Một trong những vấn đề mà nhà quản trị của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán cần quan tâm là nhận diện được tác động của các yếu tố tới hiệu quả sản xuất kinh doanh, từ đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
TÊN ĐỀ TÀI: “KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH COBB – DOUGLAS TRONG ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM”
Nhóm tác giả thực hiện: ThS Nguyễn Thị Minh Thảo
ThS Ngô Thị Ngọc
HÀ NỘI - 2017
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH COBB – DOUGLAS TRONG ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 4 1.1 Các khái niệm cơ bản 4
1.1.1 Khái quát về mô hình Cobb – Douglas 4
1.1.2 Khái quát về doanh nghiệp có nhiều yếu tố đầu vào 5
1.2 Nội dung lý thuyết của đề tài 9
1.2.1 Sự cần thiết của việc đo lường hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 9
1.2.2 Thiết lập mô hình Cobb – Douglas dùng kiểm định 9
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu sử dụng mô hình Cobb – Douglas 11
1.3.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 11
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước 17
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN 2008 ĐẾN 2016 19
2.1 Khái quát về thực trạng sản xuất kinh doanh của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 19
2.1.1 Các hoạt động sản xuất kinh doanh chính tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 19
2.1.2 Khái quát về kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 28
2.2.2 Cơ sở dữ liệu và phương pháp thu thập 30
2.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 30
2.2.4 Phương pháp kiểm định 33
2.3 Kết quả phân tích dữ liệu 33
2.3.1 Kết quả điều tra 33
2.3.2 Phân tích kết quả 36
Trang 3CHƯƠNG 3 PHÁT HIỆN VÀ ĐỀ XUẤT 38
3.1 Các phát hiện qua nghiên cứu 38
3.1.1 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp 38
3.1.2 Đề xuất đối với các công ty dệt may trong việc tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh 38
3.2 Ứng dụng và phát triển mô hình 45
3.2.1 Ứng dụng mô hình 45
3.2.2 Phát triển mô hình 45
KẾT LUẬN 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Tiếng Việt 49
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các phương án lựa chọn công nghệ 6
Bảng 1.2 Sản xuất với các đầu vào biến đổi 7
Bảng 2.1 Kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh ngành dệt may giai đoạn 2015 - 2020 19
Bảng 2.2 Kết quả kinh doanh của 16 doanh nghiệp dệt may năm 2016 25
Bảng 2.3 Thống kê mô tả các biến của mô hình Cobb – Douglass xây dựng đối với các công ty dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán 33
Bảng 2.4 Ma trận tương quan 34
Bảng 2.5 Kết quả mô hình Fixed effect 34
Bảng 2.6 Kết quả mô hình Random effect 34
Bảng 2.7 Kết quả tổng hợp 35
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp 6
Hình 1.2 Đường đồng lượng 7
Hình 1.3 Đường đồng phí 8
Hình 2.1 Chỉ số năng suất lao động khu vực sản xuất 20
Hình 2.2 Giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam 21
Hình 2.3 Giá trị xuất khẩu doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước 21
Hình 2.4 Giá trị nhập khẩu dệt may (triệu USD) 22
Hình 2.5 Chuỗi giá trị ngành dệt may Việt nam 23
Hình 2.6 Tỷ trọng doanh thu và lợi nhuận của 3 doanh nghiệp đầu ngành dệt may25 Hình 2.7 KQKD của 5 doanh nghiệp dệt may mới đưa cổ phiếu lên sàn năm 2016 26
Hình 2.8 Kết quả kinh doanh của 11 doanh nghiệp dệt may đã đưa cổ phiếu lên sàn từ trước 2016 28
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Việc nghiên cứu ảnh hưởng các nhân tố tới hoạt động sản xuất kinh doanh là tối quan trọng đối với các doanh nghiệp Đây là công việc thường xuyên, liên tục của các nhà quản trị doanh nghiệp nói chung và đặc biệt đối với nhà quản trị tài chính Chính vì thế việc ứng dụng mô hình quản trị là hết sức cần thiết Thời gian vừa qua, kinh tế Việt Nam chứng kiến một loạt các hoạt động làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp khiến thị trường chứng khoán luôn có sự biến động mạnh về thị giá cổ phiếu Hiện nay, các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã
có được sự hồi phục đáng kể, song sự hồi phục này chưa thực sự ổn định Một trong những vấn đề mà nhà quản trị của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán cần quan tâm là nhận diện được tác động của các yếu tố tới hiệu quả sản xuất kinh doanh, từ đó triển khai ứng dụng các mô hình quản trị nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đề có thể đưa ra những quyết sách phù hợp Mô hình Cobb –Douglas là một trong số những mô hình dùng để đánh giá tác động của các yếu tố nguồn nhân lực, tư liệu sản xuất và năng lực quản lý tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mô hình này giúp các doanh nghiệp có những đánh giá sát với tình hình sản xuất kinh doanh thực tế Đặc biệt, nó giúp nhà quản trị có được cái nhìn về đóng góp của các yếu tố vào giá trị thu nhập Thông qua đó, nhà quản trị có được những quyết định phù hợp đối với giai đoạn tiếp sau của đơn vị
Chính vì vậy, đề tài“Kiểm định mô hình Cobb – Douglas trong đo lường
hiệu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệpniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”là thực sự cần thiết không chỉ đối với bản thân các doanh nghiệp
này mà còn đối với cả các nhà đầu tư và Chính phủ Bên cạnh đó, nghiên cứu này cùng phục vụ cho nội dung giảng dạy môn Quản trị tài chính do Khoa Tài chính – Ngân hàng đảm nhiệm Do vậy, đề tài nghiên cứu này vừa đảm bảo ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tổng hợp lý thuyết về hàm sản xuất và một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về tác động của các nhân tố đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
