Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, trên cơ sở tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định: "Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LƯƠNG MINH VIỆT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 31
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh cá thể tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, với sự hỗ trợ, hướng dẫn khoa học từ Tiến sĩ Lương Minh Việt
Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng trên các tạp chí, các website và các tác giả khác đều được liệt kê tại phần tài liệu tham khảo Các số liệu trong luận văn đều là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng
Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước hội đồng về kết quả luận văn và cam đoan luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Trung Tấn
Trang 42
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học và hoàn thành đề tài luận văn này, bản thân tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ, hướng dẫn từ tập thể thầy cô Học viện Hành chính và các bạn trong lớp cao học HC21.N6
Trước hết, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Lương Minh Việt
đã dành nhiều thời gian để hướng dẫn một cách tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tác giả xin gửi lời cám ơn đến Ban Giám đốc và quý thầy cô Khoa sau đại học đã tạo điều kiện để tôi học tập và hoàn thành chương trình khóa học
Tác giả cũng xin chân thành cám ơn đến các anh/chị lãnh đạo Phòng Kinh tế quận Tân Phú, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quận Tân Phú đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tài liệu và dữ liệu để hoàn thành luận văn
Do hạn chế về trình độ chuyên môn và không thuộc lĩnh vực công tác,
vì vậy luận văn sẽ có nhiều thiếu sót trong quá trình nghiên cứu Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của giảng viên, của lãnh đạo quận và các tác giả đi trước hoặc sau này để nội dung nghiên cứu của luận văn được hoàn thiện hơn
TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Trung Tấn
Trang 64
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng số liệu 2.1: So sánh số lượng doanh nghiệp và Hộ kinh doanh cá thể
Bảng số liệu 2.2: So sánh giá trị sản xuất của ngành Công nghiệp – xây dựng
với Thương mại – dịch vụ ……… 44
Bảng số liệu 2.3: Tổng mức bán ra và doanh thu dịch vụ ……… 45 Bảng số liệu 2.4: Tình hình phát triển hộ kinh doanh TM-DV 46 Bảng số liệu 2.5: Số lượng hộ kinh doanh cá thể ngưng hoạt động kinh
doanh ……… 48
Bảng số liệu 2.6: Mức đóng góp thuế của hộ kinh doanh cá thể …… 49
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng đóng góp của TM-DV vào cơ cấu kinh tế quận vào
năm 2016 46
Biểu đồ 2.2: Lĩnh vực hoạt động của hộ kinh doanh 47 Biểu đồ 2.3: Lĩnh vực hoạt động của hộ kinh doanh cá thể ……… 47
Trang 75
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ……… 1
LỜI CÁM ƠN ……… 2
MỤC LỤC ……… 3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT …… 4
DANH MỤC CÁC BẢNG……… 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ……… 6
MỞ ĐẦU ……… 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ ……… 9
1.1 Tổng quan về hộ kinh doanh cá thể ……… 9
1.1.1 Hộ kinh doanh ……… 9
1.1.2 Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể 10
1.1.3 Vai trò của hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế 12
1.1.4 Thương mại ……… 15
1.1.4.1 Khái niệm ……… 15
1.1.4.2 Đặc điểm của thương mại ……… 17
1.1.5 Dịch vụ ……… 18
1.1.5.1 Khái niệm ……… 18
1.1.5.2 Đặc điểm của dịch vụ ……… 20
1.1.6 Thương mại – dịch vụ ……… 22
1.1.6.1 Đặc điểm của thương mại – dịch vụ 22 1.1.6.2 Vai trò của thương mại – dịch vụ trong nền kinh tế … 24
Trang 86
1.2 Quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh cá thể hoạt động trên lĩnh
vực thương mại - dịch vụ 25
1.2.1 Quản lý nhà nước ……… 25
1.2.1.1 Quản lý nhà nước về kinh tế ……… 25
1.2.1.2 Quản lý nhà nước về thương mại, dịch vụ ……… 26
1.2.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ và quản lý nhà nước đối với hộ KDCT hoạt động trên lĩnh vực TM-DV ……… 27
1.2.1.4 Vai trò quản lý nhà nước đối với TM-DV 29
1.2.2 Sự tác động của quá trình hội nhập quốc tế hiện nay đến nền kinh tế Việt Nam ……… 31
1.2.2.1 Mặt tích cực ……… 31
1.2.2.2 Mặt hạn chế, khó khăn ……… 32
1.3 Kinh nghiệm của các quận và bài học rút ra cho quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh ……… 33
1.3.1 Kinh nghiệm của quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh 33
1.3.2 Kinh nghiệm của quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh 35
1.3.3 Kinh nghiệm của quận 10, TP Hồ Chí Minh … 36
1.3.4 Bài học rút ra cho quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh 37
Tiểu kết chương 1 ……… 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ……… 40
2.1 Khái quát về quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh 40
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, lịch sử hình thành của quận Tân Phú 40
2.1.1.1 Về vị trí địa lý ……… 40
2.1.1.2 Về dân cư ……… 40
2.1.1.3 Về cơ sở hạ tầng ……… 41
Trang 97
2.1.2 Tình hình hoạt động hộ KDCT trên lĩnh vực TM-DV 42
2.1.2.1 Hoạt động TM-DV của quận Tân Phú ……… 42
2.1.2.2 Hoạt động của hộ KDCT trên lĩnh vực TM-DV ……… 45
2.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh thương mại dịch vụ ……… 49
2.2.1 Văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh thương mại – dịch vụ ……… 49
2.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh thương mại dịch vụ ……… 50
2.2.2.1 Khái quát về bộ máy quản lý nhà nước về TM-DV ……… 50
2.2.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh thương mại – dịch vụ tại quận Tân Phú ……… 52
2.2.3 Công tác quy hoạch đối với hộ kinh doanh TM-DV 55
2.2.3.1 Thực trạng công tác quy hoạch TM-DV trong thời gian qua ……… 55
2.2.3.2 Công tác quy hoạch hộ kinh doanh tại các chợ truyền thống ……… 57
2.2.3.3 Công tác quy hoạch hộ kinh doanh tại các tuyến đường chuyên doanh ……… 58
2.2.4 Công tác kiểm tra đối với hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh TM-DV ……… 60
2.3 Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh thương mại – dịch vụ trên địa bàn quận Tân Phú ……… 63
2.3.1 Về kết quả đạt được ……… 63
2.3.2 Những hạn chế tồn tại ……… 64
2.3.3 Nguyên nhân ……… 65
2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan ……… 65
Trang 103.1.3 Phương hướng, nhiệm vụ phát triển ngành thương mại – dịch vụ tại địa bàn quận Tân Phú giai đoạn 2015 – 2020……… 74
