Để bảo đảm chính sách BHXH, BHYT của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống, góp phần vào an sinh xã hội của đất nước, các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể xã hội, bên cạnh tăng cường công tá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HÀ XUÂN DŨNG
HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN QUỐC SỬU
TP.HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công
bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực với sự kế thừa học hỏi, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hà Xuân Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình Cao học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
và viết luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý nhiệt tình và sự động viên của quý thầy cô tại Học viện Hành chính Quốc gia cùng với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin trân trọng bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn tới các Thầy, Cô giáo tại Học viện hành chính quốc gia, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Quốc Sửu - Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Hành chính Quốc gia, đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại Học viện cũng như quá trình thực hiện, hoàn thiện luận văn Cao học về đề tài “Hoạt động kiểm tra của Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh”
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc, lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ, cung cấp số liệu về hoạt động kiểm tra của cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian viết luận văn tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng hết năng lực của mình nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự góp ý quý báu của quý thầy cô và các bạn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 02 năm 2018
Trang 5DANH M C CÁC CHỮ VI C
BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 6DANH M C CÁC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU
Số hiệu
Trang 7M C L C
Trang
MỞ ĐẦU……….………… 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI……… 8
1.1 Một số vấn đề lý luận về hoạt động kiểm tra…… …….… 8
1.1.1 Khái niệm về kiểm tra……….……… 8
1.1.2 Đặc điểm hoạt động kiểm tra……….……… 10
1.1.3 Vai trò của kiểm tra trong thực hiện pháp luật………… ……… 11
1.2 Hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH……… ……… 12
1.2.1 Một số nét khái quát về BHXH……… 13
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH…… 17
1.2.3 Nội dung và hình thức kiểm tra của cơ quan BHXH……… 21
1.2.4 Quy trình kiểm tra của cơ quan BHXH………. 23
1.2.5 Vai trò hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH……… … 30
1.3 Kinh nghiệm kiểm tra của BHXH ở một số tỉnh/thành phố………… … 33
1.3.1 Kinh nghiệm của BHXH tỉnh Bình Phước……… 33
1.3.2 Kinh nghiệm của BHXH tỉnh Đắk Lắk. 34
1.3.3 Kinh nghiệm trong công tác phối hợp kiểm tra liên ngành của BHXH thành phố Đà Nẵng……… 36
Tiểu kết Chương 1……… ………….… 39
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH……… 40
Trang 82.1 Một số nét khái quát về BHXH thành phố Hồ Chí Minh……… … 40
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển……… …… 40
2.1.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức……… 41
2.2 Thực trạng trạng pháp luật điểu chỉnh hoạt động kiểm tra của BHXH thành phố Hồ Chí Minh
45 2.2.1 Văn bản kiểm tra BHXH, BHYT của cơ quan Trung ương 46
2.2.2 Văn bản kiểm tra của BHXH Việt Nam 47
2.3 Thực trạng chủ thể, nội dung kiểm tra của BHXH thành phố Hồ Chí Minh 49
2.3.1 Thực trạng chủ thể kiểm tra 49
2.3.2 Nội dung kiểm tra 56
2.4 Thực trạng hình thức, phương pháp kiểm tra của BHXH thành phố Hồ Chí Minh
64 2.4.1 Thực trạng hình thức kiểm tra 64
2.4.2 Thực trạng phương pháp kiểm tra 66
2.5 Đánh giá kết quả hoạt động kiểm tra của BHXH thành phố Hồ Chí Minh 68
2.5.1 Kết quả, ưu điểm và nguyên nhân……… 68
2.5.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân……….……… 73
Tiểu kết Chương 2……….……… ……… 80
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 81
Trang 93.1 Phương hướng bảo đảm hoạt động kiểm tra của BHXH thành phố Hồ
Chí Minh
81 3.2 Giải pháp bảo đảm hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH 85
3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế hoạt động kiểm tra 86
3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện tổ chức và nâng cao năng lực chủ thể kiểm tra 97
3.2.3 Nhóm giải pháp đổi mới hình thức, phương pháp kiểm tra 104
3.2.4 Nhóm giải pháp tăng cường bảo đảm kinh phí 105
3.2.5 Giải pháp khác 105
Tiểu kết Chương 3……….…… 110
KẾT LUẬN……….………… 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………… 113
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Tinh thần tương thân thương ái vốn là bản chất tốt đẹp của con người Đó chính là sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang lẫn nhau của cộng đồng xã hội trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống đối với từng thành viên Bên cạnh đó, sự trợ giúp của cộng đồng xã hội đã dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau Chính vì vậy, yếu tố đoàn kết, nhân đạo đó đã đã tác động đến ý thức và trách nhiệm của Nhà nước ở các chế độ xã hội khác nhau
An sinh xã hội là sự bảo vệ của Nhà nước và xã hội đối với mọi người dân thông qua các chính sách, giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro trước tác động tiêu cực của tự nhiên và xã hội nhằm đảm bảo cuộc sống ổn định của mọi người dân, hòa nhập cộng đồng Hiện nay, an sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam hướng vào mục tiêu phát triển con người, nâng cao chất lượng cuộc sống của
Nhân dân Ở nước ta, với đặc trưng của chế độ chính trị, yếu tố lịch sử, địa lý và điều kiện kinh tế xã hội, có thể thấy cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội gồm 03 trụ cột: Bảo hiểm xã hội (bao gồm cả bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp); Ưu đãi xã hội; Bảo trợ xã hội (bao gồm Trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội)[41] Bảo hiểm xã
hội là một bộ phận trong chính sách An sinh xã hội của đất nước, đồng thời là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội Điều này được thể hiện dựa trên cơ sở là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là lực lượng lao động xã hội-lực lượng đông nhất và
có vai trò quyết định đối với sự ổn định, phát triển của một quốc gia và toàn thế giới[42] Do vậy, hệ thống bảo hiểm xã hội hoạt động hiệu quả thì mới có nền an sinh xã hội vững mạnh
Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (BHXH,
BHYT) giai đoạn 2012-2020 đã khẳng định “BHXH và BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội góp phần thực hiện tiến
Trang 11vụ ngăn ngừa rủi ro nhất định và điều tiết cân bằng toàn bộ hoặc từng phần mất mát về thu nhập, những khoản chi phí khi gặp phải rủi ro không lường trước, nhằm bảo đảm mục tiêu bình ổn xã hội
Tuy nhiên, hiện nay tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH, BHYT diễn ra liên tục trong nhiều năm và chưa có xu hướng giảm, với mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp Đồng thời, một số đối tượng lợi dụng kẻ hở của pháp luật có hành vi vi phạm pháp luật nhằm trục lợi quỹ BHXH, BHYT Điều này không chỉ gây thiệt hại