Trang 7- Kiểm định các nhân tố đầu vào có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nhóm doanh nghiệp ngành may mặc niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bằng mô hình Cobb-Douglas
- Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố này đến hiệu quả sản xuất kinh doanh ngành may mặc theo từng nhóm doanh nghiệp đã phân loại để rút ra các kết luận và phát hiện các vấn đề liên quan đến hiệu quả sản xuất kinh doanh niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
- Đóng góp các phân tích thực tế cho giảng dạy, nghiên cứu học phần Quản trị tài chính
3 Đối tương, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung chủ yếu vào phân tích ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng chính tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, gồm các nhân tố về nguồn lực, vốn đầu tư, công nghệ sản xuất
và công nghệ quản trị;
Tiến hành kiểm định mô hình Cobb – Douglas trong đo lường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhằm chỉ ra mức độ đóng góp của các yếu tố đàu vào tới kết quả kinh doanh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Tiến hành khảo sát lấy dữ liệu về các nhân tố cấu thành nên giá trị sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành dệt may đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam phục vụ cho việc kiểm định mô hình Cobb – Douglas Các
số liệu thu thập được thu thập bao gồm các yếu tố về vốn (giá trị tài sản cố định, vốn kinh doanh), các yếu tố về lao động (số lượng lao động, lương bình quân), các yếu tố về kết quả kinh doanh (doanh thu thuần, lợi nhuận kinh doanh thuần)
- Thời gian nghiên cứu: Số liệu được thu thập từ năm 2008 đến năm 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
- Loại dữ liệu: định lượng
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Nghiên cứu sử dụng chủ yếu là dữ liệu thứ cấp, được tổng hợp thông qua các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp qua các năm, sắp xếp lại theo dạng bảng (Panel data)
Trang 8- Phương pháp xử lý dữ liệu
Phương pháp vận dụng trong quá trình nghiên cứu là: phương pháp hệ thống, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê để nêu lên chỉ ra mức độ đóng góp của các nhân tố với hiệu quả sản xuất kinh doanh đạt được của các doang nghiệp
Nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata xử lý các dữ liệu điều tra, kiểm định giả thuyết, phân tích hồi quy và tìm ra tương quan tác động của các yếu tố đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
5 Lợi ích kinh tế xã hội của đề tài
- Nhu cầu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề được các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm Bởi nó cho thấy tính phù hợp của các quyết định quản trị trong lựa chọn các yếu tố đầu vào Chúng giúp nhà quản trị nhận diện mức
độ quan trọng của các nhân tố và những điều chỉnh phù hợp đối với các chính sách quản lý doanh nghiệp
- Bên cạnh đó, các nhà hoạch định chính sách vĩ mô cũng có được công cụ để đưa ra những đánh giá khách quan hơn đối với các ngành kinh tế trong đóng góp của từng ngành vào phát triển kinh tế đất nước và xây dựng các chính sách điều tiết nền kinh tế phù hợp
- Mô hình Cobb - Douglas thuộc loại mô hình hàm sản xuất đơn giản nhất,
dễ ứng dụng nhưng vẫn cho những nhận xét xác thực với tình hình sản xuất thực tế
- Các thông số của mô hình dễ ước lượng, sinh viên dễ dàng tiếp cận thực tế
và ứng dụng vào môn học Quản trị tài chính và các mô học khác có liên quan
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu nội dung của nghiên cứu gồm 3 chương chính sau:
Chương 1: Lý luận về mô hình Cobb – Douglas trong đo lường hiệu quả sản xuất
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian 2008 đến 2016
Chương 3: Phát hiện và đề xuất
Trang 9CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH COBB – DOUGLAS TRONG ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái quát về mô hình Cobb – Douglas
Hàm sản xuất thể hiện mối quan hệ kỹ thuật giữa việc các yếu tố đầu vào khác nhau theo một công nghệ nhất định để tối ưu hóa đầu ra Trong quá trình sản xuất kinh doanh, bất cứ người quản lý nào cũng phải quan tâm dến 2 vấn đề: chi phí
về nguồn lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả do hoạt động đó mang lại Điều này được thể hiện ở các yếu tố đầu vào (inputs) và đầu ra (output)
Các yếu tố đầu vào, gồm các khoản tài nguyên tiêu tốn tính theo giá trị thị trường và được biểu hiện bằng chi phí sản xuất như: tiền thuê nhà, thuê đất, mua nguyên vật liệu, vật tư, chi phí thuê lao động, dịch vụ… Trong sản xuất kinh doanh, các chủ doanh nghiệp phải lựa chọn đầu vào tối ưu và sử dụng có hiệu quả các đầu vào đó để tối thiểu hóa chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận
Các yếu tố đầu ra, là kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh Do đặc điểm kinh tế kỹ thuật khác nhau nên đầu ra của các doanh nghiệp cũng khác nhau Đầu ra của doanh nghiệp nông nghiệp là các sản phẩm dịch vụ nông nghiệp, đối vớ doanh nghiệp vận tải là lượng hành khách và lượng hàng hóa vận chuyển được, đối với doanh nghiệp thương mại là tổng tiền thu từ bán hàng… Trong thực
tế, doanh nghiệp nào cũng mong muốn tìm kiếm mức đầu ra tối ưu vì nó sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất
Khi xem xét quá trình kinh doanh của doanh nghiệp chúng ta phải quan tâm tới 3 mối quan hệ sau:
+ Đầu vào sản xuất và đầu ra
+ Tối thiểu hóa chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận
+ Chi phí sản xuất với lượng đầu ra
Để biểu hiện ba mối quan hệ trên người ta sử dụng hàm sản xuất
Q= f(x1, x2,…, xn)
Trong đó:
Trang 10Q: yếu tố đầu ra
x1, x2,…, xn: các yếu tố đầu vào
Nếu chỉ sử dụng K (vốn) và L (số lượng lao động) thì hàm sản xuất mang tên
là hàm Cobb – Douglas [mang tên hai nhà kinh tế học P.H Douglas và thống kê học C.V Cobb đã thực hiện nghiên cứu nền kinh tế nước Mỹ trong giai đoạn từ năm
1899 đến năm 1912 và xác định được hàm sản xuất của nước Mỹ trong giai đoạn này là Q = A K0,75L0,25] có dạng sau:
Q= f(K,L)
Sản xuất phát triển nhanh hay chậm tùy thuộc vào việc sử dụng các yếu tố lao động, vốn như thế nào, đồng thời phụ thuộc vào các yếu tố tổng hợp Trên bình diện kinh tế các yếu tố này phản ánh hiệu quả sản xuất chung
Mô hình này có một số ưu điểm sau:
- Trong số các mô hình mô tả quá trình sản xuất, mô hình này thuộc loại đơn giản nhất
- Tuy mô hình đơn giản song vẫn cho những nhận xét xác thực với tình hình sản xuất thực tế
- Các thông số của mô hình dễ ước lượng
1.1.2 Khái quát về doanh nghiệp có nhiều yếu tố đầu vào
Khi thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, để có vốn phục vụ cho kế hoạch sản xuất, doanh nghiệp có thể huy động từ nhiều con đường khác nhau: chủ sở hữu, chủ nợ (vay) Sau khi huy động đủ vốn, doanh nghiệp sẽ tiến hành đầu tư thông qua việc mua sắm các yếu tố đầu vào để thực hiện hoạt động sản xuất/cung cấp dịch vụ đạt được mục tiêu kinh doanh đặt ra: tạo ra lợi nhuận, tạo tiền đảm bảo có thể trả cho các khoản vay đến hạn Có thể nói quá trình kinh doanh chính là quá trình sử dụng vốn để tạo ra số tiền lớn hơn số tiền bỏ ra ban đầu Quá trình này được lặp đi lặp lại theo một trình tự nhất định tạo thành chu kỳ kinh doanh và trong quá trình kinh doanh, vốn của doanh nghiệp thay đổi cả về hình thái vật chất lẫn giá trị
Chu kỳ kinh doanh diễn ra qua 3 quá trình: (1) cung cấp (mua các yếu tố đầu vào, bao gồm: mua sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động); (2) quá trình sản xuất (ba yếu tố đầu vào được kết hợp với nhau để tạo ra giá trị, tạo ra sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu cảu xã hội); và (3) quá trình bán hàng (thực hiện
Trang 11giá trị của sản phẩm, hàng hóa trên thị trường để thu hồi vốn đã bỏ ra đồng thời tạo lợi nhuận)
Quá trình kinh doanh diễn ra liên tục và lâu dài, trong quá trình này phát sinh rất nhiều các mối quan hệ kinh tế tài chính làm tăng, giảm tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
Hình 1.1 Các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp
Trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải lựa chọn trước nhiều kỹ thuật khác nhau để sau cho được một yếu tố đầu vào hợp lý nhất, tiết kiệm chi phí nhất, so cho hàm sản xuất Q là lớn nhất, đó là mục tiêu của sự lựa chọn:
Doanh nghiệp chọn công nghệ 3 vì ít tốn kém nhất
Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, muốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải tiến hành đổi mới công nghệ, quy mô sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm phù hợp,
SẢN PHẨM
Đối tượng lao động
Tư liệu lao động
Sức lao động
Trang 12đáp ứng nhu cầu thị trường Vì vậy, nếu xem xét trong dài hạn, ứng với nhiều chu
kỳ sản xuất kinh doanh thì tất cả các đầu vào của doanh nghiệp đều có thể biến đổi Giả sử doanh nghiệp sử dụng 2 đầu vào là vốn (K) và lao động (L) để sản xuất ra sản phẩm Khi ấy, doanh nghiệp có thể tùy ý thay đổi số lượng và các cách phối hợp
K và L để đạt được mức sản lượng khác nhau Đường đồng lượng là đường biểu thị cho tất cả các sự kiện kết hợp các đầu vào khác nhau để sản xuất một lượng đầu ra nhất định
Ví dụ minh họa cho công nghệ sản xuất với các đầu vào đều biến đổi của một doanh nghiệp:
Bảng 1.2 Sản xuất với các đầu vào biến đổi
Trang 13- Các đường đồng lượng cho thấy sự linh hoạt mà các doanh nghiệp có được khi ra các quyết định sản xuất
- Độ nghiêng của mỗi đường đồng lượng cho thấy có thể dùng một số lượng đầu vào này thay thế cho một số lượng đầu vào khác ra sao để đầu ra không thay đổi
Người quản lý doanh nghiệp cần phải hiểu bản chất của sự linh hoạt ấy trong việc lựa chọn những yếu tố đầu vào để tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận đồng thời phải chú ý đến quy luật năng suất cận biên luôn giảm dần
Thông tin về đường đồng lượng mới chỉ cho chúng ta biết được các phương
án sản xuất khác nhau của doanh nghiệp để tạo ra các mức sản lượng mong muốn Nhưng doanh nghiệp cũng phải cân nhắc để sản xuất cùng một mức sản lượng thì phương án kết hợp các yếu tố đầu vào nào có chí phí thấp nhất, tức là tối thiểu hóa chi phí khi sản xuất một mức sản sản lượng mong muốn Như vậy, doanh nghiệp phải tính đến giá của các yếu tố đầu vào để quyết định phương án tối ưu Giả sử PK=
30 ĐVT, PL= 20 ĐVT, ta có thể tính được tổng chi phí của từng phương án Khi ấy
để sản xuất những mức sản lượng khác nhau thì chi phí sẽ khác nhau nhưng có một
số phương án kết hợp K và L khác nhau lại có chi phí như nhau (như 3K + 1,5L hoặc 2K + 3L đều có mức chi phí C= 120ĐVT) Khi biểu diễn trên đồ thị những phương án có cùng mức chi phí, ta được các đường đồng phí
Hình 1.3 Đường đồng phí
Hình trên cho thấy, dọc theo đường đồng phí, khi giảm vốn thì chi phí sẽ giảm 1 lượng ( K xPK) và tăng lao động thì chi phí sẽ tăng ( L x PL) Vì thế, muốn tổng chi phí không đổi thì ( K xPK) = ( L x PL) hay độ dốc của đường đồng phí tag = - K/ L = PL/PK
Khi phối hợp các đường đồng lượng với các đường đồng phí ta thấy có một
số đường đồng lượng tiếp xúc với một số đường đồng phí, tiếp điểm của các đường
