh toán quốc tế của khách hàng, kinh doanh arbitrage, môi giới cho khách hàng phục vụ nhu cầu đầu tư, tự doanh nhằm
mục đích đầu cơ trong việc dự đoán xu thế tỷ giá
1.1.2.1 Giao dịch giao ngay (Spot Transaction)
Giao dịch giao ngay là giao dịch mua bán một số lượng ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 2 ngày làm việc kể từ ngày cam kết mua bán
Tỷ giá giao ngay được xác định theo quy luật cung cầu trên thị trường liên ngân hàng Tỷ giá giao dịch giữa các ngân hàng gọi là tỷ giá bán buôn và
tỷ giá các ngân hàng áp dụng cho khách hàng của mình gọi là tỷ giá bán lẻ Tuy nhiên do doanh số giao dịch trên thị trường bán buôn là chủ yếu nên theo
Trang 16thành viên tham gia thị trường bao gồm các ngân hàng thương mại, các công
ty tài chính lớn, các nhà môi giới và các ngân hàng trung ương, trong đó các ngân hàng thương mại đóng vai trò chủ chốt
Thị trường giao ngay là thị trường có tính thanh khoản cao, với chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán (spread) là rất hẹp, thông thường là nhỏ hơn 0.1% Khối lượng giao dịch giao ngay chiếm 33% tổng khối lượng giao dịch trên thị trường ngoại hối Trong tháng 4 năm 2016, giá trị giao dịch trung bình ngày của giao dịch giao ngay là 1.652 tỷ đô la Mỹ (theo báo cáo 3 năm của BIS)
Nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage)
Một nghiệp vụ ứng dụng của nghiệp vụ giao ngay là kinh doanh chênh lệch giá giao ngay Nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá là nghiệp vụ thực hiện việc mua một đồng tiền ở nơi giá thấp và bán lại ở nơi giá cao hơn (hoặc ngược lại) tại cùng một thời điểm để thu lợi nhuận từ chênh lệch giá hoặc ngược lại
Mức giá giữa các thị trường giao ngay chênh lệch tạo ra cơ hội kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường giao ngay Vì vậy có thể xem nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá là một ứng dụng của nghiệp vụ hối đoái giao ngay
Về mặt lý thuyết thì kinh doanh chênh lệch tỷ giá không hề chịu rủi ro tỷ giá
và không phải bỏ vốn Nghiệp vụ Arbitrage không tạo ra trạng thái trường hay đoản và rủi ro trong kinh doanh không hề phát sinh
Ngày nay, với sự hỗ trợ đắc lực của kỹ thuật truyền thông và phương tiện điện tử, một ngân hàng có thể kiểm soát hầu hết tất cả tỷ giá giữa USD và với các đồng tiền mạnh ở tất cả các trung tâm giao dịch quốc tế như New York, London, Frankfurt, Paris, Tokyo,… Mọi diễn biến của thị trường đều được cập nhật và các thị trường hoạt động ngày càng liên kết chặt chẽ với nhau và trở nên rất hiệu quả Do vậy, chênh lệch tỷ giá giữa các nơi hầu như không còn hoặc nếu có thì cũng rất ít và cũng chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc, sau
đó cũng lập được sự cân bằng bằng sự điều chỉnh cung cầu của thị trường
Trang 171.1.2.2.Giao dịch kỳ hạn (Forward Transaction)
Giao dịch kỳ hạn là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua bán với một lượng ngoại tệ nhất định tại một thời điểm xác định trong tương lai với một tỷ giá đã được xác định ngay khi giao dịch được ký kết
Tỷ giá áp dụng trong giao dịch kỳ hạn được gọi là tỷ giá kỳ hạn Tỷ giá
kỳ hạn là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay để làm cơ sở cho việc giao dịch tiền tệ tại một ngày xác định xác định trong tương lai, thông thường là bội số của 30 ngày Thông thường kỳ hạn tối thiểu của Hợp đồng kỳ hạn với các cá nhân, doanh nghiệp (khách hàng bán lẻ) là 1 tháng, từ 7-15 ngày đối với thị trường liên ngân hàng
Giao dịch ngoại hối kỳ hạn được sử dụng phổ biến để bảo hiểm rủi ro
tỷ giá trong kinh doanh quốc tế Việc tỷ giá thay đổi ảnh hưởng lớn đến các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu và các nhà đầu tư Nếu doanh nghiệp
có một khoản phải thu, một tài sản hay một thu nhập trong tương lai định giá bằng ngoại tệ (gọi tắt là tài sản định giá bằng ngoại tệ), giá ngoại tệ đang có xu hướng giảm xuống, doanh nghiệp có thể bảo hiểm rủi ro này bằng cách tạo ra một tình trạng đóng (offsetting) cho tài sản này thông qua thị trường kỳ hạn Cụ thể là doanh nghiệp sẽ bán kỳ hạn tài sản này
Do tỷ giá trên hợp đồng kỳ hạn được xác định vào ngày ký kết hợp đồng nên dù tỷ giá hối đoái trên thị trường giao ngay thay đổi như thế nào, giá trị của tài sản tính bằng đồng nội tệ vẫn không thay đổi Ngược lại, nếu doanh nghiệp có một khoản nợ định giá bằng ngoại tệ, doanh nghiệp sẽ mua kỳ hạn ngoại tệ để tạo ra một trạng thái đóng bằng đồng bản tệ cho khoản nợ của mình Nếu sự biến động của tỷ giá giao ngay đúng như dự đoán của doanh nghiệp, doanh nghiệp đã bảo hiểm được cho tài sản (nợ) của mình Nếu ngược lại, sự thiệt hại trên hợp đồng kỳ hạn được xem như
là chi phí bảo hiểm
Trang 18Bên cạnh đó, các chủ thể tham gia thị trường ngoại hối còn sử dụng hợp đồng ngoại hối kỳ hạn để đầu cơ Kinh doanh tiền tệ cũng giống như hàng hóa, nếu nhà đầu cơ dự đoán tỷ giá giao ngay trong tương lai 90 ngày sẽ cao hơn tỷ giá kỳ hạn 90 ngày hiện nay thì anh ta sẽ mua tiền tệ theo tỷ giá kỳ hạn Ngược lại, anh ta sẽ bán số tiền theo tỷ giá kỳ hạn nếu dự đoán tỷ giá giao ngay trong tương lai thấp hơn tỷ giá kỳ hạn Nếu dự đoán đúng, nhà đầu cơ sẽ hưởng lợi trên sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán tiền tệ và ngược lại
Hợp đồng ngoại hối kỳ hạn cũng đóng một vai trò quan trọng trong kinh doanh chênh lệch lãi suất có phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Khối lượng giao dịch kỳ hạn chiếm 13% tổng khối lượng giao dịch trên thị trường ngoại hối Trong tháng 4 năm 2016, giá trị giao dịch trung bình