về tài sản cho cơ quan BHXH, gây rối loạn trong việc chi trả chế độ chính sách BHXH, BHYT do việc chi trả tiền BHXH, BHYT không đúng với thực tế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quỹ BHXH, BHYT và việc thụ hưởng chính sách của người lao động Trên khía cạnh vĩ mô, sự vi phạm chính sách pháp luật về BHXH, BHYT ảnh hưởng rất lớn đến chính sách an sinh xã hội của đất nước và quyền đảm bảo của công dân về an sinh xã hội
Để bảo đảm chính sách BHXH, BHYT của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống, góp phần vào an sinh xã hội của đất nước, các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể xã hội, bên cạnh tăng cường công tác tuyên truyền về chính sách pháp luật BHXH, BHYT và sự nâng cao hiểu biết về quyền lợi, trách nhiệm của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong việc tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT thì hoạt động kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về chính sách BHXH, BHYT có ý
Trang 123
nghĩa quan trọng Kiểm tra là hoạt động thường xuyên, tất yếu của cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan BHXH nói riêng Hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH có mục tiêu đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người tham gia BHXH, BHYT, phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng tham gia BHXH, BHYT trên cơ sở đó có biện pháp uốn nắn, chấn chỉnh và xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật Thực tiễn cho thấy nếu hoạt động kiểm tra
và xử lý vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT được thực hiện một cách nghiêm túc,
có hiệu quả sẽ làm tăng tính tự giác tuân thủ pháp luật về BHXH, BHYT Ngược lại, nếu hoạt động này lỏng lẻo, không coi trọng sẽ là điều kiện làm lan nhanh sự không tuân thủ pháp luật về BHXH, BHYT, hậu quả không chỉ ảnh hưởng đến sự thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT của người tham gia mà còn tạo ra sự bất công đối với đối tượng chấp hành tốt nghĩa vụ chính sách BHXH, BHYT
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng và
là đô thị đặc biệt lớn nhất Việt Nam cả về diện tích, dân số và chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội BHXH thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc BHXH Việt Nam đặt tại thành phố Hồ Chí Minh, có chức năng giúp Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT và quản lý quỹ BHXH, BHYT trên địa bàn Thành phố theo quy định của pháp luật Trong những năm qua, hoạt động kiểm tra của BHXH Thành phố Hồ Chí Minh đã được coi trọng theo đúng với vị trí, chức năng của nó Thông qua hoat động kiểm tra, cơ quan BHXH thành phố Hồ Chí Minh đã ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành
vi vi phạm pháp luật; hạn chế, răn đe những hành vi vi phạm của các đối tượng quản lý và khắc phục những kẽ hở của chính sách, pháp luật Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn những tồn tại, hạn chế, những điểm bất cập này cần được khắc phục, hoàn thiện như: Năng lực kiểm tra chưa đáp ứng qua thực tế; phạm vi kiểm tra chưa bao phủ hết các mặt hoạt động; quy trình kiểm tra chưa hoàn thiện và đầy đủ; kết luận kiểm tra còn mang tính chung chung Mặt khác, việc nghiên cứu về đề tài này tại BHXH thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa được
tiến hành Vì vậy, học viên quyết định chọn đề tài: “Hoạt động kiểm tra của Bảo
Trang 134
hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh” là đề tài luận văn của mình với mong
muốn đem lại một số nét khái quát về hoạt động kiểm tra của ngành BHXH nói chung và hoạt động kiểm tra tại BHXH Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Đồng thời đánh giá lại hoạt động kiểm tra tại BHXH Thành phố Hồ Chí Minh để từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm tra, góp phần thúc đẩy sự phát triển của Ngành
2 Tình hình nghiên cứu
Xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động quản lý nhà nước, ở nước ta nhiều năm qua đã có nhiều luận án, luận văn, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học xoay quanh vấn đề này từ nhiều khía cạnh và mức
độ khác nhau
Thứ nhất, Công trình nghiên cứu lý thuyết về vấn đề nghiên cứu
+ Giáo trình quản lý học đại cương (2015), Học viện Hành chính Quốc gia,
Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội
+ Giáo trình thanh tra và giải quyết khiếu nại hành chính (2011), Học viện
hành chính, Nxb khoa học kỹ thuật, Hà Nội
+ Quyền an sinh xã hội và đảm bảo thực hiện trong pháp luật Việt Nam
(2014), PGS.TS Lê Thị Hoài Thu, Nxb.Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội
+ Đổi mới và phát triển Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (2015), TS Dương Văn
Thắng, Nxb.Văn hóa – Thông tin, Hà Nội
Trong các tác phẩm này đã cung cấp hệ thống kiến thức lý luận cơ sở cho tác giả về chức năng kiểm tra trong quản lý; phân biệt Công tác thanh tra và kiểm tra; kiến thức về an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng; bảo đảm quyền
an sinh trong thực hiện pháp luật ở Việt Nam
Thứ hai, Công trình nghiên cứu ứng dụng
- Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý công “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong tổ chức và hoạt động của thanh tra ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Thu
Oanh (2004);
Trang 14Các luận văn trên đa phần nghiên cứu các vấn đề thanh tra, kiểm tra tại cơ
sở và đã nêu bật được thực trạng và các giải pháp chung liên quan đến thanh tra, kiểm tra ngành hoặc tại cơ sở Tuy nhiên, các đề tài này chỉ tập trung phân tích thực trạng ngành và vai trò của thanh tra, kiểm tra của từng ngành cụ thể
Thứ ba, Những bài báo khoa học, tạp chí chuyên ngành
+ Bài viết “Nhận diện một số thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH và biện pháp phòng ngừa”, Thạc sĩ Phan Tiến Anh, Trường
Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II, tại www.tapchibaohiemxahoi.gov.vn đăng ngày 14/4/2017
Bài viết trên đã nêu lên thực trạng các thủ đoạn hành vi vi phạm pháp luật
về BHXH, BHYT đối với các đối tượng vi phạm Đồng thời, tác giả nêu lên các biện pháp ngừa vi phạm pháp luật, trong đó tác giả nhấn mạnh đến việc thanh tra, kiểm tra tại các doanh nghiệp-nơi có tình trạng xảy ra phổ biến và tinh vi nhất
Nhìn chung, các bài viết, công trình khoa học đã tập trung nghiên cứu về công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan Nhà nước ở các khía cạnh khác nhau theo sự thay đổi của pháp luật về hoạt động này Tuy nhiên cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về cả lý luận lẫn thực tiễn đối với vấn đề hoạt động kiểm tra của BHXH Thành phố Hồ Chí Minh Là một viên chức công tác trong ngành BHXH, với mong muốn tìm hiểu một cách tương đối toàn diện, hệ thống về hoạt động kiểm tra của BHXH Thành phố Hồ Chí Minh, tôi chọn đề tài này để đưa
ra các nhận định, giải pháp góp phần tiếp tục bảo đảm hoạt động kiểm tra tại cơ quan BHXH Thành phố
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 156
Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận, luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra tại BHXH thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi nhằm bảo đảm hoạt động kiểm tra tại BHXH Thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm tra nói
chung và hoạt động kiểm tra của ngành BHXH nói riêng
- Thứ hai, phân tích, đánh giá đúng thực trạng hoạt động kiểm tra tại BHXH
thành phố Hồ Chí Minh Từ đó chỉ ra nguyên nhân những ưu điểm, tồn tại, thiếu sót và rút ra những kinh nghiệm trong hoạt động kiểm tra của BHXH thành phố Hồ Chí Minh hiện nay;
- Thứ ba, đề xuất những giải pháp khả thi nhằm bảo đảm hoạt động kiểm tra
của BHXH Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quy định pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật về kiểm tra của BHXH Thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng: Do khuôn khổ của luận văn có hạn nên tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và những vấn đề thực tiễn có liên quan đến công tác kiểm tra với đối tượng là đơn vị sử dụng lao động; đại lý thu đại diện chi trả và tổ chức khám bệnh, chữa bệnh BHYT
- Về không gian: địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Về thời gian: từ 2013 đến tháng 10 năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết
Trang 167
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích – tổng hợp trong việc nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan tới hoạt động kiểm tra và tác động của hoạt động này tới thực tiễn
Phương pháp thống kê và mô hình hóa số liệu dưới dạng bảng, biểu c ng được sử dụng để tìm hiểu chất lượng và số lượng về hoạt động kiểm tra tại BHXH thành phố Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa, làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH và đi đến thống nhất về nhận thức trong quá trình xây dựng và thực hiện hoạt động kiểm tra của Ngành BHXH hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Làm sáng tỏ những ưu điểm, hạn chế về hoạt động kiểm tra của BHXH Thành phố Hồ Chí Minh đối với các đối tượng tham gia BHXH, BHYT (cụ thể là các đơn vị sử dụng lao động; đại lý thu đại diện chi trả và cơ sở khám chữa bệnh BHYT) hiện nay Tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm hoạt động kiểm tra của BHXH Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó có thể áp dụng để bảo đảm hoạt động kiểm tra của ngành BHXH
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Luật hiến pháp và luật hành chính và những ai quan tâm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm tra của bảo hiểm xã hội Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra của Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm hoạt động kiểm tra của Bảo hiểm xã hội thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Trang 178
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA
CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Một số vấn đề lý luận về hoạt động kiểm tra
Kiểm tra là một trong các chức năng của quy trình quản lý Đồng thời, đó là một trong những công việc thường xuyên, quan trọng của bất cứ nhà quản lý nào Thông qua chức năng kiểm tra mà chủ thể quản lý nắm bắt và điều chỉnh kịp thời các hoạt động của đối tượng quản lý nhằm thực hiện tốt các mục tiêu của tổ chức đã xác lập
Hiện nay, Nhà nước ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật có định nghĩa cụ thể về kiểm tra nhưng trên phương diện lý luận thực tiễn thì kiểm tra là khái niệm rộng thể hiện ở nhiều góc độ như:
Theo Từ điển tiếng pháp luật Anh-Việt thì kiểm tra là “xem xét tình hình thực
tế để đánh giá, nhận xét”[54] Từ khái niệm này có thể hiểu kiểm tra là những hành
vi nhằm mục đích xem xét về mặt thực chất và thực tế theo yêu cầu của chủ thể kiểm tra và để chỉ hoạt động của chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc)
Thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol định nghĩa kiểm tra như sau: “ Kiểm tra là nắm vững tình hình tiến triển của công việc, sự phù hợp của nó so với kế hoạch đã định nhằm phát hiện những khiếm khuyết trong công việc, áp dụng các biện pháp điều chỉnh cần thiết, sửa chữa khuyết điểm để đảm bảo thực hiện thuận lợi mục tiêu đề ra”[37]
Theo Harol Koontz: “Kiểm tra là đo lường và chấn chỉnh hoạt động các bộ phận cấp dưới để tin chắc rằng các mục tiêu và kế hoạch thực hiện mực tiêu đó đã đang được hoàn thành”[23]
Theo Nguyễn Hữu Luận (Khoa Nhà nước và Pháp luật-Học viện Hành chính Quốc gia), kiểm tra là một khái niệm rộng, được thể hiện ở nhiều góc độ:
Trang 189
+ Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn
+ Kiểm tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc, vì thế cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như: biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyết điểm hoặc vi phạm pháp luật
+ Kiểm tra là hoạt động của các cơ quan Đảng, các tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng tham gia hoạt động giám sát công việc hành chính nhà nước Trong trường hợp này, kiểm tra hầu như không mang tính quyền lực nhà nước; không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ tác động đến hoạt động quản lý nhà nước bằng những biện pháp mang tính xã hội [58]
Từ các khái niệm trên chúng ta thấy rằng kiểm tra bao gồm các yếu tố sau:
- Chủ thể kiểm tra: đây là tác nhân tạo ra các tác động kiểm tra, bao gồm cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền trong tổ chức
- Đối tượng kiểm tra: đây là các thực thể tiếp nhận tác động từ chủ thể kiểm tra Đối tượng kiểm tra có thể là cá nhân hoặc tổ chức có trách nhiệm thực thi công việc, nhiệm vụ trong tổ chức
- Khách thể kiểm tra: là những hoạt động, hành vi của đối tượng kiểm tra
- Mục tiêu kiểm tra: là sự nhận định, đánh giá, xử lý trong hoạt động, hành vi của đối tượng kiểm tra
Từ những nội dung trên, ta có thể hiểu khái niệm kiểm tra như sau: “Kiểm tra
là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tiến hành xem xét, đánh giá, xử lý hoạt động
Trang 19Kiểm tra là một chức năng cuối cùng của quá trình quản lý: kế hoạch, tổ chức, nhân sự, lãnh đạo và kiểm tra (hay kiểm soát)[37] Kiểm tra không phải là chức năng thứ yếu mà ngược lại là một chức năng quan trọng, nó có ý nghĩa to lớn trong quá trình quản lý Do vậy, trong quá trình kiểm tra cần phải công khai, minh bạch để đảm bảo các kế hoạch được thực hiện đầy đủ, đúng tiến độ nhằm đáp ứng hoặc vượt các mục tiêu đã định
Thứ nhất, kiểm tra là một quá trình trong hoạt động quản lý Quản lý là một
quá trình nhằm hướng tổ chức tới mục tiêu định trước Quá trình quản lý bao gồm các chức năng: Kế hoạch; tổ chức; nhân sự; lãnh đạo; kiểm tra[37] Kiểm tra là một chức năng trong hoạt động quản lý nhằm hướng đến mục tiêu chung Do vậy, đây là một quá trình trong hoạt động quản lý của tổ chức nhằm đảm bảo cho tổ chức đạt
được mục tiêu đã xác định
Thứ hai, tính thường xuyên, liên tục Hoạt động quản lý trong tổ chức được
tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm đạt tới mục tiêu của tổ chức Do vậy, để đảm bảo được điều này thì mọi chức năng trong quá trình quản lý phải được tiến hành thường xuyên, liên tục Chính vì vậy, đây c ng chính là đặc điểm thường xuyên liên tục của hoạt động kiểm tra, trong đó bao gồm hoạt động kiểm tra của chủ thể kiểm