Trang 14này chính là các điểm lựa chọn tối ưu khi kết hợp các yếu tố đầu vào (K, L) khi sản xuất cùng một mức sản lượng đầu ra Theo ví dụ trên, ta thấy có 3 tiếp điểm là E1, E2, E3 có chi phí sản xuất để sản xuất 24, 35, 39 sản phẩm là thấp nhất Nếu giá bán sản phẩm không thay đổi thì tại các điểm kết hợp đó lợi nhuận sẽ đạt được mức cao nhất Như vậy các điểmE1, E2, E3 cho biết các phương án có hiệu quả vì chi phí đầu vào của nó là tối thiểu nhất Tập hợp các phương án sản xuất hiệu quả ta được đường phát triển quy mô của doanh nghiệp Tại đó, độ dốc của đường đồng lượng (MRSTK/L) = độ dốc của đường đồng phí (tag )
MRSTK/L= MPL/MPK và tag = PL/PK = Đây chính là quy tắc lựa chọn đầu vào tối ưu của doanh nghiệp khi sử dụng các yếu tố đầu vào biến đổi nhằm tối thiểu hóa chi phí Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp tối thiểu hóa chi phí sản xuất khỉ tỷ suất thay thế kỹ thuật biên của lao động cho vốn = năng suất lao động biên của một đơn vị đồng thuê lao động = năng suất cận biên của 1 đồng thuê vốn
1.2 Nội dung lý thuyết của đề tài
1.2.1 Sự cần thiết của việc đo lường hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Nhu cầu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề được các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm Bởi nó cho thấy tính phù hợp của các quyết định quản trị trong lựa chọn các yếu tố đầu vào
- Khi các yếu tố đầu vào biến đổi, việc nhận diện tác động của chúng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều cần thiết Chúng giúp nhà quản trị có nhận diện mức độ quan trọng của các nhân tố và những điều chỉnh phù hợp đối với các chính sách quản lý doanh nghiệp
- Bên cạnh đó, các nhà hoạch định chính sách vĩ mô cũng có được những đánh giá khách quan hơn đối với các ngành kinh tế trong đóng góp của từng ngành vào phát triển kinh tế đất nước và xây dựng các chính sách điều tiết nền kinh tế phù hợp
1.2.2 Thiết lập mô hình Cobb – Douglas dùng kiểm định
Hàm Cobb – Douglas được sử dụng để kiểm định có dạng:
Qt = (1)
Trang 15Với giả thiết hàm Cobb – Douglas là hàm liên tục theo thời gian và với góc
độ toán học có thể biểu diễn tốc độ phát triển theo thời gian của Qt như sau:
=
(2) Chia cả hai vế của phương trình (2) cho Q và sau khi biến đổi ta được:
Vế trái của công thức (3) chính là tốc độ tăng của giá trị sản xuất (Qt) Vế phải của công thức này gồm có ba thành phần:
- Thành phần thứ nhất là tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp;
- Thành phần thứ hai là tốc độ tăng năng suất cận biên của lao động (
- Thành phần thứ ba là tốc độ tăng năng suất biên duyên của vốn (
Viết lại công thức (3) ta có:
Gr(Q) = Gr(A) + MPL( Gr(L) + MPK ( Gr(K) (4) Trong đó:
Gr(Q): tốc độ tăng của giá trị sản xuất
Gr(L): tốc độ tăng của lao động
Gr(K): tốc độ tăng của vốn
Trang 16MPL và MPK là năng suất cận biên tương ứng của yếu tố lao động và vốn Trong thị trường có cạnh tranh hoàn hảo (cạnh tranh hoàn hảo là không nhà doanh nghiệp nào lái được thị trường theo ý riêng của mình), tỷ lệ lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra sẽ bằng năng suất cận biên của vốn (MPK), còn tỷ lệ lương của công nhân nhân sẽ bằng năng suất biên duyên của lao động (MPL) Trong trường hợp này MPK( sẽ là tỷ lệ đóng góp của vốn trong giá trị sản xuất và MPL( sẽ là
tỷ lệ đóng góp của lao động trong giá trị sản xuất Như vậy, trong trường hợp MPL
và MPK là tỷ lệ đóng góp của lao động và kết quả sản xuất thu được Cụ thể hóa công thức (4), mô hình hàm sản xuất Cobb - Douglas có dạng:
Gr(Q) = Gr(A) + Gr(L) + (1- )Gr(K) (5) Công thức (5) cho thấy tỷ lệ đóng góp của tốc độ tăng lao động cho giá trị sản xuất bằng , còn tỷ lệ đóng góp của vốn cho tốc độ tăng của giá trị sản xuất bằng (1- )
Dựa vào công thức (5), ta có thể tính được tốc độ tăng của năng suất các nhân tố tổng hợp (Gr(A) hay Gr(TFP)) theo công thức:
Gr(TFP) = Gr(Q) – [ Gr(L) + (1 - )Gr(K)] (6) Trong đó:
Gr(Q) là tốc độ tăng của giá trị tăng thêm
Gr(L) là tốc độ tăng của lao động
Gr(K) là tốc độ tăng vốn
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu sử dụng mô hình Cobb – Douglas
1.3.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
(1) Ahmad Mohammadshirazi, Asadolah Akram, Shahin Rafiee, Elnaz Bagheri
Kalhor(2015), On the study of energy and cost analyses of orange production in
Mazandaran province, Sustainable Energy Technologies and Assessments [8]
Mục tiêu của nghiên cứu này là để xác định cân bằng năng lượng giữa đầu vào và đầu ra cho sản xuất cam ở tỉnh Mazandaran, một trong những trung tâm sản xuất cây có múi quan trọng nhất ở Iran Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng bảng câu hỏi trong các cuộc phỏng vấn trực tiếp Kết quả cho thấy, phân bón hoá học ảnh hưởng cao nhất (chiếm 26,9%) và hóa chất (26,1%) Tỷ lệ năng lượng đầu
ra cho năng lượng đầu vào khoảng xấp xỉ 0,67 Cổ phần của năng lượng tái tạo và
Trang 17không tái tạo là 24% và 76%, tương ứng với tổng năng lượng đầu vào Hàm sản xuất Cobb-Douglas được áp dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa các dạng sử dụng năng lượng khác nhau Các phát hiện cho thấy các nhà sản xuất cam phải tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn năng lượng gián tiếp và không tái tạo vì họ đang sử dụng quá mức các nguồn năng lượng dẫn đến một hiệu ứng nghịch với năng suất ngoài việc gia tăng nguy cơ đối với tài nguyên thiên nhiên và sức khoẻ con người
(2) Bravo-Ureta B E, Pinheiro A E (1993), Efficiency analysis of
Developingcountry agriculture: A review of the frontier function literature,
Agriculturaland Resource Economics review [10]
Tác giả đã sử dụng hàm sản xuất tối đa ngẫu nhiên để phân tích hiệu quả nông nghiệp ở các nước đang phát triển Các biến đầu vào được sửdụng trong các