ngày của giao dịch kỳ hạn là 700 tỷ đô la Mỹ (theo báo cáo 3 năm của BIS)
1.1.2.3 Giao dịch hoán đổi (Swap Transaction)
Giao dịch hoán đổi (swap) là việc đồng thời thực hiện mua vào và bán ra một lượng ngoại tệ nhất định, trong đó giá trị ngày mua vào và giá trị ngày bán ra khác nhau Giao dịch hoán đổi ngoại tệ có thể thực hiện trên thị trường liên ngân hàng hoặc giữa ngân hàng với một khách hàng (cá nhân hoặc doanh nghiệp)
Giao dịch hoán đổi ngoại tệ điển hình nhất là hoán đổi giao ngay với có
kỳ hạn (Spot againt forward) Một nhà kinh doanh tiền tệ (dearlers) sẽ mua một số lượng nhất định ngoại tệ trên thị trương giao ngay của một ngân hàng
và đồng thời bán số ngoại tệ đó theo phương thức có kỳ hạn do chính ngân hàng đó Cách thức giao dịch này thường được tiến hành với một ngân hàng,
vì vậy, các nhà kinh doanh tiền tệ không phải gánh chịu rủi ro về tỷ giá hối đoái Sự khác biệt giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn đã được biết thông qua niêm yết tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn của ngân hàng.Nghiệp vụ hoán đổi giao ngay với có kỳ hạn cung có thể được thực hiện giữa các doanh nghiệp kinh doanh thương mai quốc tế với các ngân hàng Các doanh nghiệp
Trang 19sử dụng nghiệp vụ hoán đổi để đáp ứng nhu cầu vốn mua bán hàng hóa, dịch
vụ bằng các loại tiền khác nhau trong từng kỳ khác nhau Đồng thời giảm được chi phí vốn nếu không sử dụng giao dịch hoán đổi
Hình thức giao dịch hoán đổi ngoại tệ phức tạp hơn là hoán đổi có kỳ hạn với có kỳ hạn (Forward – Forward swap), còn được gọi là nghiệp vụ kỳ hạn hai chiều Về thực chất giao dịch này được xem là kỹ thuật vay vốn bằng các đồng tiền khác nhau để đáp ứng nhu cầu sử dụng của các bên tham gia giao dịch Vì vậy, cả hai bên tham gia giao dịch hoán đổi ngoại tệ cần phải xem xét đến mối quan hệ giữa chênh lệch lãi suất và chênh lệch tỷ giá Nếu chênh lệch lãi suất đúng bằng chênh lệch tỷ thì không bên nào bị thiệt do nghiệp vụ hoán đổi Nhưng nếu lãi suất không cân bằng thì một nghiệp vụ hoán đổi Nhưng nếu lãi suất không cân bằng thì một bên tham gia giao dịch
bị thiệt do khác biệt lãi suất không bù đắp được khác biệt tỷ giá và khi đó phải xem xét lợi ích sử dụng vốn đề quyết định
Giao dịch hoán đổi được sử dụng như một công cụ phòng ngừa rủi ro hối đoái Nếu không sử dụng nghiệp vụ hoán đổi, các doanh nghiệp tham gia thị trường ngoại hối buộc phải mua hoặc bán các loại ngoại tệ để có được loại tiền tệ đáp ứng nhu cầu kinh doanh và do đó phải gánh chịu hai khoản thiệt hại là chênh lệch giá mua, giá bán và khi cần lại loại ngoại tệ ban đầu lại phải tiếp tục bán mua trên thị trường Nghiệp vụ hoán đổi sẽ cho phép tránh được thiệt hại này do các bên tham gia sẽ cho phép tránh được thiệt hại là chênh lệch giá mua, giá bán và khi cần lại loại ngoại tệ ban đầu lại phải tiếp tục bán mua trên thị trường
Khối lượng giao dịch kỳ hạn chiếm trên 50% tổng khối lượng giao dịch trên thị trường ngoại hối Trong tháng 4 năm 2016, giá trị giao dịch trung bình ngày của giao dịch kỳ hạn là 2.378 tỷ đô la Mỹ (theo báo cáo 3 năm của BIS)
Trang 201.1.2.4 Giao dịch tương lai (Future Transaction)
Giao dịch tương lai là một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ nhất định theo tỷ giá cố định tại một thời điểm cố định được xác định bởi trung tâm giao dịch
Giao dịch tương lai được thực hiện bởi thị trường tiền tệ quốc tế Chicago (International Monetary Market (IMM) of Chicago) lần đầu tiên năm 1972 như là một bộ phận của Sở giao dịch hàng hóa Chicago Đến 1985, hợp đồng giao dịch giữa Sở giao dịch tiền tệ Chicago được thực hiện với Sở giao dịch tiền tệ Singapore (Singapore International Monetary Exchange – SIMEX) Hiện nay, giao dịch tương lai đã được thực hiện bởi nhiều Sở giao dịch tiền
tệ như New York Futures Exchange, là một chi nhánh của New York Stock Exchange, London International Financial Futures Exchange) và nhiều quốc gia khác trên thế giới
Đặc trưng cơ bản của giao dịch giao sau là tiêu chuẩn hóa trên các phương diện sau:
Đồng tiền giao dịch: Chỉ áp dụng cho một số ngoại tệ là USD, GBP, CAD, JPY, CHF, EUR
Qui mô hợp đồng: Trên thị trường Chicago, qui mô hợp đồng là 100.000AUD, 62.500GBP, 100.000CAD, 12.500.000JPY, 125.000EUR, 125.000 CHF
Phương pháp yết tỷ giá: yết giá kiểu Hoa Kì được sử dụng trên thị trường Chicago, nghĩa là giá USD của 1 đơn vị ngoại tệ
Ngày đến hạn: Trên thị trương Chicago,các hợp đồng đến hạn vào ngày thứ tư tuần thứ ba của các tháng 1, tháng 3, tháng 4, tháng 6, tháng 7, tháng 9, tháng 10 và tháng 12
Ký quỹ: Người mua phải ký quỹ một khoản ban đầu như khoản bảo đảm thực hiện hợp đồng (Performance Bond) bằng thư tín dụng ngân hàng
Trang 21(Bank’s letter of credit), trái phiếu kho bạc hoặc tiền mặt Đồng thời người mua cũng phải ký quỹ một khoản để duy trì hợp đồng
Thanh khoản hợp đồng: Chỉ khoảng 5% số hợp đồng tương lai đã ký được thanh khoản khi đến kỳ hạn bằng cách chuyển tiền giữa người mua và người bán, số hợp đồng còn lại thường được người mua và người bán thanh khoản bù trừ hàng ngày trước khi đến hạn Hợp đồng tương lai có thể được thanh khản hàng ngày và thực hiện nghiệp vụ ký hợp đồng bồi hoàn (Offset contract)
Hoa hồng: Khách hàng phải trả hoa hồng cho người môi giới tại các sở giao dịch để nối kết các hợp đồng tương lai Tại các sở giao dịch chỉ niêm yết một tỷ giá cho người mua và người bán giao dịch, điều này khác với thị trường liên ngân hàng niêm yết tỷ giá mua, tỷ giá bán và không thu phí
