- Đề xuất được một số biện pháp bảo tồn và phát triển các loài thực vật tại Khu di tích lịch sử - văn hóa - khảo cổ Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.. K ết quả nghiên cứu Kết qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 3M ỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Mục lục 1
Danh mục bảng 3
Thông tin kết quả nghiên cứu bằng tiếng Việt và tiếng Anh 4
MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Mục tiêu nghiên cứu 9
3 Cấu trúc đề tài 9
N ỘI DUNG Chương 1 T ỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 10
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 10
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 11
1.2 Mô tả về khu vực nghiên cứu 13
1.2.1 Tổng quan về Khu di tích Gò Tháp 13
1.2.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.4 Thời gian và tiến trình nghiên cứu 25
Chương 3 K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Danh lục thành phần loài thực vật có mạch tại Khu di tích Gò Tháp 27
3.2 Đa dạng về phân loại 64
3.2.1 Đa dạng về các taxon trong các ngành 64
3.2.2 Đa dạng bậc lớp 65
3.2.3 Đa dạng bậc họ 65
3.2.4 Đa dạng bậc chi 66
3.3 Đa dạng về dạng sống 67
Trang 43.4 Đa dạng về giá trị tài nguyên thực vật 69
3.5 Đa dạng về giá trị bảo tồn 70
3.6 Đánh giá thực vật ngoại lai 71
3.7 Một số biện pháp bảo tồn và phát triển các loài thực vật có mạch tại Khu di tích Gò Tháp 72
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Kiến nghị 75
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 77
PH Ụ LỤC HÌNH
Trang 5DANH M ỤC BẢNG
Bảng 3.1 Hệ thống dạng sống thực vật của Raunkiaer (1934), có bổ sung của
Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) 27
Bảng 3.2 Giá trị sử dụng của thực vật có mạch ở Khu di tích Gò Tháp 28
Bảng 3.3 Danh lục thực vật có mạch ở Khu di tích Gò Tháp 30
Bảng 3.4 Sự phân bố taxon trong các ngành 64
Bảng 3.5 Sự phân bố taxon lớp trong các ngành 65
Bảng 3.6 Các họ đa dạng nhất của hệ thực vật Khu di tích Gò Tháp 65
Bảng 3.7 Các chi đa dạng nhất trong hệ thực vật Khu di tích Gò Tháp 66
Bảng 3.8 Dạng sống các loài thực vật có mạch ở Khu di tích Gò Tháp 67
Bảng 3.9 Giá trị sử dụng của thực vật có mạch ở Khu di tích Gò Tháp 69
Bảng 3.10 Các loài thực vật ngoại lai tại Khu di tích Gò Tháp 71
Trang 6THÔNG TIN K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Đánh giá sự đa dạng hệ thực vật có mạch ở Khu di tích lịch sử -
văn hóa - khảo cổ Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
- Mã số: SPD2018.01.18
- Chủ nhiệm đề tài: ThS Phạm Thị Thanh Mai
Điện thoại: 0919 660 585 Email: pttmai@dthu.edu.vn
- Thời gian thực hiện: 12 tháng (từ tháng 06/2018 đến tháng 05/2019)
2 M ục tiêu
- Đánh giá được sự đa dạng hệ thực vật có mạch ở Khu di tích lịch sử - văn hóa - khảo cổ Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
- Đề xuất được một số biện pháp bảo tồn và phát triển các loài thực vật tại Khu
di tích lịch sử - văn hóa - khảo cổ Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
3 Tính m ới và sáng tạo
Nghiên cứu này được thực hiện lần đầu tiên tại Khu di tích lịch sử - văn hóa - khảo cổ Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
4 K ết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá sự đa dạng thực vật
và kiến nghị với các cấp lãnh đạo trong công tác bảo tồn và phát triển bền vững Khu
di tích lịch sử - văn hóa - khảo cổ Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
6 Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của
k ết quả nghiên cứu
6.1 Địa chỉ ứng dụng
Trường Đại học Đồng Tháp và Khu di tích lịch sử - văn hóa - khảo cổ Gò Tháp
Trang 76.2 Phương thức chuyển giao, tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên
c ứu
Báo cáo khoa học đã nghiệm thu được chuyển giao cho Ban Quản lý Khu di tích Gò Tháp dùng làm tài liệu quảng bá du lịch sinh thái, bảo tồn, phát triển các loài thực vật quý hiếm, các cây có lợi và tiêu diệt những loài thực vật ngoại lai xâm hại đồng thời diệt trừ những cây có độc nhằm phát triển bền vững Khu di tích này Báo cáo khoa học là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, giảng viên trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Ch ủ nhiệm đề tài
Ph ạm Thị Thanh Mai
Trang 8INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information
Project title: Evaluate the diversity of vascular plant flora in Go Thap historical-cultural-archaeological site, Thap Muoi District, Dong Thap Province.
Code number: SPD2018.01.18
Coordinator: MSc Pham Thi Thanh Mai
Telephone: 0919 660 585 Email: pttmai@dthu.edu.vn Duration: from June 2018 to May 2019
3 Creativeness and innovativeness
The first time, research was conducted in Go Thap archaeological site, Thap Muoi District, Dong Thap Province
historical-cultural-4 Research results
- Research results are a scientific basis for assessing plant diversity and to recommend the leaders in conservation and sustainable development of Go Thap historical-cultural-archaeological site, Thap Muoi District, Dong Thap Province
Trang 96.2 Transfer alternatives, impacts and benefits of research results
- The scientific report have accepted to be transferred to Go Thap Relic Management Board used as promotional document ecotourism, conservation, development of species of rare plants, beneficial plants and destroy invasive alien species and eradicating poisonous plants for sustainable development of the Relic
- The scientific report are a useful reference source for students and lecturers
in learning, teaching and scientific research
Project manager
Ph ạm Thị Thanh Mai
Trang 10M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gò Tháp - Di tích quốc gia đặc biệt thuộc địa bàn hai xã Mỹ Hòa và Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, có tổng diện tích 2.896.935 m2 Khu di tích Gò Tháp cách thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười khoảng 15 km về phía Bắc và cách thành phố Cao Lãnh khoảng 45 km về hướng Đông Bắc
Khu di tích Gò Tháp được xem là nơi hội tụ của những giá trị đặc biệt về văn hóa, lịch sử, khảo cổ gắn liền với mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau của địa phương Bên cạnh đó, Khu di tích Gò Tháp còn có giá trị về mặt nghiên cứu khoa học, nguồn tài nguyên thiên nhiên, du lịch hành hương, tâm linh tín ngưỡng, du lịch vui chơi giải trí và du lịch sinh thái tham quan nghiên cứu hệ sinh cảnh vùng Đồng Tháp Mười,
phục vụ du khách trong và ngoài nước, tạo việc làm cho người lao động, để giải quyết những vấn đề xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Gò Tháp có cảnh quan thiên nhiên rất đẹp, phong phú với rừng tràm nguyên
sơ và hệ sinh thái đồng cỏ ngập nước theo mùa đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười, đồng thời còn có nhiều loài cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi Hệ sinh thái thực vật nơi đây còn là nơi ở, nơi kiếm ăn và là nơi sinh sản cho nhiều loài chim nước và các động vật khác Vì thế, việc bảo tồn nguồn gen thực vật nơi đây cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ nguồn gen động vật, góp phần bảo tồn sinh cảnh, bảo tồn đa dạng sinh học của vùng này
Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên và cân bằng sinh thái, đó là cơ sở của sự sống và thịnh vượng của loài người, sự bền vững của thiên nhiên trái đất, vì vậy nghiên cứu
đa dạng sinh học, đa dạng thực vật và bảo tồn đã và đang trở thành vấn đề thu hút
sự quan tâm của toàn nhân loại
Vấn đề nghiên cứu về tài nguyên thực vật ở Khu di tích Gò Tháp chưa được quan tâm đúng mức, chỉ tìm được số liệu thống kê 130 loài thực vật được giới thiệu
ở mục Tài nguyên thiên nhiên trên trang https://bqlkdtgt.dongthap.gov.vn/ (ghi nhận vào khoảng năm 2000 cho đến nay) mà chưa thấy minh chứng tài liệu cụ thể Trong những năm qua do những tác động của các yếu tố môi trường, sự khai thác, sử dụng của con người và trước ảnh hưởng biến đổi khí hậu, hệ thực vật nơi
Trang 11đây đã có nhiều thay đổi và chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá được hiện
trạng thực tại hệ thực vật ở Khu di tích Gò Tháp này Vậy, hiện tại Khu di tích Gò Tháp có bao nhiêu loài thực vật và thành phần loài thực vật nơi đây có giá trị, ý nghĩa như thế nào, có loài nào gây hại và xâm lấn hệ thực vật hay không? Làm thế nào để bảo tồn và phát triển bền vững khu di tích này?