mô hình phân tích là giáo dục đào tạo (trình độ, sự hiểu biết củanông dân), kinh nghiệm, khuyến nông, khả năng tiếp cận tín dụng và quy mô nônghộ Các kết quả đánh giá hiệu quả dựa trên phương pháp sử dụng hàm sản xuất tốiđa ngẫu nhiên là nhất quán với quan điểm cho rằng nguồn nhân lực đóng vai tròquan trọng trong năng suất nông nghiệp ở các nước đang phát triển Do đó, chínhsách đầu tư công để tăng cường nguồn vốn con người có thể tạo ra sản lượng tăngthêm ngay cả trường hợp không có công nghệ mới
(3) Resmi P, Kunnal L B, Basavaraja H, Bhat A R S, Handigol J
A, Sonnad J S (2013), Technological change in black pepper production in
Idukki district ofKerala: A decomposition analysis, Karnataka Journal of
Agricultural Sciences [15]
Tác giả đã sử dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas để phân tích sự tác động của các yếu tố đầu vào (mật độ, tuổi cây, lao động, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) đến năng suất hồ tiêu và chỉ ra sự khác nhau về năng suất giữa hai mô hình sản xuất truyền thống và mô hình công nghệ hiện đại Kết quả phân tích cho thấy, trong mô hình sản xuất hiện đại, các biến đầu vào như tuổi cây, số lao động và thuốc bảo vệ thực vật có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích sự thay đổi năng suất Các biến mật độ và phân bón không có ý nghĩa thống kê Trong mô hình sản xuất truyền thống biến tuổi cây và thuốc bảo vê thực vật có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê, các biến còn lại không có ý nghĩa thống kê Kết quả ước
Trang 18lượng sự khác nhau về năng suất hồ tiêu giữa công nghệ mới và công nghệ cũ là 43,9%, trong đó 37,7% là do tác động của yếu tố công nghệ và 6,25% là do sự khác nhau ở mức độ sử dụng các yếu tố đầu vào Điều này cho thấy, hộ sản xuất có thể tăng năng suất hồ tiêu khi thay đổi công nghệ sản xuất
(4) Abdulkadir Abdulrashid Rafindadi, Ilhan Ozturk (2015), Effect of
financial development, economic growth and trade on electricity consumption: Evidence from post – Fukushima Japan, Renewable sustainable Energy Reviews
[7]
Nghiên cứu này xem xét tác động dài hạn và ngắn hạn của phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, nhập khẩu và vốn đối với các tình trạng khó khăn về năng lượng của Nhật Bản do khủng hoảng năng lượng ở nước này Để đảm bảo kết quả, nghiên cứu đã áp dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng và sử dụng các dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 1970 đến năm 2012 Sau đó, kiểm tra gốc của cấu trúc bằng việc sử dụng kết hợpkiểm định biên ARDL và thử nghiệm hợp nhất Johansen Ngoài ra, mô hình nhân quả của VECM Granger được sử dụng để xác định mối quan hệ nhân quả giữa các biến số Các biến đầu vào được sử dụng trong mô hình là mức sản xuất nội địa, năng lượng, vốn và lao động Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy mức tiêu thụ điện, tăng trưởng kinh tế, phát triển tài chính, vốn và mở cửa thương mại được hợp nhất cho mối quan hệ lâu dài Nghiên cứu phát hiện ra rằng phát triển tài chính kích thích tiêu thụ điện ở Nhật Bản Tăng trưởng kinh tế làm tăng nhu cầu điện, nhưng vốn giảm Xuất khẩu, nhập khẩu và mở cửa thương mại có tác động như nhau để tạo ra một mức gia tăng đáng kể trong tiêu thụ điện Trong một phát triển liên quan khác, nghiên cứu phát hiện sự tồn tại của phản hồi giữa phát triển tài chính và tiêu thụ điện và cùng suy luận giữa vốn và tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, nhập khẩu, và mở cửa thương mại mặt khác cũng là nguyên nhân gây ra tiêu thụ điện ở Nhật Bản Nghiên cứu đã khám phá mức độ ảnh hưởng của từng biến số kinh tế vĩ mô được sử dụng trong nghiên cứu này về mức tiêu thụ điện của Nhật giữa mức độ khó khăn về điện của đất nước
Trang 19(5)Qun Feng, Hong Chen(2013), The safety-level gap between China and
the US in view of the interaction between coal production and safety management, Safety Science [13]
Sản xuất than là một hoạt động có sản lượng an toàn và đầu ra an toàn, sự tương tác giữa sản xuất than và đầu vào an toàn phản ánh mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và an toàn lao động Thông qua phân tích sự tương tác lâu dài giữa sản xuất than và đầu vào an toàn, bài báo này phân chia các giai đoạn an toàn của một quốc gia sang giai đoạn phát triển, giai đoạn ổn định và giai đoạn vượt bậc Theo nguyên tắc cơ bản của chức năng sản xuất Cobb-Douglas, một mô hình sản xuất than đã được thiết lập và phân tích hồi quy được thực hiện bằng phần mềm EViews
Để nghiên cứu mối tương quan giữa sản lượng kinh tế và quản lý an toàn trong các mỏ than, mô hình kinh tế lượng đã được sử dụng Mô hình mối quan hệ giữa sản xuất than và tốc độ tăng trưởng lao động, đầu vào an toàn và tỷ lệ tiến bộ công nghệ đã được thiết lập Trong đó, mục tiêu của đầu vào an toàn là giảm tử vong và thương tích của người lao động trên một triệu tấn than Tỷ lệ tử vong của người trên một triệu tấn than có thể phản ánh trực tiếp tình trạng an toàn của các mỏ than và sự nỗ lực của quốc gia trong việc quản lý an toàn, như đào tạo an toàn, và mua các thiết bị an toàn giúp giảm tỷ lệ tử vong của người lao động Hơn nữa, tỷ lệ
tử vong của người lao động có thể được so sánh một cách dễ dàng và chính xác giữa các quốc gia khác nhau Vì vậy, tỷ lệ tử vong của người lao động trên một triệu tấn than được sử dụng để đo lường đầu vào an toàn Tỉ lệ tử vong của người lao động cho thấy một mối quan hệ ngược với đầu vào an toàn, do đó giá trị tỷ lệ tử vong của mỗi triệu tấn than được sử dụng trong tính toán; năng suất lao động của công nhân khai thác than (tấn/ngày) được sử dụng để biểu diễn tốc độ tiến bộ kỹ thuật