3.1.3.1 Mục tiêu phát triển ngành TM-DV của quận Tân Phú 74
3.1.3.2 Nhiệm vụ phát triển ngành TM-DV của quận Tân Phú 74 3.1.3.3 Định hướng phát triển hộ kinh doanh thương mại - dịch vụ của quận Tân Phú ……… 77
3.2 Giải pháp hoàn thiện và đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với
Trang 119
3.2.3 Nhóm giải pháp về định hướng, bảo vệ, hỗ trợ hoạt động kinh doanh
TM-DV và hoàn thiện các tuyến đường chuyên doanh … 85
3.2.3.1 Định hướng ……… 85
3.2.3.2 Bảo vệ ……… 87
3.2.3.3 Hỗ trợ ……… 88
3.2.3.4 Hoàn thiện các tuyến đường chuyên doanh ………… 89
3.2.4 Tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh và an toàn 90
3.2.4.1 Về thuế ……… 90
3.2.4.2 Về nguồn vốn ……… 91
3.2.4.3 Về vấn đề trật tự lòng lề đường ……… 92
3.2.4.4 Về khả năng phát triển ……… 92
3.2.5 Đổi mới và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong lĩnh vực kinh tế ……… 92
3.2.5.1 Đối với chính quyền địa phương ……… 93
3.2.5.2 Đối với mỗi cán bộ công chức ……… 94
3.3 Kiến nghị ……… 94
3.3.1 Đối với Chính phủ ……… 94
3.3.2 Đối với UBND Thành phố Hồ Chí Minh ………… 96
Tiểu kết chương 3 ……… 98
KẾT LUẬN ……… 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Hiện nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, với việc tham gia vào nền kinh tế thị trường đã góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội nước ta Nền kinh tế nước ta được Đảng xác định là nền kinh tế có 5 thành phần, gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, trên cơ sở tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định: "Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam
có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” [13] Với việc xác định nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước ta luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế trong nước phát triển
Đối với hộ KDCT (hay kinh tế cá thể, hay kinh tế hộ gia đình), cùng với kinh tế tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân là các bộ phận cấu thành kinh tế tư nhân Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hộ kinh doanh cá thể hiện nay đang có sự phát triển năng động và hoạt động rộng khắp trong các lĩnh vực từ thương mại – dịch vụ đến công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… và trong mọi ngành nghề như sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ, Bên cạnh đó, hộ kinh doanh cá thể đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, có khả năng giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn dân cư, có tính linh hoạt trong hoạt động, sức sống mạnh mẽ
Trang 132
Tuy nhiên, trái với sự phát triển nhanh và năng động, khả năng thu hút lao động lớn của hộ kinh doanh cá thể nhưng loại hình kinh tế này vẫn chưa được Nhà nước ta chú trọng phát triển một cách bài bản, hiệu quả Chủ yếu hộ kinh doanh cá thể hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân và hộ gia đình mình là chính; có quy mô nhỏ lẻ, điều kiện áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến còn nhiều hạn chế; hoạt động mang tính tự chủ cao, dựa vào kinh nghiệm là chính và những bí quyết gia truyền trong sản xuất được tích lũy từ nhiều thế hệ nhất là trong các ngành nghề truyền thống Trong công tác quản lý nhà nước về kinh tế, Nhà nước ta chỉ đưa ra các chính sách chung cho một hoặc nhiều thành phần kinh tế để tạo điều kiện phát triển theo đúng định hướng, góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế
cả nước Đối với hộ kinh doanh cá thể, Nhà nước ta chưa có chính sách nào dành riêng cho sự phát triển của loại hình này Vì vậy, trong công tác quản lý đối với hộ kinh doanh cá thể còn nhiều bất cập, chưa tạo điều kiện thuận lợi phát triển loại hình này trong nền kinh tế Chẳng hạn như:
+ Về chính sách vay vốn, hiện nay theo quy định của Ngân hàng Nhà nước tại Thông tư 39 về trách nhiệm hoàn trả vốn vay là của cá nhân vay vốn Việc vay vốn của cá nhân không ràng buộc trách nhiệm của hộ kinh doanh Như vậy có thể hiểu hộ kinh doanh cá thể không phải là chủ thể vay vốn mà chủ thể vay vốn là cá nhân Điều này sẽ gây khó khăn cho hộ kinh doanh cá thể trong việc xác định mục đích vay vốn để sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng và mức lãi suất cũng sẽ khác nhau tùy theo mục đích
+ Việc xác định thuế và công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh
cá thể cũng là một bất cập Vì hiện nay, rất nhiều hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động nhưng không đăng ký kinh doanh và cũng rất nhiều hộ đã đăng ký kinh doanh và được cấp mã số thuế nhưng khi đăng ký lại khai mức đầu tư nhỏ để được đóng thuế ít hơn; một số trường hợp còn móc nối với cán bộ
Trang 143
quản lý khi xác minh địa điểm, quy mô vốn đầu tư để được đóng thuế ít hơn
so với quy định Điều này dẫn đến việc thất thu thuế đối với loại hình này là rất lớn, ảnh hưởng đến nguồn ngân sách của Nhà nước, của địa phương và khả năng cạnh tranh, sự công bằng trong quản lý thuế giữa các hộ kinh doanh
cá thể với nhau
+ Khả năng quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh đối với hộ kinh doanh
cá thể cũng đặt ra vấn đề nan giải đối với công tác quản lý, vì hiện nay, số lượng hộ kinh doanh cá thể rất lớn, việc hộ kinh doanh cá thể sản xuất kinh doanh theo hướng tự phát, nguồn nguyên liệu sản xuất không rõ nguồn gốc và một số hộ kinh doanh cá thể còn sản xuất kinh doanh những mặt hàng cấm, hàng gian, hàng giả, hàng kém chất lượng nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất cho họ
Tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, khi mới thành lập được xem
là một quận vùng ven của Thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập vào tháng 12/2003 trên cơ sở chia tách từ quận Tân Bình, với nền công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là chủ yếu và phát triển tự phát Xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, Đảng bộ, chính quyền quận đã khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi giúp các doanh nghiệp đầu tư, chuyển đổi ngành nghề để làm ăn đạt hiệu quả cao, góp phần tạo việc làm cho nhân dân và tham gia phát triển nền kinh
tế chung của quận Bên cạnh đó, quận đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như: đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, ưu đãi nhà đầu tư; mở rộng, nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; di dời, chuyển đổi ngành nghề của các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm do quận quản lý; tổ chức các hội nghị mời gọi đầu tư…Đặc biệt là quận đã tập trung thực hiện đề án chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào sản xuất, thương mại-dịch vụ đã giúp tốc độ tăng