Mục đích của giao dịch tương lai là để đầu cơ ngoại tệ nhằm tìm kiếm lợi nhuận Nhà đầu cơ dự báo một loại ngoại tệ nào đó lên giá sẽ ký hợp đồng mua và ngược lại, nếu dự báo ngoại tệ đó xuống giá sẽ ký hợp đồng bán Hành vi đầu cơ ở đây là đầu cơ giá chứ không phải đầu cơ tiền thực nên ngay khi giao dịch nhà đầu cơ chưa cần vốn
Giao dịch tương lai cũng được sử dụng như một công cụ phòng chống rủi ro mặc dù rất hạn chế do những đặc điểm của giao dịch Nguyên lý là khi doanh nghiệp có một lượng ngoại tệ sẽ thu hoặc phải trả mà đồng tiền thanh toán sẽ giảm giá hoặc lên giá thì doanh nghiệp nên ký hợp đông tương lai bán hoặc mua số lượng ngoại tệ đó theo kỳ hạn sẽ thu hoặc phải trả ngoại tệ Nếu
sẽ thu mà đồng tiền giảm giá, hợp đồng bán tương lai sẽ tạo ra một khoản chênh lệch đối ứng, nếu phải trả mà đông tiền lên giá ,hợp đồng tương lai sẽ mua cũng tạo ra khoản chênh lệch đôi ứng đó Trong cả hai trường hợp, hợp đồng tương lai sẽ hóa giải rủi ro do thay đổi tỷ giá
Trang 221.1.2.5 Giao dịch quyền chọn (Option Transaction)
Quyền chọn là công cụ tài chính mang lại cho người sở hữu quyền mua hoặc bán (nhưng không bắt buộc) một số lượng ngoại tệ nhất định với giá ấn định trước (giá thực hiện) vào hoặc tới một ngày ấn định Người mua hợp đồng quyền chọn phải trả cho người bán một khoản tiền lệ phí nhất định Các bên tham gia Hợp đồng quyền chọn:
1.1.3 Rủi ro trong trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của các Ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Khái niệm về rủi ro trong kinh doanh ngoại hối
Rủi ro là một khái niệm chỉ khả năng xảy ra những biến cố mang lại kết quả xấu khi tiến hành một công việc nào đó Mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực kinh doanh đều có những rủi ro đặc thù riêng của mình Hoạt động kinh doanh ngoại hối cũng là một hoạt động hết sức nhạy cảm và tiềm ẩn nhiều rủi ro Rủi
ro trong kinh doanh ngoại hối là những rủi ro làm sai lệch kết quả hoạt động kinh doanh do sự cố biến động về tỷ giá của các ngoại tệ có liên quan
Các đối tượng thường xuyên chịu rủi ro hối đoái là các ngân hàng, các công ty tham gia vào hệ thống tài chính quốc tế Có hai bộ phận cấu thành rủi
Hai đối tác
Người bán Hợp đồng
(Seller)
Người mua Hợp đồng (Buyer)
Bán HĐ chọn
mua (sell a call)
Bán HĐ chọn bán (sell a put)
Mua HĐ chọn mua (buy a call)
Mua HĐ chọn bán (buy a put)
Trang 23ro ngoại hối đó là mua bán ngoại hối và hoạt động trên tài khoản có và tài khoản nợ bằng ngoại tệ
Hoạt động mua bán ngoại hối của ngân hàng bao gồm:
Mua bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán hợp đồng thương mại;
Mua bán ngoại tệ cho chính mình hoặc cho khách hàng nhằm thực hiện mục đích đầu tư nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp;
Mua bán ngoại tệ cho chính mình hoặc cho khách hàng nhằm điều chỉnh tình trạng ngoại hối của đồng tiền nhằm giảm rủi ro ngoại hối;
Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ trong việc dự tính biến động tỷ giá
Trong các hoạt động mua bán ngoại tệ cho khách hàng, mục đích của ngân hàng là thu phí giao dịch nên ngân hàng không phải chịu rủi ro ngoại hối Rủi ro ngoại hối thực chất chỉ liên quan đến trạng thái mở đối với những hoạt động mua bán mang tính đầu cơ
Ngân hàng thương mại cũng phải chịu rủi ro ngoại hối với các hoạt động trên tài khoản có và tài khoản nợ bằng ngoại tệ Trạng thái ngoại hối của ngân hàng có thể mất cân đối trong trạng thái thực của một đồng tiền (rủi ro
tỷ giá, nếu NHTM trong trạng thái dư có thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi ngoại
tệ giảm giá, nếu dư nợ thì sẽ có rủi ro khi ngoại tệ tăng giá) Trong trạng thái
kỳ hạn, NHTM gặp rủi ro tỷ giá vào thời điểm đáo hạn hợp đồng Thậm chí ngay cả khi trạng thái ngoại tệ cân bằng vào một thời điểm nào đó thì cũng có rủi ro tỷ giá nguyên nhân là do kỳ đáo hạn của các giao dịch mua, bán kỳ hạn
là không trùng nhau (Ví dụ trong các hợp đồng SWAP)
1.1.3.2 Phân loại rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Thương mại
Trang 24 Rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính(hay còn gọi là rủi ro thị trường) là các rủi ro dẫn đến tổn thất do thị trường tài chính mang lại như rủi ro về tỷ giá, rủi ro lãi suất…Trừ các rủi ro trong kinh doanh là bất khả kháng, các rủi ro tài chính thường được kiểm soát chặt chẽ để hạn chế rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh do ngân hàng không phòng ngừa
Rủi ro tỷ giá hối đoái
Rủi ro tỷ giá là loại rủi ro gây nên sự biến động mạnh của tỷ giá dẫn đến
sự thua lỗ trong giao dịch Nói cách khác, rủi ro tỷ giá là rủi ro thua lỗ từ
trạng thái không cân bằng, không bảo hiểm (trạng thái mở) do sự biến động tỷ giá xác định
Đây là loại rủi ro có ý nghĩa rộng lớn trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại
tệ Trường hợp thường xảy ra nhất đối với loại rủi ro này là vịêc duy trì một trạng thái hối đoái mở của một đồng tiền nhất định Nếu như trạng thái hối đoái mở là dương (Long position) đối với một loại ngoại tệ hay tài sản Có (Asset) lớn hơn tài sản Nợ (Liabilities) mà ngoại tệ đó bị giảm gía thì chắc chắn sẽ bị rủi ro Mặt khác nếu đồng tiền đó lên giá, người quản lý ngân quỹ đang dư thừa đồng tiền đó sẽ thu đợc lợi nhuận từ việc chuyển đổi bằng tỉ giá
đó Kết quả ngược lại nếu trạng thái hối đoái mở là âm hoặc tài sản Nợ lớn hơn tài sản Có đồng tiền đó Như vậy, rủi ro về tỷ giá sẽ xuất hiện nếu một trạng thái hối đoái mở được tạo ra
Cung cầu ngoại hối trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và nhạy bén đến biến động của tỷ giá hối đoái Quan hệ cung cầu của ngoại hối