Kết quả cho thấy rằng Trung Quốc vẫn chưa đạt được trạng thái cân bằng tốt nhất nhưng vẫn ở giai đoạn phát triển, trong khi Hoa Kỳ đã ở trong giai đoạn ổn định Các đường cong đáp ứng chung cho thấy rằng tỷ lệ tiến bộ công nghệ có phản ứng rõ ràng nhất và tiến bộ công nghệ là sự hỗ trợ quan trọng cho sản lượng kinh tế Đối với Trung Quốc, đầu vào an toàn cho thấy một hiệu ứng thứ cấp và cũng là một phương pháp hiệu quả để cải thiện sản lượng kinh tế Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng lao động có ít ảnh hưởng đến sản xuất than và không ảnh hưởng trực tiếp đến sản
Trang 20lượng kinh tế ở giai đoạn này Nếu sự khác biệt trong giai đoạn phát triển chỉ được
đo bằng năng suất lao động, thì Trung Quốc cần ít nhất 30 năm để đạt được mức độ
an toàn sản xuất của Hoa Kỳ Một số đề xuất để nâng cao an toàn mỏ than của Trung Quốc được đề xuất thông qua học hỏi từ kinh nghiệm của Mỹ và Úc
(6) Ruhul A Salim, Kamrul Hassan, Sahar Shafiei (2014), Renewable
and non-renewable energy consumption and economic activities: Further evidence from OECD countries, Energy Economics [16]
Tác giả kiểm định mối quan hệ giữa mức tiêu thụ năng lượng tái chế và không tái chế với sản lượng ngành công nghiệp và tăng trưởng GDP ở các nước OECD với dữ liệu thời gian từ 1980 đến 2011 Kỹ thuật tổng hợp dữ liệu mạng cho phép cấu trúc nghỉ được sử dụng để điều tra thực nghiệm Kết quả cho thấy có một mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các nguồn năng lượng tái tạo và không tái tạo, sản lượng công nghiệp và tăng trưởng kinh tế Bảng phân tích mối quan hệ nhân quả cho thấy mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa sản lượng công nghiệp và năng lượng tái tạo và không tái tạo được trong ngắn hạn và dài hạn Tuy nhiên, có bằng chứng về mối quan hệ ngắn hạn hai chiều giữa tăng trưởng GDP và tiêu thụ năng lượng không tái tạo, đồng thời quan hệ nhân quả không theo chiều hướng giữa tăng trưởng GDP và tiêu thụ năng lượng tái tạo Những kết quả này cho thấy các nền kinh tế OECD vẫn phụ thuộc vào năng lượng đối với sản lượng công nghiệp cũng như tăng trưởng kinh tế nói chung Tuy nhiên, việc mở rộng các nguồn năng lượng tái tạo là một giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề an ninh năng lượng và thay đổi khí hậu và dần dần thay thế các nguồn năng lượng tái tạo có thể tái tạo được một nền kinh tế năng lượng bền vững Tác giả sử dụng hàm Cobb-Douglas với các yếu
tố đầu vào là tổng sản lượng, vốn, lao động và năng lượng
(7) Seungjae Shin, Burak Eksioglu (2015), An Empirical Study of RFID
Productivity in theU.S Retail Supply Chain, International Journal of
Production Economics [17]
Radio Frequency Identification, hay RFID, công nghệ đã nhận được sự chú ý lớn khi bắt đầu vào năm 2003, Walmart thông báo kế hoạch sử dụng công nghệ này Khả năng quét tự động của RFID có thể làm giảm tỷ lệ lỗi của sản phẩm quét và nhân lực quét sản phẩm, có thể dẫn đến tăng năng suất lao động Bài viết này đánh
Trang 21giá năng suất lao động của các nhà bán lẻ được RFID thông qua Bài báo này sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính và giải thích sự liên quan giữa công nghệ RFID và năng suất lao động của nhà bán lẻ được Phân tích hồi quy sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas cho thấy các nhà bán lẻ RFID có mức độ lao động cao hơn
so với đối tác phi RFID, cho thấy các nhà bán lẻ RFID có năng suất lao động cao hơn Nhưng khoảng cách giữa các công ty RFID và phi RFID chỉ 0,004% - không đáng kể so với số tiền được đầu tư công nghệ RFID Bài báo này, sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas điều tra những ảnh hưởng của công nghệ RFID đối với năng suất lao động của chuỗi cung ứng bán lẻ ở Hoa Kỳ với các yếu tố là tổng sản lượng, lao động, vốn
Có một số hạn chế trong nghiên cứu này: Thứ nhất, biện pháp đầu ra trong ngành bán lẻ nên là thu nhập giá trị gia tăng Tuy nhiên, không dễ tính được thu nhập giá trị gia tăng, ví dụ như bảo hành miễn phí một năm là một tính năng giá trị gia tăng Sự cải tiến dịch vụ của ngành bán lẻ thông qua việc áp dụng RFID rất khó nắm bắt với dữ liệu báo cáo tài chính Trong báo cáo này, thu nhập gộp được sử dụng cho các đại lý đầu ra bán lẻ, ước tính năng suất lao động cao hơn rất nhiều so với thu nhập có giá trị trong ngành bán lẻ Hạn chế thứ hai là hiệu quả kinh tế đối với các công ty con của RFID do có những lợi thế về chi phí cho việc áp dụng công nghệ RFID do quy mô của công ty Hạn chế thứ ba là vì đầu tư RFID liên quan đến đầu tư CNTT, việc giới thiệu số lượng nhân viên IT và lượng đầu tư CNTT có thể làm tăng hồi quy chức năng sản xuất trong bài báo này
(8) Aurelia Rybak, Aleksandra Rybak (2016), Possible strategies for hard
coal mining in Poland as a result of production function analysis, The Journal of
Trang 22tránh khỏi trong tình huống này Kết quả thu được của phân tích đã dẫn đến việc tạo
ra hai chiến lược sáng tạo về: sản xuất khai thác than linh hoạt và ổn định
(9)Florin Marius Pavelescu(2013), Methodological considerations regarding the estimated returns to scale in case of Cobb-Douglas production function, 1st International Conference “Economic Scientific Research -
Theoretical, Empirical and Practical Approaches”, ESPERA 2013 [11]
Tác giả xem xét trong trường hợp hàm sản xuất Cobb-Douglas ước tính khả thi của quy mô hồi quy bị hạn chế bởi tăng trưởng sản lượng và hiện tượng cộng tuyến xảy ra trong quá trình lập dự toán Một mặt, tác giả đề xuất một phương pháp phân tích nhằm nhấn mạnh vai trò của độ co dãn thích hợp của đầu ra liên quan đến các yếu tố sản xuất, mặc khác xem xét tác động của hiện tượng cộng tuyến trong việc ước lượng lợi nhuận phù hợp với quy mô Phương pháp phân tích đề xuất thực
tế được sử dụng bằng cách xem xét các số liệu thống kê liên quan đến chu kỳ hai thập kỷ của nền kinh tế Romania
