LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Quản lý công với đề tài “Quản lý nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang”, tác giả
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH-2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/…… ……/.…
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ TRẤN HỶ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THẮNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công với đề tài “Quản lý nhà
nước đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang” là do chính tôi nghiên cứu và viết ra
Nội dung của Luận văn dựa trên quan điểm cá nhân của tác giả, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng hợp thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi
sự gi p đ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Tác giả xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu khoa học của mình
Kiên Giang, ngày … tháng năm 2018
Người cam đoan
Ngô Trấn Hỷ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ Quản lý công với đề tài “Quản lý nhà
nước đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang”, tác giả đã nhận được sự động viên, gi p đ , hướng dẫn nhiệt tình
của quý thầy, cô, đồng nghiệp và các bạn
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thắng, người trực tiếp hướng dẫn, gi p đ về mặt khoa học – đã chỉ bảo tận tình, đầy trách nhiệm để Luận văn được hoàn thành một cách tốt nhất
Đồng thời, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau Đại học, cùng quý thầy, cô đã tham gia quản
lý, giảng dạy và gi p đ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Bên cạnh đó, để có những số liệu, thông tin chính xác trong Luận văn, tác giả xin chân thành cảm ơn: Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang; Sở Nông Nghiệp và PTNT tỉnh Kiên Giang; UBND huyện An Biên-Kiên Giang; phòng Nông Nghiệp – PTNT huyện An Biên; Chi Cục Thống Kê huyện An Biên; các ban ngành có liên quan trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang; gia đình, đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ, khích lệ và gi p đ tôi trong suốt thời gian qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song chắc chắn còn có nhiều mặt hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong nhận góp ý và sự chỉ dẫn của quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để Luận văn được hoàn chỉnh hơn
Kiên Giang, ngày tháng năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NQ:
NQĐH
Nghị Quyết Nghị Quyết đại hội
NTTS:
NLTS
Nuôi trồng thủy sản Nông lâm thủy sản
Xã Hội Chủ Nghĩa
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Lịch sử chuyển đổi các mô hình canh tác phổ biến tại
huyện An Biên khi có chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế của
nhà nước
63
Hình 2.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện An Biên khi có chủ
trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế của nhà nước giai đoạn 2012 –
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QLNN ĐỐI VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 14
1.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 14
1.1.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp 14
1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 15
1.1.3 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 17
1.1.4 Yêu cầu đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 17
1.2 QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cấp huyện 21
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 21
1.2.2 Vai trò của QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 23 1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về nông nghiệp của chính quyền cấp Huyện 24
1.3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cấp huyện 31
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 31
1.3.2 Tác động của điều kiện kinh tế - xã hội 32
1.3.3 Nhận thức của các chủ thể về quản lý, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 32
1.3.4 Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 34
1.4 Kinh nghiệm của một số địa phương trong QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bài học rút ra đối với huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang 38
1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Đồng Tháp 38
Trang 91.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương 39 1.4.3 Kinh nghiệm của huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh 39 1.4.4 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam 41 1.4.5 Bài học r t ra cho huyện An Biên 41
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG 45 2.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của Huyện An Biên tác động đến QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 45
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 45 2.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa xã hội 48 2.1.3 Tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến quản lý nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên 52
2.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn Huyện An Biên 54
2.2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ từng ngành 54
2.3 Đánh giá thực trạng QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang 59
2.3.1 Tổ chức và thực thi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện 59 2.3.2 Xây dựng và thực thi các chính sách đối với chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp tại huyện An Biên 63 2.3.3 Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực quản lý của Nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 67
Trang 102.3.4 Thanh tra, kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 74 2.3.5 Tuyên truyền, giáo dục về ý thức chấp hành pháp luật và quản lý nhà nước trong nông nghiệp 75
2.4 Đánh giá chung về QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang 76
2.4.1 Kết quả đạt được 76 2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 77
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG 82 3.1 Định hướng hoàn thiện QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên 82
3.1.1 Cơ hội và thách thức đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên thời gian tới 82
3.1.2 Phương hướng chủ yếu hoàn thiện quản lý nhà nước trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên 86 3.1.3 Mục tiêu hoàn thiện quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện 87
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang 89
3.2.1 Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 89 3.2.2 Đẩy mạnh thực hiện công tác quy hoạch tập trung đầu tư có trọng điểm và thu h t đầu tư phát triển nông nghiệp 90 3.2.3 Củng cố tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước
về phát triển nông nghiệp 92
Trang 113.2.4 Đẩy mạnh công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động
chuyển dịch cơ cấu kinh tế 95
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện 97
3.3 Một số kiến nghị 99
3.3.1 Với Bộ Nông nghiệp và PTNT 99
3.3.2 Đối với các cơ quan cấp tỉnh 99
3.3.3 Kiến nghị với địa phương 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 105
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, bởi lẽ, “Để triển khai công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, trước hết phải thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền nông nghiệp, mà trong đó nội dung cốt lõi của bước đi ban đầu là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn kiểu mới” [1]
Xã hội loài người ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người sẽ không chỉ dừng lại ở mặt số lượng mà về chất lượng cũng ngày càng trở nên khắt khe hơn Để đáp ứng nhu cầu thị trường đòi hỏi sản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng và phong ph về chủng loại với chất lượng cao hơn thì việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp là yêu cầu cấp thiết và tất yếu Hơn nữa, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sẽ gi p khai thác tiềm năng và lợi thế riêng của mỗi vùng, mỗi địa phương trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sử dụng ngày càng hợp lý hơn các tiềm năng, lợi thế hàng hoá phục vụ xuất khẩu Với truyền thống là nền nông nghiệp l a nước, sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam chưa đáp ứng được hết các nhu cầu thực phẩm của con người, do đó chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
