Đề xuất một số giải pháp mang tính thực tiễn và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động giám sát của QH ở nước ta hiện nay; Trần Thị Trà Giang 2013, Nâng cao hiệu quả hoạt độn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……… /………
BỘ NỘI VỤ /…
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN TRƯỜNG DUY
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……… /………
BỘ NỘI VỤ /…
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN TRƯỜNG DUY
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HUỲNH VĂN THỚI
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn chính xác, trung thực do cá nhân tôi nghiên cứu, tìm hiểu, thu thập
từ thực tế và qua các tài liệu chính thống; các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc và đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
TP, Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Học Viên
Nguyễn Trường Duy
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc Phó giáo sư, Tiến sỹ Huỳnh Văn Thới, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu
để hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến quý lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, các Khoa, Phòng cũng như các Phó Giáo sư, Tiến sỹ, các nhà khoa học, các thầy, cô đã tham gia quản lý, giảng dạy; các đồng chí lãnh đạo, công chức công tác tại Văn phòng HĐND tỉnh Đồng Tháp đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, trong việc thu thập số liệu, thông tin cần thiết tại cơ quan Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn các bạn học viên lớp Cao học Quản
lý công HC21.N6 đã cùng tôi chia sẽ kiến thức và kinh nghiệm trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù đã hết sức cố gắng trong việc tiếp thu, trao đổi những kiến thức đóng góp của quý thầy, cô và bạn bè,
đã tham khảo thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, song sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được thông tin góp ý của quý thầy, cô và bạn đọc Xin chân thành cảm ơn./
Đồng Tháp, ngày tháng năm 2018
Học viên
Nguyễn Trường Duy
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC BẢNG PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết xây dựng đề tài 1
H – Ở H H Đ
Ủ H Đ H Ấ Ỉ H 11
1.1 Khái quát về hoạt đồng giám sát củ H i đồng nh n n ấp tỉnh 11 1.1.1 Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 11
1.1.2 Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 15
1.1.3 Nguyên tắc giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 17
1.2 Chủ thể, n i dung, hình thức, thẩm quyền giám sát ủ H i đồng nh n n ấp tỉnh 20
1.2.1 Chủ thể hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: 20
1.2.2 Nội dung giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: 22
1.2.3 Hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: 25
1.2.4 Thẩm quyền của Hội đồng nhân dân tỉnh trong việc xem xét kết quả giám sát 33
1.3 Các yếu tố tá đ ng đến hoạt đ ng giám sát ủ H i đồng nh n n ấp tỉnh 35
1.3.1 Khung thể chế hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 35
1.3.2 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 36
Trang 61.3.3 Năng lực của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 38 1.3.4 Công tác tổ chức thực hiện hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 40 1.3.5 Hệ thống tiêu chí đánh giá hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 42
H H H Đ Ủ H
Đ H Ỉ H Đ H 48
2.1 Tổng quan về H i đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp 48 2.2 Đánh giá hoạt đ ng giám sát ủ H i đồng nh n n tỉnh Đồng Tháp 52
2.2.1 Các phương diện đánh giá 52 2.2.2 Đánh giá chung về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
tỉnh Đồng tháp 62 2.2.3 Những vấn đề đặt ra về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân
dân tỉnh Đồng Tháp 66
n n o n t iện hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉn Đồng Tháp 71 iải p p o n t iện hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉn Đồng Tháp 76
3.2.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đồng Tháp 76 3.2.3 Nâng cao tính chủ động và năng lực giám sát của Thường trực HĐND Tỉnh 83 3.2.4 Nâng cao chất lượng thực hiện các hình thức giám sát của HĐND tỉnh Đồng Tháp 84
Trang 73.2.6 Đảm bảo các điều kiện, nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy giúp giúp việc cho HĐND tỉnh Đồng Tháp 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Phụ lục 1 97
Trang 8CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 Hội đồng nhân dân : HĐND
2 Thường trực Hội đồng nhân dân: TTHĐND
3.Ủy ban nhân dân : UBND
4 Tòa án nhân dân : TAND
5 Viện kiểm sát nhân dân: VKSND
6 Văn bản quy phạm pháp luật : VBQPPL
7 Cán bộ, công chức : CBCC
8 Quốc Hội: QH
Trang 10quả hoạt động của HĐND
Thời gian qua, hoạt động của HĐND các cấp đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để nâng cao hiệu quả thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo luật định Trong đó, hoạt động giám sát đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, đạt được nhiều kết quả khả quan, góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề bức xúc ở địa phương, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên trong thực tiễn, hoạt động giám sát của HĐND còn hạn chế như: một số vụ việc vi phạm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương chưa được phát hiện kịp thời; thiếu kiểm tra, theo dõi, đôn đốc nên hiệu quả giám sát chưa cao…Vì vậy, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND hiện nay còn thấp, vẫn còn biểu hiện hình thức; chưa thực hiện tốt vai trò, chức năng, chưa thực hiện đầy đủ thực quyền như luật định
Trong những năm qua, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã đạt được những kết quả nhất định, hiệu quả giám sát có bước phát triển Bước đầu khắc phục tính hình thức trong hoạt động của HĐND nói chung và hoạt động giám sát nói riêng Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đồng Tháp vẫn còn một số hạn chế như: phương thức và nội dung giám sát chưa được đổi mới toàn diện, giám sát chưa sâu, công
Trang 112
tác “hậu giám sát” thiếu kiểm tra thường xuyên nên vẫn còn một số kiến nghị sau giám sát chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết kịp thời…Để khắc phục tình trạng nêu trên, yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân trong thời gian tới là phải nâng cao hơn nữa hiệu quả giám sát của HĐND, để HĐND thực sự là cơ quan đại diện cho quyền và lợi ích của nhân dân trên địa bàn tỉnh
Xuất phát từ thực tế trên, học viên chọn đề tài Hoạt độn i m s t củ Hội đồn n n d n tỉn Đồn p làm luận văn cao học mã ngành Quản ý
Công
2.T nh h nh nghi n ứu đề tài li n qu n đến lu n văn