tra và quá trình tự kiểm tra của đối tượng kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu chung
Trang 2011
Thứ ba, tính độc lập khách quan Hoạt động kiểm tra tuy là một chức năng
của quản lý, tuy nhiên trong quá trình kiểm tra đồi hỏi phải có tính độc lập khách quan so với các chức năng khác nhằm điều chỉnh chính xác những sai lệch trong quá trình thực hiện tránh ảnh hưởng đến mục tiêu chung của tổ chức
Thứ tư, tính toàn diện, hệ thống Hoạt động kiểm tra bao quát tất cả mọi hoạt
động chủ yếu của tổ chức, đây không phải đơn thuần kiểm tra từng chức năng riêng
lẻ Kiểm tra bao gồm một chuỗi những hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý các tiêu chí theo một trình tự nhất định, bao quát toàn bộ môi trường hệ thống của tổ chức Kết quả kiểm tra nhằm chỉ ra những nhận định, đánh giá, xử lý và có những cải tiến cần thiết nhất Chúng được thể hiện thành một kế hoạch các biện pháp chấn chỉnh trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn nhằm để nâng cao hiệu quả chung của tổ chức
Hoạt động quản lý Nhà nước là hoạt động ban hành văn bản pháp luật và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật Kiểm tra là một chức năng của quản lý Nhà nước, do vậy kiểm tra có vai trò quan trọng trong thực hiện pháp luật
Thứ nhất, kiểm tra là phương thức bảo đảm pháp chế
Hành vi vi phạm pháp luật đã, đang và vẫn còn là một thực tế với nhiều hình thức, phạm vi và lý do khác nhau Thông qua hoạt động kiểm tra, chủ thể kiểm tra đánh giá được đối tượng kiểm tra trong việc thực hiện, chấp hành pháp luật có vi phạm pháp luật hay không, vi phạm ở mức độ nào Từ đó đề ra những biện pháp xử
lý thích hợp[8] Do vậy, kiểm tra là một phương thức bảo đảm pháp chế Nguyên tắc
pháp chế là việc chấp hành pháp luật cả từ phía các cơ quan Nhà nước và từ phía các
cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước Một mặt, Các cơ quan Nhà nước tuân thủ pháp luật thể hiện ở việc các cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà pháp luật đã quy định Mặt khác, các đối tượng quản lý, mọi công dân, cá nhân, tổ chức trong mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội đều phải thực hiện theo các quy định của pháp luật Với tư cách là một chức năng của quản lý Nhà nước, kiểm tra chính là hoạt động xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức cá nhân có đúng chính sách, pháp luật
Trang 2112
hay không Nếu đối tượng làm sai hoặc làm chậm thì giúp đối tượng đó sửa chữa và làm cho đúng Mục đích của kiểm tra là phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý những vi phạm, bảo đảm để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành một cách chính xác, đầy đủ và nghiêm chỉnh pháp luật Nhà nước
Thứ hai, kiểm tra là một biện pháp ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành
vi vi phạm pháp luật
Kiểm tra là hoạt động phân tích, mổ xẻ một cách sâu sắc, đầy đủ nhất các nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất, mức độ của một hành vi vi phạm pháp luật[36] Do vậy, ngoài các giải pháp như các đề nghị, kiến nghị, yêu cầu…được đưa
ra thì hoạt động kiểm tra không chỉ hướng vào việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật
mà nó phát hiện được mà còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa tận gốc mầm mống phát sinh những vi phạm pháp luật tương tự xảy
ra ở một nơi khác hoặc vào một thời điểm khác Đồng thời, công tác kiểm tra luôn
có tính định hướng và tính xây dựng[36] Vai trò phòng ngừa của kiểm tra được đề cập ở đây là vai trò phòng ngừa mang tính chủ động Trong rất nhiều trường hợp kiểm tra mà có thể dự báo được một hành vi vi phạm pháp luật sẽ xảy ra trong tương lai nếu không có sự chấn chỉnh, không có sự định hướng lại cho các đối tượng một cách kịp thời
Thứ ba, kiểm tra là cơ sở hoàn thiện chính sách pháp luật
Xã hội luôn vận động và phát triển, do vậy pháp luật không bao giờ đủ để điều chỉnh quan hệ xã hội vốn rất nhiều, đa dạng và phong phú[38] Thông qua hoạt động kiểm tra những lỗ hổng trong chính sách pháp luật dần bộc lộ, phơi bày Những lỗ hổng, kẽ hở trong chính sách pháp luật c ng chính là cơ hội cho những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật nhằm trốn tránh trách nhiệm và trục lợi Do vậy, các giải pháp mà các chủ thể kiểm tra đưa ra không chỉ hướng vào các hành vi vi phạm mà còn là cơ sở khắc phục những sơ hở, bất cập trong chính sách pháp luật của Nhà nước[36]
1.2 Hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH
Trang 2213
1.2.1.1 Sự cần thiết khách quan và bản chất của BHXH
BHXH là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới So với các loại hình bảo hiểm khác thì đối tượng, chức năng và tính chất của BHXH có những điểm khác biệt do bản chất của nó chi phối
Tinh thần tương thân tương ái vốn là bản chất tốt đẹp của con người, nhất là khi đối mặt với những rủi ro trong đời sống Tuy nhiên, cuộc sống của con người lại phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống và đôi khi có những điều kiện tự nhiên và xã hội không thuận lợi (thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh ) đã làm cho một bộ phận người dân rơi vào tình cảnh bất lợi, bên cạnh những biện pháp
tự khắc phục thì con người luôn cần phải có sự trợ giúp nhất định từ xã hội để bảo đảm cuộc sống bình thường Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau và được thể hiện thông qua những hội cứu tế, hội tương trợ của những nhóm xã hội khác nhau Tinh thần đoàn kết, nhân đạo đã tác động tích cực đến vai trò và trách nhiệm của Nhà nước ở các chế độ xã hội khác nhau
Hệ thống an sinh xã hội ra đời sớm nhất ở Châu Âu, được đánh dấu bằng Luật Cứu trợ người nghèo ở nước Anh từ thế kỷ XVI Nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến thì mối quan hệ kinh tế giữa người lao động làm thuê và giới chủ c ng trở nên phức tạp Sự hụt hẫng tiền lương của những người lao động làm thuê trong các trường hợp bị ốm đau, bệnh tật, tai nạn, mất việc…đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống của những người lao động này khi không có nguồn thu nhập khác ngoài lương[41] Khi đứng trước sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công
ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương trợ lẫn nhau như lập các quỹ tương tế, các hội đoàn Đồng thời, những người lao động đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có biện pháp để trợ giúp trước những mối đe dọa đó nhằm bảo đảm cuộc sống của họ Do vậy, Nhà nước với vai trò quản lý toàn bộ xã hội của mình đã phải đứng ra can thiệp Sự can thiệp của Nhà nước đã buộc cả giới chủ và giới công
Trang 23Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ như trên được quan niệm là BHXH đối với người lao động Như vậy, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung dưới sự bảo trợ của Nhà nước nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội
Tại Việt Nam, Luật BHXH năm 2014 nêu khái niệm về BHXH như sau “BHXH là
sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”[32]
Với cách hiểu như trên, bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất
là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó Kinh tế thị trường càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện Vì vậy, kinh tế được xem là nền tảng của BHXH và BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước
Trang 2415
Thứ hai, mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ
lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, cơ quan BHXH và bên được BHXH Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động Cơ quan BHXH (bên tổ chức thực hiện BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ Bên được BHXH là người lao động và thân nhân của người lao động khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết
Thứ ba, những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động trong BHXH có
thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: mất việc, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Hoặc c ng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản v.v Đồng thời, những rủi ro về lao động có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động
Thứ tư, phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải
những rủi ro, bất thường sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại Nguồn quỹ này do các bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, bên cạnh đó còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước
Thứ năm, BHXH có mục tiêu là nhằm thảo mãn những nhu cầu thiết yếu của
người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm Mục tiêu của BHXH đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ
tế, xã hội và văn hoá nhu cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người”[24]
Trang 25Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước, của xã hội nhằm đền đáp công lao đối với những người hay một bộ phận xã hội có nhiều cống hiến cho xã hội Chẳng hạn những người có công với nước, liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ, thương bệnh binh v.v đều là những đối tượng được hưởng sự đãi ngộ của Nhà nước và xã hội Ưu đãi xã hội tuyệt nhiên không phải là sự bố thí, ban
ơn mà nó là một chính sách xã hội có mục tiêu chính trị-xã hội, góp phần c ng cố thể chế chính trị của Nhà nước trước mắt và lâu dài, đảm bảo sự công bằng xã hội
Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về đối tượng, phạm vi và cách thức thực hiện, song BHXH, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội đều là những chính sách xã hội không thể thiếu được của một quốc gia hiện nay Những chính sách này luôn bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau và tất cả đều góp phần đảm bảo an toàn xã hội
1.2.1.2 Sự ra đời và phát triển của BHXH
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Âu Từ năm 1883, ở nước Phổ (Cộng hòa liên bang Đức ngày nay) đã ban hành luật BHYT Châu Âu và Bắc
Mỹ mãi đến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH
Ở Việt Nam, BHXH đã có mầm mống từ những năm 30 của thế kỷ XX dưới thời phong kiến và Pháp thuộc Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà-nay là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động
và hưu trí Các chế độ này được thực hiện đối với những người làm việc trong các
Trang 26Tuy nhiên, chính sách BHXH ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế không phù hợp với cơ chế mới Vì vậy ngày 22/6/1993 Chính phủ đã ban hành nghị định 43/CP quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng cho các thành phần kinh tế, đánh dấu bước đổi mới của BHXH ở Việt Nam
Tuy vậy, chỉ khi Bộ luật Lao động được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/6/1994, điều lệ tạm thời về BHXH theo nghị định 12/CP của Chính phủ ban hành ngày 26/01/1995 và Nghị định số 45/CP ban hành ngày 15/7/1995 cho các đối tượng hưởng BHXH là công nhân viên chức và lực lượng v trang, BHXH ở Việt Nam thực sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động c ng như tổ chức quản lý
BHXH Việt Nam ra đời ngày 01/7/1995 và chính thức đi vào hoạt động Đây
là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý quỹ BHXH, BHYT theo quy định của pháp luật Trải qua hơn 23 năm xây dựng và phát triển, BHXH Việt Nam có hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương với hệ thống tổ chức bao gồm: cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam ở trung
ương; 63 cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 713 cơ
quan Bảo hiểm xã hội quận, huyện với đội ng công chức, viên chức, người lao động khoảng gần 20.220 người (tháng 10/2014)[41]
Trang 2718
Chính sách pháp luật BHXH, BHYT là hệ thống văn bản do cơ quan Nhà nước ban hành cho các đối tượng tham gia và thụ hưởng BHXH, BHYT BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT trên phạm vi cả nước Hiện nay, bên sự cạnh tự giác thực hiện chính sách pháp luật về BHXH, BHYT của các đối tượng tham gia và thụ hưởng thì hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH là một cơ chế giám sát nhằm bảo đảm việc tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT của các cơ quan, tổ chức được thực hiện đúng và đầy đủ trên thực tế Sự hiện diện các chủ thể kiểm tra BHXH là sự nhắc nhở thường xuyên, liên tục đối với các đối tượng tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT chịu sự kiểm tra của cơ quan BHXH rằng trong bất cứ trường hợp nào pháp luật c ng phải được tuân thủ một cách thường xuyên, nghiêm túc
Hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH đối với các đối tượng tham gia BHXH, BHYT là loại hình kiểm tra chức năng trong việc chấp hành pháp luật, các quy định về quy trình thủ tục thực hiện chế độ chính sách BHXH, BHYT trên phạm
vi cả nước Bởi vì, đây là hoạt động kiểm tra do cơ quan BHXH-tổ chức thuộc Chính phủ có chức năng tổ chức thực hiện lĩnh vực BHXH, BHYT-thực hiện đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân không trực thuộc về mình trong việc chấp hành pháp luật BHXH, BHYT và các quy định chuyên môn, quy tắc tổ chức thực hiện lĩnh vực BHXH, BHYT thuộc phạm vi ngành BHXH thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước
Do vậy, kiểm tra là hoạt động giám sát của cơ quan BHXH đối với việc thực hiện chính sách pháp luật BHXH, BHYT của người tham gia và thụ hưởng nhằm đảm bảo chính sách pháp luật BHXH, BHYT được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế-xã hội
Từ đây ta có thể rút ra định nghĩa hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH như
sau: “hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH là quá trình tiến hành xem xét, đánh giá, xử lý việc thực hiện chính sách pháp luật BHXH, BHYT của cơ quan BHXH đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tham gia BHXH, BHYT theo quy định của Nhà nước”
Trang 2819
Hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, hoạt động kiểm tra gắn liền với việc thực hiện chế độ chính sách
BHXH, BHYT
Hoạt động kiểm tra là một chức năng, một khâu trong việc tổ chức thực hiện chế độ chính sách BHXH, BHYT của cơ quan BHXH Công tác tổ chức thực hiện chế độ chính sách BHXH, BHYT nói chung và hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH nói riêng là nhân danh Nhà nước thực hiện dịch vụ công về chế độ, chính sách BHXH, BHYT để tác động lên các đối tượng tham gia và thụ hưởng Tuy nhiên, xét về cơ cấu thì hoạt động kiểm tra chỉ là những công cụ, phương tiện phục