Trang 154
trưởng kinh tế của quận năm sau cao hơn năm trước, các thành phần kinh tế phát triển nhanh với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh cá thể cũng tăng trưởng khá cao và chiếm tỷ trọng khá lớn, góp phần đưa nền kinh tế của quận ngày càng phát triển
Bên cạnh những đóng góp tích cực của các hộ kinh doanh cá thể vào sự phát triển chung của kinh tế quận Tân Phú như việc tạo ra việc làm, cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân Các hộ kinh doanh cũng còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh như
vi phạm không đúng ngành nghề đăng ký, kinh doanh những mặt hàng không
rõ nguồn gốc, xuất xứ, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, không thực hiện đúng quy định về bảo vệ môi trường, về thuế hoặc lao động không có hợp đồng,… Một số hộ kinh doanh đầu tư máy móc, thiết bị với công nghệ
cũ, lạc hậu gây ô nhiễm môi trường
Với những mặt phát triển và hạn chế được nêu trên, với tình hình phát triển kinh tế của quận trong thời gian tới theo hướng chuyển dịch cơ cấu đã đặt ra cho quận cần phải có một cách thức quản lý mới, hiệu quả hơn nhằm giải quyết những khó khăn, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực mà các hộ kinh doanh cá thể có thể mang lại Với sự phát triển tự phát của hộ kinh doanh thì cần phải làm như thế nào để quản lý một cách tốt nhất, hiệu quả nhất nhằm đáp ứng việc phát triển để thực hiện thành công chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận theo kế hoạch đã đề ra Với những hiểu biết của mình và mong muốn góp phần nhỏ bé vào sự phát triển của quận trong thời gian tới, tôi
mạnh dạn thực hiện đề tài luận văn về “Quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh cá thể tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với sự phát triển của quận Tân Phú
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trang 165
Qua tham khảo các luận văn có nội dung đề tài nghiên cứu liên quan của các tác giả đi trước, nhìn chung, các đề tài nghiên cứu đều nói đến vai trò quản lý nhà nước trên lĩnh vực kinh tế nói chung và lĩnh vực thương mại – dịch vụ nói riêng ở một số địa phương cụ thể trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Bản thân tác giả đã tham khảo được một số luận văn như sau:
+ Luận văn của tác giả Huỳnh Cách Mạng (niên khóa 2006-2008) “Các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển thương mại và dịch vụ trên địa bàn cấp quận giai đoạn 2008 – 2010 tại Thành phố Hồ Chí Minh” Nội dung tập trung vào công tác quản lý nhà nước và đề ra các giải pháp phát triển về thương mại
và dịch vụ trên địa bàn cấp quận (chủ yếu từ thực trạng của quận Phú Nhuận
để thực hiện đề tài nghiên cứu) và không phân biệt đối tượng nghiên cứu là doanh nghiệp hay hộ kinh doanh
+ Luận văn của tác giả Đặng Thùy Khánh Vân (niên khóa 2008-2011)
“Quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh” Nội dung luận văn đề cập đến quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các loại hình doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn quận, huyện tại Thành phố Hồ Chí Minh
+ Luận văn của tác giả Trần Thị Kim Liễu (niên khóa 2012-2015) “Quản
lý nhà nước đối với thương mại dịch vụ tại Quận 3” Tác giả đã tiếp cận công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực thương mại – dịch vụ và đối tượng nghiên cứu cũng không phân biệt là doanh nghiệp hay hộ kinh doanh
+ Khóa luận của tác giả Phạm Thị Oanh (2010) đã thực hiện đề tài
“Quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh thương mại – dịch vụ trên địa bàn quận 10 Thành phồ Hồ Chí Minh”, đây là bài khóa luận được nghiên cứu khá
kỹ về hộ kinh doanh TM-DV đang hoạt động trên địa bàn quận 10, một trong
Trang 17Như vậy, với đề tài nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh cá thể (hoạt động trên lĩnh vực thương mại – dịch vụ) trên địa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đến nay chưa có công trình nào được nghiên cứu Do đó, tác giả đề tài cho rằng việc nghiên cứu nội dung này là cần thiết và mang tính vừa lý luận, vừa thực tiễn trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang tạo điều kiện để phát triển thành phần kinh tế tư nhân (trong đó kinh tế hộ gia đình hay hộ kinh doanh là một thành phần cấu thành thành phần kinh tế tư nhân)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện quản lý nhà nước đối
với hộ kinh doanh cá thể tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả xác định
các nhiệm vụ cơ bản cần đạt được như sau:
Hệ thống hóa lý luận quản lý nhà nước đối với lĩnh vực kinh tế nói chung
và đối với hộ kinh doanh cá thể nói riêng
Đánh giá thực trạng hoạt động của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Tân Phú trong thời gian qua
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Tân Phú trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh cá
thể hoạt động trên lĩnh vực thương mại – dịch vụ
Trang 187
- Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu: Hộ kinh doanh cá thể hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ và quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh cá thể hoạt động trong lĩnh vực thương mại – dịch vụ
Không gian nghiên cứu: Tại địa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến nay (tháng 6/2017)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa duy vật lịch
sử và Chủ nghĩa duy vật biện chứng để nghiên cứu đề tài luận văn
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được tác giả sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp so sánh: So sánh kết quả công tác quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh cá thể qua từng năm; so sánh sự phát triển của hộ kinh doanh cá thể và kết quả đóng góp của hộ kinh doanh cá thể vào sự phát triển kinh tế chung của quận theo từng năm
Phương pháp thống kê: Thống kê từ nhiều nguồn khác nhau về các nội dung có liên quan đến hộ kinh doanh cá thể nhằm đưa ra kết quả về công tác quản lý nhà nước của quận đối với hộ kinh doanh cá thể
Phương pháp phân tích- tổng hợp: Dựa vào các số liệu như số lượng cơ