Giám sát và nâng cao chất lượng giám sát của cơ quan dân cử ở nước ta được đề cập trên một số sách, báo, tạp chí, các diễn đàn khoa học Qua các tài liệu nghiên cứu hiện hành và các công trình khoa học đã được công bố cho thấy hoạt động này đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong phạm vi
tư liệu bao quát được các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động giám sát bản thân tôi tập hợp được những công trình nghiên cứu sau đây:
- Sách chuyên khảo:
Nguyễn Mạnh Bình “Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực thi quyền lực Nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, nội dung phân tích sự hình thành và phát triển có chế giám sát xã hội, phân tích các yêu cầu cấp thiết của việc hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với thực thi quyền lực nhà nước và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên), (2003), Giám sát và cơ chế
giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, đã đề cập vấn đề nghiên cứu, xem xét việc thành lập cơ quan giám sát chuyên trách thuộc QH
Trang 123
Tác giả Phạm Ngọc Kỳ (1995), Về quyền giám sát tối cao của QH, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, đã tập trung làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm quyền giám sát tối cao của QH, đối tượng của quyền giám sát tối cao, các phương thức giám sát cũng như thực trạng của hoạt động giám sát này
Trọng toàn, “Tìm hiểu về quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân”, Nxb, Tư pháp, Hà Nội, 2006, đã đi sâu phân tích các quy định về tổ chức và quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân, những cơ sở pháp lý, nguyên tắc mang tính hệ thống trong tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân
Vũ Thị oan, “Một số vấn đề hoàn thiện chế độ bầu cử Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, đã tổng kết thực tiễn, đề xuất xây dựng và hoàn thiện quy phạm pháp luật để quá trình bầu
cử công bằng, lựa chọn được đại biểu đủ tiêu chuẩn, xứng đáng là người đại diện của dân, đủ năng lực và phẩm chất để hoàn thành nhiệm vụ người đại biểu nhân dân trong giai đoạn mới
Phạm Ngọc Kỳ “Quyền giám sát của Hội đồng nhân dân và kỹ năng giám sát cơ bản” Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, đã đi sâu phân tích về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân làm cơ sở cho Hội đồng nhân dân thực hiện đúng, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và Pháp luật; đồng thời giúp đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn trong lĩnh vực hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
Nguyễn Đăng Dung chủ biên, biên soạn Nguyễn Đức Lam, Trần Văn Tám “Chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân, Nxb, Tư pháp, Hà Nội, đi sâu phân tích chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân và các giải pháp thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát
Trịnh Thị Xuyến (2006), Kiểm soát quyền lực nhà nước: Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, công
trình đã góp phần làm sáng tỏ vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam
Trang 134
trong điều kiện hiện nay trên cả phương diện lý luận và thực tiễn; phương hướng và những giải pháp chủ yếu cho kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam
Văn phòng QH – Viện chính sách công và Pháp luật, Hoạt động giám sát
của cơ quan dân cử ở Việt Nam, vấn đề và giải pháp, Nxb Hồng Đức, Hà Nội,
2015, công trình đã đi từ những vấn đề lý luận về giám sát của cơ quan dân cử tới đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử nước ta và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chức năng quan trọng này
Văn phòng QH (2012), QH Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn,
Nxb Tư pháp, Hà Nội, cuốn sách là sự tập hợp nhiều bài viết trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, những bài viết đưa ra nhiều luận điểm khoa học và bài học thực tiễn, góp phần vào quá trình đổi mới của QH, nhất là trong các dịp sửa đổi Hiến pháp năm 1992, ban hành uật Tổ chức Quốc hội năm 2001 và các nghị quyết của QH về quy chế hoạt động của QH, các cơ quan của QH
Công trình nghiên cứu khoa học của tác giả Đinh Xuân Thảo (2012), Tiếp
tục đổi mới hoạt động giám sát của QH từ thực tiễn QH khóa XII, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, công trình góp phần quan trọng vào quá trình tìm tòi, đổi mới tổ chức và hoạt động của QH trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu xây dựng
QH thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo ở nước ta
- Luận án tiến sĩ, luận văn t ạc sĩ:
Nguyễn Chí Dũng (2009), Cơ chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp ở
Việt Nam, Luận án tiến sĩ uật học, Học viện chính trị quốc gia, Hà Nội Luận
án đã đi sâu phân tích làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý giám sát hoạt động
tư pháp, đánh giá thực trạng của cơ chế giám sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam
Trang 145
và kinh nghiệm nước ngoài Xác định yêu cầu, quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế pháp lý hoạt động giám sát tư pháp ở Việt Nam hiện nay;
Vũ Thị Mỹ Hằng (2016), Thực hiện chức năng giám sát quyền lực Nhà
nước của QH Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ chính trị học, Đại học quốc
gia, Hà Nội Đề tài đã tập trung hệ thống hoá các nội dung cơ bản của việc thực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nước của QH Việt Nam và xác định những giá trị lý luận, thực tiễn của việc giám sát quyền lực nhà nước của
QH, xác lập được tiêu chí khoa học làm cơ sở đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH Đề xuất một số giải pháp mang tính thực tiễn và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động giám sát của QH ở nước ta hiện nay;
Trần Thị Trà Giang (2013), Nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (từ thực tiễn tỉnh Gia Lai), Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh, đã đi sâu phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận có liên quan tới những phạm trù nghiên cứu về giám sát, đặc điểm, nội dung và các hình thức giám sát HĐND cấp tỉnh đối với UBND cấp tỉnh và đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND tỉnh Gia Lai;
Tô Thanh Tùng (2014), Giám sát của Hội đồng nhân dân xã đối với ,
chính quyền cấp xã (quan nghiên cứu thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, luận
văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc
gia, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực
tiễn về giám sát của HĐND cấp xã, xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND xã, phân tích thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND xã trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Trang 156
Nguyễn Ngọc Thanh (2015), Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lý