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi chọn thực hiện đề tài: “Đánh giá sự
đa dạng hệ thực vật có mạch ở Khu di tích lịch sử - văn hóa - khảo cổ Gò Tháp, huy ện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp” để có những số liệu cụ thể đánh giá được sự đa
dạng tài nguyên thực vật nhằm bổ sung danh lục thành phần loài thực vật nơi đây, phát hiện các loài thực vật quý hiếm để ưu tiên bảo vệ, tìm ra những loài thực vật có độc và thực vật ngoại lai xâm hại để diệt trừ…, góp phần vào việc bảo tồn hệ sinh thái thực vật, trong công tác khai thác bền vững, bảo tồn nguồn tài nguyên của địa phương cũng như duy trì khí hậu vùng, bảo tồn đa dạng sinh học đồng thời góp phần duy trì và tôn tạo các di tích lịch sử, khảo cổ, truyền thống văn hóa các dân tộc trong vùng nhằm phát triển bền vững Khu di tích này
2 M ục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được sự đa dạng hệ thực vật có mạch ở Khu di tích Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
- Đề xuất được một số biện pháp bảo tồn và phát triển các loài thực vật tại Khu
di tích Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
3 C ấu trúc của đề tài
Cấu trúc đề tài bao gồm:
- Thông tin kết quả nghiên cứu bằng tiếng Việt và tiếng Anh
- Mở đầu
- Nội dung với 3 chương:
+ Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
+ Chương 2 Đối tượng, phương pháp và nội dung nghiên cứu
+ Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục hình ảnh (ghi đĩa CD kèm theo)
Trang 12N ỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 T ổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài ở trong nước và ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên c ứu ngoài nước
- Schmithusen (1959) đã chia thảm thực vật trái đất thành 9 lớp quần hệ là:
Lớp quần hệ rừng, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ savan và đồng cỏ, lớp quần hệ đồng cỏ, lớp quần hệ cây bụi nhỏ và nửa cây bụi, lớp quần hệ thực vật sống một năm, lớp quần hệ hoang mạc, lớp quần hệ thực vật hồ nước nội địa và lớp quần hệ thực vật biển [34]
- UNESCO (1973) đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cấu trúc và được thể hiện trên bản đồ 1:2.000.000 Đây
là khung phân loại được sử dụng phổ biến phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên toàn thế giới [36]
- Các công trình nghiên cứu hệ thực vật quan trọng có: Thực vật chí Hồng Kông (1861); Thực vật chí Australia (1866); Thực vật chí Ấn Độ (1874); Thực vật chí Miến Điện (1877); Thực vật chí Malaysia (1892 - 1925); Thực vật chí Hải Nam, Trung Hoa (1972); Thực vật chí Vân Nam, Trung Hoa (1977) Ở Nga, Malusep I.I (1969), Tolmachop A.I (1974), Urxep (1974) đều tập trung vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu của hệ thực vật Tolmachop A.I (1974) đã đưa ra nhận định là
số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1.500 đến 2.000 loài
và ông cũng cho rằng “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý” [16]
- Ở các nước Âu Mỹ, việc nghiên cứu hệ thực vật trên toàn lãnh thổ đã được hoàn thành từ lâu Hầu hết các vật mẫu đã được thu thập và lưu trữ tại các phòng mẫu khô nổi tiếng thế giới như Kew (Anh), Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga) Vì vậy, khi xây dựng các khu Bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia hết sức thuận lợi, đơn giản đối với họ Đối với các nước khu vực Đông Nam Á, một số nước đã được nước ngoài tài trợ, giúp đỡ cho nên tuy chưa hoàn thành nhưng cơ bản các nước đó đã có bộ Thực vật chí khá hoàn chỉnh như Trung Hoa, Thái Lan, Indonexia, Malaysia [31]
Trang 13Theo số liệu của Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới (2000) trên thế giới đã
thống kê được 1.700.000 loài sinh vật, trong đó có 300.000 loài thực vật [16] Nghiên cứu đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thực vật nói riêng cũng như vấn đề bảo tồn chúng đã trở thành một chiến lược trên toàn thế giới Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio
de Janeiro (Brazil) tháng 6 năm 1992 đã có 150 nước ký vào Công ước về đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng Từ đó nhiều hội thảo được tổ chức để thảo luận và nhiều cuốn sách mang tính chất chỉ dẫn ra đời Năm 1990, WWF đã cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng về đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity) hay IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới (World conservation strategy), Wri, IUCN and WWF đưa ra chiến lược sinh vật toàn cầu (Global biological strategy) Năm 1991, Wri, WB, WWF xuất bản cuốn bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới (Conserving the World's biological diversity) hoặc IUCN, UNEP, WWF xuất bản cuốn "Hãy quan tâm tới trái đất" (Caring for the earth) Cùng năm, Wri, IUCN và UNEP xuất bản cuốn chiến lược đa dạng sinh vật và chương trình hành động Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai [31]
Hiện nay, bên cạnh các công trình xuất bản bằng sách đã có các trang thông tin điện tử xuất bản và cung cấp thông tin chính thức và có độ tin cậy cao The Plant List (http://www.theplantlist.org/ [40]) là website cung cấp lịch sử công bố các loài, tên khoa học cập nhật và chính xác nhất
1.1.2 Tình hình nghiên c ứu trong nước
- Chuyên kh ảo về Đồng Tháp Mười - tài nguyên thực vật do Phạm Hoàng Hộ