sở, số lượng vốn được đầu tư, tỷ trọng đóng góp vào nền kinh tế, từ đó phân tích sự phát triển của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực kinh tế nói chung và đối với hộ KDCT nói riêng theo hướng chuyên nghiệp Với hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn mang tính khả thi, hữu ích và có thể được dùng làm
Trang 198
tài liệu tham khảo cho các phòng ban có liên quan đến hoạt động kinh tế và các UBND phường thuộc quận Tân Phú trong quá trình lãnh đạo phát triển lĩnh vực kinh tế từ nay đến năm 2020
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh
Trang 209
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.1 Tổng quan về hộ kinh doanh cá thể:
1.1.1 Hộ kinh doanh:
Hộ KDCT được bắt nguồn từ hộ gia đình có tham gia hoạt động kinh tế, cùng sở hữu chung về tài sản, tư liệu sản xuất, cùng tham gia các hoạt động kinh tế chung và cùng thụ hưởng thành quả trong lao động sản xuất chung của
Tại Đại hội VI (1986), Đảng ta đã thực hiện đường lối đổi mới trên lĩnh vực kinh tế, kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế cá thể được thừa nhận
Đến Đại hội VII, Đảng ta đã khẳng định: Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm Đồng thời xác định kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập
Trãi qua nhiều kỳ Đại hội, đến Đại hội X, Đảng ta nêu rõ: Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu
Trang 21Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, trên cơ sở tổng kết thực tiễn
30 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật
Như vậy, hộ KDCT được xác định là đơn vị kinh tế độc lập trong kinh tế
tư nhân, có vị trí, vai trò trong nền kinh tế nước ta Theo Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì
Hộ KDCT được hiểu như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một
nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”
Trang 2211
+ Đối với hộ kinh doanh do một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, mọi hoạt động kinh doanh của hộ do các thành viên trong nhóm hoặc hộ gia đình quyết định từ phương thức, quy mô vốn, ngành nghề kinh doanh, Nhóm người hoặc hộ gia đình cử một người làm đại diện cho nhóm hoặc hộ
để tham gia giao dịch với bên ngoài nhằm thực hiện mục đích kinh doanh của mình
+ Hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân và hộ gia đình mình là chủ yếu Quy mô nhỏ lẻ, điều kiện áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến còn hạn chế Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hộ KDCT phát triển khá nhanh, rộng khắp trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành nghề như sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ
+ Tư liệu sản xuất của hộ KDCT thuộc sở hữu cá nhân của người chủ kinh doanh, người chủ kinh doanh có quyền tự quyết định về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình từ quá trình sản xuất kinh doanh đến việc phân phối, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ do mình tạo ra Các hoạt động này đều mang tính tự chủ, tự tìm kiếm nguồn lực, nguồn vốn, người lao động, rất nhạy bén trong kinh doanh, đồng thời cũng dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường và nền kinh tế
+ Hộ KDCT có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc trong nền kinh tế Họ có kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và những bí quyết sản xuất truyền thống (gia truyền) được tích lũy, bổ sung từ nhiều thế hệ nhằm phát huy những ngành nghề truyền thống
để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu [30] Tuy vậy, hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không có con dấu riêng, không được mở chi nhánh, văn phòng đại diện, không được thực hiện các quyền mà doanh nghiệp đang có hay áp dụng
Trang 2312
Luật Phá sản khi hoạt động kinh doanh thua lỗ và chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh của mình Hay nói cách khác, khi có phát sinh khoản nợ, cá nhân hoặc các thành viên trong gia đình phải chịu trách nhiệm trả hết nợ, không phụ thuộc vào số tài sản kinh doanh hay những tài sản khác
mà họ đang có; cũng không phụ thuộc vào việc họ đang thực hiện hay đã chấm dứt thực hiện hoạt động kinh doanh
1.1.3 Vai trò của hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế:
Trước đổi mới, nền kinh tế nước ta không có thành phần kinh tế tư nhân, hàng hóa được nhà nước phân phối, hạn chế tối đa việc mua bán hoặc vận chuyển tự do hàng hóa giữa các địa phương trong nước với nhau Nền kinh tế thời kỳ này được gọi là nền kinh tế “tập trung quan liêu bao cấp” Đến tháng 6/1986, Đảng ta xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, tạo điều kiện để nước ta tiến hành đổi mới và tiến lên phát triển nền kinh tế thị trường Sau khi tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986), nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với việc xác định nền kinh tế có nhiều thành phần, trong đó kinh tế hộ gia đình được khuyến khích phát triển, nhưng không phải là một nền kinh tế độc lập Đến Đại hội X, kinh tế cá thể đã được thừa nhận trong thành phần kinh tế
tư nhân
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế tư nhân đã góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội cho sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Trong thành phần kinh tế tư nhân, vai trò của hộ KDCT góp phần rất quan trọng thúc đẩy kinh
tế tư nhân phát triển lớn mạnh và hộ KDCT luôn phát triển không ngừng và
Trang 24có tính linh hoạt trong hoạt động, sức sống mạnh mẽ trong các điều kiện của nền kinh tế
+ Trong điều kiện kinh tế thị trường, hộ KDCT có một vai trò hết sức to lớn đó là tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, đồng thời đóng vai trò làm vệ tinh cho các doanh nghiệp của nền kinh tế trong quá trình phân phối, luân chuyển hàng hóa, dịch vụ Ngoài ra, hộ kinh doanh còn là đơn
vị nắm bắt đầu tiên về tình hình nhu cầu của người tiêu dùng để thực hiện việc đáp ứng nhu cầu đó trong tương lai gần nhất có thể
+ Thông qua các hộ KDCT có thể huy động được nguồn vốn lớn còn đang ở dạng tiềm năng trong nhân dân cho nền kinh tế phát triển Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, tình trạng thất nghiệp đang ngày càng gia tăng thì chính việc thu hút một số lượng lao động đáng kể của hộ KDCT đã góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho xã hội đồng thời tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống cho người lao động, qua đó góp phần giữ vững an ninh trật tự - an toàn xã hội
Những hạn chế của hộ KDCT: Mặc dù có vai trò hết sức quan trọng song thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có một số mặt hạn chế đó là:
+ Khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật: việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất rất hạn chế (chỉ có một bộ phận nhỏ, năng động có áp dụng nhiều cải tiến đổi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh) Sự năng động mang tính chất tự phát, luôn tìm những kẻ hở của pháp luật để kinh doanh trái phép, gây khó khăn cho công tác quản lý
Trang 2514
+ Khả năng xung đột lợi ích: giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội luôn xảy ra Vì hoạt động kinh doanh luôn coi lợi nhuận là yếu tố cốt lõi, mà lợi ích đó chủ yếu là lợi ích cá nhân, của hộ kinh doanh chứ không phải là lợi ích của xã hội Vì vậy họ có thể làm những mặt hàng hoặc kinh doanh hàng gian, hàng giả, hàng kém chất lượng để đạt được mục đích về lợi nhuận cá nhân mà quên đi những thiệt hại có thể gây ra cho người tiêu dùng, cho xã hội
+ Thiếu vốn: để sản xuất và mở rộng sản xuất, kinh doanh do việc tiếp cận vốn khó khăn hơn các thành phần kinh tế khác do không có tài sản thế chấp (hoặc khi đã thế chấp hết tài sản hiện có) Ngoài ra, khả năng tiếp cận thị trường, nguồn thông tin, tiếp cận với cơ quan nhà nước, về năng lực và trình
độ quản lý của hộ nhìn chung còn rất hạn chế; khả năng tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng là một trở ngại lớn mà sản phẩm chủ yếu cung cấp thị trường tại địa phương hoặc rộng hơn là ở trong nước Hiện nay nền kinh tế nước ra đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì việc cung cấp sản phẩm sẽ gặp thêm nhiều khó khăn, thách thức vì nhiều mặt hàng từ các nước khác tiếp cận thị trường trong nước, tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt hơn kể cả
về giá và chất lượng của sản phẩm, dịch vụ do hộ kinh doanh cung cấp
Ngoài những hạn chế trên, hộ kinh doanh còn bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu vi phạm một trong những trường hợp (theo quy định tại Khoản 1 Điều 78 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, trong đó có quy định về đăng ký hộ kinh doanh) sau:
+ Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh là giả mạo;
+ Không tiến hành hoạt động kinh doanh trong thời gian 6 tháng kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận kinh doanh;
+ Ngừng hoạt động kinh doanh quá 6 tháng liên tục mà không thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đăng ký;
+ Kinh doanh ngành, nghề bị cấm;
Trang 2615
+ Hộ kinh doanh do những người không được quyền thành lập hộ kinh doanh thành lập;
+ Không báo cáo về tình hình kinh doanh theo quy định
Ngoài những trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận như nêu trên, hộ kinh doanh cũng sẽ bị xử phạt hành chính nếu vi phạm một trong những nội dung được quy định tại điều của Nghị định 50/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư, trong đó có quy định về
xử phạt vi phạm hành chính đối với hộ kinh doanh, cụ thể các điều:
- Điều 41: Vi phạm quy định về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh
- Điều 42: Vi phạm về việc tạm ngừng kinh doanh của hộ kinh doanh
- Điều 43: Vi phạm quy định về đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hộ kinh doanh và thực hiện yêu cầu của cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện
- Tại Điều 44 cũng quy định về việc chấm dứt hoạt động của hộ kinh doanh nếu vi phạm quy định cũng bị xử phạt hành chính và buộc phải khắc phục hậu quả cho hành vi vi phạm này
Những nội dung nêu trên hộ kinh doanh thường hay vi phạm mà không chú ý đến việc sẽ bị xử phạt Cũng chính vì vậy, đòi hỏi cần phải tăng cường
sự quản lý của Nhà nước thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và môi trường hoạt động công bằng, sự cạnh tranh lành mạnh giữa các mặt hàng trong nước với các mặt hàng từ nước ngoài nhập vào, đồng thời
có biện pháp giúp hộ kinh doanh hoạt động có hiệu quả hơn và trong tầm kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương
Trang 2716
động kinh doanh Tiếng Pháp là “Commerce” là sự buôn bán, mậu dịch hàng hóa dịch vụ Theo từ điển Nga- Việt xuất bản năm 1977 thì thương mại cũng được hiểu là mua bán, kinh doanh hàng hóa Như vậy khái niệm “thương mại” cần được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp [4]
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế thương mại: “Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ,… giữa hai hay nhiều đối tác và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ,… cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó”
Thương mại cũng có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau như:
+ Thương mại là sự trao đổi hàng hóa thông qua việc mua và bán bằng tiền trong nền kinh tế Như vậy, thương mại đồng nghĩa với mua bán
+ Thương mại cũng được hiểu là một hành vi làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa những người mua và người bán nhằm để thoả mãn nhu cầu của mỗi người
+ Thương mại có thể hiểu là một hoạt động Hoạt động thương mại bao gồm một số khâu hoặc tất cả các khâu của hành vi thương mại, có thể do một
cá nhân hoặc một tổ chức hoặc toàn xã hội thực hiện nhằm cung cấp cho nhu cầu người dân
Nhìn chung có nhiều cách hiểu khác nhau về thương mại song có thể khái quát thương mại dưới các góc độ khác nhau như sau:
Theo nghĩa hẹp, Thương mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa Hành vi thương mại thể hiện ở nhiều dạng khác nhau Theo Luật Thương mại, các hình vi thương mại bao gồm: mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân; môi giới thương
Trang 2817
mại, ủy thác mua bán hàng hóa, đại lý mua bán hàng hoá, gia công thương mại, đấu giá hàng hóa, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ giám định hàng hóa, khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa và hội chợ triển lãm thương mại.[47]
Theo nghĩa rộng, thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường Thương mại được hiểu như các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu lợi nhuận của các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường Ở góc độ này, thương mại đồng nghĩa với kinh doanh.[47]
Tại Việt Nam, Luật Thương mại năm 2005 không quy định Thương mại
có cách hiểu như thế nào, nhưng đã đề cập đến hoạt động thương mại, theo
đó “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 1, Điều 3)
1.1.4.2 Đặc điểm của thương mại:
Thương mại là khâu trung gian nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng Thương mại bao gồm phân phối và lưu thông hàng hoá Thương mại không trực tiếp tạo ra sản phẩm, nó thừa hưởng kết quả của quá trình sản xuất và đóng vai trò trung gian cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng
Đặc điểm về hoạt động kinh tế: hoạt động kinh tế chủ yếu của thương mại là lưu chuyển hàng hoá Quá trình lưu chuyển hàng hoá thực chất là quá trình đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng thông qua hoạt động mua bán, trao đổi sản phẩm hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu hàng hoá của người tiêu dùng
Đặc điểm về hàng hóa: Trong quá trình kinh doanh, thương mại gồm các loại vật tư, sản phẩm có hình thái vật chất hay không có hình thái vật chất được người chủ mua về để bán và sinh ra lợi nhuận
Trang 2918
Đặc điểm về phương thức lưu chuyển hàng hoá: Quá trình lưu chuyển hàng hoá được thực hiện theo hai phương thức: bán buôn và bán lẻ Trong đó bán buôn là phương thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, doanh nghiệp sản xuất để thực hiện bán ra, hoăc gia công, chế biến bán ra Đặc điểm của hàng hoá bán buôn là hàng hoá vẫn nằm trong lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng, do đó, giá trị và giá trị sử dụng hàng hoá chưa được thực hiện Còn bán lẻ là phương thức bán hàn trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức đơn vị kinh tế mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ
Đặc điểm về tổ chức kinh doanh: Tổ chức kinh doanh thương mại có thể theo nhiều mô hình khác nhau như tổ chức bán buôn, bán lẻ, công ty kinh doanh tổng hợp công ty môi giới Ngoài nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu là mua, bán hàng hoá thì thương mại còn thực hiện nhiệm vụ sản xuất, gia công chế biến tạo thêm nguồn hàng và tiến hành các hoạt động kinh doanh cho nhà sản xuất
Đặc điểm về sự vận động hàng hoá: Sự vận động hàng hoá trong kinh doanh thương mại không giống nhau, tuỳ thuộc vào nguồn hàng và ngành hàng khác nhau có sự vận động khác nhau Do đó, chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng hoá cũng khác nhau giữa các loại hàng
1.1.5 Dịch vụ:
1.1.5.1 Khái niệm:
Dịch vụ là một khái niệm rất rộng, từ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân đến
triển của dịch vụ phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Trình
độ phát triển kinh tế của một nước càng cao thì tỷ trọng của dịch vụ - thương mại trong cơ cấu ngành kinh tế càng lớn
Trang 3019
Theo quan điểm của C.Mác: Dịch vụ là con đẻ của nền sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển nhanh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy, thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển.Đồng thời C.Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh
Theo định nghĩa của T.P Hill thì Dịch vụ là sự thay đổi về điều kiện hay trạng thái của người hay hàng hóa thuộc ở hữu của một chủ thể kinh tế nào đó do sự tác động của chủ thể kinh tế khác và sự đồng ý trước của
người hay chủ thể kinh tế ban đầu
Theo một số nhà nghiên cứu thì cho rằng: Dịch vụ thực chất là các hoạt động không mang tính đồng nhất, chủ yếu tồn tại dưới hình thức phi vật thể
do các cá nhân hay tổ chức cung cấp Hoạt động tiêu thụ và sản xuất diễn ra đồng thời
Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng
và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ kinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản
lý Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng và nghĩa hẹp cũng khác nhau Hiện nay đang có nhiều quan niệm khác nhau về dịch vụ, tuy nhiên có thể với góc độc nghiên cứu về hộ kinh doanh cá thể trên lĩnh vực thương mại – dịch vụ thì tác giả tiếp cận theo hai cách hiểu như sau:
Trang 31- Một định nghĩa khác về dịch vụ là: dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với sản phẩm vật chất [40]
Như vậy có thể định nghĩa một cách chung nhất: dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người
1.1.5.2 Đặc điểm của dịch vụ:
Dịch vụ mang tính vô hình hay tính phi vật chất:
- Căn cứ vào định nghĩa có thể thấy dịch vụ tạo ra những sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng vật chất, tức là dịch vụ có tính vô hình hay
Trang 32- Một hình thức tồn tại đặc biệt của dịch vụ ngày càng phổ biến đó là thông tin, đặc biệt trong những ngành dịch vụ mang tính hiện đại như tư vấn, pháp lý, dịch vụ nghe nhìn, viễn thông, máy tính Quá trình sản xuất và tiêu thụ gắn với các hoạt động dịch vụ này có thể diễn ra không đồng thời như thường thấy ở những dịch vụ thông thường khác như phân phối, y tế, vận tải hay du lịch mà vốn đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung cấp dịch
vụ và người tiêu dùng
- Vì vậy, dịch vụ tạo ra những sản phẩm phần lớn là dưới dạng phi vật thể và không thể đong, đo, đếm được
Dịch vụ không lưu giữ được:
- Dịch vụ không thể lưu giữ được Do sản xuất và tiêu dùng dịch vụ thường diễn ra đồng thời, việc cung ứng dịch vụ đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung ứng dịch vụ và người tiêu dung dịch vụ Vì vậy, dịch vụ không giống như sản xuất hàng hóa nên không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lưu trữ trong kho sau đó mới tiêu thụ
- Tính không lưu giữ được của dịch vụ không phải là vấn đề quá lớn nếu nhu cầu là ổn định và có thể dự đoán trước Nhưng thực tiễn nhu cầu dịch vụ thường không ổn định, luôn dao động và có tính phức tạp thì việc
Trang 3322
cung ứng dịch vụ sẽ gặp những khó khăn trở ngại về sử dụng nhân lực và cơ
sở vật chất kỹ thuật
Quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ thường xảy
ra đồng thời: Khác với hàng hóa, quá trình cung ứng dịch vụ thường gắn liền với tiêu dùng dịch vụ Trong nhiều trường hợp, việc cung ứng dịch vụ đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung ứng và người tiêu dùng dịch vụ Mặt khác, trong hoạt động dịch vụ, yếu tố quan trọng nhất đó chính là con người, trong quá trình cung ứng dịch vụ, thì việc con người sử dụng trí tuệ và các kỹ năng chuyên biệt cộng với sự hỗ trợ của các trang thiết bị cần thiết để thực hiện quá trình cung ứng dịch vụ tới người sử dụng dịch vụ Do
đó, con người không phải sử dụng sức mạnh cơ bắp hoặc các quy trình sản xuất trong việc cung ứng dịch vụ Ðối với những ngành dịch vụ có tính truyền thống như phân phối, vận tải hay du lịch thì tầm quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật cũng rất đáng kể, tuy thế, vai trò của tri thức vẫn là chủ yếu