bị ảnh hưởng bởi các yếu tố:
Trang 25- Tình hình dư thừa (thiếu hụt) của cán cân thanh toán quốc tế Nếu cán cân thanh toán dư thừa thì có thể dẫn đến khả năng cung lớn hơn cầu dẫn đến giảm tỷ giá và ngược lại
- Thu nhập thực tế tới mức độ GNP thực tế tăng sẽ là tăng nhu cầu thực
tế về hàng hóa nhập khẩu, dẫn đến tăng nhu cầu về ngoại hối làm tỷ giá tăng
- Nhu cầu ngoại hối tăng do các nhân tố bất thường do thiên tai, lũ lụt, hạn hán, mất mùa, chiến tranh…
Tỷ giá hối đoái biến động bên cạnh nguyên nhân do yếu tố cung cầu còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước và mức chênh lệch lãi suất giữa các nước có đồng tiền liên quan
Tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau mà các yếu tố này thay đổi dẫn đến sự biến động không ngừng của tỷ giá Đối với các ngân hàng thương mại có lượng giao dịch lớn thì chỉ cần một biến động nhỏ của tỷ giá cũng làm ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của ngân hàng
Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là những rủi ro phát sinh từ việc chênh lệch lãi suất tiền vay và tiền gửi ở các ngân hàng ảnh hưởng đến giá trị tiền tệ Trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, rủi ro lãi suất thường xảy ra với các giao dịch SWAP Khác với rủi ro lãi suất trên thị trường tiền tệ chỉ phải quan tâm đến biến động lãi suất của một đồng tiền, khi xem xét hoạt động của thị trường ngoại hối qua giao dịch SWAP cần phải quan tâm đến lãi suất của cả hai đồng tiền trong giao dịch
Giao dịch SWAP là giao dịch đồng thời có sự tham gia mua bán cùng một số lượng đồng tiền này với một đồng tiền khác, trong đó kỳ hạn thanh toán của 2 giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng giao dịch hoán đổi Do đó giao dịch SWAP không
Trang 26có tác động tới trạng thái hối đoái mở Lãi hay lỗ trong trạng thái SWAP chỉ phụ thuộc vào biến động lãi suất của hai đồng tiền có liên quan
Rủi ro tín dụng quốc tế
Rủi ro tín dụng quốc tế xuất hiện khi bên đối tác tham gia giao dịch không thực hiện nghĩa vụ mua bán ngoại tệ của mình vào thời điểm thực hiện cam kết đó Rủi ro tín dụng quốc tế gồm rủi ro thực hiện và rủi ro thanh toán Rủi ro xảy ra có thể do bên đối tác cố tình không thực hiện cam kết hoặc o các nguyên nhân khách quan như tình hình chính trị, chiến tranh, bạo động…
Do có sự chênh lệch về thời gian thực hiện thanh toán giữa các đồng tiền thanh toán nên có thể xảy ra các trường hợp ngân hàng chưa nhận được tiền thanh toán của khách hàng nhưng đã phải thực hiện thanh toán chuyển tiền theo như hợp đồng đã thỏa thuận Thời gian đóng cửa (cut off time) của các giao dịch cũng là trở ngại của ngân hàng trong quá trình chuyển tiền
Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động (Operational Risk – có thể được dịch là Rủi ro tác nghiệp hoặc Rủi ro vận hành) là rủi ro gây ra nguy cơ tổn thất do các quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc bị lỗi, do con người, do các hệ thống hoặc do các sự kiện bên ngoài
Rủi ro do môi trường thông tin
Đối với hoạt động ngân hàng, nhất là kinh doanh ngoại hối, thông tin là một yếu tố quan trọng Thông tin là nguồn dữ liệu để các NHTM dự báo, đo lường sự biến động của các yếu tố trong kinh doanh ngoại hối trong đó có cả rủi ro kinh doanh ngoại hối Vì vậy, thông tin không đầy đủ, không chính xác hoặc những tin đồn ác ý cũng có thể sẽ dẫn tới những rủi ro cho NHTM Rủi
ro do môi trường thông tin có thể xảy ra dưới các dạng sau: Thiếu thông tin
về đối tác nên bị đối tác lừa không thanh toán Thiếu thông tin phục vụ cho
Trang 27công tác đo lường, dự báo sự biến động của một số yếu tố như: tỷ giá hối đoái, rủi ro…nên đưa ra các quyết định sai lầm Gặp phải những tin đồn ác ý
do đối thủ cạnh tranh hoặc kẻ xấu tung ra
từ người được bảo hiểm sang người nhận bảo hiểm - công ty bảo hiểm) sẽ làm thay đổi hành vi của người tham gia/có liên quan
Còn trên góc độ tài chính, cũng theo Wikipedia, Rủi ro đạo đức rủi ro xảy ra khi mà các tổ chức cho vay dù biết rằng họ đang thực hiện một khoản cho vay mạo hiểm mà người đi vay có thể thanh toán nếu hoạt động đầu tư của họ tốt đẹp nhưng cũng có thể không thanh toán hoặc thanh toán không đủ trong trường hợp ngược lại nhưng vẫn thực hiện khoản cho vay này Rủi ro này có thể xảy ra với cả người đi vay và người cho vay Nhưng cũng có những quan điểm đơn giản chỉ cho rằng: Rủi ro đạo đức là rủi ro xảy ra do một hoặc hai bên cố tình làm trái với nguyên tắc hoặc vi phạm các nghĩa vụ
để làm lợi cho bản thân mình
Trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, rủi ro đạo đức ngày càng trở nên phổ biến Rủi ro này có thể xuất phát từ phía đối tác của các NHTM nhưng cũng có thể xuất phát từ chính NHTM.Trong một NHTM, rủi ro đạo đức có thể xuất phát từ hai bộ phận: Bộ phận quản lý và bộ phận nhân viên
Trang 28 Rủi ro tổ chức
Rủi ro tổ chức là những rủi ro do hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý đem lại Rủi ro này thường là do sự phân công trách nhiệm chưa rõ ràng giữa các bộ phận tham gia vào hoạt động kinh doanh ngoại hối là bộ phận giao dịch, thanh toán, kiểm soát; hay mô hình tổ chức kinh doanh ngoại hối còn chưa hiệu quả và hợp lý
Rủi ro quản lý
Đây là rủi ro do trình độ yếu kém của nhà quản lý trong khâu dùng người, quản lý hoạt động hoặc yếu kém trong việc đưa ra các quyết định.Rủi
ro do trình độ tác nghiệp trong kinh doanh ngoại hối là rủi ro sai sót, nhầm lẫn
do sự yếu kém về năng lực, trình độ của các cán bộ, nhân viên có liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh doanh ngoại hối