và cộng sự (1992) nghiên cứu Các tác giả đã kiểm kê các loài thực vật gặp ở các sinh cảnh khác nhau của Đồng Tháp Mười và bước đầu đánh giá năng suất của một vài sinh cảnh Tuy nhiên, công trình này chỉ tập trung một số điểm của vùng Đồng Tháp Mười như Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa (Long An), Hồng Ngự (Đồng Tháp) chứ không điều tra hết tất cả các điểm thuộc phạm vi nghiên cứu [18]
- Điều tra đa dạng sinh học của các vùng đất ngập nước chủ yếu của vùng đồng bằng sông Cửu Long do Buckton và cộng sự (1999) thuộc tổ chức Birdlife
Trang 14International tiến hành Đề tài tập trung khảo sát nhóm chim và thực vật bậc cao vùng đồng bằng sông Cửu Long với mục đích đánh giá phân loại mức độ ưu tiên trong việc bảo tồn các vùng đất ngập nước quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long [8]
- Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và đa dạng sinh học vùng ngập lũ đồng bằng sông C ửu Long do Trần Linh Phước (2000) thuộc trường Đại học Quốc gia thành
phố Hồ Chí Minh chủ trì Đề tài đã tổng hợp và phân tích hiện trạng về đa dạng sinh học vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có đề cập đến các nhóm sinh vật như thực vật bậc cao, phiêu sinh thực vật, phiêu sinh động vật, động vật đáy, chim và cá…[27]
Tại trường Đại học Đồng Tháp cũng có một số nghiên cứu liên quan như sau:
- Phạm Thị Thanh Mai, Bổ sung một số loài vào danh lục thành phần loài
th ực vật của Vườn Quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, Bài
báo khoa học đăng trên Tạp chí Khoa học & Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Huế (ISSN 1859-1612), Số 01 (05)/ 2008 Trong bài báo này, tác giả đã bổ sung 22 loài thực vật bậc cao không có trong danh lục 130 loài của Vườn Quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp [23]
- Phạm Thị Thanh Mai, “Thành phần loài hoa, cây cảnh được trồng ở Làng hoa ki ểng Tân Quy Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp”, Bài báo khoa học
đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, số 09 (6/2014) Trong bài báo này, tác giả đã bước đầu xác định, phân tích và đánh giá được 280 loài hoa, cây cảnh được trồng tại Làng hoa kiểng Tân Quy Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp [24]
- Phạm Thị Thanh Mai, “Đa dạng thực vật ở Khu di tích lịch sử - văn hóa Xẻo
Quýt, huy ện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp”, Bài báo khoa học đăng trên Tạp chí Khoa
học Đại học Đồng Tháp, số 25 (4/2017) Trong bài báo này, tác giả đã xác định, phân tích và đánh giá được 334 loài thực vật ở Khu di tích Xẻo Quýt, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp [25]
Trên trang https://bqlkdtgt.dongthap.gov.vn/ có giới thiệu tổng quan về sinh thái Khu di tích Gò Tháp như sau: “Gò Tháp là nơi còn giữ được nét hoang sơ vùng Đồng Tháp Mười với hệ sinh thái vô cùng phong phú, khoảng 130 loài thực vật khác nhau Trong đó, tiêu biểu phải kể tới như: rừng tràm, đế, sậy, những cánh đồng
Trang 15sen hồng bạt ngàn, tỏa hương thơm thanh mát quanh năm… đồng thời, đây là nơi
cư trú của hàng chục loài động vật và hơn 20 loài chim nước như: nhan sen, nhan điển, cò, trích…” [41] Qua tìm hiểu thông tin từ Ban Quản lý Khu di tích Gò Tháp thì số liệu thống kê này không có minh chứng tài liệu cụ thể
Trong Biên bản Thanh tra về Bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu di tích Gò Tháp của Tổng cục Môi trường vào ngày 17 tháng 8 năm 2016 đã kết luận: “Đến thời điểm hiện nay chưa có nghiên cứu điều tra, đánh giá đa dạng sinh học của khu vực này” [33]
Từ đó cho thấy trong những năm qua chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá sự đa dạng hệ thực vật Khu di tích Gò Tháp này Vì vậy, nghiên cứu này là hết sức cần thiết và quan trọng, góp phần phục vụ công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững Khu di tích Gò Tháp
1.2 Mô t ả về khu vực nghiên cứu
1.2.1 T ổng quan về Khu di tích Gò Tháp
Hình 1-1 B ằng xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt Gò Tháp
(Ngu ồn: Ban Quản lý Khu di tích Gò Tháp)
Khu di tích Gò Tháp được người Pháp phát hiện từ cuối thế kỷ XIX và là địa chỉ khai quật khảo cổ từ năm 1984 đến nay Nơi đây được các nhà khảo cổ xác định
Trang 16là một tiểu quốc của vương quốc Phù Nam, đã lưu giữ được các di tích của nền văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam với hơn 10 di tích kiến trúc và nhiều bộ sưu tập hiện vật độc đáo Đồng thời, Gò Tháp là vùng căn cứ địa cách mạng của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước [2]
Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt đó, Khu di tích Gò Tháp đã được xếp hạng qua các thời kỳ [2]:
Năm 1989, Gò Tháp được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích quốc gia Năm 2012, Gò Tháp được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích Quốc gia đặc biệt về loại hình di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật [14]
Năm 2014, Gò Tháp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là Khu bảo vệ cảnh quan theo Quyết định số 1976/ QĐ-TTg ngày 30/10/2014 [32]
Năm 2015, Gò Tháp được Bộ Tài nguyên và Môi trường công nhận là Khu bảo tồn đa dạng sinh học theo Quyết định số 1107/QĐ-BTNMT ngày 12/5/2015 [5]
a Về giá trị khảo cổ [2], [39], [41]
Cách đây khoảng 1.500 năm, Gò Tháp là nơi cư trú của một bộ phận dân tộc
có nền văn hóa phát triển, là vùng đất có quá khứ gắn liền với lịch sử của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á Gò Tháp, một “ốc đảo xanh” nổi lên giữa vùng đồng ruộng bao la có sức hấp dẫn mạnh mẽ bởi cảnh quan độc đáo cùng nhiều huyền thoại về một nền văn minh cổ với những dấu tích đi theo thời gian và chiến tranh Cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, một bộ phận cư dân người Việt từ đàng ngoài đã vào đây khai hoang lập nghiệp, mở mang bờ cõi trên vùng đất còn hoang hóa với nhiều rừng rậm, sình lầy, muỗi bầy, thú dữ