công, Học viện Hành chính Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chất lượng hoạt động giám sát của HĐND huyện Phong Điền, khảo sát đánh giá đúng thực trạng từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ;
- Các bài báo, kỷ yếu, hội thảo:
Bài viết của Nguyễn Đăng Dung (2010), “Chức năng giám sát của QH
trong nhà nước pháp quyền”, đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 22
(183), 11/2010 Bài viết bàn về sự xuất hiện chức năng giám sát của QH, phạm
vi và các hình thức thực hiện chức năng giám sát, chức năng giám sát của QH Việt Nam và những khó khăn, thách thức trong thực hiện chức năng giám sát của QH Việt Nam
Trong bài viết của ê Văn Cảm và Dương Bá Thành, “Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước (và cả quyền lập pháp) trong nhà nước pháp quyền: Một số
vấn đề lý luận cơ bản”, đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 1(162),
1/2010 đã cho thấy một số vấn đề chung về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền, những khái niệm và các đặc điểm cơ bản của
cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền, chức năng
và vai trò của cơ chế kiểm soát quyền lực lập pháp trong nhà nước pháp quyền
và những hệ lụy tất yếu có tính biện chứng khoa học do không có cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bằng quyền lực công
Trương Thị Hồng Hà (2010) với bài viết “Tăng cường hoạt động giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân với việc xây dựng mô hình Ủy
ban Dân nguyện của QH hiện nay”, đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số
1(162), 1/2010 nói về thực trạng hoạt động giám sát việc giải quyết KNTC của
Trang 167
QH, xây dựng mô hình Ủy ban Dân nguyện của QH và ưu điểm, trở ngại của việc xây dựng mô hình Ủy ban Dân nguyện ở Việt Nam
Phương Hà, “Vẫn bỏ ngỏ công tác hậu giám sát”, Báo Điện tử Dân Việt,
cập nhật thứ Ba, ngày 01/11/2011 đã đi vào phỏng vấn sâu đại biểu Trần Hoàng Ngân (TP.HCM) về công tác hậu giám sát được cho là chưa thực sự được quan tâm chỉ chú trọng khâu trước và trong giám sát mà không đi đến cùng xem hiệu quả của công tác giám sát đến đâu nên hiệu quả không cao
Và một số bài viết khác của Nguyễn Quốc Tuấn Một số giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân và y an nhân dân các cấp ,
Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 6/2002; Trương Đắc inh Tổ chức và hoạt
động của các an Hội đồng nhân dân , Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
2/2003; PGS,TS Bùi Xuân Đức, Bàn về tính chất của Hội đồng nhân dân
trong điều kiện cải cách bộ máy nhà nước hiện nay , Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, 12/2003; ; PGS.TS Nguyễn Tất Viễn hân dân ầu cử uốc Hội và ầu
cử Hội đồng nhân dân các cấp, suy ngh về vấn đề tất cả quyền ực hà nước thuộc về nhân dân , Tạp chí tổ chức Nhà nước số 3/2011; Trần Du Lịch (2013), Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất ượng giám sát của QH, tham luận hội
thảo năm 2013…đã bàn về những khía cạnh khác nhau về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và chức năng giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; đồng thời đề xuất những kiến nghị, giải pháp cho hoạt động giám sát của cơ quan dân
cử hiệu quả hơn
Những nội dung nghiên cứu trên đã giúp tôi có cách nhìn khái quát và tiếp cận vấn đề một cách có hệ thống về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và phát hiện những vấn đề mới cần bổ sung, nghiên cứu thêm các nội dung mà những tác giả đi trước chưa đề cập, đồng thời đối chiếu với tình hình thực tế của tỉnh Đồng Tháp sẽ là những gợi mở cần thiết để tôi đi sâu trình bày rõ hơn về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, từ đó đề xuất
Trang 17và đưa ra các quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nói chung và Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp nói riêng
- hiệm vụ nghi n cứu
Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận có liên quan tới những phạm trù nghiên cứu như: các khái niệm về giám sát, phân tích đặc điểm, nội dung và các hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
àm rõ khái niệm hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân, các yếu tố đảm bảo hiệu quả của Hội đồng nhân dân, các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
Phân tích thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp; qua đó, đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
Đề xuất phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tư ng và phạm vi nghi n ứu ủ đề tài
- Đối tượng nghi n cứu
Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong đó tập trung nghiên cứu hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (cơ quan Hành chính Nhà nước cùng cấp)
Trang 189
-Phạm vi nghi n cứu
Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, luận văn tập trung đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong nhiệm kỳ 2011 – 2016
5 C sở l lu n và phư ng pháp nghi n ứu
- Cơ sở uận
uận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
-Phương pháp nghi n cứu
Trong quá trình thực hiện, luận văn dựa trên một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê để làm sáng
tỏ những nội dung cần nghiên cứu Ngoài ra luận văn còn sử dụng và kế thừa thành quả của một số công trình nghiên cứu, bài viết, báo cáo và các tài liệu liên quan khác
- Đánh giá một cách hệ thống, toàn diện thực trạng hoạt động giám sát và hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong nhiệm kỳ 2011 – 2016
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới
7 Bố ụ lu n văn
Ngoài phần mở đẩu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bố cục thành 03 chương:
Trang 2011
CHƯƠNG 1 – CƠ Ở LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM
ÁT CỦA HỘI ĐỒNG NH N D N CẤP TỈNH
1.1 Khái quát về hoạt đồng giám sát củ H i đồng nh n n ấp tỉnh
1.1.1 Khái niệm giám sát ủ H i đồng nh n n ấp tỉnh
* Khái niệm giám sát
Có thể thấy rằng thuật ngữ "giám sát" được dùng rất phổ biến trong khoa học chính trị, pháp lý và được đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội cũng như phổ biến ở đời sống xã hội Đồng thời có rất nhiều định nghĩa giám sát khác nhau được đưa ra tùy theo phạm vi rộng, hẹp của nội dung nghiên cứu cụ thể
Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt thì giám sát là "Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không?", dùng chỉ một hoạt động xem x t có tính bao quát của chủ thể bên ngoài hệ thống đối với khách thể thuộc hệ thống (có thể là không trực thuộc), tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu sự giám sát không nằm trong một hệ thống trực thuộc nhau theo chiều dọc Trong bộ máy nhà nước, giám sát thường được hiểu là chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước
Theo quan điểm của khoa học hành chính “Giám sát dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, tòa án, các tổ chức xã hội và công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý xã hội” [7, Tr 217]
Mặc dù, có những quan niệm khác nhau, nhưng nội hàm của giám sát có những điểm chung là việc theo dõi, xem x t, quan sát của một chủ thế với một đối tượng nào đó bị giám sát
Hoạt động giám sát gắn liền với sự ra đời của nhà nước và pháp luật Khi nhà nước ra đời, nhà nước đồng thời ban hành pháp luật để quản lý và theo đó, hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật đối với các cơ quan nhà nước, các
tổ chức và mọi công dân được đặt ra Giám sát đối với hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động có tính đặc trưng của tất cả các nhà nước ịch sử đã chứng minh rằng, không có nhà nước nào có thể tồn tại và
Trang 2112
phát triển nếu không tiến hành hoạt động giám sát, dù bản chất và hình thức có thể không giống nhau, phụ thuộc vào bản chất nhà nước cũng như cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước
Như vậy có thể đưa ra quan niệm về giám sát như sau : giám sát à sự
theo dõi, xem xét hoạt động của chủ thể có thẩm quyền thể hiện tính chủ động,
i n tục, thường xuy n và tác động thông qua các iện pháp tích cực nhằm hướng hoạt động của khách thể (đối tượng ị giám sát) thực hiện đúng những điều đã quy định.[7, Tr 12]
Chủ thể giám sát bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội
đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân;(25)
Còn tại khoản 1, Điều 2, uật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003
thì “Giám sát” là việc Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân
tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem x t, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.[12, Đ2]
Thực chất giám sát của HĐND là việc thực hiện sự ủy quyền của nhân dân để giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, là một hình thức thực hiện quyền giám sát của nhân dân được thực hiện bằng pháp luật, thông qua cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND các cấp
Trang 2213
Từ các cơ sở nêu trên, có thể hiểu khái niệm giám sát của HĐND như sau: Giám sát của HĐND là hoạt động có mục đích, thường xuyên, liên tục của HĐND nhằm quan sát, theo dõi, kiểm tra, phát hiện, uốn nắn việc tuân theo pháp luật, chấp hành Nghị quyết HĐND của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp, của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân theo quy định của pháp luật
Giám sát của HĐND là hoạt động nhằm kiểm soát thực thi quyền lực nhà nước Giám sát chứa đựng những yếu tố thuộc tính của công các kiểm tra, kiểm soát và thanh tra Trong quá trình giám sát, chủ thể giám sát có quyền tiếp cận mọi đối tượng, mọi văn bản, hồ sơ theo yêu cầu giám sát
uật Hoạt động giám sát của Quốc hội ban hành năm 2003 giải thích
“Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem
x t, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội”.[28,Đ2]
uật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND năm 2003 tuy không định nghĩa cụm từ giám sát nhưng các nội dung trong chương III của luật này quy định cụ thể nội dung mà Hội đồng nhân dân tiến hành giám sát bao gồm: giám sát tổ chức hoạt động của các cơ quan do HĐND bầu ra và giám sát việc thi hành pháp luật và nghị quyết của các đối tượng chịu sự giám sát của HĐND thông qua các hình thức: xem x t báo cáo công tác của những đối tượng theo quy định pháp luật; xem x t trả lời chất vấn của những đối tượng này; tổ chức các đoàn giám sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu, thông qua việc tiếp dân và theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến HĐND
Có thể thấy rằng, giám sát là một trong hai chức năng quan trọng của HĐND, thông qua hoạt động giám sát chúng ta có thể kiểm chứng lại tính đúng đắn, sự phù hợp về các quy định của pháp luật đã, đang được áp dụng trong
Trang 2314
cuộc sống và những chủ trương biên pháp mà HĐND đã quyết nghị; giúp chúng
ta phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc và kịp thời có những giải pháp thảo
gỡ để thực hiện nhiệm vụ một cách chủ động Hoạt động giám sát còn là cơ sở
để thực hiện công tác thẩm tra và đi đến quyết định vấn đề một cách chính xác, bảo đảm các nghị quyết ban hành có chiều sâu, sát thực tiễn, phù hợp với tâm
tư, nguyện vọng của cử tri
Trong thực tế hiện nay, xác định hiệu quả giám sát là một nhiệm vụ phức tạp và đầy khó khăn cả về mặt lý luận và thực tiễn Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm hiệu quả giám sát được hiểu là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định Trong khi đó các nhà quản lý hành chính lại cho rằng: hiệu quả là sự so sánh giữa các chi phí đầu tư với các giá trị của đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực
và tỷ lệ đầu ra, đầu vào Trong phạm vi đề tài nghiên cứu về hiệu quả giám sát của HĐND, cần phải đặt hiệu quả trong mối quan hệ với hiệu lực giám sát của HĐND Hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc vào việc HĐND thực hiện chức năng giám sát của mình theo quy định của pháp luật đến đâu cũng như những kết luận kiến nghị từ hoạt động giám sát có được các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh hay không Để đảm bảo hiệu lực, hoạt động giám sát có chất lượng, nghĩa là phải đưa ra những kết luận đề xuất đúng đắn Trong mối quan
hệ giữa chất lượng và hiệu lực giám sát thì chất lượng giám sát là tiền đề bảo đảm thực hiện hiệu lực nhưng để đảm bảo hiệu lực giám sát cần có sự tự giác chấp hành nghiêm chỉnh của các chủ thể bị giám sát đối với các kết luận, đề xuất đúng đắn rút ra từ hoạt động giám sát Đồng thời, cần có các biện pháp xử
lý đối với các chủ thể không chấp hành nghiêm các kết luận đề xuất đó Một khi chất lượng và hiệu lực giám sát được đảm bảo thì đương nhiên hiệu quả giám sát sẽ tốt hơn Như vậy, giữa hiệu lực và hiệu quả giám sát có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, vì tính hiệu quả của hoạt động giám sát, bên cạnh việc đảm bảo về mặt hiệu lực phải tính toán những chi phí đầu tư cần phải ở mức tối
ưu
Trang 2415
Từ những phân tích trên, hiệu quả giám sát của HĐND được hiểu là hiệu lực thi hành các kiến nghị của hoạt động giám sát, đem lại kết quả phù hợp với mục đích giám sát, với những chi phí hợp lý về thời gian, trí lực, vật lực….cho hoạt động giám sát
Ngày 20/11/2015, Quốc hội khoá XIII đã ban hành uật Giám sát của Quốc hội và HĐND nhằm cụ thể hoá hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND các cấp mà trước đó chỉ có uật giám sát của Quốc hội năm 2003 Trên
cơ sở đó, hoạt động giám sát của HĐND sẽ được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định Giám sát của HĐND bao gồm: Giám sát của HĐND tại kỳ họp; giám sát của TTHĐND; giám sát của các ban HĐND và giám sát của Tổ đại biểu, đại biểu HĐND