vụ tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT Kiểm tra là một khâu trong chu trình việc thực hiện chế độ chính sách BHXH,BHYT, hoạt động kiểm tra bị ràng buộc, chế ước nhưng đồng thời c ng tác động trở lại, góp phần điều chỉnh các cách thức, phương pháp tổ chức thực hiện của cơ quan BHXH về chế độ chính sách BHXH, BHYT Trong chu trình đó, hoạt động kiểm tra luôn phản ánh và bảo vệ mục đích công tác an sinh xã hội của đất nước Việc tổ chức thực hiện chế độ, chính sách của cơ quan BHXH sẽ không đầy đủ nếu thiếu hoạt động kiểm tra Đây là tất yếu của quản lý Nhà nước nói chung và chức năng của cơ quan BHXH nói riêng
Thứ hai, tính thường xuyên, liên tục trong hoạt động kiểm tra
Chính sách BHXH, BHYT được tổ chức thực hiện thường xuyên, liên tục để phục vụ nhanh chóng, kịp thời cho các đối tượng tham gia, thụ hưởng và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Đồng thời, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT diễn biến với mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp (có trường hợp lợi dụng sự thông thoáng trong cơ chế chính sách để trục lợi Ví dụ: một số đối tượng lợi dụng chính sách thông tuyến bệnh viện để trục lợi quỹ BHYT)[57] Hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH có mục tiêu đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật về chính sách BHXH, BHYT với đối tượng tham gia BHXH, BHYT, từ đó phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật về chính sách BHXH, BHYT trên cơ sở đó có biện pháp uốn nắn, chấn chỉnh và xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm
Trang 2920
Chính vì vậy, hoạt động kiểm tra phải được tiến hành, thường xuyên, liên tục Tính thường xuyên, liên tục trong hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH góp phần giúp các đối tượng tham gia luôn cảm thấy có cơ chế giám sát thường xuyên đối với họ Điều này góp phần làm tăng tính tuân thủ pháp luật về BHXH, BHYT, góp phần đảm bảo chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước BHXH, BHYT đi vào cuộc sống
Thứ ba, tính khách quan và độc lập tương đối trong hoạt động kiểm tra
Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của kiểm tra Đặc điểm này phân biệt với các chức năng khác trong hoạt động của cơ quan BHXH Tính khách quan và tương đối độc lập trong hoạt động kiểm tra thể hiện ở những điểm sau:
- Tuân theo pháp luật và các quy định của ngành;
- Ban hành quyết định kiểm tra, tiến hành kiểm tra theo thẩm quyền;
- Tính khách quan trong quá trình tiến hành kiểm tra Mặc dù bản thân hoạt động kiểm tra thông qua con người và mang yếu tố chủ quan nhưng yêu cầu đặt ra với hoạt động kiểm tra là phải luôn tôn trọng sự thật khách quan;
- Ban hành các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm về hành vi của mình
Tuy nhiên, tính độc lập của hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH chỉ mang tính tương đối Trong hoạt động kiểm tra, các cơ quan, cá nhân thực hiện kiểm tra còn phụ thuộc nhiều vào tổ chức và hoạt động đối với cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan khác trong việc phối hợp thực hiện nhiệm
vụ kiểm tra chế độ chính sách BHXH, BHYT
Thứ tư, tính chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ
Cơ quan BHXH là đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công về BHXH, BHYT, phục vụ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực an sinh xã hội Chức năng của cơ quan BHXH được quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 01/2016/NĐ-CP
như sau: “…có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT;
tổ chức thu, chi chế độ BHTN…” Như vậy, đối với hoạt động kiểm tra của cơ quan
BHXH thì tính chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ BHXH, BHYT là đặc điểm
Trang 3021
riêng biệt so với hoạt động kiểm tra hành chính nói chung và kiểm tra chuyên ngành khác nói riêng Đặc điểm này xuất phát từ tính chuyên môn-kỹ thuật trong hoạt động của ngành BHXH, đòi hỏi chủ thể kiểm tra của cơ quan BHXH khi tiến hành kiểm tra phải có chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác chuyên ngành phong phú, sâu sắc trong ngành BHXH bên cạnh những tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật về kiểm tra Có thể hiểu đối với cá nhân thực hiện chức năng, nhiệm vụ công tác kiểm tra BHXH thì tính chuyên môn nghiệp vụ về BHXH, BHYT, y tế, kế toán… là
điều kiện “cần” bên cạnh những điều kiện “đủ” của những quy định về điều kiện,
tiêu chuẩn khác của pháp luật kiểm tra nói chung
Theo Quyết định số 1518/QĐ-BHXH ngày 18/10/2016 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam ban hành quy định hoạt động thanh tra chuyên ngành đóng BHXH, BHYT và hoạt động kiểm tra của BHXH Việt Nam, cơ quan BHXH được tiến hành kiểm tra các nội dung, gồm:
Thứ nhất, việc thực hiện các quy định của pháp luật, hướng dẫn của BHXH
Việt Nam về BHXH, BHYT của các cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động và
cá nhân; công tác quản lý, thực hiện chi trả, thanh quyết toán các chế độ BHXH, BHYT;
Thứ hai, việc ký, thực hiện và thanh lý hợp đồng theo quy định của pháp luật
đối với các đại lý thu BHXH tự nguyện, BHYT; đại diện chi trả BHXH; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT;
Thứ ba, công tác phòng chống tham nh ng; việc chấp hành các quy định của
pháp luật và của BHXH Việt Nam trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của công chức, viên chức và lao động hợp đồng thuộc hệ thống BHXH Việt Nam;
Trang 3122
Thứ tư, công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo theo các quy
định của pháp luật và của Ngành đối với cá nhân, tổ chức trong hệ thống BHXH Việt Nam;
Thứ năm, việc thực hiện kết luận kiểm tra; công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm
tra việc thực hiện kết luận kiểm tra đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan
Hình thức kiểm tra là những biểu hiện ra bên ngoài của hoạt động kiểm tra Hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH có nhiều hình thức khác nhau
Thứ nhất, kiểm tra theo chương trình, kế hoạch
Hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH có hai hình thức là kiểm tra theo chương trình, kế hoạch đã lập và kiểm tra đột xuất theo chỉ đạo của cấp trên hoặc khi phát hiện sai phạm cần xử lý ngay
- Kiểm tra theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt Căn cứ vào nguồn lực hiện có, tình hình chấp hành pháp luật BHXH, BHYT của các đối tượng tham gia trên địa bàn và mục tiêu thực hiện chế độ chính sách về BHXH, BHYT, cơ quan BHXH xây dựng kế hoạch kiểm tra trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra đã được phê duyệt
- Kiểm tra đột xuất Kiểm tra đột xuất được tiến hành khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có dấu hiệu vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT hoặc theo yêu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền giao
Thứ hai, kiểm tra theo nội dung và phạm vi kiểm tra
Theo hình thức này hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH được chia làm hai loại là kiểm tra toàn diện và kiểm tra bộ phận