Tác giả sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào chỉ số lao động có việc làm và chỉ số tài sản cố định với chỉ số thu nhập quốc gia
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước
(1) Lê văn Dụy (2005) “Áp dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas để đo
lường hiệu quả sản xuất” [3]
Tác giả đã thử nghiệm trên số liệu điều tra doanh nghiệp 1/4/2001 Kết quả ước lượng các thông số của mô hình Cobb – Douglas cho thấy hoàn toàn có thể áp dụng để nghiên cứu về đóng góp của lao động, vốn, trình độ công nghệ và tổ chức của các ngành công nghiệp cũng như các thành phần kinh tế được nghiên cứu Mặc dù, hàm Cobb – Douglas để nghiên cứu thực tiễn kinh tế còn có phần gượng ép song việc với ứng dụng khá dễ dàng và dễ cả trong ước lượng, thêm vào đó hàm này cũng phản ánh được xu thế của sản xuất do vậy được nhiều nước trên thế giới áp dụng
(2) Phạm Văn Hùng (2005) “Phương pháp xác định khả năng sản xuất
nông nghiệp của hộ nông dân”[5]
Tác giả đã sử dụng mô hình Cobb – Douglas để định lượng khả năng sản xuất của nông hộ Theo đó, tác giả đã xây dựng mô hình thực nghiệm dưới dạng
Trang 23Logarith tuyến tính với 9 biến quan sát Mô hình được ước lượng bằng phương pháp “hiệu ứng cố định của hộ” với số liệu kết hợp (Panel Data) cho 2 mức và sử dụng phần mềm Limdep 7.0 để ước lượng Với việc ứng dụng mô hình Cobb – Douglas vào đánh giá khả năng sản xuất của nông hộ, tác giả nhận thấy việc xác định được cụ thể năng lực sản xuất và các yếu tố tác động đến năng lực sản xuất của nông hộ là rất quan trọng, bởi chúng giúp cho nhà nghiên cứu tìm ra được giải pháp nâng cao khả năng của hộ Với đề xuất sử dụng phương pháp “hiệu ứng cố định của hộ” khi kiểm định mô hình Cobb – Douglas, tác giả chỉ ra yêu cầu đối với bộ số liệu theo dạng Panel Data và phần mềm kinh tế lượng có chức năng phân tích hiệu ứng
cố định và hiệu ứng ngẫu nhiên Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra mô hình Cobb – Douglas và phương pháp thực hiện này có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực sản xuất khác của nền kinh tế với quy mô rộng hơn như doanh nghiệp, ngành, vùng
(3) Nguyễn Hữu Đặng (2012) “Hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kỹ thuật của hộ trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2011”[4]
Tác giả đã sử dụng mô hình Cobb – Douglas để phân tích hiệu quả sản xuất của các hộ tại địa bàn nghiên cứu Với 8 biến độc lập và 3 biến giả, nghiên cứu chỉ
ra được khả năng sản xuất có thể tăng thêm 11,04% với các nguồn lực hiện có và các kỹ thuật phù hợp Đồng thời thông qua kiểm định mô hình này, tác giả còn chỉ
ra các yếu tố gây cản trở sự tăng trưởng hiệu quả sản xuất của nông hộ
(4) Phạm Thế Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013) “Tác động của thể chế môi
trường kinh doanh đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam” [1]
đã sử dụng mô hình Cobb – Douglas trong việc phân tích tác động của thể chế môi trường kinh doanh và quản chế của cấp độ doanh nghiệp đến năng suất và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2012 Kết quả hồi quy dữ liệu mảng với phương pháp “hiệu ứng cố định” cho thấy bất kỳ sự cải thiện nào trong các yếu tố môi trường kinh doanh đều có thể làm tăng kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu này khẳng định việc sử dụng mô hình Cobb – Douglas trong đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tới hiệu quả sản xuất kinh doanh là phù hợp và từ đó đưa ra những đề xuất về phù hợp nhằm cải thiện chất lượng môi trường kinh doanh
Trang 24CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN 2008 ĐẾN 2016
2.1 Khái quát về thực trạng sản xuất kinh doanh của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Các hoạt động sản xuất kinh doanh chính tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
Dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm qua Năm 2013, sản phẩm dệt may nước ta đã xuất khẩu đến hơn 180 nước và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu đạt 17,9 tỷ USD; chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam và 10,5% GDP cả nước Tốc độ tăng trưởng dệt may trong giai đoạn
2008 -2013 đạt 14,5%/năm đưa nước ta trở thành một trong những quốc gia có tốc
độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may nhanh nhất thế giới
Hiện cả nước có khoảng 6000 doanh nghiệp dệt may, thu hút hơn 2,5 triệu lao động (chiếm ¼ lao động của khu vực kinh tế công nghiệp) Theo số liệu của VITAS, mỗi tỷ USD xuất khẩu dệt may có thể tạo ra việc làm cho 150 – 200 nghìn lao động, trong đó có 100 nghìn lao động trong doanh nghiệp dệt may và 50 -100 nghìn lao động tại các doanh nghiệp phụ trợ Phần lớn các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế tư nhân (chiếm 84%), tập trung ở Đông Nam Bộ (60%) và đồng bằng sông Hồng Các doanh nghiệp dệt may chiếm khoảng 70% tổng số doanh nghiệp trong ngành với hình thức xuất khẩu chủ yếu là gia công (CMT: 85%)
Bảng 2.1 Kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh ngành dệt may
giai đoạn 2015 - 2020
4 Sản phẩm chủ yếu
Trang 25STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2015 Năm 2020
Tuy nhiên, năng suất lao động khu vực sản xuất của Việt Nam rất thấp Chỉ
số năng suất lao động khu vực sản xuất của nước ta chỉ đạt 2,4 trong khi các quốc gia khác như Trung Quốc, Indonesia cao hơn nhiều (6,9 và 5,2) Đây là một trong những điểm yếu nhất của dệt may Việt Nam
Hình 2.1 Chỉ số năng suất lao động khu vực sản xuất
Nguồn: UNIDO China statistical yearbook