Di tích khảo cổ học Gò Tháp đã được nhà khảo cổ học người Pháp - đại úy Silvestre làm việc tại Prasat Pream Loven (Chùa Năm Gian) phát hiện một bánh xe bằng đá và dấu tích phần móng của một ngôi tháp cổ tại Gò Tháp Mười và công bố trên Tạp san của Hội địa lý học Rochefort vào năm 1881 [20] Về sau, nhiều nhà khoa học đã tiến hành khai quật khảo cổ nhiều lần và xác định Gò Tháp là một tiểu quốc của vương quốc Phù Nam với nền văn hóa Óc Eo cách đây hàng nghìn năm
Gò Tháp đã lưu giữ các loại hình di tích quan trọng về lịch sử, văn hóa, khoa học, chính trị, kinh tế, nghệ thuật và tôn giáo của nền văn minh rực rỡ, cổ xưa (gồm di tích kiến trúc, di tích cư trú và di tích mộ táng…)
Trang 17Hiện nay, Gò Tháp lưu giữ được nhiều di sản văn hóa có giá trị tiêu biểu, như:
* Đền thần Vishnu Gò Tháp Mười
Gò Tháp Mười lớn và cao nhất so với các gò khác trong Khu Di tích Gò Tháp, mặt gò xuất lộ nhiều gạch cổ và những khối đá lớn, lòng gò còn khối kiến trúc xây bằng gạch xưa, phần Bắc nằm dưới phế tích ngôi Tháp mười tầng (xây dựng năm
1956 - 1958), phần Nam còn tương đối nguyên dạng
Trên đỉnh Gò Tháp Mười xưa kia có một ngôi Tháp Cổ Tự thời vua Thiệu Trị (1841 - 1847) do lưu dân người Việt đi khai hoang mở cõi vùng Đồng Tháp Mười xây dựng để thờ Phật Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm cho dời chùa đi nơi khác để xây dựng trên đỉnh gò một “Viễn Vọng Đài” (Tháp Mười Tầng) cao 36 m nhằm quan sát, khống chế mọi hoạt động của quân giải phóng trong vùng căn cứ kháng chiến
Các nhà khảo cổ học đã phát hiện tại đây dấu vết Đền thờ thần Vishnu và nhiều hiện vật: Hai tượng thần Vishnu bằng đá sa thạch, có khắc hoa văn và minh văn đã được Thủ tướng Chính Phủ công nhận là Bảo vật quốc gia, cánh tay tượng
đá, rãnh Yoni vỡ, khuôn đúc đồ trang sức…) thuộc nền văn hóa Óc Eo
* Gò Minh Sư
Gò Minh Sư nằm cách di tích Gò Tháp Mười khoảng 400 m về phía Bắc - Đông Bắc Gò cao 3,96 m, rộng khoảng 1200 m2, dạng gần vuông , mặt gò xuất lộ nhiều mảnh gốm cổ, gạch vỡ, chân tượng cùng nhiều khối đá cuội
Gò Bà Chúa X ứ: cách Gò Tháp Mười khoảng 570 m về phía Bắc Năm 1984,
các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật tại di tích này và phát hiện được nền móng gạch của công trình kiến trúc cổ…
H ố thám sát GT84 - BCX1: được mở ở đỉnh gò phía Tây Về cơ bản, địa tầng
của khu vực này đã bị xáo trộn khá mạnh Dựa vào những kết quả khai quật, các nhà khảo cổ học cho rằng, lớp đất bên dưới đỉnh gò đã được xử lý và mang những dấu hiệu của hiện tượng xây đắp
H ố thám sát GT84 - BCX2: nằm tại phía trước Linh Miếu Bà Trong địa tầng
xuất lộ những vỉa gạch xây và một khối nền kiến trúc cổ (dài 25 m, rộng 13,8 m), có niên đại cách ngày nay khoảng trên 1.500 năm, gắn với văn hóa Phù Nam Đây là dạng kiến trúc cổ thường gặp ở khu vực Đông Nam Á và Đông Dương
Trang 18b V ề giá trị lịch sử [2],[14], [41]
Ngoài giá trị về khoa học khảo cổ học, Khu di tích Gò Tháp còn có giá trị lịch
sử cách mạng Với địa hình hiểm trở, Gò Tháp xứng danh là “địa chỉ đỏ” viết nên những trang sử hào hùng trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước của các anh hùng hào kiệt, quân đội và nhân dân ta
Giai đoạn 1862 - 1866: Gò Tháp được hai vị anh hùng dân tộc Thiên hộ Võ Duy Dương (sinh năm 1927 - mất năm 1898) và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều (không
rõ năm sinh - mất năm 1866) chọn làm “Đại bản doanh” lãnh đạo nghĩa quân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Những trận đánh do hai Ông tổ chức đã rất nhiều lần làm cho thực dân Pháp mất ăn, mất ngủ, thiệt hại nặng nề
Giai đoạn 1946 - 1949: Gò Tháp được Xứ ủy, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ chọn là “Thủ đô kháng chiến Nam bộ” - căn cứ hoạt động chống đế quốc
Mỹ cứu nước Nơi đây từng in dấu chân hoạt động cách mạng của nhiều cán bộ cao cấp của Đảng như các đồng chí: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Trần Văn Trà, Nguyễn Bình, Nguyễn Thị Thập…
Ngày 04 tháng 01 năm 1960, các cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 502 của tỉnh Kiến Phong đã ghi dấu chiến công trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Đánh sập
Viễn vọng đài (Tháp Mười Tầng) do chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng để quan sát, khống chế các hoạt động của quân giải phóng và chống phá cách mạng
c Về giá trị tâm linh, tín ngưỡng [2], [41]
Khu di tích Gò Tháp nổi bật những giá trị tâm linh với nhiều di tích tín ngưỡng, tôn giáo:
* Mi ếu Bà Chúa Xứ (Linh Miếu Bà): được dựng năm 1973, quay hướng
Đông Nam, tường xây bằng gạch Miếu gồm ba gian, gian giữa thờ Bà Chúa Xứ, hai gian bên đặt khám thờ Tả ban và Hữu ban
* Tháp Mười Cổ Tự: Còn gọi là Chùa Tháp Linh (Tháp Linh tự) có bố cục
mặt bằng nền hình chữ “Công”, gồm các hạng mục: cổng, sân, chùa, đài Quán Thế
Âm, chánh điện, hậu Tổ, nhà tăng ni
* Mi ếu Hoàng Cô: Xưa là nơi thờ bà Nguyễn Phúc Hồng Nga, em gái của
vua Gia Long Năm 2007, Ban Hội hương Gò Tháp đã phục hồi lại miếu bằng vật liệu hiện đại…
Trang 19* M ộ Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều: được xây dựng sau khi ông mất (1866)