1.2 Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của các Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của việc quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Thương mại
1.2.1.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Thương mại
Quản trị rủi ro KDNH tại ngân hàng là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất do rủi ro gây ra
Rủi ro là một khái niệm chỉ khả năng xảy ra những biến cố mang lại kết quả xấu khi tiến hành một công việc nào đó Mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực kinh doanh đều có những rủi ro đặc thù riêng của mình Hoạt động kinh doanh
ngoại hối cũng là một hoạt động hết sức nhạy cảm và tiềm ẩn nhiều rủi ro Rủi
ro trong kinh doanh ngoại hối là những rủi ro làm sai lệch kết quả hoạt động kinh doanh do sự cố biến động về tỷ giá của các ngoại tệ có liên quan
Trang 29Các đối tượng thường xuyên chịu rủi ro hối đoái là các ngân hàng, các công ty tham gia vào hệ thống tài chính quốc tế Có hai bộ phận cấu thành rủi
ro ngoại hối đó là mua bán ngoại hối và hoạt động trên tài khoản có và tài khoản nợ bằng ngoại tệ
Hoạt động mua bán ngoại hối của ngân hàng bao gồm:
- Mua bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán hợp đồng thương mại;
- Mua bán ngoại tệ cho chính mình hoặc cho khách hàng nhằm thực hiện mục đích đầu tư nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp;
- Mua bán ngoại tệ cho chính mình hoặc cho khách hàng nhằm điều chỉnh tình trạng ngoại hối của đồng tiền nhằm giảm rủi ro ngoại hối;
- Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ trong việc dự tính biến động tỷ giá
Trong các hoạt động mua bán ngoại tệ cho khách hàng, mục đích của ngân hàng là thu phí giao dịch nên ngân hàng không phải chịu rủi ro ngoại hối Rủi ro ngoại hối thực chất chỉ liên quan đến trạng thái mở đối với những hoạt động mua bán mang tính đầu cơ
Ngân hàng thương mại cũng phải chịu rủi ro ngoại hối với các hoạt động trên tài khoản có và tài khoản nợ bằng ngoại tệ Trạng thái ngoại hối của ngân hàng có thể mất cân đối trong trạng thái thực của một đồng tiền (rủi ro
tỷ giá, nếu NHTM trong trạng thái dư có thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi ngoại
tệ giảm giá, nếu dư nợ thì sẽ có rủi ro khi ngoại tệ tăng giá) Trong trạng thái
kỳ hạn, NHTM gặp rủi ro tỷ giá vào thời điểm đáo hạn hợp đồng Thậm chí ngay cả khi trạng thái ngoại tệ cân bằng vào một thời điểm nào đó thì cũng có rủi ro tỷ giá nguyên nhân là do kỳ đáo hạn của các giao dịch mua, bán kỳ hạn
là không trùng nhau (Ví dụ trong các hợp đồng SWAP)
Trang 30Các rủi ro KDNH là một yếu tố khách quan, ngân hàng không thể loại trừ được tất cả mọi rủi ro có thể xảy ra khi tham gia giao dịch KDNH, mà ngân hàng chỉ có thể đưa ra các biện pháp và công cụ nhằm hạn chế sự xuất hiện của rủi ro
1.2.1.2.Sự cần thiết của quản trị rủi ro trong kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Thương mại
Một hệ thống quản trị rủi ro được tổ chức tốt và vận hành hiệu quả sẽ giúp các Ngân hàng đứng vững và vượt qua những biến động lớn trong các giai đoạn khókhăn Các nhân tố gây nên rủi ro đối với hoạt động KDNH của các Ngân hàng là luôn hiện hữu, cho nên hoạt động quản trị rủi ro KDNH của các NHTM là một nội dung quan trọng và luôn cần thiết mà các cấp lãnh đạo
và điều hành ngân hàng cần đặc biệt quan tâm
Quản trị rủi ro KDNH tốt giúp góp phần làm giảm thiểu chi phí hoạt động và hạn chế tổn thất cho các ngân hàng, từ đó sẽ giúp tối đa hóa lợi nhuận và giá trị cho cổ đông của ngân hàng.Quản trịrủi ro KDNH hiệu quả góp phần tạo điều kiện làm lành mạnh tìnhhình tài chính, ngăn ngừa nguy cơ phá sản và gia tăng uy tín cho các NHTM Qua đó, các NHTM góp phần tăng lòng tin nơi khách hàng và các đối tác trong và ngoài nước; đồng thời thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế ổn định và bền vững cho đất nước
Quản trị rủi ro KDNH tốt giúp phát hiện kịp thời những nguyên nhân có thể gây nên rủi ro cho hoạt động KDNH, từ đó ngân hàng có những giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro thích hợp
Quá trình này giúp xây dựng hình ảnh tốt đẹp cho ngân hàng, đáp ứng yêu cầu của các quy định trong nước và các chuẩn mực quốc tế
Hệ thống quản trị rủi ro KDNH hiệu quả giúp các NHTM có được các nhân tố tích cực sau trong quá trình hoạt động của ngân hàng như có sự giám sát và quản lý tích cực của Hội đồng quản trị và Ban điều hành; ban hành và
Trang 31triển khai đầy đủ các chính sách, quy trình quản trị rủi ro và các giới hạn rủi ro; thiết lập hệ thống thông tin quản trị rủi ro phù hợp; và thiết lập được hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ hoạt động phù hợp
Ngoài ra, việc thực hiện quản trị rủi ro KDNH một cách nghiêm túc giúp ngân hàng đảm bảo rằng vốn pháp định của ngân hàng không bị suy giảm và khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng đủ bù đắp tất cả các rủi ro mà có thể dẫn đến tổn thất cho ngân hàng tại mọi thời điểm Bộ phận kiểm soát rủi ro thực hiện việc theo dõi, đo lường tất cả các rủi ro của ngân hàng và đánh giá mức độ đầy đủ của khả năng chịu đựng rủi ro Nếu khả năng chịu đựng rủi ro
là không đảm bảo, ngân hàng sẽ có các biện pháp xử lý kịp thời
1.2.2 Nội dung quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Thương mại
1.2.2.1 Nhận diện rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Thương mại
Rủi ro tín dụng quốc tế:
Đây là rủi ro xuất hiện khi bên đối tác không thực hiện trách nhiệm Rủi