Tình hình xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam tăng đều qua các năm và trở thành mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn thứ 2 Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 17,9 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ, chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Trang 26Hình 2.2 Giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam
Xuất khẩu hàng dệt may của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt kim ngạch cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước Năm 2005, doanh nghiệp FDI chỉ đạt 2,14 tỷ USD (chiếm 44% tổng kim ngach xuất khẩu) đến
2013 đã là 10,7 tỷ USD (chiếm 59,4% kim ngạch xuất khẩu) trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ đạt được 7,3 tỷ USD
Nguồn: Tổng cục thống kê
Hình 2.3 Giá trị xuất khẩu doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước
Đối tác nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam gồm: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc Năm 2013, tổng kim ngạch xuất sang 4 thị trường này đạt
Trang 2715,3 tỷ USD (chiếm 85,5% kim ngạch toàn ngành) trong đó dẫn đầu là Hoa Kỳ với 48% tổng kim ngạch
Về nhập khẩu:
Giá trị nhập khẩu của ngành dệt may liên tục tăng qua các năm với CAGR trong giai đoạn 2009 – 2013 là 20,5% Năm 2013 giá trị nhập khẩu đệt may đạt 13,547 triệu USD, chiếm 10,25% tổng kim ngạch nhập khẩu Trong cơ cấu nhập khẩu, vải chiếm tỷ trọng chủ yếu (chiếm 62% tổng kim ngạch nhập khẩu)
Nguồn: VITAS
Hình 2.4 Giá trị nhập khẩu dệt may (triệu USD)
Về thực trạng chuỗi giá trị của ngành dệt may
Đối với nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào: Hiện nước ta có khoảng 10 nghìn ha trồng bông với sản lượng chỉ đáp ứng 2% nhu cầu sản xuất Nguyên nhân chính dẫn tơi sự kém phát triển là do nước ta không có lợi thế cạnh tranh tự nhiên
và không chú trọng đầu tư trong việc trồng bông và sản xuất xơ, diện tích trồng bông còn manh mún và diện tích trồng bông còn ít Hơn nữa việc trồng bông chịu tác động nhiều bởi điều kiện thời tiết, khí hậu, trình độ thâm canh của nông dân chưa tốt, không có hệ thống thủy lợi hỗ trợ, điều kiện trồng trọt dựa vào thiên nhiên, sản xuất thu hoạch bằng tay nên chất lượng thấp mà giá thành lại cao, không cạnh tranh được với các nước ở Bắc Mỹ và Châu Phi Cả nước hiện sử dụng khoảng 600
Trang 28nghìn tấn bông tư nhiên, 400 nghìn tấn xơ các loại Tuy nhiên, Việt Nam phải nhập khẩu 99% nhu cầu về bông, 54% nhu cầu về xơ
Hình 2.5 Chuỗi giá trị ngành dệt may Việt nam
Về ngành kéo sợi Việt Nam: thời gian qua ngành này có sự phát triển thuận lợi do phát huy được lợi thế cạnh tranh về chi phí đầu vào (nhân công và tiền thuê đất) thấp so với các nước; và do nhu cầu sợi của thị trường thế giới tăng nhanh trong những năm gần đây Tuy nhiên, đa số sợi sản xuất trong nước được xuất khẩu trong khi các doanh nghiệp dệt trong nước lại nhập khẩu sợi từ nước ngoài do cung
và cầu trong nước chưa phù hợp với nhau về số lượng và chất lượng sợi Nước ta hiện xuất khẩu hơn 61% sợi, tập trung vào các thị trường như Trung Quốc, Thổ Nhĩ
Kỳ, Hàn Quốc, Indonesia và Thái Lan Sản phẩm sợi của Việt Nam chưa đa dạng về chủng loại và chất lượng chưa cao, mới chỉ tập trung ở phân khúc sản phẩm cấp thấp và trung bình nên không đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp dệt may hàng cao cấp đòi hỏi nhiều loại nguyên liệu sợi khác nhau với các loại nguyên liệu đầu vào đặc biệt, thiết bị sản xuất hiện đại Hiện nay nước ta có khoảng trên 100 nhà máy kéo sợi với tổng công suất trên 700 nghìn tấn sợi bông nhân tạo Tuy nhiên, đa số đều có chất lượng không đảm bảo nên chủ yếu để xuất khẩu, sản xuất
Trang 29khăn hoặc các sản phẩm phụ Vì thế, ngành dệt may vẫn phải phụ thuộc vào nguồn sợi nhập khẩu
Về ngành dệt: vai trò của ngành dệt đối với ngành may và toàn ngành dệt may là rất lớn vì vải là yếu tố quan trọng quyết định chi phí và chất lượng cuối cùng của sản phẩm may mặc Tuy nhiên cho tới nay, ngành dệt chưa có được sự phát triển như kỳ vọng Bên cạnh yếu tố chất lượng không đảm bảo thì sản lượng ngành dệt cũng không đủ để đáp ứng nhu cầu của ngành may Số lượng vải hàng năm mà nước ta phải nhập khẩu chiếm tới khoảng 86% nhu cầu Nguyên nhân của sự yếu kém trong sản xuất của ngành dệt này là do: vấn đề mâu thuẫn về chính sách của nhà nước với khuyến khích đầu tư vào ngành dệt và chính sách hạn chế liên quan đến ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường; quy mô doanh nghiệp dệt nhỏ, thiếu nhân lực quản lý giỏi và công nghệ lạc hậu; thiếu các cụm công nghiệp dệt may để hỗ trợ phát triển
Về ngành may: Ngành may xuất khẩu Việt Nam phát triển nhanh chóng sau khi Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ có hiệu lực từ sau 2001 Tuy nhiên các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm may mặc hiện vẫn đang sản xuất theo phương thức gia công đơn giản (CMT) chiếm khoảng 85% kim ngạch xuất khẩu còn FOB chỉ khoảng 13% và ODM chỉ khoảng 2% Nguyên nhân là do ngành may không chủ động được nguồn nguyên liệu, khả năng quản lý yếu và khả năng huy động vốn thấp Đặc biệt, ngành may mặc còn rất yếu ở khâu thiết kế sản phẩm vì thiếu các nhà thiết kế giỏi, khó tiếp cận và thiếu thông tin về khách hàng, xa thị trường tiêu thụ cuối cùng
Hoạt động xuất khẩu của ngành dệt may phụ thuộc vào các nhà buôn nước ngoài, họ đến từ Hongkong, Đài Loan và Hàn Quốc Các doanh nghiệp dệt may không có được liên kết với những người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng mà chỉ thực hiện gia công lại cho các nhà sản xuất khu vực
2.1.2 Khái quát về kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tính đến cuối năm 2016, có 16 doanh nghiệp ngành dệt may trên các sàn
chứng khoán (HNX, HOSE và UPCoM) đã tạo ra tổng mức doanh thu thuần