Địa điểm này vốn là nền đồn Trung, thuộc đại bản doanh Gò Tháp, nơi ông đã từng đóng quân Tháng 10 năm 1954, Cao Đài Liên minh đã cho xây mộ bằng vật liệu vữa, gạch, xi măng Hiện nay, mộ nằm phía sau đền thờ chính, xung quanh xây tường rào kiên cố, mái đúc bằng bê tông, cột tròn, thân mộ ốp đá hoa cương, phía trước gắn bia đá…
* Đền thờ Thiên hộ Võ Duy Dương và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều: được
xây dựng năm 1958, thờ Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều Đến năm 1991, đền được sửa chữa và cùng thờ Thiên hộ Võ Duy Dương, vì địa điểm này cũng từng là đại bản doanh mà Thiên hộ Võ Duy Dương đã chiêu mộ nghĩa quân chống lại thực dân Pháp Các hạng mục chính của đền hiện nay gồm: nghi môn, tượng đài, chính điện…
Hằng năm, tại di tích Gò Tháp tổ chức 2 kỳ lễ hội lớn để tưởng nhớ công ơn của Bà Chúa Xứ - ngày 15 tháng 3 (Âm lịch) và hai vị anh hùng dân tộc Thiên Hộ
Võ Duy Dương, Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều - ngày 15 tháng 11 (Âm lịch) Trong
lễ hội, nhiều hoạt động văn hóa, dân tộc, tâm linh và trình diễn dân gian thu hút được sự quan tâm đặc biệt của nhân dân sở tại và du khách thập phương
d Về giá trị sinh thái [1], [2]
Gò Tháp có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, là nơi còn giữ được nét hoang sơ vùng Đồng Tháp Mười với hệ sinh thái vô cùng phong phú Trong đó, tiêu biểu như: rừng tràm nguyên sơ, đồng cỏ năng, lúa ma, đế, sậy, lác, điên điển, những cánh đồng sen hồng bạt ngàn, tỏa hương thơm thanh mát quanh năm, nhiều loài cây dược liệu và những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, trong đó có cây Trôm được công nhận
là Cây Di sản Việt Nam… đồng thời, đây là nơi cư trú của hàng chục loài động vật
và hơn 20 loài chim nước như: nhan sen, nhan điển, cò, trích… Tất cả hòa quyện vào nhau tạo nên môi trường sinh thái đặc sắc
e V ề giá trị du lịch [1], [2]
Bên cạnh việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa, thì việc phát triển du lịch nơi đây cũng là mục tiêu quan trọng
Khu di tích Gò Tháp được xem như “cái rốn” của cả Vùng Đồng Tháp Mười
vì có môi trường thiên nhiên sinh thái động thực vật hoang sơ tiêu biểu của vùng,
mà nổi tiếng nhất là “Bông sen” đã gắn liền với tên đất Tháp Mười “Tháp Mười đẹp
Trang 20nh ất bông sen…” Về Gò Tháp là về lại cội nguồn lịch sử, chiêm ngưỡng cảnh sắc
thiên nhiên đẹp tuyệt, hít thở bầu không khí trong lành, thanh mát Mặt khác, nơi đây cũng có nhiều món ăn đặc sản mang đậm hương vị đồng quê như: Cá lóc nướng trui gói lá sen, chuột đồng nướng, khìa; gỏi khô ngó sen, mắm kho cá linh, cá rô kho tộ… Khu di tích Gò Tháp có vị trí thuận lợi, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng
100 km, nằm trên trục giao thông N2 nối với 02 tỉnh An Giang và Kiên Giang tạo cho Gò Tháp đủ yếu tố “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” Trong thời gian không xa,
Gò Tháp sẽ trở thành một trung tâm văn hóa du lịch không chỉ của tỉnh Đồng Tháp
mà là một điểm đến đầy hứa hẹn của khách du lịch trong và ngoài nước
1.2.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu [1], [2], [41]
a V ị trí địa lý
Khu di tích Gò Tháp có tổng diện tích 2.896.935 m2 , thuộc địa bàn ấp 1, xã
Mỹ Hòa và ấp 1, xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp (hình 1-1)
Hình 1-2 Bản đồ Khu di tích Gò Tháp (Nguồn: Ban Quản lý Khu di tích Gò Tháp)
Trang 21Tháp Mười là một huyện phía Bắc tỉnh Đồng Tháp, có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp: huyện Vĩnh Hưng - Long An và Tam Nông - Đồng Tháp
- Phía Nam và Đông giáp: huyện Cái Bè - Tiền Giang
- Phía Tây và Nam giáp: huyện Cao Lãnh - Đồng Tháp
- Phía Đông giáp: huyện Tân Thạnh - Long An
Khu di tích Gò Tháp cách thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười khoảng 15 km về phía Bắc và cách thành phố Cao Lãnh khoảng 45 km về hướng Đông Bắc, có tọa độ địa lý: 10036’17,44” vĩ Bắc, 105049’41,28” kinh Đông
b Địa hình
Khu di tích Gò Tháp là khu vực vùng trũng nội địa Đồng Tháp Mười, tương đối bằng phẳng, nơi cao nhất khoảng 0,9m so với mực nước biển, địa hình có khuynh hướng dốc từ Tây Nam đến Đông Bắc, rải rác là các gò cao - vết tích của vùng phù sa cổ, với các ao mương, đồng cỏ hoang vu, sình lầy và các rừng tràm rộng lớn đã hình thành hệ sinh thái đặc trưng vùng đất ngập nước
c Khí hậu và thủy văn
* Khí h ậu
Khu di tích Gò Tháp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nhiệt độ cao quanh năm và khá ổn định qua các tháng, chênh lệch nhiệt độ trung bình từ 1 -
30C Nhiệt độ trung bình là 270C, nhiệt độ cao nhất là 37,20C và nhiệt độ thấp nhất
là 18,50C Thời kỳ nóng nhất trong năm kéo dài từ tháng 2 đến tháng 4 và lạnh nhất
Đáng chú ý là những tháng có mưa lớn tập trung thường trùng với mùa lũ (từ tháng 7 đến tháng 11) làm phần lớn diện tích đồng cỏ, vùng đất thấp… bị ngập nước từ 0,5m trở lên, với thời gian ngập từ 03 đến 04 tháng gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên
Trang 22Lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.500mm, tập trung vào mùa mưa, chiếm trên 90% lượng mưa cả năm Lượng mưa có xu hướng giảm dần từ Tây - Tây Nam sang phía Đông Mùa khô có lượng mưa thấp (khoảng 10%)
Độ ẩm trung bình hằng năm khoảng 83% từ tháng 5 đến tháng 11, cao nhất vào các tháng mùa mưa độ ẩm khoảng 83% - 86%
Lượng bốc hơi trung bình hằng năm là 1.657mm
Gió mùa Tây Nam từ tháng 05 đến tháng 11, tốc độ bình quân 02 - 2,5m/s; mạnh nhất 22,6m/s mang theo nhiều hơi nước Gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, khô và lạnh làm tăng tốc độ bốc hơi và lượng mưa giảm rõ rệt
* Th ủy văn