ro tín dụng quốc tế gồm có rủi ro thực hiện và rủi ro thanh toán (đối tác không thực hiện trách nhiệm khi đến hạn thanh toán) Do sự chênh lệch về thời gian thanh toán giữa các đồng tiền nên các NH khó kiểm soát được khoản tiền khách hàng đã vào tài khoản của mình hay chưa Trong khi đó, NH đã phải chuyển tiền cho khách hàng theo như hợp đồng đã thoả thuận Thời gian cut off time (đóng cửa) của các giao dịch cũng là trở ngại của NH trong quá trình chuyển tiền Tuy nhiên, rủi ro này có thể tránh khỏi nếu các bên đều sử dụng
hệ thống thanh toán bù trừ CLS (Clearing Systems)
Rủi ro tài chính (Financial risk):
Trang 32Khi trạng thái ngoại tệ không cân bằng thì rủi ro này xuất hiện Trong trường hợp, trạng thái ngoại tệ cân bằng nhưng khác nhau về thời gian thì rủi ro
tỷ lệ Swap xảy ra Nhu cầu khách hàng rất đa dạng và phong phú, khách hàng cần loại ngoại tệ khác nhau, thời gian mua bán khác nhau nên rủi ro này thường xảy ra Đôi khi, rủi ro xảy ra chỉ vì tại thời điểm giao dịch của khách hàng, các đối tác của NH không giao dịch vì thế NH phải tự yết giá cho khách hàng Khi tỷ giá thay đổi, mua hay bán các đồng ngoại tệ đều sẽ bộc lộ rủi ro ngoại tệ
Rủi ro tài chính là rủi ro dẫn đến tổn thất do thị trường tài chính mang lại như rủi ro về lãi suất, tỷ giá, rủi ro về biến động giá chứng khoán, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản Trừ rủi ro kinh doanh là bất khả kháng, rủi ro về tài chính thường được kiểm soát chặt chẽ để hạn chế rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh do chính ngân hàng không phòng ngừa
Rủi ro hoạt động:
Đó là những yếu tố thuộc về con người như kiến thức tổng quát, kiến thức chuyên môn, khả năng phân tích, sức khỏe, trạng thái, yếu tố tâm lý, ngôn ngữ, phẩm chất, môi trường làm việc Những yếu tố thuộc về máy móc: thiếu trang thiết bị, máy móc nghiệp vụ nên thiếu thông tin và cơ cấu tổ chức chưa phù hợp, nhiều nhân viên giao dịch không có khả năng thích ứng khi hoạt động KDNT phát triển
Rủi ro kiểm soát:
Rủi ro khi kiểm soát viên sai sót trong quá trình kiểm tra chứng từ, lập thiếu chừng từ trong mua bán ngoại tệ làm cho trạng thái ngoại tệ khác với thực
tế, không quản lý được chính xác trạng thái ngoại tệ Rủi ro có thể là do sự thay đổi quá nhanh của giá cả mà cũng có thể là rủi ro do thấu chi tài khoản
Ngoài ra, rủi ro do tình hình chính trị bất ổn đưa đến giá cả các loại ngoại tệ biến đổi quá nhanh không đúng với dự đoán
Trang 33Tóm lại, trong kinh doanh ngoại tệ, rủi ro rất dễ dàng xảy ra Một biến động về kinh tế, chính trị hay tin đồn bất lợi nào đó của các quốc gia cũng là nguyên nhân gây đến sự thay đổi nhanh chóng của tỷ giá Nếu như trạng thái lúc đó của NH đi ngược với xu hướng của thị trường thì RR là điều không thể tránh khỏi Rủi ro trong KDNT là điều không thể lường trước được nó có thể làm phá sản một NH nếu không có biện pháp phòng ngừa rủi ro
1.2.2.2 Đo lường rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Thương mại
Phương pháp đo lường VaR
Một trong những phương pháp đo lường rủi ro trong hoạt động KDNH tại các NHTM phổ biến nhất hiện nay là sử dụng mô hình VaR Với việc sử dụng mô hình VaR, các nhà kinh doanh và quản trị ngân hàngxác định được một con số cụ thể về mức độ rủi ro của danh mục ngoại hối mà ngân hàng đang nắm giữ Từ đó, các nhà quản trị ngân hàng xác định được mức độ rủi ro này có nằm trong phạm vi tổn thất cho phép của các lãnh đạo cao hơn trong ngân hàng hay không Phương pháp này có thể được thực hiện trước, trong hay sau khi các dealer thực hiện giao dịch Tuy nhiên, việc thực hiện tính toán VaR trước khi thực hiện giao dịch ngoại hối sẽ tốt hơn cho việc quản trị ngân hàng
Trong toán tài chính và quản trị rủi ro tài chính, VaR được sử dụng rộng rãi trong đo lường rủi ro bị tổn thất của một danh mục cụ thể Với một danh mục cho trước xác suất và khoảng thời gian, VaR được xem như là một ngưỡng giá trị mà khả năng bị tổn thất trên giá trị điều chỉnh theo thị trường của danh mục đó trong khoảng thời gian định trước vượt quá giá trị này (với giả định diễn biến thị trường như bình thường và không có giao dịch mua bán danh mục) chính là mức xác suất đã được cho trước
Sự cuốn hút lớn nhất của VaR là sự biểu diễn rủi ro dưới dạng một con số duy
Trang 34với một độ tin cậy xác định, thông thường ở mức 95%
Phương pháp đo lường trạng thái ngoại tệ
Đây cũng là một trong những phương pháp đo lường định lượng phổ biến hiện nay trên thế giới về mức độ rủi ro của các giao dịch ngoại hối mà ngân hàng thực hiện Mức độ chính xác của việc sử dụng phương pháp này phụ thuộc rất lớn vào việc dự đoán mức độ biến động của tỷ giá ngoại tệ Như tại Việt nam, theo hướng dẫn của Thông tư 07/2012/TT-NHNN ngày 20/03/2012, trạng thái ngoại tệ ròng của một TCTD được xác định bằng trạng thái nội bảng cộng với trạng thái ngoại bảng, hay là bằng chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ cộng với chênh lệch giữa mua vào
và bán ra bằng ngoại tệ được ghi nhận ở ngoại bảng Tổng trạng thái ngoại tệ cuối ngày của các TCTD, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài không được vượt quá 20% vốn tự có của TCTD, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài Các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có vốn tự có từ haimươi lăm triệu
đô la Mỹ trở xuống được phép áp dụng mức giới hạn tổng trạng thái ngoại tệ