Từ các khái niệm chung về giám sát trên, căn cứ đối tượng giám sát của HĐND, có thể hiểu khái niệm giám sát của HĐND cấp tỉnh như sau:
Giám sát của HĐ D tỉnh à hoạt động có mục đích, thường xuy n, i n tục của HĐ D cấp tỉnh nhằm quan sát, theo dõi, kiểm tra, phát hiện, uốn nắn việc tuân theo pháp uật, chấp hành nghị quyết của Thường trực HĐ D,UB D,
TA D, VKS D, của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị
vũ trang nhân dân theo quy định của pháp uật
nề nếp Nội dung chương trình giám sát tương đối phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tế của địa phương
Trang 2516
Theo quy định tại Điều 113, Hiến pháp năm 2013 : Hội đồng nhân dân là
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.[25, Đ113]
Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân
Ở cấp tỉnh, Hội đồng nhân dân được thành lập bằng một cuộc bầu cử do
cử tri địa phương trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, bỏ phiếu kín Hình thức hoạt động của HĐND chủ yếu thông qua kỳ họp toàn thể Mọi quyết định của Hội đồng được thông qua bằng việc biểu quyết theo nguyên tắc đa số tương đối hoặc đa số tuyệt đối
Tính chất đại diện của HĐND về mặt hình thức được thể hiện rõ n t nhất
ở vấn đề cơ cấu đại biểu trong HĐND Mỗi HĐND có một số lượng đại biểu nhất định đại diện cho nữ giới, người dân tộc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân và các cơ quan nhà nước khác đóng tại địa phương Điều này có nghĩa, HĐND đại diện cho toàn thể nhân dân; thành phần trong HĐND thể hiện khối đại đoàn kết của toàn dân sống trên địa phương HĐND là cơ quan chỉ đại diện cho nhân dân địa phương bầu ra mình, đồng thời thực hiện chức năng giám sát tại địa phương và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương đó và cơ quan nhà nước cấp trên
- Vai trò thực hiện nghi m Hiến pháp và Pháp uật:
uật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp
và Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp; giám sát
Trang 2617
việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương.[13]
Cụ thể, HĐND tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện các quyết định của HĐND trong phạm vi địa phương Các quyết định của HĐND đều được thể hiện dưới hình thức nghị quyết
Vì thế, chức năng này được triển khai trên các mặt công tác: tuyên truyền, phổ biến nghị quyết trong nhân dân qua hoạt động của đại biểu, Tổ đại biểu và các cơ quan chức năng thuộc UBND; TTHĐND chỉ đạo, đôn đốc UBND triển khai thực hiện nghị quyết của HĐND, trong đó, có việc ban hành các văn bản
cụ thể hóa đề ra các biện pháp thực hiện HĐND giám sát việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của các cơ quan chịu sự giám sát của HĐND, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cùng cấp, thông qua việc xem x t các báo cáo của TTHĐND, các Ban của HĐND, UBND, TAND, VKSND, CQTHADS cùng cấp, thông qua hoạt động của đại biểu HĐND trong
kỳ họp và giữa hai kỳ họp nhất là qua chất vấn của đại biểu HĐND tại kỳ họp của HĐND
Vì vậy, có thể khẳng định hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung
1.1.3 Nguyên tắ giám sát ủ H i đồng nh n n ấp tỉnh
Để hoạt động giám sát của HĐND tỉnh được thực hiện một cách đồng bộ, xứng đáng với vị thế và trách nhiệm của cơ quan dân cử, cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, hoạt động giám sát của HĐ D tỉnh phải được tiến hành tr n
cơ sở tuân thủ Hiến pháp và Pháp luật
Đây là những cơ sở pháp lý bảo đảm cho hoạt động giám sát được tiến hành một cách khách quan, tránh tuỳ tiện
Theo quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, thì hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được
Trang 2718
tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau: giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, của các Ban Hội đồng nhân dân, tổ Đại biểu HĐND, đại biểu Hội đồng nhân dân và hoạt động giám sát được thực hiện với nhiều phương thức giám sát khác nhau Vì thế, đương nhiên là phải quy định chặt chẽ thủ tục, các bước tiến hành, quy định chi tiết việc thực hiện quan hệ giữa các cơ quan nhà nước chịu sự giám sát với các cơ quan của Hội đồng nhân dân trong khi tiến hành hoạt động giám sát nhằm đảm bảo cho hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được diễn ra theo một quy trình hợp pháp, khoa học, tránh được bệnh chủ quan, hình thức n tránh, qua loa đại khái và thái độ vô trách nhiệm trong hoạt động giám sát
Hoạt động giám sát của HĐND là căn cứ để đánh giá, kết luận, kiến nghị hoặc ra nghị quyết đối với đối tượng bị giám sát Do đó, hoạt động giám sát phải bảo đảm tính khách quan, không lấy ý kiến chủ quan của một cá nhân hoặc một tập thể nào đó để áp đặt vào thực tiễn hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát àm như vậy không những gây tác hại cho đối tượng chịu sự giám sát, cho
xã hội mà còn làm ảnh hưởng tới uy tín của HĐND
Ngoài ra, căn cứ vào các quy định của pháp luật, thì hoạt động giám sát cũng cần phải dựa vào thông tin, tài liệu, báo cáo của đối tượng chịu sự giám sát, của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cũng như khảo sát, tham quan thực tế để kiểm nghiệm, thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như phương tiện thông tin đại chúng,
dư luận xã hội, ý kiến phản ánh của cử tri
Thứ hai, ảo đảm công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, có hiệu quả theo trình tự, thủ tục qui định của pháp uật
Hình thức giám sát gồm: xem x t báo cáo công tác của các đối tượng thuộc quyền giám sát; xem x t việc trả lời chất vấn của những đối tượng này; xem x t việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp; tổ chức các đoàn giám sát; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu; thông qua việc
Trang 2819
tiếp dân và theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến HĐND; tiếp xúc cử tri Các chế tài của giám sát đó là do HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp chấm dứt hành vi
vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền xem x t trách nhiệm của các đối tượng giám sát có hành vi vi phạm; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp nếu các văn bản đó trái pháp luật, gây thiệt hại về KT-XH, ảnh hưởng an ninh, quốc phòng; bãi nhiệm, miễn nhiệm, đối với các chức danh do HĐND bầu; ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn; quyết định giải tán HĐND cấp dưới trực tiếp
Sau giám sát, các chủ thể sẽ báo cáo về hoạt động giám sát của mình trước cử tri địa phương, trước các cơ quan liên quan bằng văn bản trực tiếp hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng và hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND Các chủ thể giám sát sẽ chịu trách nhiệm về báo cáo, nghị quyết, kết luận, yêu cầu và kiến nghị sau giám sát của mình