Chế độ thủy văn nơi đây chịu sự tác động của 3 yếu tố là chế độ thủy triều biển Đông, chế độ dòng chảy của sông Tiền, chế độ mưa tại chỗ và được chia làm 2 mùa: Mùa kiệt và mùa lũ
Mùa kiệt: Từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, dòng chảy của kênh rạch nội đồng chịu ảnh hưởng trực tiếp của dòng sông Tiền về tác động của thủy triều Trong mùa này mực nước kênh rạch xuống thấp và đạt mức thấp nhất vào trung tuần tháng
4, do vậy đã làm một số nơi trong huyện thiếu nước ngọt cho sản xuất
Mùa lũ: Trong mùa này do mưa tại chỗ lớn, cùng với lượng lớn nước từ thượng nguồn sông MeKong đổ về cộng thêm mực nước dâng cao do triều cường, gây lũ lớn tràn vào nội đồng đã gây úng ngập và do sự chênh lệch mực nước thấp nên khả năng thoát nước lũ kém
Trang 23CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực vật có mạch ở Khu di tích Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
2.1.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu ở các khu vực được cho phép Không thực hiện nghiên
cứu ở các khu vực cấm vào do bảo vệ nghiêm ngặt và các bãi bom, mìn
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Thu thập và kế thừa có chọn lọc các tài liệu, các công trình khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để tổng hợp thông tin, vận dụng vào việc phân tích, biện luận các kết quả đạt được
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên
Tiến hành khảo sát thực tế 4 đợt (theo tiến trình thực hiện đề tài: Đợt 1, đợt 2 vào mùa mưa và mùa nước nổi; đợt 3, đợt 4 vào mùa khô để đánh giá chính xác hệ thực vật có mạch) tại Khu di tích Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp; quan sát, mô tả, ghi chép sơ bộ về tên địa phương, tên loài, đặc điểm của cây, chụp ảnh mẫu, sinh cảnh và thu mẫu Dụng cụ hỗ trợ gồm có kính lúp nhỏ, máy ảnh, sổ ghi chép, viết chì, bút bi
Phương pháp nghiên cứu theo Nguyễn Nghĩa Thìn (năm 2008) [30]:
- Thiết lập 50 ô tiêu chuẩn với kích thước 20 x 20 m một cách ngẫu nhiên dọc theo các tuyến điều tra đi qua những sinh cảnh khác nhau đặc trưng cho khu vực nghiên cứu (trừ những điểm không được phép tham quan, nghiên cứu)
- Tiến hành thu mẫu tại các ô tiêu chuẩn, mỗi loài thu từ 3 - 5 mẫu Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận như thân, lá, rễ và cả cây đối với cây thảo, đặc biệt vào mùa sinh sản phải thu mẫu có hoa, quả Yêu cầu về kích thước mẫu là vừa phải (kích thước khoảng 30 x 44 cm) Mẫu thu được gắn nhãn mang các thông tin: địa điểm, thời gian, sinh cảnh, ký hiệu số, tên địa phương Mẫu thu được cho vào túi nylon mang về xử lý, định loại tên khoa học
Trang 24Kết hợp với cán bộ của Ban Quản lý Khu di tích Gò Tháp và người dân địa phương để biết thêm thông tin
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu phòng thí nghiệm
a Phương pháp xác định tên khoa học
Xác định tên khoa học và cập nhật tên khoa học hiện hành của các loài thực vật bằng phương pháp so sánh hình thái dựa vào các tài liệu chính như:
- Cây cỏ Việt Nam, quyển 1, 2, 3, Phạm Hoàng Hộ (2000 - 2003) [17]
- Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập 1, 2, Võ Văn Chi và Trần Hợp (2000 - 2002) [9]
- Từ điển thực vật thông dụng, tập 1, 2, Võ Văn Chi (2003 - 2004) [10]
- Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam, Võ Văn Chi (2007) [11]
- Thực vật chí Việt Nam, Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia
(2000 - 2007) [3], [15], [21], [28]
- http://www.theplantlist.org/ [40]
- Danh lục cây thuốc Việt Nam, Viện Dược Liệu (2016) [38]
b Phương pháp xây dựng danh lục
Sau khi đã xác định tên khoa học các loài thực vật có mạch thì xây dựng Danh lục thành phần loài thực vật có mạch ở Khu di tích Gò Tháp
Phân chia các ngành thực vật có mạch theo hệ thống phân loại của Margulis và Chapman (2009) [26] Thực vật có hoa sắp xếp theo hệ thống phân loại của Takhtajan (2009) [29] Các loài trong một họ được sắp xếp theo ABC
c Phương pháp đánh giá đa dạng các taxon trong ngành
Thống kê số loài, chi, họ, bộ, lớp theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao, trên cơ sở dựa vào bảng danh lục hệ thực vật đã xây dựng, tính tỷ lệ % của các taxon để từ đó thấy được mức độ đa dạng của chúng
d Phương pháp đánh giá đa dạng bậc lớp
Dựa vào bảng danh lục hệ thực vật, thống kê và so sánh sự phân bố các taxon trong các lớp theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao, tính tỷ lệ % của các taxon
để đánh giá mức độ đa dạng của chúng
e Phương pháp đánh giá đa dạng loài của các họ
Xác định họ có nhiều loài, tính tỷ lệ % số loài các họ đó so với tổng số loài của cả hệ thực vật
Trang 25g Phương pháp đánh giá đa dạng loài của các chi
Xác định chi nhiều loài, tính tỷ lệ % số loài các chi đó so với tổng số loài của
cả hệ thực vật
h Phương pháp đánh giá đa dạng về dạng sống
Dạng sống nói lên bản chất sinh thái của thực vật Phổ dạng sống là một đặc trưng về bản chất sinh thái của hệ thực vật (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [30]
Đánh giá dạng sống theo hệ thống phân loại dạng sống của Raunkiaer (1934),
có bổ sung của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) gồm có:
- Cây có chồi trên mặt đất – Ph: Gồm những cây gỗ hay dây leo kể cả cây bì sinh, ký sinh và nửa ký sinh có chồi nằm cách mặt đất từ 25cm trở lên, được chia thành 9 dạng:
+ Mg – Cây chồi trên to: Là những cây gỗ cao từ 25m trở lên
+ Me – Cây chồi trên nhỡ (vừa): Gồm những cây gỗ cao từ 8 - 25m
+ Mi – Cây chồi trên nhỏ: Là những cây gỗ nhỏ, cây thân bụi, cây hóa gỗ, cỏ cao từ 2 - 8m