là tổng trạng thái ngoại tệ cuối ngày quy ra đô la Mỹ không được vượt quá năm triệu đô la Mỹ Nếu trạng thái ròng của ngoại tệ lớn hơn 0, thì ta gọi là trạng thái trường, hay trạng thái dương; còn nếu nhỏ hơn 0 thì gọi là trạng thái đoản hay trạng thái âm Rõ ràng là, để tránh được rủi ro ngoại hối đối với một ngoại tệ nhất định, tức để cho ngoại tệ này có trạng thái ròng bằng 0, thì
Ngân hàng có thể tiến hành theo hai cách: Thứ nhất, đồng thời làm cân xứng
giữa doanh số mua vào và doanh số bán ra được ghi nhận ở ngoại bảng và cân xứng giữa số dư tài sản có và số dư tài sản nợ đối với ngoại tệ này được
ghi trong nội bảng; Thứ hai, làm cho trạng thái nội bảng và ngoại bảng ngược
dấu với nhau Về mặt logic, chúng ta cũng thấy rằng, để một Ngân hàng tránh được hoàn toàn rủi ro ngoại hối thì Ngân hàng này phải có trạng thái bằng 0 đối với tất cả các ngoại tệ, nhưng lúc đó lợi nhuận cho các giao dịch này cũng
Trang 35gần như không có
Như trên đã trình bày, chúng ta có thể lượng hóa được quy mô tiềm ẩn rủi ro ngoại hối bằng cách xác định trạng thái ròng nội bảng và ngoại bảng đối với từng ngoại tệ Tuy nhiên, mức rủi ro đối với trạng thái của một ngoại
tệ còn phụ thuộc vào mức độ biến động của tỷ giá Chúng ta có thể viết:
Lãi/lỗ đối với ngoại tệ (i) = Trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ (i) x
Mức biến động tỷ giá của ngoại tệ (i) (Trong đó: i là một loại ngoại tệ)
Ví dụ, một Ngân hàng có trạng thái ngoại hối trường ròng là 100 triệu USD và giả sử rằng sau một tuần tỷ giá giao ngay VND/USD tăng từ
1 USD = 20.520VND lên 1 USD = 20.535 VND
Gọi St-1 là tỷ giá của USD trước khi thay đổi, tức là: St-1 = 20.520
Gọi St là tỷ giá của USD sau khi thay đổi, tức là: St = 20.535
Ta tính được tỷ lệ % thay đổi tỷ giá (% thay đổi giá trị của USD):
Rõ ràng là, nếu Ngân hàng duy trì một trạng thái ngoại hối ròng với bất
cứ ngoại tệ nào thì khi tỷ giá của đồng tiền này biến động càng lớn thì khả năng thu được lợi nhuận (hay lỗ) cũng càng lớn
1.2.2.3 Các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Thương mại
Trang 36Hạn mức (position limits) là giới hạn trạng thái ngoại tệ tối đa mà mỗi
tổ chức, cá nhân kinh doanh ngoại tệ được phép thực hiện Việc quản lý hạn mức kinh doanh ngoại tệ ở một NHTM có thể dưới các dạng:
- Hạn mức chung cho cả phòng kinh doanh
- Hạn mức theo đồng tiền kinh doanh
- Hạn mức theo các loại hình nghiệp vụ kinh doanh cụ thể
Công cụ phái sinh
Sử dụng nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn
Mục đích của các hợp đồng kỳ hạn là nhằm loại trừ những khả năng không chắc chắn về tỷ giá giao ngay tại thời điểm tín dụng đến hạn Như vậy, thay vì chờ đến tận thời điểm đến hạn, mới chuyển lượng ngoại tệ thu được thành nội tệ với một mức tỷ giá giao ngay chưa biết trước, thì ngân hàng có thể tại thời điểm ngày hôm nay bán có kỳ hạn lượng ngoại tệ dự tính sẽ thu được bao gồm cả gốc và lãi tại mức tỷ giá kỳ hạn đã biết để nhận nội tệ Việc giao nhận giữa ngoại tệ và nội tệ được thực hiện tại thời điểm đến hạn Như vậy, bằng cách bàn kỳ hạn số ngoại tệ dự tính thu được với một tỷ giá đã được xác định ngay ngày hôm nay, ngân hàng đã tránh được rủi ro do tỷ giá biến động tại thời điểm đến hạn và do đó, đảm bảo được mức lợi tức dự tính trong hoạt động tín dụng bằng ngoại tệ
Sử dụng nghiệp vụ giao dịch tương lai
Thay vì sử dụng nghiệp vụ kỳ hạn, ngân hàng có thể sử dụng các hợp đồng tương lai để bảo hiểm rủi ro ngoại hối Các hợp đồng tương lai được giao dịch trên cơ sở có tổ chức Cần phải xác định số lượng hợp đồng mà ngân hàng phải bán là số lượng mà sao cho lợi nhuận thu được từ các hợp đồng tương lai này để bù đắp mọi thua lỗ từ khoản tín dụng bằng ngoại tệ khi giá trị đồng ngoại tệ giảm so với đồng nội tệ Nghĩa là, sự thay đổi tỷ giá giao
Trang 37ngay và giao tương lai có mối tương quan hoàn hảo với nhau, tức là rủi ro cơ bản bằng 0 Tỷ giá giao ngay và giao tương lai được dự tính là thay đổi cùng chiều (tăng cùng tăng và giảm cùng giảm), nhưng mức độ thay đổi khác nhau, tức là tồn tại rủi ro cơ bản Trong nhiều trường hợp, thị trường tuơng lai không cho phép ngân hàng áp dụng hợp đồng dài hạn để bảo hiểm khoản tín dụng có kỳ hạn Vì vậy, ngân hàng phải áp dụng phương pháp giao dịch trên thị trường tương lai và tăng sự không chắc chắn về giá trong các hợp đồng tiếp theo Điều này đã khiến cho các nhà quản trị ngân hàng ưu tiên bảo hiểm rủi ro các tài sản có kỳ hạn
Sử dụng nghiệp vụ giao dịch quyền chọn
Giống như hoạt động của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu, nhà đi vay và cho vay bằng ngoại tệ bảo hiểm rủi ro ngoại hối thông qua hợp đồng quyền chọn tiền tệ, một khả năng tương tự là việc các ngân hàng cũng có thể sử dụng được các hợp đồng quyền chọn nhằm bảo hiểm rủi ro ngoại hối Lúc đó, NHTM có thể mua hoặc bán một đồng tiền nhất định theo tỷ giá dã định trước, nên không
sợ sự biến động của tỷ giá làm thay đổi lãi dự tính Tuy nhiên, các NHTM phải trả một khoản chi phí nhất định khi tham gia giao dịch này và khoản chi phí này
sẽ chênh lệch nhau phù thuộc vào các yếu tố: Sự tồn tại rủi ro cơ bản, tính thanh khoản của thị trường, kỳ hạn của hợp đồng và bản chất của quyền chọn tương lai (quyền chọn tương lai kiểu Mỹ là có thể thực hiện quyền chọn trước khi hợp đồng đến hạn, trong khi đó bản chất của hợp đồng quyền chọn kiểu châu Âu chỉ
có thể thực hiện tại thời điểm khi hợp đồng đến hạn)
Cần lưu ý, một khía cạnh khác của thị trường phi tập trung (OTC) và thị trường không tập trung đó là tính pháp lý và thuế Trong nhiều giao dịch, thuế chỉ đánh trên sàn, cũng như tính pháp lý được xem xét rất nghiệm ngặt trên thị trường OTC Ngược lại, khi giao dịch trên sàn thì đối tác của nhà giao dịch