sẽ tạo ra cơ cấu nông sản phù hợp với thực tiễn và phương hướng phát triển của nền nông nghiệp đô thị Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Sản xuất nông nghiệp trước hết là sản xuất lương thực, là việc cần thiết nhất cho đời sống nhân dân, là bộ phận cực kỳ quan trọng trong kế hoạch kinh tế của Nhà nước” và “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [41] Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn phải chuyển dịch như thế nào cho phù hợp với điều kiện kinh tế
xã hội nước ta hiện nay là một vấn đề đáng qua tâm Việc nhìn lại một cách khái quát nhất tình hình nông nghiệp, nông thôn, từ đó có cách tiếp cận đ ng đắn, có luận cứ khoa học, hệ thống hóa lô-gíc để phân tích, luận giải các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với từng thời kỳ phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn đồng thời đưa ra những định hướng cho nông nghiệp, nông thôn
Trang 13Việt Nam phát triển trong tương lai - tất cả những việc đó là nhiệm vụ nặng nề đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứu nghiêm t c
Trước bối cảnh suy giảm kinh tế trong nước và thế giới những năm gần đây, nông nghiệp nước ta luôn đóng vai trò là bệ đ của nền kinh tế, mặc dù cùng lúc đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức Thời gian qua, Chính phủ đưa ra rất nhiều chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhưng chưa đủ sâu, chưa đủ mạnh và có một số chính sách chưa phù hợp với thực tiễn
Huyện An Biên tỉnh Kiên Giang có nhiều tiềm năng, lợi thế về phát triển nông nghiệp, vì nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế và giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện Trong những năm qua, ngành Nông nghiệp huyện An Biên đã có những bước tiến đáng kể và đạt được những thành tựu quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mà chủ yếu là chuyển dịch từ mô hình sản xuất lúa 02 vụ/năm sang mô hình sản xuất một vụ tôm – một vụ l a/năm Tuy nhiên, trong tình hình khó khăn chung của cả nước, ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh … nông nghiệp của tỉnh Kiên Giang nói chung và huyện An Biên nói riêng phải đối phó với nhiều khó khăn thách thức trong công tác quản lý chỉ đạo điều hành trên lĩnh vực nông nghiệp Đặc biệt là điều kiện sản xuất nông nghiệp của huyện An Biên không chủ động được nước tưới, sản xuất phụ thuộc hòan tòan vào nước trời nên sản xuất gặp rất nhiều khó khăn và thời gian gần đây lại còn khó khăn hơn do thời tiết diễn biến cực đoan, lượng mưa rất ít nắng hạn kéo dài, mặn xâm nhập xâu vào đồng ruộng, đả làm ảnh hưởng và thiệt hại trên 22.000 ha sản xuất lúa, ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến đời sống của người dân trên địa bàn huyện, tỉnh
đã công bố thiên tai và trung ương đã xuất ngân sách trên 117 tỷ đồng để hỗ trợ sản xuất cho người dân bị ảnh hưởng thiệt hại trong sản xuất l a năm 2015 -2016
để khắc phục một phần khó khăn, ổn định cuộc sống và tái đầu tư trong sản xuất Trước tình hình sản xuất lúa 02 vụ khó khăn như trên, hiệu quả kinh tế không cao huyện có chủ trương cho phép chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện và cụ thể là chuyển dịch mô hình sản xuất lúa 02 vụ không hiệu quả, rũi ro
Trang 14cao sang mô hình sản xuất nuôi một vụ tôm và sản xuất một vụ lúa Một số hộ dân không thực hiện đ ng theo quy hoạch sản xuất, tự ý thực hiện chuyển đổi hình thức sản xuất, lấy nước mặn vào để nuôi tôm khi chưa có sự đồng thuận của người dân trong vùng sản xuất, từ đó đã làm ảnh hưởng và thiệt hại đến các hộ trồng lúa lân cận, xảy ra mâu thuẩn và chanh chấp khiếu kiện đông người vượt cấp kéo dài Việc quản lý nhà nước về vấn đề này còn nhiều yếu kém Do vậy, trong thời gian tới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên cần thiết phải có những giải pháp cụ thể để việc thực hiện chuyển dịch mang lại hiệu quả, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, nâng cao hiệu quả sản xuất, thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu, biến thách thức thành cơ hội để ngành nông nghiệp phát triển trong thời gian tới
Xuất phát từ thực trạng trên, đề tài “Quản lý nhà nước đối với chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang” được
học viên lựa chọn để tìm hiểu và nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình, nhằm đóng góp một phần những giải pháp có tính khoa học và thực tiễn về chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện An Biên trong những năm tới
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về khái niệm kinh tế nông nghiệp, bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp là lĩnh vực sản xuất vật chất nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân, làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp và làm nguồn hàng cho xuất khẩu [31] Nghiên cứu về CCKTNN là một tổng thể bao gồm các mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố của LLSX và QHSX thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể CCKTNN phụ thuộc chặt chẽ vào nhiều nhân tố đa dạng và phức tạp có thể phân thành các nhóm nhân tố sau: Nhóm nhân tố tự nhiên: trước hết
đó là điều kiện đất đai, thời tiết, khí hậu có ý nghĩa to lớn đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Kinh tế nông nghiệp gắn với điều kiện tự nhiên rất chặt chẽ, nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ cho năng suất cao và ngược lại Nhóm nhân tố về kinh tế và tổ chức: Trong đó vấn đề thị trường và các nguồn lực đóng vai trò hết sức
Trang 15quan trọng Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và CDCCKT nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng Chính sách phát triển kinh tế hàng hoá và chính sách khuyến khích xuất khẩu đã tạo điều kiện
để phát triển nền nông nghiệp đa canh, hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá với quy mô ngày càng lớn Nhóm nhân tố về kỹ thuật: Tác động mạnh mẽ đến việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nó mở ra những triển vọng to lớn trong việc áp dụng những công nghệ mới vào canh tác, chế biến và bảo quản nông sản nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm để có thể hòa nhập vào thị trường thế giới [30] Các bộ phận cấu thành kinh tế nông nghiệp: Nông nghiệp là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế theo nghĩa rộng bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Đồng thời trong từng nhóm ngành lại được phân chia thành các bộ phận nhỏ: Trong nông nghiệp (theo ngành hẹp) được phân chia thành trồng trọt và chăn nuôi Ngành trồng trọt được phân chia tiếp thành: cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu…Ngành chăn nuôi bao gồm: gia s c, gia cầm Ngành lâm nghiệp bao gồm rừng trồng, rừng tự nhiên,khoanh nuôi tái sinh, khai thác rừng tự nhiên… Ngành ngư nghiệp:bao gồm đánh, bắt cá, nuôi trồng các loại thuỷ hải sản như tôm, cá…[31]
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam Từ khi đổi mới đến nay, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này trên nhiều bình diện Cụ thể là:
Nghiên cứu của Vũ Trọng Khải, Phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
hiện nay: những trăn trở và suy ngẫm (2015) [22]; nghiên cứu gi p tiếp cận những
vấn đề nóng bỏng một thời trong ngành nông nghiệp, trong đời sống nông thôn của Việt Nam, và cả nhiều vấn đề cho đến nay vẫn mang tính thời sự rất cao, như: “Tái cấu tr c hay xây dựng lại nền nông nghiệp Việt Nam”, “Cái gốc bền vững của việc xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam”, “Làm gì để gia tăng giá trị hạt gạo và thu nhập của người trồng l a gạo ở Việt Nam hiện nay” Nghiên cứu đã phân tích, đánh giá đ ng tác động và khiếm khuyết của các chính sách vĩ mô về nông nghiệp
và phát triển nông thôn để từ đó đề ra những nội dung cần phải thay đổi cho phù
Trang 16hợp với quy luật phát triển cũng như những đòi hỏi của thực tiễn sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay
Tổng kết lý luận và thực tiễn quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam qua các thời kỳ, có nghiên cứu của Đặng Kim Sơn, Hoàng Thu Hòa, Một số
vấn đề về phát triển nông nghiệp và nông thôn (2002) [30]; Kinh tế nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam đã trải qua một quá trình chuyển đổi mới mạnh mẽ lên sản xuất hàng hóa, hướng tới xuất khẩu và đã thu được những thành công lớn, thể hiện ở sự tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản và sự đa dạng hóa kinh
tế nông thôn Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều vấn đề của sản xuất nông nghiệp, nông dân và nông thôn cần phải tiếp tục giải quyết
Thứ nhất, vẫn chưa thống nhất trong việc xác định vị trí, vai trò của ngành nông, lâm thủy sản trong tổng thể nền kinh tế hiện nay Do đó dẫn đến nhiều bất cập trong hoạch định và thực thi các chính sách phát triển nông, lâm, thủy sản thời gian vừa qua Thứ hai, quy hoạch phân bổ tài nguyên (đất đai, nguồn nước ) phục vụ phát triển nông nghiệp chưa hợp lý, chưa hướng tới việc cải thiện năng lực cạnh tranh của các sản phẩm nông, lâm, thủy sản Điều này thể hiện ở sự mâu thuẫn, bất cập về quản lý nhà nước trong phân bổ, quản lý việc sử dụng đất vào phát triển các ngành sản phẩm nông, lâm, thủy sản theo điều kiện tự nhiên, sinh thái và nhu cầu thị trường dẫn đến tình trạng quy hoạch sản xuất nông, lâm, thủy sản bị phá v triền miên nhưng không được xử lý kịp thời và triệt để, tạo ra sự hỗn loạn trong sản xuất, hao phí vốn đầu tư của người nông dân, gây ra khó khăn cho đời sống của họ Thứ
ba, đầu tư xã hội và đầu tư của Nhà nước vào nông, lâm, thủy sản chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp hiện đại Cụ thể, tỷ trọng vốn đầu tư xã hội vào nông, lâm, thủy sản mấy năm gần đây đã giảm nhanh về tỷ trọng so với tổng đầu tư Đây chính là nguyên nhân rất cơ bản làm cho tình trạng kết cấu hạ tầng của sản xuất nông, lâm, thủy sản rất lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm, thủy sản hiện nay Thứ
tư, chính sách bảo hộ và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp đang phải điều chỉnh theo lộ trình cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, làm gia tăng khó khăn đối với nhiều ngành
Trang 17sản xuất, làm cho chi phí sản xuất tăng lên và không cạnh tranh được với hàng hóa nông sản của các nước có điều kiện sản xuất tốt hơn Thứ năm, tổ chức sản xuất nông, lâm, thủy sản vẫn còn rất phân tán Các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi chủ yếu vẫn do những hộ nông dân đảm nhận (9.776.090 hộ, chiếm tỷ trọng 71,0 % số
hộ ở nông thôn), nhưng nhỏ bé về quy mô đất đai (bình quân đất nông nghiệp trên một hộ chỉ đạt 0,63 ha, gồm cả diện tích cây hằng năm và cây lâu năm), thiếu kiến thức kinh doanh nông nghiệp (97,6% số lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo chuyên môn về lĩnh vực hoạt động) Điều này đang đặt ra vấn đề về phát triển các hình thức tổ chức sản xuất hợp tác tập thể với quy mô thích hợp, gắn với chế biến, tiêu thụ để sản xuất phát triển được bền vững Thứ sáu, thiên tai, dịch bệnh ở cây trồng, vật nuôi gia tăng cùng với quá trình tăng quy mô sản xuất tạo ra nhiều rủi ro đối với sản xuất nông nghiệp
Nghiên cứu của Bùi Mạnh Cường về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn VN
trên đường đổi mới và phát triển (2014) [9]; Từ thực tiễn và yêu cầu phát triển đất
nước, với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn được Đảng, Nhà nước hết sức coi trọng xuyên suốt qua các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam Từ mục tiêu của cách mạng dân tộc, dân chủ
và cách mạng XHCN được cụ thể hóa qua các kỳ Đại hội của Đảng, Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Đại hội III, IV, V, VI… XI đều kh ng định vai trò hết sức quan trọng, to lớn của nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong sự nghiệp phát triển của đất nước Vai trò của nông nghiệp, nông dân và nông thôn được cụ thể hóa với quyết tâm chính trị cao nhất của Đảng và Nhà nước thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 (khóa X) ngày 5/8/2008 Sau hơn 25 năm đổi mới, đây là lần đầu tiên Đảng ta có một nghị quyết toàn diện nhất về vấn đề Tam nông Đây cũng là Nghị quyết hợp với ý Đảng, lòng dân, đã tạo ra những động lực mới cho khu vực Tam nông Sau 5 năm thực hiện
ch ng ta đã thu được một số kết quả quan trọng, song cũng còn một số tồn tại, hạn chế, thách thức Tác giả đã nêu thành tựu về nông nghiệp nông dân nông thôn giai đoạn 2006-2013 gồm: Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được đầu tư cải tạo, xây mới
Trang 18và nâng cấp, các điều kiện hỗ trợ, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp NLTS, hộ gia đình, làng nghề, cụm công nghiệp được nhà nước quan tâm đầu tư cao hơn trước Công nghệ thông tin, trụ sở làm việc của các cấp chính quyền được tăng cường Phục vụ tốt hơn yêu cầu điều hành của chính quyền cơ sở, đội ngũ cán bộ chủ chốt được đào tạo nâng cao trình độ Đã có một bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, cơ cấu ngành nghề từ lĩnh vực NLTS sang lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ Quá trình đó diễn ra đ ng định hướng CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn Đã hình thành lực lượng sản xuất mới tiến bộ, tăng tỷ lệ cơ giới hóa, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, thu nhập của nông dân, giảm tỷ lệ hộ ngh o từ 14% xuống 9,5% (2013) Hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, xác định một số mặt hàng chủ lực để xuất khẩu Động lực của sự tăng trưởng theo chiều sâu, đưa nông lâm nghiệp Việt Nam từng bước đổi mới và hội nhập là KHCN
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đễ, đăng trên tập chí Tạp chí Triết học, số 12
(211), tháng 12 - 2008 về Quản lý nhà nước trong phát triển nông nghiệp, nông
thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay: Một số vấn đề đặt ra (2008) [14]; Nghiên cứu đề cập đến một loạt vấn đề quan trọng nhằm th c
đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ khía cạnh quản lý nhà nước Trong đó, tập trung phân tích và luận giải nhằm góp phần trả lời cho hai vấn đề cơ bản đặt ra Đó là, thứ nhất, Nhà nước cần tác động như thế nào, bằng cách gì để th c đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá? Thứ hai, làm thế nào để nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn nước ta trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay Qua hơn 20 năm đổi mới, nền kinh
tế nước ta nói chung, ngành nông nghiệp nói riêng đã đạt được những thành tựu to lớn Sự phát triển và biến đổi của nông nghiệp và nông thôn hiện nay thể hiện sự
nỗ lực to lớn của Nhà nước ta trong lĩnh vực quản lý vùng và ngành Nói đến quản
lý nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn chính là nói đến tính hiệu lực, hiệu quả sự tác động của Nhà nước ta đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực
Trang 19nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Suốt quá trình thực hiện đổi mới, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các nghị định, quy định, văn bản pháp luật nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn thực hiện chức năng quản lý của mình Nhờ đó, nền nông nghiệp nước ta đã luôn đạt được sự tăng trưởng, xã hội nông thôn không ngừng biến đổi cả về diện mạo cũng như chất lượng sống của người nông dân Tuy nhiên, bên cạnh những thành công vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại cần được giải quyết cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn nhằm nâng cao hơn nữa vai trò quản lý nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn Một trong những vấn đề
đó là Nhà nước tác động đến nông nghiệp, nông thôn như thế nào và theo cách nào
để th c đẩy khu vực này phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá? Làm thế nào để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
Nguyễn Danh Sơn, Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong
quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại (Báo cáo tổng hợp) (2010) [29]
Những nghiên cứu này cho rằng vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, vai trò, mục tiêu của nó trong nền kinh tế quốc dân cũng như việc đem lại thu nhập cho người nông dân là những nội dung mà chính sách cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn của Việt Nam hiện nay cần quan tâm
Nghiên cứu toàn diện các mặt, các nguồn lực và các yếu tố phát triển nông
nghiệp có tác phẩm của Đinh Phi Hổ, Lê Ngọc Uyển, Lê Thị Thanh Tùng Kinh tế
phát triển: Lý thuyết và thực tiễn (2009) [18]; Nghiên cứu chỉ ra vai trò của nông
nghiệp trong nền kinh tế là cung cấp lương thực thực phẩm, hầu hết các nước phát triển đều dựa vào nông nghiệp trong nước để cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng, nó tạo nên sự ổn định, đảm bảo an toàn cho phát triển Cũng cần ch ý rằng, nhập khẩu các yếu tố đầu vào của sản xuất (nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị cho sản xuất) làm tăng vốn sản xuất, còn việc nhập khẩu lương thực thực phẩm là
để tiêu dùng, không gia tăng vốn sản xuất cho nền kinh tế; Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp: Nguyên liệu từ nông nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến nông sản trong giai đoạn đầu quá trình
Trang 20công nghiệp hóa ở nhiều nước đang phát triển; Cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế thông qua xuất khẩu nông sản: Các nước đang phát triển đều có nhu cầu rất lớn về ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, vật tư, thiết bị, nguyên liệu mà chưa tự sản xuất được trong nước Một phần nhu cầu ngoại tệ đó, có thể đáp ứng được thông qua xuất khẩu nông sản Nông sản còn được coi là nguồn hàng hóa để phát triển ngành ngoại thương ở giai đoạn đầu trong lịch sử, quá trình phát triển của một số nước cho thấy vốn được tích lũy từ những ngành nông nghiệp tạo ra hàng hóa xuất khẩu Đó
là trường hợp của các nước Úc, Canada, Đan Mạch, Thụy Điển, Tân Tây Lan, Mỹ,
và cả Việt Nam; Cung cấp vốn cho các ngành kinh tế khác thông qua: Dạng trực tiếp: như nguồn thu từ thuế đất nông nghiệp, thuế xuất khẩu nông sản, nhậu khẩu tư liệu sản xuất nông nghiệp Nguồn thu này được tập trung vào ngân sách nhà nước
và dùng để đầu tư cho phát triển kinh tế Dạng gián tiếp: với chính sách quản lý giá của nhà nước theo xu hướng là giá sản phẩm công nghiệp tăng nhanh hơn giá nông sản, tạo điều kiện cho gia tăng nhanh tích lũy công nghiệp từ “hy sinh” của nông nghiệp; Làm phát triển thị trường nội địa: Nông nghiệp và nông thôn là thị trường rộng lớn và chủ yếu của sản phẩm trong nước: Việc tiêu dùng của người nông dân
và mạng dân cư nông thôn đối với hàng hóa công nghiệp, hàng hóa tiêu dùng (vải,
đồ gỗ, dụng cụ gia đình, vật liệu xây dựng), hàng hóa tư liệu sản xuất (phân bón, thuốc trừ sâu, nông cụ, trang thiết bị, máy móc) là tiêu biểu cho sự đóng góp về mặt thị trường của ngành nông nghiệp đối với quá trình phát triển kinh tế Sự đóng góp này cũng bao gồm cả việc bán lương thực, thực phẩm và nông sản nguyên liệu cho các ngành kinh tế khác
Vũ Đình Thắng, Giáo trình Kinh tế nông nghiệp (2013) [31]; Tác giả đã nghiên
cứu về các vấn đề: Khái niệm kinh tế nông nghiệp; Hệ thống kinh tế nông nghiệp Việt Nam; Những cơ sở lý thuyết kinh tế học vi mô về nông nghiệp; Kinh tế sử dụng các yếu tố nguồn lực trong nông nghiệp; Tiến bộ khoa học - công nghệ trong nông nghiệp; Sản xuất hàng hóa và chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp; Thâm canh nông nghiệp; Kinh tế học cung cầu và sự cân bằng thị trường nông sản; Thị trường và phân tích thị trường nông nghiệp; Thương mại quốc tế các sản phẩm
Trang 21nông nghiệp; Quản lý nhà nước về kinh tế trong nông nghiệp; Kinh tế sản xuất ngành trồng trọt và Kinh tế sản xuất ngành chăn nuôi
Nghiên cứu của Tạ Thị Đoàn - Học viện chính trị khu vực I về phát triển nông
nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (2017) [15]; Tác giả phân
tích tác động của bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm cả sự tham gia của các
cơ chế liên kết kinh tế quốc tế đến phát triển bền vững ngành Nông nghiệp Kết quả nghiên cứu cung cấp nền tảng lý luận và thực tiễn quan trọng cho các bên trong việc hoạch định chính sách liên quan như: Thực trạng phát triển nông nghiệp Việt Nam;
những cơ hội và thách thức và những giải pháp th c đẩy phát triển nông nghiệp
Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp bền vững và quản lý nhà nước nhằm
phát triển nông nghiệp bền vững có Luận văn thạc sỹ của Khuất Văn Hợp, Quản lý
nhà nước nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Vĩnh Phúc
(2010) [19]; Luận văn thạc sỹ của Kiều Anh Vũ, Nông nghiệp phát triển bền vững
ở thành phố Cần Thơ (2011) [51]; Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Quốc Khanh, Quản lý nhà nước nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Bến Tre (2013) [23] Các luận văn này đã chỉ rõ được cơ sở lý luận về nông nghiệp phát
triển bền vững với các yếu tố cấu thành; một số vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững; phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp và đưa ra các quan điểm, giải pháp cơ bản cho nông nghiệp phát triển bền vững
Những công trình trên đây đều có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn trong phát triển nông nghiệp và quản lý nông nghiệp cũng như đánh giá thực trạng nông nghiệp của nước ta nói chung và ở một số vùng cụ thể nói riêng; đồng thời đưa ra được những lý giải, quan điểm, những giải pháp phát triển tất cả các mặt của nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, đối với vấn đề quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp của một tỉnh nói chung, huyện An Biên nói riêng lại chưa
có công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể
Chính vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước đối với
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên
Trang 22Giang” không trùng lặp với các công trình và bài viết khoa học đã công bố Tác giả
sẻ đề cập một cách trực tiếp và đầy đủ về lý luận cũng như thực trạng công tác quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang Tác giả hy vọng tìm ra giải pháp trong công tác quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên nói riêng và tỉnh Kiên Giang nói chung, nhằm đưa ngành nông nghiệp phát triển hiệu quả và bền vững đ ng theo định hướng và mục tiêu đề
ra
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về QLNN
về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trên địa bàn Huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động QLNN đối với chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn Huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang
Trang 234.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên phạm vi địa bàn Huyện An Biên
- Phạm vi không gian: Địa bàn Huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang
- Phạm vi thời gian: từ năm 2012 đến năm 2016 và định hướng đến năm 2030
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
từ đó sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với từng nội dung của đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực trạng quản lý nhà nước về chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên Tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra số liệu thứ cấp từ phòng Nông Nghiệp – PTNT huyện, Chi Cục Thống
Kê huyện An Biên và các phòng ban có liên quan
- Phương pháp tổng hợp thống kê, thu thập số liệu điều tra thực tế Phương pháp này được sử dụng tại chương 2 để đánh giá thực trạng về quản lý nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Phương pháp phân tích đánh giá, dự báo Phương pháp này được sử dụng tại chương 3 để dự báo về xu hướng phát triển của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện
6 Ý nghĩa khoa học của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn hệ thống hóa khung lý thuyết QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Ý nghĩa thực tế: Là tài liệu tham khảo hữu ích đối với cán bộ, công chức liên
quan và có thể là tài liệu tham khảo cho học viên chuyên ngành Quản lý công
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
Trang 24văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở khoa học của QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chương 2 Thực trạng QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang
Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang
Trang 25CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QLNN ĐỐI VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Việc phát triển nền kinh tế có hiệu quả là mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia Muốn đạt được mục tiêu trên đòi hỏi phải có một CCKT hợp lý xét trên góc độ các ngành kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế Các yếu tố hợp thành CCKT phải được thể hiện cả về số lượng cũng như về chất lượng và được xác định trong những giai đoạn nhất định, phù hợp với những đặc điểm tự nhiên, KT-XH cụ thể của mỗi quốc gia (vùng, hoặc địa phương) qua từng thời kỳ
Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh, bất biến, mà luôn vận động chuyển dịch cần thiết, thích hợp với những biến động của điều kiện tự nhiên, KT-
XH Do đó sự duy trì quá lâu hoặc thay đổi quá nhanh chóng của CCKT mà không tính đến sự phù hợp với những biến đổi của tự nhiên, KT-XH đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của nền kinh tế Vì vậy việc duy trì hay thay đổi CCKT không phải là mục tiêu, mà chỉ là phương tiện của việc tăng trưởng và phát triển kinh tế Cơ cấu kinh tế trong quá trình vận động chuyển dịch nhanh hay chậm không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết cho sự chuyển đổi,
sự vận động và phát triển của LLSX xã hội, các mục tiêu KT-XH sẽ đạt được như thế nào Nói cách khác CCKT biến đổi chính là kết quả của quá trình phân công
lao động xã hội, CCKT phản ánh mối quan hệ LLSX và QHSX của nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế là tổng thể mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố và mối quan hệ giữa LLSX và QHSX với những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể trong những giai đoạn phát triển nhất định Khái niệm cơ cấu kinh tế được nêu như sau:
“Cơ cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế của mỗi nước,
các bộ phận đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và
Trang 26thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao” [41]
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một bộ phận của hệ thống cơ cấu kinh tế quốc dân, phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế quốc dân, nhưng nó mang tính độc lập tương đối;
khái niệm về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, như sau: “Là tổng thể các mối quan hệ
theo tỷ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong một khoảng thời gian và không gian nhất định”[41]
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng được hiểu theo hai nghĩa:
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng phản ánh số lượng và chất lượng cũng như tỷ lệ giữa các ngành và sản phẩm nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản và mối quan hệ nội ngành của các ngành đó
- Cơ cấu ngành nông nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp là cơ cấu giữa các ngành trồng trọt, chăn nuôi, và dịch vụ nông nghiệp Đây là cơ cấu chủ yếu nhất trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta [41]
1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Xét cả về hình thức và nội dung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp được thể hiện ở mối quan hệ về lượng và chất của các yếu tố cấu thành kinh tế nông nghiệp Vì vậy,
ở mỗi thời điểm khác nhau có một quan hệ tỷ lệ về các yếu tố cấu thành của kinh tế nông nghiệp khác nhau Bởi vì trong quá trình vận động của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, mỗi yếu tố có sự vận động khác nhau và có sự chuyển hoá cho nhau Xét trên phương diện đó, cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng đều có sự thay đổi Đó là tất yếu khách quan do sự vận động nội tại của cơ cấu kinh
tế dưới sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới ch ng
Tuy nhiên, để nền kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng vận động theo đ ng quy luật, khai thác có hiệu quả các tiềm năng và lợi thế so sánh cần phải
có sự tác động thích hợp Q a trình tác động vào nền kinh tế và kinh tế nông nghiệp theo đ ng quy luật và mục tiêu xác định trước được coi là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng
Trang 27Theo H.Chenery (1988), khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân, bao gồm sự tích luỹ của vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm Ngoài ra còn các quá trình kinh tế xã hội k m theo như đô thị hoá, biến động dân số, thay đổi trong thu nhập
Về bản chất đó là sự thay đổi trong cơ cấu tỷ trọng và mối quan hệ hữu cơ giữa ba khu vực của nền kinh tế Song song với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế chung có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và không thể tách rời hai quá trình này
Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là “Quá trình làm biến đổi
cấu trúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống sản xuất nông nghiệp theo những định hướng và mục tiêu nhất định”, nghĩa là đưa hệ thống SXNN từ một
trạng thái nhất định (chậm phát triển) tới phát triển tối ưu để đạt được hiệu quả mong muốn cao hơn, thông qua sự điều khiển có ý thức của con người, trên cơ sở vận dụng hợp lý các quy luật khách quan [41]
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH - HĐH là quá trình chuyển dịch theo hướng từ cơ cấu độc canh thuần nông sang chuyên môn hoá và kinh doanh tổng hợp Chuyển từ cơ cấu mang tính tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá trong quá trình CNH - HĐH Chuyển từ cơ cấu sử dụng ít lao động hiệu quả thấp sang nền nông nghiệp sử dụng nhiều lao động, có hiệu quả cao Quá trình chuyển dịch cơ cấu hợp lý phải nhằm mục đích: Sử dụng tốt nhất các lợi thế so sánh nói chung và mỗi địa phương nói riêng, khai thác tối đa các tiềm năng tạo khối lượng tích luỹ ngày càng lớn cho nền kinh tế quốc dân, góp phần vào ổn định phát triển nền kinh tế - xã hội Đồng thời từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Về mặt lý luận sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trước tiên phải chuyển dịch giống cây trồng, vật nuôi, cơ cấu giữa lao động trong trồng trọt và lao động chăn nuôi, chế biến Tức là phải phát triển một nền nông nghiệp toàn diện lấy sản xuất lương thực làm trọng điểm, thực hiện chuyên môn hoá kết hợp với kinh
Trang 28doanh tổng hợp Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là xác định tỷ lệ thích hợp giữa nông - lâm - ngư nghiệp và chế biến Ngoài ra, phải gắn với cải biến kinh tế nông thôn Cơ cấu kinh tế mới ở nông thôn không chỉ bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến mà bao gồm các ngành như công
nghiệp, thương mại, tài chính, ngân hàng, du lịch và các dịch vụ khác
1.1.3 Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch CCKTNN không chỉ là tất yếu, mà còn là cần thiết do tác động tích cực của nó đối với đời sống KT-XH Thông qua quá trình chuyển dịch này mà hình thành kiểu tổ chức mới về SXNN theo hướng khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nông nghiệp cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh, phát huy tiến bộ
KH&CN, đáp ứng yêu cầu mới của thị trường nông sản, cụ thể:
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nhằm bố trí lại cây
trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, thích ứng với tình hình ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, đáp ứng nhu cầu về thị trường nông sản của xã hội, nhu cầu tiêu dùng của dân cư
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp tạo cơ sở cho việc
thay đổi bộ mặt nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng, xây dựng một nền nông nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá
Thứ ba, nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho cư dân nông thôn, góp
phần giảm ngh o Tăng cường quản lý thài nguyên thiên nhiên để sản xuất bền vững, hạn chế tối đa tác động rũi ro đến môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu
Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nhằm tạo ra một nền
sản xuất chuyên môn hoá, thâm canh tiên tiến, là điều kiện và nhu cầu để mở rộng thị trường
1.1.4 Yêu cầu đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với tăng trưởng: Tăng
trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế là mục
Trang 29tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế, được phản ánh qua sự tăng lên về quy
mô sản lượng và sản lượng bình quân đầu người của một nền kinh tế Như vậy,
có thể hiểu tăng trưởng nông nghiệp là sự tăng lên về sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp Nguồn gốc của tăng trưởng nông nghiệp là
sự gia tăng và/hoặc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực đầu vào cơ bản đối với quá trình sản xuất nông nghiệp là đất đai, vốn, lao động và công nghệ Mặt khác, để đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư ngày càng tăng, nguyên liệu cho phát triển công nghiệp, vốn và ngoại tệ cho tái sản xuất mở rộng và tích lũy ban đầu để đầu tư phát triển các ngành kinh tế khác, các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp phải không ngừng gia tăng quy mô sản lượng, nghĩa là tăng trưởng Tuy nhiên, mức tăng sản lượng giữa các ngành, giữa các lĩnh vực là không giống nhau, nhờ đó tạo tiền đề để chuyển dịch về cơ cấu giữa các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp Để đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng của tăng trưởng, việc đổi mới cơ cấu các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp, hay nói cách khác, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải dựa trên cơ sở bố trí lại một cách hợp lý các nguồn lực được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp giữa các ngành, các lĩnh vực
Hai là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phát triển nông nghiệp bền vững: Phát triển nông nghiệp bền vững luôn là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc
gia và là một quá trình biến đổi lâu dài theo xu hướng ngày càng hoàn thiện Phát triển nông nghiệp bền vững có ý nghĩa rộng lớn, bao hàm cả bốn mục tiêu
cơ bản là: Tăng trưởng kinh tế - tăng về quy mô số lượng, thay đổi về cơ cấu kinh tế - thay đổi về chất lượng, tiến bộ về xã hội - nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư, cải thiện về môi trường tự nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái và chỉ khi nào đồng thời đạt hiệu quả cao ở cả bốn mục tiêu này thì nền nông nghiệp mới được xem là phát triển bền vững
Ngày nay, hầu hết các nhà kinh tế học coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của một nền kinh
Trang 30tế [42] Bởi vì, có những quốc gia đạt được mức tăng trưởng nông nghiệp rất cao nhưng vẫn còn một bộ phận lớn người dân sống ở nông thôn có thu nhập dưới mức ngh o đói Đây là hệ quả của sự chuyển dịch thiếu cân đối giữa các ngành kinh tế, giữa các thành phần kinh tế và giữa các vùng lãnh thổ của nền kinh tế đó Mặt khác, sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế có thể kéo theo sự khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, khiến cho các nguồn tài nguyên bị kiệt quệ, làm phá v cân bằng môi trường sinh thái hoặc cùng với tăng trưởng là sự bất bình đ ng về kinh tế, chính trị và nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp bị hạ thấp hoặc mất đi, dẫn tới cơ cấu xã hội bị đảo lộn và bất ổn định Tuy nhiên, nếu chỉ nhấn mạnh đến công bằng xã hội và bền vững môi trường tự nhiên sẽ dẫn tới phát triển dàn trải giữa các ngành và giữa các vùng, dẫn tới tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu diễn ra chậm, không đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì thế, để bảo đảm hài hòa cả mục tiêu trước mắt và lâu dài, nhiều nước chọn con đường phát triển toàn diện thông qua tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Ba là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải xuất phát từ tín hiệu của thị trường:
Phát triển nông nghiệp toàn diện với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững nhất thiết phải dựa trên cơ sở kinh tế hàng hóa gắn với thị trường Chỉ có như vậy mới khắc phục được xu hướng tự phát, tự cung, tự cấp, phân tán nhỏ lẻ trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn nước ta hiện nay Sản xuất hàng hóa đặt ra yêu cầu sản xuất sản phẩm nào, số lượng bao nhiêu, chất lượng và chủng loại ra sao phải do thị trường quyết định, không phải do khả năng đất đai, lao động, khí hậu, kinh nghiệm của người sản xuất quyết định
Bốn là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với hiệu quả kinh tế và xã hội:
Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải là cơ cấu đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế và xã hội cao Trong điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất chỉ có thể tồn tại được khi sản phẩm có khả năng cạnh tranh, hay nói cách khác sản xuất phải đạt hiệu quả kinh
tế Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế không phải bao giờ cũng thống nhất với hiệu quả
Trang 31xã hội Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ tính đến hiệu quả về mặt kinh tế mà còn phải tính đến hiệu quả về mặt xã hội, phải được đo lường bằng các chỉ tiêu tổng hợp, cả về kinh tế và xã hội
Năm là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn phải phù hợp
với xu hướng hội nhập và mở cửa với thế giới và khu vực Yêu cầu trên còn là
cơ sở để hình thành các giải pháp xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hợp lý trong giai đoạn hiện nay
Sáu là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với công bằng xã hội: Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH trong thế
kỷ XXI ở nước ta không chỉ đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, vững chắc
và toàn diện mà còn phải đảm bảo ổn định xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, khu vực nông thôn nói riêng Vì vậy, cùng với phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải gắn với mục tiêu xóa đói giảm ngh o, thu hẹp khoảng cách giàu – ngh o ở nông thôn, giữa nông thôn và thành thị
Bảy là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp giữa truyền thống và hiện
đại: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta hiện nay, một
mặt phải kế thừa những kinh nghiệm truyền thống, bao gồm cả ngành nghề truyền thống ở nông thôn, nông nghiệp l a nước, kinh nghiệm thâm canh cây trồng, vật nuôi, giống cây đặc sản… Mặt khác, phải tiếp cận với xu thế hiện đại của thế giới và khu vực, thực hiện phương châm “đi tắt đón đầu”, nhanh chóng ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và quy trình công nghệ tiên tiến vào phát triển nông nghiệp, nông thôn
Tám là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn mục đích tăng trưởng kinh tế với phân công lại lao động nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông
nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ ở khu vực này: Để đảm
bảo sự phát triển nông thôn bền vững, ổn định thì cơ cấu lao động nông thôn phải được điều chỉnh hợp lý Cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động
Trang 32nông nghiệp là phương hướng lâu dài của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta Thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ th c đẩy phân công lại lao động xã hội bên trong lãnh thổ mà còn th c đẩy quá trình tham gia vào hợp tác lao động quốc tế tạo thuận lợi cho từng ngành chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế sâu hơn, cạnh tranh mạnh mẽ hơn, nhờ đó
mà kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế
Chín là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với quy hoạch, chiến
lược và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, của vùng và của cả nước:
Nông nghiệp trên địa bàn huyện là một bộ phận của nền nông nghiệp cũng như nền kinh tế nói chung của tỉnh, của vùng và cả nước Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn phải gắn kết với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, của vùng và của cả nước về mục tiêu, phương hướng và giải pháp
Mười là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với công nghiệp hóa,
đô thị hóa và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn: Xu hướng và tốc độ chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải phù hợp với xu hướng và tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn trong từng giai đoạn Mối tương quan xuất phát từ thực tế ở nước ta và kinh nghiệm của các nước: Công nghiệp hóa, đô thị hóa và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn vừa tạo ra điều kiện vật chất, vừa thu h t lao động dư thừa của khu vực này trong quá trình CNH, HĐH
1.2 QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cấp Huyện
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tùy theo
góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý
là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới gốc độ riêng của mình và nó phát triển càng ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội
Theo quan niệm của C.MAC: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động
Trang 33chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần phải
có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” [14]
Theo quan niệm các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay thì: Quản lý
là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động đ ng với ý chí của người quản lý
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý và sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý việc tác động theo cách nào còn tùy thuộc vào các gốc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu
Theo giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác
động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ”
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội
Là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công
cụ về kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo những điều kiện tiền đề, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh nông nghiệp nhằm hướng tới mục tiêu chung sự phát triển bền vững cho ngành nôngnghiệp
Như vậy, có thể hiểu QLNN về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có
thể hiểu là: “Là hoạt động mang tính quyền lực của cơ quan Nhà nước trong quản
lý lĩnh vực nông nghiệp, tổ chức quá trình sản xuất và làm biến đổi cấu trúc và các mối quan hệ tương tác theo những định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp đặt ra”
Trang 341.2.2 Vai trò của QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trong quá trình phát triển nông nghiệp, quản lý nhà nước có vai trò quan trọng, góp phần vào điều chỉnh, hướng dẫn quá trình vận động nội tại của nông nghiệp phù hợp với các điều kiện khách quan và chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội chung của nền kinh tế Vai trò quản lý nhà nước về nông nghiệp được thể hiện với các chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất, Nhà nước tạo lập môi trường và điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển Nhà nước tạo lập môi trường chính trị - xã hội ổn định; thiết lập
môi trường pháp lý, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, một sân chơi chung, cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế Nhà nước vận dụng các quy luật kinh
tế khách quan và sử dụng những chính sách, cơ chế nhằm mở rộng thị trường, khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
Thứ hai, Nhà nước định hướng phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện
chính trị, kinh tế - xã hội trong nước, phù hợp với xu thế, điều kiện kinh tế khu vực
và thế giới bằng những chủ trương, chính sách, pháp luật Nhà nước định hướng phát triển nông nghiệp góp phần vào th c đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; hoạch định chính sách, chỉ tiêu kế hoạch vĩ mô cho từng thời kỳ; thực hiện xoá đói, giảm ngh o, nâng cao đời sống và văn minh xã hội
Thứ ba, Nhà nước tổ chức và điều tiết sự phát triển của nông nghiệp Tổ chức
là một chức năng quan trọng của quản lý nhà nước về nông nghiệp nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập như hiện nay Nhà nước xây dựng, đổi mới hệ thống tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý nhà nước về nông nghiệp, cải tiến công cụ quản lý, thủ tục hành chính trong lĩnh vực nông nghiệp, đảm bảo tổ chức tinh gọn, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả
Nhà nước cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng, đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo môi trường chính trị ổn định, đảm bảo công bằng và phúc lợi xã hội Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết chi phối thị trường bằng cách sử dụng cả biện pháp kinh tế và biện pháp hành chính Đồng thời, Nhà nước sử dụng hàng loạt các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô bao gồm hệ
Trang 35thống chính sách, các đòn bẩy kinh tế, quỹ dự trữ hàng hoá, cán cân thương mại,
tỷ giá hối đoái, tín dụng, tài chính, thuế quan, hạn ngạch, tiêu chuẩn hoá nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra
Thứ tư, Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra các hoạt động liên quan đến
nông nghiệp nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương, uốn nắn những hành vi trái pháp luật; ngăn ngừa những hành động tiêu cực như: sản xuất và kinh doanh hàng giả (nông sản, thực phẩm, giống, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả, kém chất lượng), đầu cơ, buôn lậu nhằm bảo vệ quyền bình đ ng trước pháp luật, sự cạnh tranh lành mạnh cũng như quyền lợi của người tiêu dùng và doanh nghiệp Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra để phát hiện những kẽ hở và nhược điểm của
cơ chế chính sách quản lý đã ban hành trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng, cơ chế chính sách kinh tế nói chung để kịp thời sửa đổi, đồng thời, phổ biến những kinh nghiệm, phát hiện và nhân rộng những nhân tố mới, tích cực của sản xuất nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về nông nghiệp của chính quyền cấp Huyện
Thực hiện quản lý nhà nước đối với nông nghiệp cấp Huyện là nhằm hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước Trung ương ở địa phương trong lĩnh vực nông nghiệp sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên của mỗi địa phương, cũng như thực hiện đầy đủ, toàn diện
và đ ng đắn nhất những gì đã đề ra; góp phần đảm bảo sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý bộ máy hành chính nhà nước Quản lý nhà nước đối với nông nghiệp của chính quyền cấp Huyện bao gồm những nội dung cơ bản sau:
1.2.3.1 Tổ chức và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của Trung ương và cấp tỉnh, Cấp Huyện tổ chức cụ thể hóa và tổ chức thựchiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cụ thể nhằm sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của địa phương mình Đây
là yếu tố có ý nghĩa quan trọng quyết định sự phát triển nông nghiệp tỉnh Chiến
Trang 36lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cũng như chiến lược phát triển ngành Nông nghiệp của tỉnh, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế Chính quyền cấp huyện phải thực sự quan tâm đến những vấn đề này để loại bỏ những yếu tố tiêu cực, như: đầu tư lãng phí, kém hiệu quả; cây trồng, vật nuôi không phù hợp với nhu cầu thị trường hoặc điều kiện của tỉnh Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp, chính quyền cấp tỉnh ưu tiên tập trung vào xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sản xuất và thu h t các nhà đầu tư, cũng là gi p họ có định hướng phù hợp với chiến lược phát triển nông nghiệp của tỉnh, hạn chế được rủi ro trong kinh doanh
1.2.3.2 Xây dựng và thực thi các chính sách đối với chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp
Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp đã được xây dựng, chính quyền cấp Huyện ban hành hệ thống chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu, ban hành,
cụ thể hoá và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật chung của Trung ương cũng như địa phương cho phù hợp với điều kiện của huyện, sẽ khai thác được tiềm năng và lợi thế so sánh về phát triển nông nghiệp Các chính sách về khuyến khích đầu tư, ưu đãi trong thuê đất và tín dụng; ưu tiên, hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; hướng nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, khuyến khích hoạt động đào tạo nghề cho nông nhân; thực hiện chính sách xã hội, cải thiện đời sống nhân dân… sẽ tạo động lực cho nông nghiệp phát triển toàn diện, bảo đảm sự phát triển nông nghiệp hài hoà và phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
- Chính sách phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp
Thực hiện công tác đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển nhanh đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kỹ thuật; hình thành đội ngũ chuyên gia nông nghiệp nghiên cứu thị trường
Trang 37tại các đơn vị chuyên môn cấp huyện Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn được cụ thể hoá là: “Tăng cường đào tạo, bồi dư ng kiến thức khoa học kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại cho nông dân; đào tạo nghề cho bộ phận con em nông dân để chuyển nghề, xuất khẩu lao động; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ
cơ sở Hình thành chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo hàng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn Thực hiện tốt việc xã hội hoá công tác đào tạo nghề” Đây là một chủ trương lớn của Đảng nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn
Tăng cường phối hợp, hợp tác với các cơ quan ban ngành cấp tỉnh trong việc đào tạo, chuyển giao khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực
Tập trung thực hiện có hiệu quả, thiết thực chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tạo nguồn nhân lực phục vụ cho quản lý Nhà nước và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, trong đó ưu tiên đối tượng đào tạo là nông dân, đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại
- Các chính sách hỗ trợ thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp
Tiếp tực rà soát, chiều chỉnh, bổ sung và thực hiện tốt các cơ chế, chính sách hiện có nhằm huy động mọi nguồn lực, thành phần kinh tế đầu tư phát triển vào những ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế như: Nông nghiệp, thuỷ sản, kinh tế biển …
Bổ sung chính sách hỗ trợ thỏa đáng cho việc đưa giống, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới và ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp; nhất là các giống chất lượng cao, công nghệ cao tạo bước đột phá cho phát triển sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực của huyện
Xây dựng chính sách khuyến khích, hỗ trợ các hộ sản xuất, kinh doanh cá thể phát triển thành hợp tác xã, doanh nghiệp
Trang 38Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn
- Chính sách quản lý đất đai trong nông nghiệp
Tập trung nghiên cứu áp dụng cơ chế chính sách ưu đãi về giá cho thuê đất, thuế, hỗ trợ cho giải phóng mặt bằng, phương thức đổi đất lấy hạ tầng để khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Có chính sách hỗ trợ bằng nguồn vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước đầu tư cho nông nghiệp nông thôn
Nghị định 35/2015/NĐ-CP, ngày 31 tháng 04 năm 2015 quy định về quản lý,
sử dụng đất trồng l a Nghị định quy định về chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng l a, Hỗ trợ địa phương sản xuất l a, Sử dụng kinh phí hỗ trợ
- Chính sách thương mại trong nông nghiệp
Tăng cường liên kết, liên doanh giữa người sản xuất với các doanh nghiệp thu mua chế biến, tiêu thụ nông sản Tăng cường xúc tiến thương mại, tìm kiếm và
mở mang thị trường Hỗ trợ xây dựng và phát triển thương hiệu, chỉ dẫn địa lý các sản phẩm nông nghiệp hàng hoá chủ lực như: L a, gạo, thuỷ hải sản
Khuyến khích phát riển mạng lưới hợp tác xã làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm,
mở rộng liên kết liên doanh Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp bên ngoài vào kinh doanh hàng xuất khẩu Làm tốt công tác dự báo thông tin thị trường Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với thị trường và nâng cao trách nhiệm tiêu thụ nông sản hàng hoá của các doanh nghiệp…
- Chính sách tiền tệ và tài chính, đầu tư phát triển nông nghiệp
Thực hiện tốt các chính sách cho vay vốn tạo tiền đề để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện, thực hiện các chính sách hỗ trợ xây dựng các mô hình trình diễn, nghiên cứu ứng khoa học kỹ thuật, xây dựng cánh đồng lớn, thực hiện theo chuỗi giá trị liên kết đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra
1.2.3.3 Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực quản lý của Nhà nước đối với
Trang 39chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Theo Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BNNPTNT-BNV ngày 25/03/2015 của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về nông nghiệp và phát triển nông thôn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quy định Phòng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn có Trưởng phòng, không quá 03 Phó Trưởng phòng và các công chức chuyên môn, nghiệp vụ
- Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và trước pháp luật về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng; có trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện khi được yêu cầu; phối hợp với người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức chính trị-xã hội cấp huyện giải quyết những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng;
- Phó Trưởng phòng gi p Trưởng phòng chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng về nhiệm vụ được phân công Khi trưởng phòng vắng mặt, một Phó trưởng phòng được Trưởng phòng ủy nhiệm điều hành hoạt động của Phòng;
- Việc bổ nhiệm Trưởng phòng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định theo tiêu chuẩn chức danh do Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và theo quy định của pháp luật Việc miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu
và thực hiện chế độ, chính sách đối với Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định theo quy định của pháp luật
- Công chức chuyên môn, nghiệp vụ làm công tác quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn cấp huyện được bố trí phù hợp với vị trí việc làm được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo các lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật; chăn nuôi và th y; lâm nghiệp; thủy sản; thủy lợi; phát triển nông thôn; quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm nông sản
Trang 40- Biên chế công chức của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định trong tổng biên chế công chức của huyện do cơ quan có thẩm quyền giao
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở các huyện là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện; tham mưu, gi p Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương về: nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thuỷ lợi; thuỷ sản; phòng, chống thiên tai; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thuỷ sản và muối; phát triển nông thôn; phát triển kinh tế hộ; kinh tế trang trại nông thôn; kinh tế hợp tác xã nông, lâm, ngư, diêm nghiệp gắn với ngành nghề, làng nghề ở nông thôn và thực hiện một số nhiệm
vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật, bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành, lĩnh vực công tác ở địa phương Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có tư cách pháp nhân, con dấu
và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp huyện theo quy định pháp luật; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
1.2.3.4 Thanh tra, kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Kiểm tra, giám sát trong quản lý nhà nước về nông nghiệp là đánh giá việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp theo các đề án, chương trình,
kế hoạch đã đề ra, đồng thời phát hiện những sai lệch để có biện pháp điều chỉnh
Để làm tốt công tác này, chính quyền cấp tỉnh xây dựng bộ máy tổ chức, cán bộ kiểm tra, thanh tra ở Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, sử dụng các phương pháp, hình thức kiểm tra, giám sát đa dạng, phù hợp với hệ thống pháp luật của Nhà nước Việc kiểm tra, giám sát gi p cho cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh phát hiện một số nguồn lực chưa được sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả, không đ ng mục đích để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời; hoặc bãi bỏ, điều chỉnh, bổ sung những quy định không phù hợp với thực tế hay “lệch hướng” chung Đồng thời, khuyến khích, động viên, tạo điều kiện cho những điển hình sản