+ Na – Cây chồi trên lùn: Gồm những cây gỗ, cây thân bụi lùn hay nửa bụi, cây hóa gỗ, cỏ cao từ 25 - 200cm
+ Ep – Cây bì sinh: Gồm các loài cây bì sinh sống bám lâu năm trên thân, cành cây gỗ, trên vách đá…
+ Pp: Cây ký sinh hay nửa ký sinh
+ Sp – Cây chồi trên mọng nước như các loài có thân, lá mọng nước…
+ Lp – Cây chồi trên dây leo: Gồm các loài dây leo thân hóa gỗ
+ Hp – Cây chồi trên thân thảo: Là các loài cây chồi trên thân không có chất gỗ
- Cây có chồi sát mặt đất – Ch: Gồm những cây có chồi cách mặt đất dưới 25cm
- Cây có chồi nửa ẩn – Hm: Gồm những cây có chồi nằm sát mặt đất (ngang mặt) hay nửa trên, nửa nằm dưới đất được lá khô che phủ bảo vệ
- Cây có chồi ẩn – Cr: Gồm các cây có chồi nằm dưới đất như các loài cây có thân rễ, có củ, căn hành trong đất và những cây có chồi trong đất, cây chồi thủy sinh
- Cây có chồi một năm – Th: Gồm những cây có đời sống ngắn hơn một năm, sống ở bất kỳ môi trường nào
Trang 26Từ số liệu thống kê các dạng sống trong bảng danh lục hệ thực vật, tính tỷ lệ
% số loài thuộc mỗi dạng sống đó so với tổng số loài của cả hệ thực vật, sau đó tiến hành lập phổ dạng sống
Dựa vào phổ dạng sống để đánh giá mức độ đa dạng của điều kiện sống cũng như thấy được mức độ tác động của các nhân tố sinh thái đối với hệ thực vật
i Phương pháp đánh giá đa dạng về giá trị sử dụng
Việc phân chia và xác định các nhóm cây theo giá trị sử dụng dựa vào kết quả điều tra thực tế kết hợp với các tài liệu như:
- Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập 1, 2, Võ Văn Chi và Trần Hợp (2000 - 2002) [9]
- Từ điển thực vật thông dụng, tập 1, 2, Võ Văn Chi (2003 - 2004) [10]
- T ừ điển cây thuốc Việt Nam, Võ Văn Chi (2012) [12]
- Nh ững cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Đỗ Tất Lợi (2003) [2]
- Danh lục cây thuốc Việt Nam, Viện Dược Liệu (2016) [38]
- Thông tư ban hành Danh mục dược liệu độc làm thuốc, số 42/2017/TT-BYT ngày 13 tháng 11 năm 2017 của Bộ Y tế [7]
Dựa vào số liệu thống kê công dụng của các loài xác định được trong bảng danh lục hệ thực vật, tính tỷ lệ % số loài thuộc các nhóm cây so với tổng số loài của
cả hệ thực vật
k Phương pháp đánh giá độ thường gặp
Đánh giá độ thường gặp các loài thực vật theo Nguyễn Văn Tuyên (2000) [35]
với công thức:
P
C (%) p x 100Trong đó: p: Số địa điểm lấy mẫu có loài nghiên cứu
P: Tổng số địa điểm lấy mẫu
+++ : Loài phổ biến (thường gặp) : C > 50%
++ : Loài khá phổ biến (ít gặp) : C = 25% - 50%
+ : Loài ngẫu nhiên (rất ít gặp) : C < 25%
l Phương pháp đánh giá nguồn gen quý hiếm
Dựa vào Sách đỏ Việt Nam (2007) [4], Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính
Phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [13] và thang
Trang 27đánh giá của Sách đỏ thế giới IUCN (2018) [19], [42] để xác định các loài thực vật quý hiếm có giá trị bảo tồn ở Khu di tích Gò Tháp
m Phương pháp đánh giá thực vật ngoại lai xâm hại
Tại khoản 19, điều 3, chương 1 của Bộ luật Đa dạng sinh học Việt Nam có
định nghĩa: “Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây h ại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng
xu ất hiện và phát triển” [37]
Dựa vào Dựa vào danh mục các loài ngoại lai xâm hại được ban hành bởi Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018) [6] và độ thường gặp để đánh giá mức độ xâm hại của các loài thực vật ngoại lai đối với hệ thực vật nơi đây
2.3 N ội dung nghiên cứu
- Điều tra và xác định được thành phần loài thực vật có mạch tại Khu di tích
Gò Tháp, sắp xếp các loài theo hệ thống phân loại hiện hành, lập bảng danh lục thành phần loài thực vật định loại được
- Phân tích, đánh giá được sự đa dạng về phân loại, đa dạng về dạng sống, đa dạng về công dụng (giá trị sử dụng), giá trị nguồn gen thực vật quý hiếm và thực vật ngoại lai ở khu nghiên cứu
- Đề xuất được một số biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững hệ thực vật có mạch tại Khu di tích Gò Tháp góp phần vào bảo tồn đa dạng tài nguyên thực vật cho khu vực nói riêng và cho đa dạng sinh học nói chung
2.4 Th ời gian và tiến trình nghiên cứu
Đề tài được triển khai thực hiện trong vòng 12 tháng (từ tháng 6/2018 đến tháng 5/2019) bao gồm các tiến trình:
- Tháng 6/2018: Thu thập và nghiên cứu tài liệu, lập đề cương chi tiết Liên hệ với Khu di tích Gò Tháp để lấy thông tin phục vụ nghiên cứu đề tài
- Tháng 7/2018 - 8/2018 (mùa mưa): Tiến hành khảo sát thực tế ở Khu di tích
Gò Tháp, điều tra thành phần loài, sự đa dạng hệ thực vật, chụp ảnh đợt 1 và phân tích, xử lý số liệu đợt 1 tại Phòng thí nghiệm Sinh học trường Đại học Đồng Tháp
- Tháng 9/2018 - 11/2018 (mùa mưa và mùa nước nổi): Tiến hành khảo sát thực tế ở Khu di tích Gò Tháp, điều tra thành phần loài, sự đa dạng hệ thực vật,
Trang 28chụp ảnh đợt 2 và phân tích, xử lý số liệu đợt 2 tại Phòng thí nghiệm Sinh học trường Đại học Đồng Tháp
- Tháng 12/2018 - 02/2019 (mùa khô): Tiến hành khảo sát thực tế ở Khu di tích Gò Tháp, điều tra thành phần loài, sự đa dạng hệ thực vật, chụp ảnh đợt 3 và phân tích, xử lý số liệu đợt 3 tại Phòng thí nghiệm Sinh học trường Đại học Đồng Tháp
- Tháng 3/2019 - 4/2019 (mùa khô): Tiến hành khảo sát thực tế ở Khu di tích
Gò Tháp, điều tra thành phần loài, sự đa dạng hệ thực vật, chụp ảnh đợt 4 và phân tích, xử lý số liệu đợt 4 tại Phòng thí nghiệm Sinh học trường Đại học Đồng Tháp
- Tháng 4/2019 - 5/2019: Phân tích, tổng hợp, đánh giá kết quả nghiên cứu và viết báo cáo tổng kết đề tài
- Tháng 5/2019 - 6/2019: Thực hiện nghiệm thu đề tài
Trang 29CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Danh l ục thành phần loài thực vật có mạch tại Khu di tích Gò Tháp
Thành phần loài hay còn gọi là sự giàu có loài (species richness) được xem là một trong những chỉ tiêu được quan tâm đầu tiên nhằm đánh giá sự đa dạng sinh
học của một quần xã hay một hệ sinh thái Do đó, trong quá trình nghiên cứu hệ thực vật có mạch tại Khu di tích Gò Tháp chúng tôi đã tiến hành điều tra số loài có mặt ở đây và đã xác định được 516 loài thực vật có mạch thuộc 335 chi, 110 họ, 63
bộ và 4 ngành: Dương xỉ (Polypodiophyta), Tuế (Cycadophyta), Thông (Pinophyta)
và Ngọc lan (Magnoliophyta) Trong đó có 491 loài đã xác định được tên khoa học,
25 loài chưa định loại được tên loài do thiếu dẫn liệu và đây là các loài lai tạo, nhân giống, loài mới phát sinh trong thiên nhiên.(bảng 3.3)
Gi ải thích các ký hiệu được sử dụng trong bảng 3.3:
* Mô t ả dạng sống (kết quả trình bày ở cột (4) bảng 3.3):
Gồm những cây gỗ hay dây leo,cây bì sinh,
ký sinh và nửa ký sinh có chồi nằm cách mặt đất từ 25cm trở lên, được chia thành 9 dạng: Cây chồi trên lớn
Trang 30Cây ký sinh hay nửa ký
sinh (Parasit-hemiparasit
phanerophytes)
Pp Gồm những loài cây sống ký sinh hay nửa
ký sinh trên các cây gỗ
Cây chồi trên mọng nước
(Succelent
phanerophytes)
Sp
Gồm những cây chồi trên thân thảo, không
có chất gỗ và tích nhiều chất dinh dưỡng trong thân, lá (mọng nước)
Cây chồi trên dây leo
(Lianas phanerophytes) Lp
Gồm những cây thân thảo hoặc thân gỗ nhưng phải dựa vào những cây khác hoặc giá thể cứng để leo, dựa vào để vươn lên Cây chồi trên thân thảo
(Herb phanerophytes) Hp
Là các loài cây chồi trên sống nhiều năm, thân không có chất gỗ, trong mùa bất lợi với sinh trưởng chúng vẫn không bị tàn héo
* V ề công dụng (kết quả trình bày ở cột (5) bảng 3-3):
B ảng 3.2 Giá trị sử dụng của thực vật có mạch ở Khu di tích Gò Tháp [9], [12], [22], [38]
1
Cây làm thu ốc
Cây có giá trị trong việc chữa trị các bệnh, bồi bổ sức
khỏe theo y học cổ truyền hoặc hiện đại
M (Medicine)
2 Cây cho g ỗ
Cây cho gỗ có giá trị thương phẩm hoặc gia dụng
T (Timber)
Trang 31Cây được sử dụng một phần để ăn (rau, củ, quả, lương
5
Cây cho tanin, nh ựa, nhuộm
Tanin, chất nhựa, chất nhuộm có trong một bộ phận hay
toàn cây
Ta (Tannin)
6
Cây cho tinh d ầu
Lá, vỏ thân, vỏ quả, hoa, hạt, quả… chứa tinh dầu được
chiết xuất để sử dụng trong y học, công nghiệp…
Eo (Essential oil)
7
Cây cho s ợi
Các bộ phận của cây có thể làm dây buộc, lấy sợi, đan
lát, làm đồ thủ công mỹ nghệ…
Fb (Fibre)
8
Cây cho d ầu béo
Dầu béo được chiết xuất từ hạt, quả có thể được sử
dụng như dầu thực vật thông thường
Oil (Oil)
9
Cây có công d ụng khác
Cây có công dụng khác như làm phân xanh, cải tạo đất,
giá thể trồng cây, làm củi, làm thức ăn cho gia súc…
U (Usedfull)
(Medicine poison)
* V ề độ thường gặp (kết quả trình bày ở cột (6) bảng 3-3) [35]:
+++ : Loài phổ biến (thường gặp) : C > 50%
++ : Loài khá phổ biến (ít gặp) : C = 25% - 50%
+ : Loài ngẫu nhiên (rất ít gặp) : C < 25%
* V ề giá trị bảo tồn (kết quả trình bày ở cột (7) bảng 3-3) [4], [13], [19], [42]:
IIA-NĐ32: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP
CR-SĐVN: Rất nguy cấp theo Sách đỏ Việt Nam (2007)
VU-SĐVN: Sẽ nguy cấp theo Sách đỏ Việt Nam (2007)
CR-IUCN: Rất nguy cấp theo Sách đỏ IUCN (2018)
EN-IUCN: Nguy cấp theo Sách đỏ IUCN (2018)
VU-IUCN: Sẽ nguy cấp theo Sách đỏ IUCN (2018)
Trang 32LR-IUCN: Ít nguy cấp theo Sách đỏ IUCN (2018)
LC-IUCN: Ít lo ngại theo Sách đỏ IUCN (2018)
5 Acrostichum aureum L Ráng đại Hm M, Or ++ LC-IUCN
6 Pteris vittata (L.) Small Ráng seo gà Hm +
Trang 335 Salviniales B ộ Bèo ong
9 Salvinia cucullata Roxb Bèo ong Cr M, U ++
12 Annona glabra L Bình bát Mi Ed, M, U +++
13 Annona muricata L Mãng cầu
15 Annona squamosa L Mãng cầu ta Mi Ed, M +
16 Cananga odorata (Lam.)
2 Ceratophyllales Bộ Rong đuôi chó
2.1 Ceratophyllaceae H ọ Rong đuôi chó
17 Ceratophyllum demersum
L
Rong đuôi
Trang 3418 Cassytha filiformis L Dây tơ xanh Pp M ++
23 Piper lolot C DC* Lá lốt Ch Ed, M ++
24 Houttuynia cordata
I-2 Ranunculidae Phân l ớp Mao lương
25 Tiliacora triandra Diels* Sương sâm Lp Ed, M +
28 Nelumbo nucifera Gaertn
I-3 Hamamelididae Phân l ớp Sau sau
Trang 35I-4 Caryophyllidae Phân l ớp Cẩm chướng
37 Amaranthus lividus L Dền cơm Th Ed, M +++
38 Amaranthus viridis L Dền đất Th Ed, M ++
39 Celosia argentea L Mào gà trắng Th Ed, M ++
40 Celosia argentea var
cristata (L.) Kuntze* Mào gà đỏ Ch Or, M +
43 Basella alba L.* Mồng tơi Sp Ed, M +
44 Boerhavia diffusa L Nam sâm bò Hp M ++
45 Boerhavia erecta L Nam sâm
Trang 3650 Portulaca grandiflora
51 Portulaca oleracea L Rau sam Sp Ed, M +
52 Portulaca sp.* Mười giờ Thái Sp Or +
53 Talinum fruticosum (L.)
A Juss Willd.*
Sâm đất
54 Plumbago indica L.* Xích hoa xà,
55 Plumbago zeylanica L.* Bạch hoa xà Na M, Mp +
56 Antigonon leptopus Hook
57 Persicaria chinensis (L.)
H Gross*
Thồm lồm,
58 Persicaria odorata (Lour.)
Trang 37I-5 Dilleniidae Phân l ớp Sổ
69 Luffa acutangula (L.)
70 Begonia cucullata Willd.* Thu hải
Trang 3872 Acalypha indica L Tai tượng
80 Euphorbia hypericifolia L Cỏ sữa lá ban Th M ++
81 Euphorbia milii Ch des
84 Excoecaria
cochinchinensis Lour.*
Đơn lá đỏ, Đơn mặt trời Na Or, M +
89 Melanolepis vitifolia Cánh diều, Mi M +
Trang 39(Kuntze) Gagnep.* Lá cám
90 Ricinus communis L Thầu dầu Mi M, Oil,
6.2 Phyllanthaceae H ọ Diệp hạ châu
91 Antidesma acidum Retz Chòi mòi Mi M, U ++
Trang 40109 Helicteres hirsuta Lour.* Tổ kén, Dó,
110 Hibiscus rosa - sinensis