Trang 38 Sử dụng nghiệp vụ hoán đổi
Đây là nghiệp vụ được các NHTM trên thế giới sử dụng rất phổ biến để bảo hiểm rủi ro ngoại hối của mình Trong trường hợp các tiền tệ trên bảng cân đối tài sản không cân xứng với nhau, chúng ta dễ thấy rằng trong giao dịch hoán đổi tiền tệ thì phần gốc và phần lãi đều được bao gồm trong hợp đồng Đối với giao dịch hoán đổi lãi suất thì chỉ phần thanh toán lãi suất là bao gồm trong hợp đồng Lý do là vì trong giao dịch hoán đổi tiền tệ thì cả phần gốc và phần lãi đều bộc lộ rủi ro ngoại hối
Biện pháp đào tạo nguồn nhân lực
Có rất nhiều loại rủi ro trong kinh doanh ngoại hối xuất phát từ nhân tố con người, vì vậy, việc đưa ra loại biện pháp này là vô cùng quan trọng ở đây, các biện pháp đào tạo nguồn nhân lực không những tác động tới trình độ nghiệp vụ kinh doanh, nghiệp vụ quản lý của nguồn nhân lực mà còn đề cập tới cả vấn đề đạo đức nhất là khi rủi ro đạo đức trong các NHTM đang ngày một gia tăng Mặt khác, các biện pháp này còn nhằm tới cả 2 đối tượng là các nhà quản lý và các cán bộ, nhân viên trực tiếp làm nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối Đây là biện pháp ngày càng được sử dụng rộng rãi tại các NHTM
Biện pháp về công nghệ
Rủi ro vận hành, rủi ro do môi trường thông tin, rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngoại hối là rủi ro thường thấy ở các NHTM Vì vậy, để phòng tránh loại rủi ro này vấn đề công nghệ là vô cùng quan trọng Mục tiêu của nhóm giải pháp này là đổi mới, nâng cấp công nghệ cho mạng thông tin, máy móc thiết bị sử dụng trong giao dịch Thông qua đó, không những làm giảm rủi ro do vấn đề công nghệ mà còn mang lại cho NHTM thêm thông tin
về thị trường, đối tác, phân tích thông tin một cách chính xác và giảm thiểu rủi ro do thiếu thông tin hoặc thông tin không phản ánh trung thực
Trang 391.2.2.4.Tổng kết, đánh giá về rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM
Sau khi gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam có nhiều cơ hội để tiếp cận với các nguồn vốn lớn của thế giới Các dịch vụ sản phẩm ngành Ngân hàng ngày càng đa dạng nhằm tối ưu lợi nhuận cho khách hàng cá nhân, cho doanh nghiệp và cho cả các NHTM tại Việt Nam
Bên cạnh những lợi thế về kinh tế cũng có những rủi ro mà các doanh nghiệp và Lãnh đạo ngành Ngân hàng cần phải quan tâm, vì giao dịch hiện nay không chỉ bó hẹp ở Đồng Việt Nam và đôla Mỹ Đa dạng hoá đồng tiền trong giao dịch tài chính nhằm phục vụ cho các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư thông qua các NHTM cũng bắt các doanh nghiệp, NHTM phải đối diện với nhiều rủi ro Mối quan hệ chặt chẽ giữa ngân hàng - khách hàng - nền kinh tế, đòi hỏi các ngân hàng phải chủ động trong mọi tình huống, dự báo,
dự đoán được khả năng xảy ra và định lượng rủi ro Từ đó có biện pháp phòng ngừa hạn chế thấp nhất tác động của rủi ro
Trong năm 2014, Chính sách quản lý rủi ro thị trường ban hành đã đưa ra những nguyên tắc cơ bảnvà hệ thống công cụ, giới hạn rủi ro thị trường kiểm soát hoạt động kinh doanh (tradingbook) và các trạng thái rủi ro lãi suất trên
sổ ngân hàng (banking book) Với các công cụ kiểm soát sốkinh doanh như hạn mứcTrạng thái ngoại tệ ròng, hạn mức PV01, hạn mức chênh lệch ròng tiền, Duration…và số Ngân hàng như đo lường chênh lệch kỳ hạn (theo mô hình repricing – khe hở định giá lại) Khi các điều kiện về cơ sở hạ tầng
và mức độ sẵn có của dữ liệu đã sẵn sàng, NHTM nên áp dụng các phương pháp ưu việt hơn như VaR, mô phỏng Monte Carlo…để đo lường chính xác
độ rủi ro và xác định mức phân bổ vốn cần thiết để bù đắp rủi ro thị trường theo các tiêu chuẩn chuẩn mực của Basel 2
Trang 40kinh doanh ngoại hối như thường xuyên xây dựng các báo cáo đánh giá về tình hình hoạt động kinh doanh của các đối tác chiến lược, khách hàng chủ đạo, các đối thủ cạnh tranh để làm căn cứ choviệc thực hiện các giao dịch kinh doanh ngoại hối tránh rủi ro trong thanh toán
1.2.3 Các mô hình quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng thương mại
Mô hình quản lý rủi ro là cách thức tổ chức quản lý, đo lường, kiểm soát rủi ro nhằm khống chế rủi ro trong một giới hạn cho phép theo nguyên tắc tối
đa hoá lợi nhuận của tổ chức Mô hình quản lý rủi ro phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn, các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro, cac hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các rủi ro mới phát sinh và các phương án biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó khi có rủi ro xảy ra
Hiện nay có hai mô hình quản lý rủi ro phổ biến được áp dụng: Mô hình quản lý rủi ro tập trung và mô hình quản lý rủi ro phân tán
1.2.3.1 Mô hình quản trị rủi ro tập trung
Đây là mô hình được NHTM của các nước phát triển áp dụng như Anh, Mĩ… Đa số các ngân hàng lớn của các nước phát triển đều tập trung quản lý hoạt động kinh doanh ngoại hối về một hoặc một số đầu mối với mục đích giảm chi phí quản lý, đào tạo và thống nhất các luồng tiền tệ, trạng thái, tận dụng các nguồn tiền nhàn rỗi trong kinh doanh ngoại hối nhằm đem lại lợi nhuận lớn nhất trong mức rủi ro có thể chấp nhận được Thông qua việc tập trung các giao dịch kinh doanh ngoại hối ngoại tệ vào một hoặc một số đầu não chính, rủi ro cũng sẽ được tập trung vào đầu mối và do đó việc quản lý rủi
ro cũng sẽ chỉ cần tập trung vào đầu mối đó mà thôi Hơn nữa, ngược lại với
mô hình quản lý rủi ro phân tán, trong mô hình này, bộ phận kinh doanh ngoại hối của các NHTM sẽ được chia thành các bộ phận chuyên trách: bộ