và không thể thiếu được
Ngoài ra, dịch vụ không hề mất đi sau khi đã cung ứng dịch vụ, đồng thời dịch vụ cũng không thể tách rời nguồn gốc của nó, trong khi hàng hóa vật chất tồn tại không phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt nguồn gốc của
nó Chất lượng dịch vụ thường khó xác định và không ổn dịnh, do dịch vụ phụ thuộc vào các yếu tố như người cung ứng, thời gian, địa điểm và đặc biệt là sự tiến bộ của khoa học công nghệ đã làm thay đổi chất lượng cung ứng dịch vụ luôn được dễ dàng ở mọi lúc, mọi nơi
1.1.6 Thương mại – dịch vụ:
1.1.6.1 Đặc điểm của thương mại – dịch vụ:
Dịch vụ là loại sản phẩm vô hình, không sờ mó, nhìn thấy được nhưng lại được cảm nhận qua tiêu dùng trực tiếp của khách hàng Quá trình sản xuất
Trang 3423
và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng thời, nhưng hiệu quả của dịch vụ đối với người tiêu dùng lại rất khác nhau Có loại xảy ra tức thì, nhưng có loại chỉ đem lại hiệu quả sau nhiều năm, chẳng hạn dịch vụ giáo dục phải sau 5-10 năm mới có thể đánh giá đầy đủ Do đó, việc đánh giá hiệu quả TM-DV phức tạp hơn so với thương mại hàng hóa
Thương mại – dịch vụ có phạm vi hoạt động rất rộng, từ dịch vụ cho tiêu dùng cá nhân đến dịch vụ sản xuất, kinh doanh, quản lý trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, thu hút đông đảo người tham gia với trình độ cũng rất khác nhau, từ lao động đơn giản như giúp việc gia đình, bán các hàng lưu niệm ở khu du lịch đến lao động chất xám có trình độ cao như các chuyên gia
tư vấn, chuyên gia giáo dục…, do đó đây là một lĩnh vực có nhiều cơ hội phát triển và tạo được nhiều công ăn việc làm, rất có ý nghĩa về kinh tế – xã hội ở nước ta hiện nay [46]
Thương mại – dịch vụ hiện nay đang có sự lan tỏa rất lớn, ngoài tác dụng trực tiếp của bản thân dịch vụ, nó còn có vai trò trung gian đối với sản xuất và thương mại hàng hóa, nên phát triển TM-DV có ảnh hưởng gián tiếp lên tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, do đó tác dụng của TM-DV là rất lớn Người ta tính rằng, nếu thương mại dịch vụ được tự do hóa thì lợi ích của nó còn cao hơn thương mại hàng hóa hiện nay và xấp xỉ bằng lợi ích thu được khi tự do hóa thương mại hàng hóa hoàn toàn cho cả hàng hóa nông nghiệp và hàng hóa công nghiệp [46]
Thương mại – dịch vụ khi lưu thông qua biên giới gắn với từng con người cụ thể, chịu tác động bởi tâm lý, tập quán, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ và cá tính của người cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ, điều này khác với thương mại hàng hóa, sản phẩm là vật vô tri vô giác, đi qua biên giới có bị kiểm soát nhưng không phức tạp như kiểm soát con người trong TM-DV, vì thế mà thương mại - dịch vụ phải đối mặt nhiều hơn với những hàng rào
Trang 3524
thương mại so với thương mại hàng hóa Các cuộc thương lượng để đạt được
tự do hóa thương mại - dịch vụ thường gặp nhiều khó khăn hơn tự do hóa thương mại hàng hóa, nó còn phụ thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóa của nước cung cấp và nước tiếp nhận dịch vụ đó. [46]
1.1.6.2 Vai trò của thương mại – dịch vụ trong nền kinh tế
Tạo việc làm: Nhằm giải quyết một số lượng lớn người lao động nhàn rỗi hoặc người lao động đang trong tình trạng thất nghiệp Hiện nay số lượng lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ ngày càng tăng so với các lĩnh vực khác và theo xu hướng chuyển dịch kinh tế, thì lao động trong các lĩnh vực khác sẽ có sự dịch chuyển sang thương mại - dịch vụ ngày càng cao
Thúc đẩy và duy trì tăng trưởng của nền kinh tế: Thực tế đã chứng minh rằng sự phát triển mạnh mẽ của thương mại - dịch vụ là tiền đề quan trọng thúc đẩy đối với sự phát triển kinh tế, ngược lại sự phát triển kinh tế, sự năng động chính sách kinh tế ngày càng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ hơn các ngành dịch vụ và thương mại dịch vụ Thương mại – dịch vụ không những góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn duy trì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vì tỷ trọng đóng góp vào GDP trong nền kinh tế của thương mại – dịch vụ ngày càng cao so với các thành phần kinh tế khác Ví dụ tỷ trọng ngành dịch vụ nước ta đến cuối năm 2016 là 40.92% (theo Tổng cục Thống kê) và định hướng tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP (theo Nghị quyết 24/2016/QH14)
Thúc đẩy phân công lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành dịch vụ và thương mại dịch vụ đã đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy phân công lao động xã hội trong phạm vi quốc tế và phạm vi quốc gia, thúc đẩy chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, đồng thời làm gia tăng tỷ trọng đóng góp của các ngành thuộc
Trang 3625
khu vực dịch vụ Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang dần chuyển dịch sang công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp
Góp phần nâng cao chất lượng đời sống nhân dân: Sự phát triển mạnh
mẽ của thương mại – dịch vụ trong việc góp phần sản xuất, cung cấp những nhu cầu thiết yếu, đa dạng cho người dân cả về vật chất lẫn tinh thần; đồng thời giúp cho người dân được vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi sau những giờ làm việc, qua đó nhằm giúp cho người dân phát triển về thể chất, nâng cao chất lượng cuộc sống
Thực tế ở nền kinh tế nước ta đã chứng minh sự phát triển của TM-DV góp phần quan trọng thúc đẩy đối với sự phát triển của kinh tế trong nhiều năm qua; đồng thời sự điều chỉnh hợp lý và phù hợp của các chính sách đối với kinh tế ngày càng thúc đẩy sự phát triển của các ngành TM-DV
1.2 Quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh cá thể hoạt động trên
lĩnh vực thương mại - dịch vụ
1.2.1 Quản lý nhà nước: là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính
quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định
và phát triển của xã hội
1.2.1.1 Quản lý nhà nước về kinh tế
Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức, bằng pháp quyền
và thông qua một hệ thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế lên nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước
Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý ở tầm vĩ mô, giải quyết những quan hệ vĩ mô có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nhà nước không can thiệp, giải quyết những vấn đề mang tính nội bộ trong quản lý sản
Trang 371.2.1.2 Quản lý nhà nước về thương mại - dịch vụ
Quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ là quá trình thực hiện và phối hợp các chức năng hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các hoạt động thương mại dịch vụ trên thị trường trong sự tác động của hệ thống quản lý đến hệ thống bị quản lý nhằm đạt mục tiêu thông qua việc sử dụng các công
cụ và chính sách quản lý [47]
Quản lý nhà nước về TM-DV là sự tác động có tổ chức và bằng pháp luật của nhà nước, thông qua một hệ thống các chính sách về kinh tế và các công cụ kinh tế tác động lên các hoạt động TM-DV trong nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra về TM-DV và phát triển kinh tế của đất nước Quản lý nhà nước về thương mại - dịch vụ là việc tổ chức và quản lý toàn diện về TM, DV ở tầm vĩ mô, chủ yếu là điều tiết tổng thể các mối quan
hệ về mua bán hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân, thông qua các công cụ, hình thức và biện pháp quản lý nhằm tác động, định hướng, tạo pháp
lý chung cho hoạt động thương mại, dịch vụ của các chủ thể, trong đó hộ kinh doanh cũng nằm trong diện quản lý của nhà nước [24]
Quản lý nhà nước về thương mại - dịch vụ trong nền kinh tế thị trường là cần thiết khách quan Một mặt do những khuyết tật và hạn chế của cơ chế thị
Trang 3827
trường gây nên, mặt khác, do nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế, thể hiện ở việc định hướng phát triển kinh tế xã hội nói chung, cũng như thương mại dịch vụ nói riêng trong từng thời kỳ Nhà nước cần điều tiết, can thiệp vào kinh tế và thị trường, vào các quan hệ thương mại dịch vụ nhằm đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường và giá cả, cải thiện cán cân thanh toán
Nhà nước thống nhất quản lý về thương mại, dịch vụ bằng pháp luật, chính sách, quy hoạch và kế hoạch phát triển thương mại, dịch vụ Cơ quan quản lý nhà nước về thương mại, dịch vụ thực hiện sự quản lý trên quy mô toàn xã hội và thống nhất toàn ngành (có sự phân cấp) Sự quản lý đó được thực hiện bằng quyền lực nhà nước, bằng hệ thống pháp luật đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ Nhà nước thực hiện kiểm tra, giám sát đối với tất cả hoạt động thương mại, dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp, hộ kinh doanh phải nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp, các quy định của Nhà nước và của địa phương nơi hoạt động; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, với đối tác, với người tiêu dùng; thực hiện
hoạch toán và báo cáo trung thực theo chế độ do Nhà nước quy định
Quản lý nhà nước về thương mại - dịch vụ tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và phối hợp các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ mới giúp cho lưu thông dịch vụ thông suốt trong phạm vi thị trường nội địa, mở rộng trao đổi dịch vụ giữa các địa phương, vừa khai thác thế mạnh của từng vùng, vừa phát huy lợi thế so sánh của quốc gia trong phát triển thương mại quốc tế
1.2.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ và nội dung quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh cá thể hoạt động trên lĩnh vực thương mại dịch vụ
a Nội dung quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ
Trang 3928
Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về thương mại - dịch vụ , xây dựng chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại - dịch vụ Ký kết tham gia và bảo đảm thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về thương mại
- dịch vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ
Tổ chức đăng ký kinh doanh thương mại - dịch vụ Cấp, đình chỉ, gia hạn, sửa đổi thu hồi hoặc huỷ bỏ các chứng chỉ, bằng, giấy phép và các giấy
tờ liên quan đến hoạt động thương mại dịch vụ
Tổ chức thu thập, xử lý, cung cấp thông tin, dự báo và định hướng về thị trường trong nước và ngoài nước Tổ chức, hướng dẫn các hoạt động xúc tiến thương mại
Tổ chức và quản lý công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực dịch vụ; bảo vệ môi trường trong hoạt động thương mại dịch vụ
Quản lý việc đào tạo, tuyển chọn và phát triển nhân lực ngành dịch vụ.Đại diện và quản lý hoạt động TM-DV của Việt Nam ở nước ngoài
Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại và việc chấp hành pháp luật về thương mại dịch vụ; xử lý vi phạm pháp luật về thương mại dịch vụ; xử lý các hoạt động kinh doanh trái phép và các hành vi khác vi phạm pháp luật về thương mại dịch
Trang 4029
hoạch phát triển hộ kinh doanh cá thể hoạt động trên lĩnh vực thương mại - dịch vụ phù hợp với sự phát triển và cơ cấu kinh tế của từng địa phương Cũng giống như hộ kinh doanh, thì hộ kinh doanh cá thể hoạt động trên lĩnh vực thương mại - dịch vụ phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về kinh tế, phải chấp hành nghiêm các quy định trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; chịu sự kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà nước về các hoạt động của mình Nhà nước cũng ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh, quản
lý nhằm đảm bảo hộ kinh doanh (nói chung) được hoạt động theo đúng nội dung đăng ký, lĩnh vực hoạt động và trong khuôn khổ pháp luật
Hộ kinh doanh cá thể hoạt động trên lĩnh vực TM-DV trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh phải đăng ký kinh doanh tại các Phòng Kinh tế thuộc UBND cấp huyện để được cấp phép hoạt động và chịu sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động của hộ kinh doanh Việc cấp, đình chỉ, gia hạn, sửa đổi, thu hồi hoặc hủy bỏ các giấy tờ có liên quan đến giấy phép, các điều kiện có liên quan đến hoạt động của hộ đều thực hiện tại các phòng chuyên môn của UBND huyện (thông qua bộ phận “1 cửa”)
Định kỳ, UBND cấp tỉnh chỉ đạo UBND cấp huyện tổ chức thu thập, cung cấp thông tin đối với hộ kinh doanh (nói chung) để thống kê, dự báo và định hướng cho sự phát triển của hộ kinh doanh thương mại dịch vụ phù hợp với cơ cấu và định hướng phát triển kinh tế của địa phương
Nhà nước thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra đối với hộ kinh doanh TM-DV trong việc chấp hành pháp luật về thương mại dịch vụ; xử lý vi phạm pháp luật về thương mại dịch vụ; xử lý các hoạt động kinh doanh trái phép và các hành vi khác vi phạm pháp luật về thương mại dịch vụ nếu có xảy ra
1.2.1.4 Vai trò quản lý nhà nước đối với thương mại – dịch vụ:
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước được khẳng định cả về lý luận và thực tiễn; sự quản lý