- Kiểm tra toàn diện Đây là là hoạt động kiểm tra toàn bộ công tác hoạt động của đơn vị sử dụng lao động; đại lý thu đại diện chi trả và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về quá trình đăng ký, phát sinh về việc thực hiện chế độ chính sách BHXH, BHYT trong suốt quá trình hoạt động Hoạt động kiểm tra này thường được tổ chức thành các đoàn kiểm tra với sự phối hợp với Liên đoàn Lao động hoặc Sở Lao động Thương binh Xã hội hoặc Sở Y tế hoặc cơ quan Công an Hoạt động kiểm tra này
Trang 32Quy trình kiểm tra là các trình tự và các bước công việc cụ thể bắt buộc phải tuân thủ khi thực hiện một quyết định kiểm tra, một chương trình kiểm tra hay một kế hoạch kiểm tra cụ thể Hoạt động kiểm tra của cơ quan BHXH hiện nay được thực hiện thống nhất theo Quyết định số 1518/QĐ-BHXH ngày 18/10/2016 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam, bao gồm các bước được thể hiện dưới dạng lưu đồ sau:
Hình 1.1 Quy trình hoạt động kiểm tra
Giai đoạn 1: chuẩn bị kiểm tra
Hình 1.2 giai đoạn chuẩn bị kiểm tra
Tiến hành kiểm tra
Chuẩn bị kiểm tra Giai đoạn 1
Kết thúc kiểm tra
Giai đoạn 2
Giai đoạn 3
Ra quyết định kiểm tra
Thu thập thông tin, tài liệu, dữ liệu năm tính hình Bước 1
Gửi quyết định kiểm tra Bước 2
Bước 3
Trang 3324
Bước 1: thu thập thông tin, tài liệu, dữ liệu nắm tình hình
Hoạt động thu thập thông tin, tài liệu, hồ sơ, dữ liệu để nắm tình hình phục vụ cho việc ban hành quyết định kiểm tra được thực hiện trước khi ban hành quyết định kiểm tra Cá nhân, đơn vị được giao nhiệm vụ thu thập thông tin, tài liệu có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị quản lý thu, đôn đốc thu nợ để nắm bắt thông tin, tài liệu, dữ liệu nghiên cứu, phân tích, đánh giá, tổng hợp báo cáo người ra quyết định kiểm tra Đồng thời, cá nhân, đơn vị được giao nhiệm vụ nắm tình hình không được
có hành vi sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà hoặc yêu cầu cung cấp những thông tin không thuộc phạm vi, nhiệm vụ được giao
Bước 2: Ra quyết định kiểm tra
Căn cứ chương trình, kế hoạch kiểm tra đã được phê duyệt hoặc theo yêu cầu kiểm tra đột xuất, Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm tra chỉ đạo dự thảo quyết định thành lập Đoàn kiểm tra và đề cương yêu cầu báo cáo trình người có thẩm quyền ban hành quyết định kiểm tra
Trường hợp kiểm tra đột xuất thì còn trình kèm theo hồ sơ sau:
- Đối với kiểm tra cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì phải có chứng cứ liên quan đến dấu hiệu vi phạm pháp luật;
- Đối với kiểm tra theo đơn thư khiếu nại, tố cáo thì phải có đơn thư khiếu nại
tố cáo; thông tin, tài liệu thu thập qua xác minh về nội dung khiếu nại, tố cáo;
- Đối với kiểm tra theo chỉ đạo của người có thẩm quyền thì phải có văn bản chỉ đạo của người có thẩm quyền
Trưởng đoàn căn cứ nội dung yêu cầu kiểm tra theo quyết định kiểm tra có trách nhiệm xây dựng kế hoạch tiến hành kiểm tra trình người có thẩm quyền ban hành quyết định kiểm; phổ biến và phân công nhiệm vụ cho các thành viên Đoàn kiểm tra
Bước 3: Gửi quyết định kiểm tra
Sau khi người có thẩm quyền kiểm tra phê duyệt đề cương và ký quyết định kiểm tra, Trưởng đoàn kiểm tra chỉ đạo việc gửi quyết định kiểm tra kèm theo đề
Trang 3425
cương kiểm tra tới đối tượng được kiểm tra trước ít nhất 05 ngày làm việc (trừ trường hợp kiểm tra đột xuất)
Giai đoạn 2: tiến hành kiểm tra
Hình 1.3 giai đoạn tiến hành kiểm tra
Bước 1: Công bố quyết định kiểm tra
Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày ký quyết định kiểm tra, Trưởng đoàn có trách nhiệm công bố quyết định kiểm tra với đối tượng kiểm tra
Thành phần tham dự buổi công bố quyết định kiểm tra bao gồm toàn bộ thành viên Đoàn kiểm tra và Thủ trưởng đơn vị, đại diện các bộ phận liên quan và cá nhân thuộc đối tượng kiểm tra
Đoàn kiểm tra và đối tượng kiểm tra trao đổi, thống nhất nội dung, chương trình tổ chức kiểm tra để cùng phối hợp thực hiện
Bước 2: Thực hiện kiểm tra
Đoàn kiểm tra yêu cầu đối tượng kiểm tra cung cấp hồ sơ, tài liệu, dữ liệu liên quan đến nội dung kiểm tra Việc giao, nhận hồ sơ, tài liệu, dữ liệu phải được thực hiện tại trụ sở của đối tượng kiểm tra và phải được lập thành biên bản giao nhận
Đoàn kiểm tra có trách nhiệm nghiên cứu, đối chiếu, so sánh, đánh giá hồ sơ, tài liệu, dữ liệu thu thập được; yêu cầu đối tượng được kiểm tra giải trình những vấn
đề chưa rõ liên quan đến nội dung kiểm tra
Thực hiện kiểm tra
Công bố quyết định kiểm tra
Bước 1
Lập và thông qua biên bản kiểm tra Bước 2
Bước 3
Trang 3526
Khi làm việc với đối tượng kiểm tra hoặc tiến hành kiểm tra xác minh tối thiểu phải có 02 thành viên trong Đoàn kiểm tra và thực hiện trong giờ hành chính tại trụ sở đối tượng kiểm tra Trường hợp thành viên Đoàn kiểm tra cần phải kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu liên quan đến tổ chức, cá nhân không phải là đối tượng kiểm tra, phải được sự đồng ý của Trưởng đoàn Kết quả xác minh thông tin tài liệu nói trên phải được thể hiện bằng biên bản làm việc giữa các bên
Hằng ngày, thành viên đoàn có trách nhiệm báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ với Trưởng đoàn Sau khi kết thúc tại một đơn vị được kiểm tra Trưởng đoàn có trách nhiệm báo cáo tiến độ, kết quả kiểm tra với người ra quyết định kiểm tra để theo dõi, chỉ đạo và giám sát hoạt động của Đoàn kiểm tra
Trường hợp Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm tra hoặc Trưởng đoàn kiến nghị sửa đổi, bổ sung nội dung, kế hoạch kiểm tra thì phải có văn bản báo cáo người
ra quyết định kiểm tra xem xét, quyết định Trưởng đoàn có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện theo nội dung, kế hoạch kiểm tra đã sửa đổi, bổ sung Trường hợp phát hiện đối tượng kiểm tra có dấu hiệu vi phạm pháp luật, thực hiện sai quy định, cản trở đến hoạt động kiểm tra, không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, kịp thời tài liệu, hồ sơ, dữ liệu thì kịp thời báo cáo với Trưởng đoàn để báo cáo người ra quyết định kiểm tra xem xét, quyết định
Bước 3: Lập và thông qua biên bản kiểm tra
Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm chỉ đạo tổng hợp kết quả kiểm tra của các thành viên, dự thảo biên bản kiểm tra Thành viên Đoàn kiểm tra được trao đổi công khai, dân chủ về nội dung biên bản kiểm tra, được bảo lưu ý kiến nhưng phải chấp hành ý kiến kết luận cuối cùng của Trưởng đoàn kiểm tra Trưởng đoàn kiểm tra chủ trì buổi họp thông qua biên bản kiểm tra và ghi nhận các ý kiến, kiến nghị của đối tượng được kiểm tra vào biên bản kiểm tra Trong trường hợp xét thấy cần thiết, người ra quyết định kiểm tra, Thủ trưởng đơn vị chủ trì cuộc kiểm tra cùng tham dự Sau kiểm tra đối tượng được kiểm tra có thể giải trình bằng văn bản và kiến nghị với người ra quyết định kiểm tra
Giai đoạn 3: giai đoạn kết thúc kiểm tra
Trang 3627
Hình 1.4 giai đoạn kết thúc kiểm tra
Bước 1: Báo cáo kết quả cuộc kiểm tra
Chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc kiểm tra, Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm xây dựng và báo cáo kết quả kiểm tra với người ra quyết định kiểm tra
Người ra quyết định kiểm tra nghiên cứu, xem xét các nội dung trong báo cáo kết quả kiểm tra, nội dung giải trình của đối tượng kiểm tra hoặc ý kiến bảo lưu của thành viên Đoàn kiểm tra và các tài liệu có liên quan để có ý kiến chỉ đạo kết luận sau kiểm tra hoặc lập hồ sơ kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý
Bước 2: kết luận kiểm tra
Chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày người ra quyết định kiểm tra xem xét cho ý kiến đối với báo cáo về cuộc kiểm tra, Trưởng đoàn phải trình dự thảo kết luận kiểm tra để người ra quyết định kiểm tra ký ban hành
kết luận kiểm tra
báo cáo kết quả kiểm tra Bước 1
báo cáo việc thực hiện kết luận kiểm tra
theo dõi việc thực hiện kết luận
đôn đốc việc thực hiện kết luân
Trang 3728
Việc công khai, thời gian công khai và hình thức công khai kết luận kiểm tra
do người ra quyết định kiểm tra lựa chọn: Gửi văn bản kết luận, công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng
Bước 3: Báo cáo việc thực hiện kết luận kiểm tra
Đối tượng kiểm tra là cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm báo cáo việc thực hiện những nội dung thuộc trách nhiệm của mình tại kết luận kiểm tra
và các văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý
Nội dung báo cáo của đối tượng kiểm tra và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan gồm:
- Việc thực hiện và tổ chức thực hiện kết luận kiểm tra và các văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý;
- Tiến độ, kết quả thực hiện kết luận kiểm tra và các văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý; những nội dung đã hoàn thành, chưa hoàn thành;
- Khó khăn, vướng mắc; nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện kết luận và các văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý
về kiểm tra;
- Hành vi vi phạm pháp luật và việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện kết luận kiểm tra, văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về kiểm tra
Bước 4: Theo dõi việc thực hiện kết luận
Ngay sau khi công bố kết luận kiểm tra, người được giao nhiệm vụ theo dõi
có trách nhiệm mở sổ theo dõi tập hợp thông tin có liên quan đến việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra
Cơ quan có chức năng kiểm tra theo dõi thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra và được tiến hành thông qua việc tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra và cung cấp, thông tin, tài liệu, hồ sơ, dữ liệu chứng minh kèm theo của đối tượng thực hiện kết luận thanh
Trang 3829
tra, kiểm tra Trường hợp cần thiết có thể trực tiếp làm việc với đối tượng thực hiện kết luận kiểm tra để xác định thông tin về tình hình thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra
Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày công bố kết luận kiểm tra, Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm đôn đốc thực hiện kết luận kiểm tra đồng thời tổng hợp báo cáo tiến độ thực hiện kết luận kiểm tra với người ra quyết định kiểm tra về kết quả theo dõi việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra Trường hợp kết luận kiểm tra có ghi thời hạn thực hiện thì thực hiện theo thời hạn đó Thủ trưởng cơ quan ban hành kết luận kiểm tra căn cứ vào kết quả thực hiện của đối tượng kiểm tra để xem xét và quyết định kết thúc hoặc tiếp tục theo dõi
Bước 5: đôn đốc việc thực hiện kết luân
Hoạt động đôn đốc việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra được tiến hành bằng hình thức gửi văn bản đôn đốc hoặc làm việc trực tiếp với đối tượng kiểm tra
Trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày ban hành văn bản hoặc trực tiếp đôn đốc, người được giao nhiệm vụ đôn đốc có trách nhiệm báo cáo kết quả đôn đốc việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra với người ra quyết định kiểm tra Người ra quyết kiểm tra căn cứ vào kết quả đôn đốc để xem xét và quyết định:
- Kết thúc việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra nếu việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra đã hoàn thành;
- Tiến hành kiểm tra theo trình tự quy định tại quyết định này nếu việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra chưa hoàn thành
Bước 6: kiểm tra lại việc thực hiện kết luận
Quyết định kiểm tra việc thực hiện kết luận kiểm tra khi có một trong các căn
cứ sau đây:
Trang 3930
- Sau khi hết thời hạn báo cáo kết quả đôn đốc mà đối tượng kiểm tra không thực hiện hoặc không hoàn thành việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra;
- Đối tượng kiểm tra không thực hiện trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra theo quy định
Quy trình tiến hành kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử
lý kiểm tra được áp dụng lại theo quy trình tiến hành một cuộc kiểm tra, thời hạn kiểm tra tối đa là 10 ngày tính từ ngày bắt đầu làm việc của người được giao nhiệm
vụ kiểm tra
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra người được giao nhiệm
vụ kiểm tra có trách nhiệm:
- Lập báo cáo trình người ra quyết định kiểm tra về kết quả kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra Người ra quyết định kiểm tra căn cứ vào kết quả kiểm tra để xem xét và quyết định;
- Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng thời hạn trong kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng không thể thiếu của cơ quan BHXH trong hoạt động tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT Hoạt động này được thể hiện qua các vai trò sau:
Thứ nhất, kiểm tra góp phần bảo đảm tổ chức thực hiện chính sách BHXH,
BHYT của cơ quan BHXH
Kiểm tra là một chức năng trong tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT của cơ quan BHXH đối với người tham gia và thụ hưởng chế độ, chính sách BHXH, BHYT Hoạt động kiểm tra không tách rời việc thực hiện chức năng tổ chức thực
Trang 4031
hiện chính sách BHXH, BHYT của cơ quan BHXH Thông qua chức năng kiểm tra của mình, cơ quan BHXH giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật của các đối tượng tham gia BHXH, BHYT Đồng thời, với chức năng kiểm tra của cơ quan BHXH, các đối tượng tham gia và thụ hưởng chế độ, chính sách BHXH, BHYT luôn nhận thấy có cơ chế giám sát và chế tài răn đe, xử lý của cơ quan BHXH đối với việc vi phạm pháp luật chính sách BHXH, BHYT Điều này, đảm bảo chính sách BHXH, BHYT của Nhà nước được thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định của pháp luật và đặc tính chuyên môn, nghiệp vụ của ngành BHXH
Thứ hai, kiểm tra là phương tiện phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi
để các đối tượng lợi dụng, cố tình lách luật để trục lợi cá nhân[8] Hoạt động kiểm tra là cơ chế để giám sát, thúc đẩy mọi chủ thể đều phải tuân theo pháp luật, mọi hành vi vi phạm pháp luật sẽ được kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh, bảo đảm mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật
Thứ ba, kiểm tra là cơ sở để hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật
Chính sách BHXH, BHYT ở nước ta hiện nay quy định bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau với nhiều chủ thể quản lý Nhà nước khác nhau Chính sách BHXH, BHYT bên cạnh được quy định chủ yếu là Luật BHXH, Luật BHYT, chính sách BHXH, BHYT còn được lồng ghép trong luật Việc Làm năm
2013 (phần BHTN), Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 (phần tai nạn lao