Như vậy, có thể thấy các hình thức giám sát luôn được tiến hành theo đúng trình tự thủ tục và công khai minh bạch trong từng hoạt động giám sát Đồng thời hiệu quả của hoạt động giám sát cũng được thể hiện rõ n t bằng các chế tài cụ thể
Thứ ba, không làm cản trở đến hoạt động ình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát
Giám sát là một trong những hoạt động thường xuyên của HĐND tỉnh đối với cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp để kiểm soát, đảm bảo cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoạt động có hiệu quả và đúng theo quy định của Pháp luật
Theo đó, uật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
năm 2015 quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát phải thực hiện
đầy đủ kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát của chủ thể giám sát; cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ của mình, trừ thông tin thuộc danh mục bí mật
Trang 2920
nhà nước mà theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước thì chủ thể giám sát đó không thuộc diện được tiếp cận; báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giám sát;[13]
Tuy nhiên, hoạt động giám sát này cũng phải được thực hiện trên cơ sở quy định của Pháp luật và theo chương trình, kế hoạch đã được hoạch định Trước khi tiến hành hoạt động giám sát, chủ thể giám sát phải thông báo bằng văn bản đến đối tượng bị giám sát về nội dung, thời gian và cách thức tiến hành giám sát theo đúng trình tự, thủ tục đã được pháp luật quy định; đảm bảo mọi hoạt động giám sát phải công khai minh bạch, không được làm cản trở đến hoạt động bình thường của các tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát
1.2 Chủ thể, n i ung, h nh thứ , thẩm quyền giám sát ủ H i đồng nh n
n ấp tỉnh
1.2.1 Chủ thể hoạt đ ng giám sát ủ H i đồng nh n n ấp tỉnh:
Trước hết, giám sát là một chức năng luật định, tức là gắn với quyền hạn
và là trách nhiệm của HĐND nói chung và HĐND cấp tỉnh nói riêng Chức năng được bảo đảm bởi một số hình thức hoạt động và công cụ đặc thù, cách thực hiện đặc thù của HĐND Nói tới vai trò giám sát là nói tới vị thế của HĐND với tư cách tổ chức và đại biểu HĐND với tư cách cá nhân trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình
Mục đích của giám sát là nhằm bảo đảm việc thi hành các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND ở địa phương được nghiêm túc, có chất lượng, hiệu quả; giám sát để khẳng định những kết quả đạt được, đồng thời phát hiện những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc,
từ đó kiến nghị, đề xuất, quyết định các biện pháp, giải pháp thực hiện tốt hơn
Chủ thể thực hiện quyền giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh gồm giám sát của tập thể HĐND tại kỳ họp; giám sát của TTHĐND; giám sát của các ban của HĐND, tổ Đại biểu Hội đồng nhân dân và giám sát của đại biểu HĐND tỉnh
và đã được cụ thể hóa thẩm quyền giám sát tại Điều 5, uật Hoạt động giám sát
của Quốc hội và HĐND năm2015 cụ thể như sau:
Trang 3021
- Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, Pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Ban của HĐND cấp mình; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp;
- Thường trực HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, Pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và HĐND cấp dưới; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp; giúp HĐND thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của HĐND;
- Ban của HĐND giúp HĐND giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Ban phụ trách;
- Tổ đại biểu HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương và nghị quyết của HĐND cùng cấp hoặc về vấn đề do HĐND, TTHĐND phân công;
- Đại biểu HĐND chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa phương Khi x t thấy cần thiết, HĐND, TTHĐND, Ban của HĐND tiến hành giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương.[29, Đ5]
Trang 3122
Đối tượng thuộc quyền giám sát của HĐND các cấp nói chung, HĐND cấp tỉnh nói riêng bao gồm nhiều loại khác nhau gồm: giám sát hoạt động của TTHĐND, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; Cơ quan thi hành án Dân sự cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương Tuy nhiên, ở phạm vi của đề tài này, chỉ tập trung nghiên cứu đối tượng thuộc quyền giám sát của HĐND tỉnh là UBND tỉnh và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh
Giám sát qua việc xem xét các báo cáo công tác:
Tại các kỳ họp, HĐND tỉnh giám sát các báo cáo về tình hình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, xây dựng chính quyền; thu chi ngân sách; đầu tư xây dựng cơ bản…đồng thời xem x t việc giải quyết khiếu nại tố cáo, giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri và tình hình thi hành pháp luật tại địa phương; giám sát báo cáo hoạt động của HĐND và các Ban HĐND; giám sát công tác điều hành của UBND Nội dung giám sát tập trung vào kết quả triển khai và tổ chức thực hiện các Nghị quyết của HĐND, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thủ trưởng các cơ quan tham mưu quản lý nhà nước ở địa phương để tiếp tục có những biện pháp, giải pháp điều chỉnh các hoạt động này theo hướng tích cực trên cơ sở quy định pháp luật
Giám sát qua hoạt động chất vấn, trả ời chất vấn:
Trang 3223
Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn là hình thức giám sát quan trọng của HĐND các cấp nói chung và cấp tỉnh nói riêng Đây là hình thức đối thoại trực tiếp giữa chủ thể thực hiện quyền giám sát và đối tượng bị giám sát, là biện pháp cụ thể để truyền đạt trực tiếp các nội dung giám sát và là cơ sở để xem x t, đánh giá năng lực, trình độ cũng như thái độ trách nhiệm của các tổ chức cá nhân trong quá trình thực thi nhiệm vụ Chất lượng giám sát có được nâng cao hay không phụ thuộc rất nhiều động này
Giám sát qua việc nghe áo cáo về tổng hợp kiến, kiến nghị của cử tri
và tình hình giải quyết khiếu nại tố cáo của cử tri:
Đây là một trong những nội dung được pháp luật quy định phải tiến hành trong các kỳ họp định kỳ của HĐND tỉnh và diễn ra trước phần chất vấn
Để thực hiện nội dung này, HĐND nghe TTHĐND báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri, thông báo kết quả thực hiện chương trình và kế hoạch giám sát; nghe UBND cùng cấp báo cáo kết quả giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri; việc tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử tri là căn cứ, cơ sở thiết yếu cho hoạt động giám sát
giữ chức vụ do HĐ D tỉnh ầu:
Tại kỳ họp giữa năm, HĐND cấp tỉnh tiến hành lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm những người do HĐND tỉnh bầu hoặc phê chuẩn đảm bảo quy trình, thủ tục, công khai, minh bạch trên nguyên tắc tập trung dân chủ, với tinh thần trách nhiệm cao các đại biểu HĐND cân nhắc thận trọng, khách quan, công tâm, công bằng khi thể hiện tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND tỉnh bầu Kết quả lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm góp phần để các chức danh
do HĐND bầu tự đánh giá và nỗ lực phấn đấu để hoàn thành ngày càng tốt hơn nhiệm vụ chức trách được giao
Thông qua hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm các Đại biểu HĐND đã thực hiện quyền giám sát của mình một cách có hiệu quả Điều
Trang 3324
này phản ánh trực tiếp thông qua số phiếu tín nhiệm hoặc không tín nhiệm đối với mỗi chức danh cụ thể
- Nội dung Hội đồng nhân dân tỉn i m s t t ờng xuyên:
Cùng với việc giám sát trực tiếp tại kỳ họp, hoạt động giám sát thường xuyên của HĐND tỉnh cũng được đảm bảo nhằm thực hiện hoạt động giám sát của HĐND tỉnh được diễn ra một cách liên tục theo quy định pháp luật
Tuy nhiên, hoạt động giám sát giám sát giữa hai kỳ họp của HĐND tỉnh phải thực hiện trên cơ sở bám sát các quy định của pháp luật và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương Các cuộc giám sát, kiểm tra, khảo sát được tiến hành bởi: Thường trực HĐND tỉnh thông qua việc xem x t các nội dung giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; xem x t VBQPP của UBND cấp tỉnh (cùng cấp) và Nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp; xem x t hoạt động giám sát của các Ban HĐND và hoạt động giám sát của các Ban HĐND như : Ban kinh
tế - ngân sách; Ban văn hóa – xã hội, Ban pháp chế theo chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các Ban và hoạt động giám sát của Đại biểu HĐND tỉnh
- Nội dung Hội đồng nhân dân tỉn i m s t t eo c uyên đề giữa hai
kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh:
Hàng năm, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, căn cứ vào các văn bản pháp luật đã được ban hành, TTHĐND, các Ban của HĐND lựa chọn nội dung đưa vào giám sát chuyên đề chuyên sâu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, ngân sách, xây dựng cơ bản, chấp hành pháp luật, giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá Hoạt động giám sát phải được tập trung vào những lĩnh vực thuộc thẩm quyền, có trọng tâm, trọng điểm Phương thức tiến hành giám sát phải được thực hiện đúng quy định, kết hợp nghe báo cáo với xem x t thực tế tại địa phương, cơ sở (trước, sau giám sát có thể tiến hành khảo sát, sử dụng phương pháp điều tra xã hội học hoặc thâm nhập thực tế), tìm hiểu khai thác thông tin phục vụ yêu cầu giám sát qua nhiều kênh khác nhau để thu thập thông tin hiệu quả phục vụ hoạt động giám sát
Trang 34Tại kỳ họp cuối năm, HĐND tỉnh xem x t, thảo luận báo công tác hàng năm của TTHĐND, UBND, các Ban của HĐND, TAND, VKSND, và CQTHADS cùng cấp
Tại kỳ họp giữa năm, các cơ quan này gửi báo cáo công tác đến đại biểu HĐND; khi cần thiết, HĐND có thể xem x t, thảo luận Tại kỳ họp cuối nhiệm
kỳ, HĐND tỉnh xem x t, thảo luận báo cáo công tác cả nhiệm kỳ của HĐND, TTHĐND, UBND, các Ban của HĐND, TAND, VKSND, CQTHADS cùng cấp HĐND tỉnh có thể yêu cầu báo cáo về những vấn đề khác khi x t thấy cần thiết Riêng đối với báo cáo của UBND, VKSND, TAND, CQTHADS phải được các Ban của HĐND thẩm tra theo sự phân công của TTHĐND tỉnh
Việc xem x t, thảo luận các báo cáo phải đảm bảo trình tự: Người đứng đầu các cơ quan bị giám sát trình bày báo cáo; Trưởng ban HĐND cấp tỉnh trình bày báo cáo thẩm tra; HĐND cấp tỉnh thảo luận; người đứng đầu cơ quan trình báo cáo có thể trình bày thêm những vấn đề có liên quan mà HĐND quan tâm; HĐND ra nghị quyết về báo cáo công tác khi x t thấy cần thiết Việc xem x t báo cáo buộc chủ thể bị giám sát phải báo cáo về công việc của mình là một hình thức giám sát quan trọng
Trên cơ sở đó HĐND có thể kiểm soát tình hình thực thi Hiến pháp, pháp luật và các văn bản pháp luật cũng như nghị quyết của HĐND trong thực tiễn
Trang 3526
đời sống xã hội, tăng cường trách nhiệm cá nhân người đứng đầu UBND và các ban, ngành về công tác của họ trước HĐND
Để hoạt động xem x t báo cáo của TTHĐND, UBND, VKSND, TAND
và CQTHADS một cách khoa học, ngoài việc thực hiện đúng quy trình xây dựng báo cáo, công tác thẩm tra các báo cáo phải được TTHĐND phân công cho các Ban của HĐND thực hiện một cách tích cực Các Ban phải tiến hành làm việc với các cơ quan chuẩn bị báo cáo, đi khảo sát nắm tình hình cơ sở, tiếp xúc cử tri, tổ chức đoàn giám sát, họp Ban và thông qua báo cáo thẩm tra tại kỳ họp nhằm cung cấp cho các đại biểu HĐND cơ sở pháp lý, tính thực tiễn, những nhận định đánh giá khách quan, tính khả thi làm cơ sở để các đại biểu HĐND nghiên cứu, thảo luận và xem x t các báo cáo
Tại kỳ họp, HĐND phải thảo luận tại hội trường hoặc qua các tổ đại biểu; đại biểu quan tâm vấn đề nào hơn thì ưu tiên thảo luận vấn đề đó; một đại biểu
có thể tham gia thảo luận nhiều nội dung Những vấn đề mà các đại biểu quan tâm hoặc có ý kiến khác nhau thì chủ toạ kỳ họp đưa ra thảo luận, lấy biểu quyết riêng trước khi biểu quyết chung thông qua nghị quyết
- Xem xét việc trả lời c ất vấn củ ủ tịc Hội đồn n n d n, ủ tịc ỷ b n n n d n, c c t n viên k c củ ỷ b n n n d n, ủ
tr ởn c qu n c uyên môn t uộc ỷ b n n n d n, iện tr ởn iện kiểm sát nhân d n, n n ò n n n d n; qu n i n n n sự cấp tỉn
Chất vấn là hoạt động giám sát đặc biệt quan trọng, thể hiện quyền lực của cơ quan dân cử ở địa phương Tại kỳ họp, chất vấn là nội dung thu hút được
sự quan tâm của đông đảo nhân dân Thông qua chất vấn, các đại biểu thể hiện trách nhiệm của mình đối với cử tri Đồng thời, qua việc trả lời chất vấn, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng
Dưới góc độ thực hiện chức năng giám sát của HĐND tỉnh, quyền chất vấn được xem là một trong những hình thức giám sát quan trọng nhất, thể hiện năng lực, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của người đại biểu HĐND Để
Trang 3627
thực hiện quyền chất vấn, đòi hỏi người đại biểu phải có một quá trình theo dõi, xem x t, tiếp xúc, nghe phản ánh từ nhân dân, phải có quá trình thu thập thông tin, số liệu, chứng cứ và hiểu biết về pháp luật, hiểu được phạm vi, chức năng, nhiệm vụ đối tượng mà mình chất vấn
Theo quy định của pháp luật, đại biểu HĐND tỉnh có quyền chất vấn Chủ tịch HĐND tỉnh, Chủ tịch và các thành viên khác của UBND tỉnh, Chánh án TAND tỉnh, Viện trưởng VKSND tỉnh và Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Tại kỳ họp, việc chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện như sau:
Trước phiên họp chất vấn, đại biểu Hội đồng nhân dân ghi vấn đề chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu chất vấn và gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân
Căn cứ vào chương trình kỳ họp, ý kiến, kiến nghị của cử tri, vấn đề xã hội quan tâm và phiếu chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân đề nghị Hội đồng nhân dân quyết định nhóm vấn đề chất vấn và người bị chất vấn.[13, Đ 60]
Đại biểu HĐND ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu ghi chất vấn và gửi đến TTHĐND tỉnh Thường trực HĐND tỉnh chuyển chất vấn đến người bị chất vấn và tổng hợp các chất vấn của đại biểu HĐND để báo cáo HĐND tỉnh
Thường trực HĐND tỉnh dự kiến danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn và báo cáo HĐND quyết định
Việc trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể của HĐND tỉnh được thực hiện theo trình tự: Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ về các nội dung mà đại biểu HĐND tỉnh đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục Đại biểu HĐND tỉnh có thể nêu câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu HĐND tỉnh không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị HĐND tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó
Trang 3728
hoặc đưa ra thảo luận tại phiên họp khác hoặc kiến nghị HĐND tỉnh xem xét trách nhiệm của người bị chất vấn HĐND tỉnh ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi x t thấy cần thiết
- Xem xét văn bản quy p ạm p p luật củ ỷ b n n n d n tỉn , n ị quyết củ Hội đồn n n d n cấp uyện k i p t iện có dấu iệu tr i v i Hiến p p, Pháp luật
Hội đồng nhân dân xem x t quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của mình theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân.[29, Đ 61]
Đây là hình thức HĐND cấp tỉnh giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật của UBND cấp tỉnh và nghị quyết của HĐND cấp huyện Nếu HĐND cấp tỉnh phát hiện thấy những văn bản này có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc Hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì HĐND sẽ xem x t, quyết định việc bãi bỏ văn bản đó
Việc quy định thẩm quyền xem x t văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh như hiện nay, một mặt giảm được bớt gánh nặng công việc cho Quốc Hội, mặt khác góp phần bảo đảm tính thống nhất cao của pháp luật HĐND cấp tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, nắm vững tình hình của địa phương về mọi mặt, đảm nhiệm công việc này sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn
Việc xem x t văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân tỉnh, nghị quyết của HĐND cấp huyện phải đảm bảo trình tự sau:
+ Đại diện TTHĐND trình văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên
Trang 3829
+ HĐND thảo luận Trong quá trình thảo luận, người đứng đầu cơ quan
đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật có thể trình bày bổ sung những vấn đề
có liên quan
+ HĐND ra nghị quyết về việc văn bản quy phạm pháp luật không trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó
Có thể nói, hoạt động xem x t văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp tỉnh có vai trò rất quan trọng Thông qua hoạt động này mới loại bỏ được những văn bản pháp luật sai trái, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật
- i m s t c uyên đề:
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, khi x t thấy cần thiết phải xác minh, làm rõ, hoặc muốn biết một số thông tin cụ thể trong quá trình hoạt động của các đối tượng chịu giám sát thì HĐND tỉnh thành lập Đoàn giám sát, trên cơ sở:
+ Căn cứ chương trình giám sát, Hội đồng nhân dân tỉnh ra nghị quyết thành lập Đoàn giám sát chuyên đề theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh
+Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về việc thành lập Đoàn giám sát phải xác định rõ đối tượng, phạm vi, nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát
+ Đoàn giám sát do Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh làm Trưởng đoàn, các thành viên khác gồm Ủy viên của Thường trực Hội đồng nhân dân, đại diện Ban của Hội đồng nhân dân và một số đại biểu Hội đồng nhân dân Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, tổ chức thành viên của Mặt trận có thể được mời tham gia Đoàn giám sát
+Đoàn giám sát có những nhiệm vụ, quyền hạn : xây dựng đề cương báo cáo để cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo; thông báo nội dung,
kế hoạch, đề cương báo cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát
Trang 39+ Trước khi báo cáo Hội đồng nhân dân, Đoàn giám sát báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân về kết quả giám sát Hội đồng nhân dân xem x t báo cáo của Đoàn giám sát theo trình tự sau đây:
Đoàn giám sát báo cáo kết quả giám sát;
Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo, giải trình; Hội đồng nhân dân thảo luận
Trong quá trình thảo luận, đại diện Đoàn giám sát có thể trình bày bổ sung về những vấn đề liên quan;
Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về vấn đề được giám sát Đồng thời Nghị quyết giám sát được gửi đến cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.[29, Đ 62]
Có thể nói, hoạt động giám sát trực tiếp theo chuyên đề ngày càng được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định và mang lại hiệu quả rõ n t Qua
Trang 4031
các đợt giám sát đã xây dựng báo cáo kết quả giám sát, trong đó nêu và đánh giá được thực trạng vấn đề, nguyên nhân đạt được, chưa được, những hạn chế, vướng mắc, nguyên nhân khách quan, chủ quan và những kiết nghị, đề xuất giải pháp đối với HĐND, UBND, các cơ quan liên quan
- ấy p iếu tín n iệm, Bỏ p iếu tín n iệm đối v i n ời iữ c ức vụ do Hội đồn n n d n bầu
Lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân
ầu
Theo quy định: Hội đồng nhân dân tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau đây: Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân; Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân đối với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân
Việc lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện tại kỳ họp Hội đồng nhân dân theo trình tự sau đây:
Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân quyết định danh sách những người được lấy phiếu tín nhiệm;
Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm bằng cách bỏ phiếu kín;
Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân thông qua nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm
Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá tín nhiệm thấp thì có thể xin từ chức
Người được lấy phiếu tín nhiệm có từ hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân trở lên đánh giá tín nhiệm thấp thì Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm
Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân
ầu
Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu trong các trường hợp sau đây: