1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp sửa lỗi liên kết câu trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5 huyện cái bè, tiền giang theo định hướng phát triển năng lực

140 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để viết được một bài văn hay, đặc biệt là bài văn miêu tả, bên cạnh việc học sinh phải khéo léo trong cách lựa chọn từ ngữ, cách dùng từ, cách viết câu, cách diễn đạt, sử dụng kết hợp c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

TRỊNH THỊ THÚY QUYÊN

BIỆN PHÁP SỬA LỖI LIÊN KẾT CÂU TRONG DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5 HUYỆN CÁI BÈ, TIỀN GIANG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

Mã số: 8.14.01.01

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ĐỨC HÙNG

ĐỒNG THÁP - NĂM 2019

Trang 2

i

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được nhiều sự hỗ trợ, động viên, khuyến khích của các cấp lãnh đạo, các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lời cám ơn đến TS Trần Đức Hùng người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng chân thành gửi lời cảm ơn đến:

- Ban giám hiệu, các thầy cô giảng viên khoa Giáo dục của Trường Đại học Đồng Tháp

- Lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục tiểu học, Sở Giáo dục và Đào tạo huyện Cái Bè và Ban giám hiệu cùng giáo viên các trường Tiểu học trong huyện

Đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn

Với sự hạn chế về thời gian nghiên cứu, chắc chắn bản luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Đồng Tháp, ngày 29 tháng 9 năm 2019

Tác giả luận văn

Trịnh Thị Thúy Quyên

Trang 3

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Đồng Tháp, ngày 29 tháng 9 năm 2019

Tác giả luận văn

Trịnh Thị Thúy Quyên

Trang 4

1

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài .7

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu .8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu .13

6 Đóng góp của luận văn .14

7 Cấu trúc của luận văn .14

Nội dung Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn .15

1.1 Cơ sở lí luận .15

1.1.1 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 15

1.1.2 Văn miêu tả và việc dạy học văn miêu tả ở lớp 5 .18

1.1.3 Liên kết câu và việc dạy liên kết câu cho học sinh lớp 5 .24

1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của học sinh lớp 5 trong việc dạy học vấn đề về liên kết câu 37

1.2 Cơ sở thực tiễn 40

1.2.1 Các dạng bài văn miêu tả có sử dụng phép liên kết câu ở lớp 5 40

1.2.2 Thực trạng của việc dạy và học phép liên kết câu trong văn miêu tả ở huyện Cái Bè, Tiền Giang .41

1.2.3 Một số lỗi học sinh lớp 5 thường mắc phải khi sử dụng phép liên kết câu ở huyện Cái Bè, Tiền Giang 47

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc dạy và học liên kết câu trong văn miêu tả 53

Tiểu kết chương 1 54

Trang 5

2

Chương 2 Biện pháp sửa lỗi liên kết câu trong dạy học văn miêu tả

theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh lớp 5 .56

2.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp sửa lỗi liên kết câu cho học sinh lớp 5 .56

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 56

2.1.2 Nguyên tắc phù hợp với thực tiễn, đảm bảo tính vừa sức 56

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, đa dạng, phong phú .57

2.1.4 Nguyên tắc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh 57

2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả, khả thi .58

2.2 Các biện pháp sửa lỗi liên kết câu trong dạy học văn miêu tả lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực 59

2.2.1 Nhận diện các phép liên kết câu trong bài văn miêu tả 59

2.2.2 Hướng dẫn học sinh tự phát hiện lỗi sai và sửa lỗi liên kết câu trong bài viết .64

2.2.3 Phối hợp các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực 72

2.2.4 Xây dựng hệ thống bài tập luyện thực hành liên kết câu .85

Tiểu kết chương 2 98

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm .99

3.1 Mục đích thực nghiệm .99

3.2 Nội dung thực nghiệm .99

3.3 Đối tượng thực nghiệm 109

3.4 Địa bàn thực nghiệm 109

3.5 Phương pháp thực nghiệm 109

3.6 Tổ chức thực nghiệm 109

3.6.1 Quy trình thực nghiệm 109

3.6.2 Các tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 110

3.7 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm 111

3.7.1 Đánh giá kết quả lĩnh hội tri thức của học sinh về việc vận dụng liên kết câu vào bài văn miêu tả 111

Trang 6

3

3.7.2 Đánh giá kết quả khả năng khắc phục lỗi của học sinh 113

3.7.3 Đánh giá mức độ hứng thú học tập của học sinh về các biện pháp sửa lỗi liên kết câu 115

Tiểu kết chương 3 117

KẾT LUẬN 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

DANH MỤC BÀI VIẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 124 PHỤ LỤC

Trang 8

5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Các bài học về liên kết câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 36

Bảng 1.2 Phép liên kết câu được vận dụng trong chương trình Tập làm văn lớp 5 .37

Bảng 1.3 Các dạng bài văn miêu tả trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 .40

Bảng 1.4 Địa điểm, số lượng giáo viên tham gia khảo sát 42

Bảng 1.5 Khả năng sử dụng các phép liên kết câu vào bài văn miêu tả của học sinh .43

Bảng 1.6 Năng lực nhận biết các phép liên kết câu của học sinh 46

Bảng 1.7 Năng lực sử dụng các phép liên kết câu vào viết văn miêu tả 46

Bảng 1.8 Một số lỗi học sinh thường mắc phải về các phép liên kết câu .47

Bảng 3.1 Các lớp thực nghiệm và đối chứng 109

Bảng 3.2 Kết quả lĩnh hội tri thức của học sinh về các phép liên kết câu trong bài học 111

Bảng 3.3 Tỉ lệ % kết quả thực nghiệm của các lớp thực nghiệm so với lớp đối chứng 112

Bảng 3.4 Kết quả kĩ năng khắc phục lỗi và kĩ năng vận dụng các phép liên kết câu vào viết văn miêu tả của học sinh 114

Bảng 3.5 Tỉ lệ % kết quả của các lớp đối chứng so với lớp thực nghiệm về kĩ năng khắc phục lỗi và kĩ năng vận dụng các phép liên kết vào viết văn miêu tả của học sinh 114

Bảng 3.6 Mức độ hứng thú học tập của học sinh về các biện pháp sửa lỗi liên kết câu 116

Trang 9

liên kết câu 116

Trang 10

7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Phân môn Tập làm văn chính là rèn cho học sinh khả năng sản sinh ngôn

bản, giúp học sinh có những hiểu biết và có kĩ năng sáng tạo văn bản (nói, viết) theo nhiều loại phong cách khác nhau, góp phần bổ sung kiến thức, rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho học sinh Nó đóng vai trò đặc biệt quan trọng vì đây là phân môn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức, kĩ năng của các phân môn: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu Trong đó, bài văn miêu tả cũng đóng vai trò quan trọng không kém vì khi học văn miêu tả học sinh sẽ có thêm điều kiện để phát triển tư duy, tình cảm, năng lực quan sát, trí tưởng tượng, óc sáng tạo đặc biệt là khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ được hoàn thiện

1.2 Để viết được một bài văn hay, đặc biệt là bài văn miêu tả, bên cạnh việc

học sinh phải khéo léo trong cách lựa chọn từ ngữ, cách dùng từ, cách viết câu, cách diễn đạt, sử dụng kết hợp các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ,… thì việc sử dụng các phương tiện liên kết câu cũng đóng vai trò rất quan trọng Bởi vì, chúng được xem như cầu nối gắn kết các ý trong câu, gắn kết câu với câu, câu với đoạn văn, đoạn văn với đoạn văn lại với nhau nhằm tạo ra bài văn miêu tả sinh động, hấp dẫn, thu hút người đọc, người nghe Ngoài ra, việc giúp học sinh phát triển năng lực sử dụng các phương tiện liên kết câu trong bài văn miêu tả cũng góp phần đổi mới cách viết, tăng tính sáng tạo, mới mẻ cho bài văn

1.3 Qua thực tế tìm hiểu về cách sử dụng các phép liên kết câu vào các bài

văn miêu tả của học sinh lớp 5, Trường Tiểu học Tân Thanh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, chúng tôi nhận thấy kĩ năng sử dụng phép liên kết câu của các em còn hạn chế nên các đoạn văn, bài văn thường rời rạc chưa có sự gắn kết; hay các câu, các đoạn đứng cạnh nhau nhưng chỉ liên kết về hình thức còn nội dung thì không; chưa có năng lực nhận diện và sửa lỗi khi sử dụng phép liên kết trong bài viết không phù hợp Giáo viên chưa nêu rõ ràng các lỗi học sinh thường mắc phải cũng

Trang 11

8

như cách sửa lỗi về liên kết câu mà chỉ nhận xét một cách chung chung Vì vậy, việc đề ra các biện pháp sửa lỗi liên kết câu trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5 huyện Cái Bè, Tiền Giang theo định hướng phát triển năng lực là rất cần thiết

Nó không chỉ góp phần thay đổi cách nhìn nhận của giáo viên về tầm quan trọng của việc sử dụng các phép liên kết câu mà thông qua đó, học sinh sẽ tự nhận biết và tìm cách khắc phục lỗi sai của bản thân từ đó bài văn của các em sẽ hấp dẫn và sinh động hơn

Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu của luận

văn là “Biện pháp sửa lỗi liên kết câu trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp

5 huyện Cái Bè, Tiền Giang theo định hướng phát triển năng lực”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Những công trình nghiên cứu về liên kết trong văn bản

Cho đến thời điểm hiện tại thì việc nghiên cứu về tính liên kết trong văn bản

đã nhận được sự quan tâm từ nhiều nhà nghiên cứu như: Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban, Phan Mậu Cảnh, Lê Phương Nga, Nguyễn Thị Ly Kha, Nguyễn Thiện Giáp,

Trần Ngọc Thêm (1985) trong công trình nghiên cứu của mình về Hệ thống

liên kết văn bản tiếng Việt, tác giả đã đề cập đến vấn đề tính hệ thống liên kết của

văn bản trong Tiếng Việt Và đây cũng là cuốn sách đầu tiên của Việt Nam nghiên cứu về ngôn ngữ học văn bản, nó mở đường cho hàng loạt công trình nghiên cứu khác về ngôn ngữ học văn bản ở Việt Nam, nó thúc đẩy tích cực việc đưa môn ngữ pháp văn bản vào chương trình giảng dạy Tiếng Việt ở trường phổ thông cơ sở như

hiện nay Trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, tác giả đặc biệt quan tâm đến

vấn đề về tính liên kết, đơn vị liên kết và phương thức liên kết giữa các phát ngôn Không dừng lại ở đó, tác giả đã nêu lên được vai trò quan trọng của việc sử dụng tính liên kết trong văn bản, theo tác giả: “Tính liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu trở thành văn bản Tính liên kết có khả năng rất lớn Nó có thể làm cho một chuỗi câu không liên quan gì với nhau trở thành một

bộ phận của văn bản bằng cách thêm câu thứ n+1 cho nó Khi đó lập tức cả chuỗi

Trang 12

9

câu hỗn độn kia bỗng nhiên cựa quậy và trở nên một bộ phận hợp nhất của văn bản” [42; tr.19]

Diệp Quang Ban (2002) với Giao tiếp văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn,

tác giả cũng đã đề cập đến tính liên kết trong văn bản mà cụ thể là tác giả đã đề cập đến tên và phương thức liên kết trong Tiếng Việt Theo ông “Liên kết là thứ quan

hệ ngữ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, trên cơ sở đó, hai câu chứa chúng liên kết được với nhau” [6; tr.212] Tác giả đã đưa ra được năm phép liên kết chủ yếu đó là: phép quy chiếu, phép thê, phép tỉnh lược, phép nối và phép liên kết từ vựng và trong từng phép liên kết ấy lại bao hàm các phép liên kết nhỏ Tác giả đã đi sâu vào việc phân tích các phép liên kết mà cụ thể là ông đã diễn giải nội dung của từng phép liên kết một cách thật cụ thể, rõ ràng Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra các ví dụ minh họa giúp cho người học dễ hiểu và vận dụng các phép liên kết đạt hiệu quả

Phan Mậu Cảnh (2008) trong công trình nghiên cứu về Lý thuyết và thực

hành văn bản tiếng Việt [11], tác giả đã dành sự quan tâm đặc biệt đến những vấn

đề liên quan đến văn bản Nội dung của giáo trình xoay quanh hai trục chính: Thứ nhất là cung cấp một số tri thức cơ bản về mặt lí thuyết văn bản và thứ hai là coi trọng việc thực hành kĩ năng phân tích và tạo lập văn bản Ngoài ra, tác giả cũng đã

đề cập và đi sâu vào đặc trưng về tính liên kết trên hai phương diện là liên kết nội dung và liên kết hình thức

Nguyễn Thị Ly Kha (2015) trong Ngữ pháp tiếng Việt cũng đã nhấn mạnh

vai trò của liên kết “Liên kết là điều kiện quan trọng không thể thiếu để chuỗi câu trở thành văn bản” [18; tr.265] Cũng giống như Phan Mậu Cảnh, tác giả Nguyễn Thị Ly Kha cũng đã chỉ rõ các phương diện liên kết bao gồm liên kết nội dung và liên kết hình thức Ngoài ra còn có các kiểu liên kết là liên kết tiếp giáp và liên kết bắc cầu Tác giả còn dành sự ưu ái đặc biệt đến vấn đề liên kết câu, tác giả đã chỉ ra cho người đọc thấy để liên kết câu thì cần phải có các phương tiện liên kết đó là ngữ

âm, từ vựng và ngữ pháp Bên cạnh đó cũng không thể bỏ qua một nhân tố quan trọng khác đó là các phương thức liên kết: Phương thức lặp, phương thức thế,

Trang 13

Nguyễn Trí (1999) trong Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu

học [47] đã nói lên tầm quan trọng của việc dạy học văn miêu tả trong trường Tiểu

học Ông còn nêu rõ đặc điểm của văn miêu tả cũng như phân loại các kiểu bài văn miêu tả ở Tiểu học Và mỗi kiểu bài văn miêu tả thì sẽ có những nét đặc trưng riêng nên tác giả cũng đã chỉ ra được các phương pháp dạy văn miêu tả phù hợp với từng kiểu bài để mang lại hiệu quả cao

Trần Mạnh Hưởng (chủ biên, 2006) với công trình Hướng dẫn dạy tập làm

văn lớp 5 phù hợp với trình độ học sinh [14] căn cứ vào trình độ, sự hiểu biết cũng

như điều kiện học tập của từng đối tượng học sinh mà tác giả đã đưa ra cách thức hướng dẫn phù hợp Đối với học sinh yếu, kém thì các tác giả đưa ra cách hướng dẫn bằng những câu hỏi gợi ý, thay đổi cách diễn đạt của câu hỏi hoặc chia nhỏ câu hỏi (giảm độ khó) hoặc sử dụng phiếu bài tập có cung cấp một phần đáp án để các

em lựa chọn Còn học sinh khá, giỏi thì chỉ đưa ra câu hỏi bổ trợ, hình thức tổ chức làm bài tập đòi hỏi tính độc lập và sáng tạo

Lê Anh Xuân (2006) với công trình nghiên cứu về việc Rèn kĩ năng Tập làm

văn cho học sinh lớp 5 theo chương trình tiểu học mới [51] đã xoay quanh vấn đề

rèn luyện kĩ năng làm các kểu bài văn miêu tả như: tả cảnh, tả người, tả cây cối, tả

đồ vật, tả con vật thông qua các yêu cầu là tìm hiểu bài, lập dàn ý, dựng đoạn mở bài, kết bài, viết đoạn văn, viết bài văn Ngoài ra, tác giả còn nêu ra cách hướng dẫn tìm hiểu các bài văn, hướng dẫn cách làm và thực hành viết các đề văn trong sách giáo khoa theo thứ tự từng tuần, từng bài cụ thể

Trang 14

11

Đặng Mạnh Thường (2008) trong Luyện Tập làm văn 5 [44] đã đề cập đến

cách dạy và học cho từng bài tập làm văn theo từng tuần cụ thể Bên cạnh đó, tác giả còn nêu ra cách thức hướng dẫn học sinh làm từng bài tập trong sách giáo khoa một cách cụ thể, rõ ràng Tác giả còn cung cấp một số đoạn văn, bài văn liên quan đến từng loại bài bài để học sinh có thể dựa vào đó mà suy nghĩ và sáng tạo ra các đoạn văn, bài văn hấp dẫn, sinh động

Nguyễn Thị Ly Kha (2014) với Ngữ pháp văn bản và luyện tập làm văn [17],

thay vì tác giả tách bạch từng nội dung như là: 1 Ngữ pháp văn bản; 2 Ứng dụng của văn bản trong luyện tập làm văn Tác giả lại sắp xếp theo thứ tự các mục là Giản yếu về ngữ pháp văn bản, Văn bản, Đoạn văn, Liên kết trong văn bản để người đọc dễ dàng nhận thấy sự kết hợp hoàn hảo giữa nội dung và ứng dụng nội dung vào thực tiễn: Văn bản và luyện viết các loại văn bản; Đoạn văn và luyện viết các loại đoạn văn; Liên kết trong văn bản và luyện tập liên kết câu, liên kết đoạn Qua các sắp xếp theo một trật tự khoa học và lôgic như thế, chúng ta dễ dàng nhận thấy tác giả đã đề cập đến liên kết văn bản và hướng dẫn cách luyện viết văn miêu tả khá chi tiết, nó là cơ sở để giáo viên biết cách hướng dẫn học sinh viết câu, đoạn có sử dụng các phép liên kết

Lã Thị Bắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân, Nguyễn Thị Thu Nga (2015) với công

trình nghiên cứu Giáo trình tiếng Việt và tiếng Việt thực hành đã nêu lên tầm quan

trọng của câu trong văn bản “Câu là đơn vị cấu tạo nên văn bản Trong văn bản, các câu không thể ở tình trạng cô lập, rời rạc mà luôn luôn cần liên kết với nhau Nếu từng câu đúng về ngữ pháp, ngữ nghĩa và cả dấu câu nhưng các câu không liên kết với nhau thì văn bản tạo ra không có ý nghĩa” [21; tr.116] Sau đó, các tác giả đã chỉ

ra các lỗi về câu mà học sinh thường hay mắc phải, đồng thời cũng đã xây dựng cho học sinh hệ thống bài tập về phân tích cấu tạo ngữ pháp của các câu và các bài tập

về phát hiện và chữa lỗi câu sai thành câu đúng

Gần đây, Quách Ngọc Phú (2016) trong luận văn thạc sĩ Xây dựng hệ thống

bài tập rèn kĩ năng liên kết câu, liên kết đoạn trong dạy học tập làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 và 5 [32], tác giả đã xây dựng thành công hệ thống bài tập về

Trang 15

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất biện pháp sửa lỗi liên kết câu trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu lí thuyết về liên kết câu làm cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu

- Tìm hiểu nội dung dạy học về liên kết câu và thực trạng của việc dạy học các vấn đề liên kết câu ở lớp 5

- Đề xuất biện pháp sửa lỗi trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả khi của vấn đề nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biện pháp sửa lỗi liên kết câu trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5 huyện Cái Bè, Tiền Giang theo định hướng phát triển năng lực

Trang 16

13

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp sửa lỗi liên kết câu trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực và thực nghiệm sư phạm ở Trường Tiểu học Tân Thanh, A Thị Trấn Cái Bè, Ngô Văn Nhạc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ trên, đề tài sử dụng các phương pháp như sau:

5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Sử dụng phương pháp này để nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa Tiếng việt lớp 5; tài liệu bồi dưỡng giáo viên, các tài liệu khác có liên quan; các công trình nghiên cứu khoa học; để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài

5.2 Phương pháp quan sát

Nghiên cứu bài viết của học sinh, dự giờ một số tiết dạy của các giáo viên khác nhằm tìm hiểu tình hình vận dụng các phép liên kết câu của học sinh và cách hướng dẫn học sinh sửa lỗi liên kết câu trong các bài văn miêu tả lớp 5

5.3 Phương pháp phỏng vấn

Sử dụng phương pháp này để phỏng vấn giáo viên và học sinh nhằm nắm bắt tình hình thực tế về việc vận dụng cũng như cách sửa lỗi liên kết câu trong quá trình dạy và học các bài văn miêu tả lớp 5

5.4 Phương pháp điều tra, khảo sát

Thông qua phiếu khảo sát giáo viên về việc dạy phép liên kết câu trong văn miêu tả lớp 5 để biết được trình độ nhận thức và tình hình dạy học về liên kết câu ở trường tiểu học hiện nay như thế nào Nghiên cứu các bài viết thực hành của học sinh nhằm tạo cơ sở cho việc phát hiện các lỗi về liên kết câu để đề xuất các biện pháp sửa lỗi sao cho phù hợp và mang tính thiết thực cao

5.5 Phương pháp phân tích, thống kê

Sử dụng phương pháp này để tổng hợp các số liệu điều tra, khảo sát và rút ra nhận xét làm cơ sở cho phần đánh giá kết quả khảo sát

Trang 17

14

5.6 Phương pháp thực nghiệm

Tiến hành dạy thực nghiệm ở các lớp, rút ra nhận xét, kiểm chứng kết quả nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

- Đề tài sẽ giúp cho giáo viên nâng cao chất lượng dạy học, có một cách dạy tốt hơn và đạt hiệu quả cao

- Giúp học sinh phát triển kĩ năng viết văn miêu tả có sử dụng các phép liên kết một cách khoa học và hợp lí

- Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh ở các trường tiểu học

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính

của luận văn bao gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Biện pháp sửa lỗi liên kết câu trong dạy học văn miêu tả theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh lớp 5

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

Chương trình Giáo dục Trung học bang Québec, Canada năm 2004 xem NL

là “một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực”

Tài liệu hội thảo chương trình (CT) giáo dục phổ thông tổng thể trong CT giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp NL vào phạm trù hoạt động và giải thích: “NL là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”

Từ điển Bách khoa Việt Nam: “NL là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó”

Nhìn chung, những nhận định trên đây đều bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm chủ quan của người viết Nhưng tất cả chúng ta cũng phải thừa nhận rằng NL chỉ được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế và giải quyết chúng một cách hiệu cao

Từ những nhận định trên, chúng tôi khái quát như sau: Năng lực là sự tổ hợp những thuộc tính tâm lí độc đáo của mỗi cá nhân nhằm giải quyết cách tình huống

có vấn đề, đáp ứng được những yêu cầu của một hoạt động nhất định và đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả cao

b Đặc trưng và cấu trúc của năng lực

- Đặc trưng

Trang 19

- Cấu trúc của năng lực có thể phân thành 2 loại sau:

+ NL chung: Là NL cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội như: Khả năng hành động độc lập thành công; khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức; khả năng hành động thành công các nhóm xã hội không đồng nhất

+ NL chuyên biệt: Là NL được hình thành và phát triển thông qua một lĩnh vực, môn học cụ thể nào đó

1.1.1.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực (ĐHPTNL) không phải chỉ chú

ý tích cực hoá học sinh (HS) về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện NL giải quyết vấn đề gắn với những tình huống xảy ra trong cuộc sống hằng ngày, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ thầy – trò theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển NL xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển NL giải quyết các vấn đề phức hợp khác

Khác với CT định hướng nội dung, CT dạy học theo ĐHPTNL tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lí chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS

Trang 20

Ở chương trình mới thì giáo viên chủ yếu là người tổ chức, định hướng các nhiệm

vụ học tập cho học sinh, hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức một cách khắc sâu nhất Chú trọng vào khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp, khả năng thể hiện bản thân, năng khiếu trước mọi người, ; Chú trọng vào việc sử dụng các quan điểm và phương pháp dạy học tích cực, thí nghiệm, thực hành và nhất là phương pháp trải nghiệm

- Về hình thức

Chương trình cũ chủ yếu dạy học lí thuyết trên lớp cho học sinh thông qua lời giảng của giáo viên và lấy giáo viên làm trung tâm của quá trình dạy học Còn ở chương trình phát triển năng lực người học thì hình thức tổ chức học tập đa dạng, chú ý đến các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo nhằm chiếm lấy tri thức và rèn luyện kĩ năng sống của bản thân; Một phần đối với người giáo viên cần đạt ở chương tình này là trình độ công nghệ thông tin trong việc dạy học và cả trong việc tuyên truyền trực quan truyền thông

- Về đánh giá kết quả người học

Phần quan trọng nhất trong quá trình học tập của mỗi học sinh chính là phần đánh giá kết quả Việc gì cũng vậy, mọi người khi đánh giá một em học sinh có tốt

Trang 21

18

hay không đều nhìn vào kết quả Nếu ở chương trình cũ học sinh được đánh giá ở các bài thi cuối năm để đánh giá toàn bộ quá trình học tập thì ngày nay sự đánh giá được tính trên cả quá trình học tập và rèn luyện của người học Chú trọng hơn về khả năng giải quyết tình huống thực tiễn dựa vào kiến thức đã học

1.1.2 Văn miêu tả và việc dạy học văn miêu tả ở lớp 5

1.1.2.1 Văn miêu tả

a Khái niệm

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Miêu tả là dùng một phương tiện ngôn ngữ hoặc dùng một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người” [31; tr.91]

Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được đối tượng ấy” [TV4-T1, tr.140]

Văn miêu tả đã vẽ ra những bức tranh thật đầy màu sắc bởi ngôn ngữ sinh động

và cụ thể khiến cho người đọc, người nghe tưởng như những hình ảnh về con người, sự vật, sự việc đang hiện hữu trước mắt mình Tuy nhiên, những hình ảnh về cánh đồng, dòng sông, một con vật… do văn miêu tả tạo nên không phải là bức ảnh chụp lại, sao chép lại một cách vụng về Mà nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát cuộc sống thực tế

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: Miêu tả là việc sử dụng ngôn ngữ văn chương sinh động, giàu hình ảnh, làm hiện ra trước mắt người đọc, người nghe một bức tranh cụ thể về một đối tượng (đồ vật, cây cối, con người…) nào đó, đã làm cho chúng ta chú ý, ấn tượng và cảm xúc sâu sắc về nó

b Đặc điểm của văn miêu tả

b.1 Văn miêu tả mang tính thông báo, thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết

Văn miêu tả là một loại văn giàu sự sáng tạo, đặc biệt là sự dồi dào về hình ảnh và cảm xúc Cùng một đối tượng quan sát nhưng giữa hai người sẽ có sự nhìn nhận, cách cảm nhận, ý nghĩ và cảm xúc khác nhau Vì vậy, văn miêu tả sẽ mang đậm dấu ấn cá nhân, cảm xúc chủ quan của người viết Không có một bài văn miêu

Trang 22

19

tả nào được viết ra với một mục đích là miêu tả đơn thuần mà đó là sự nhìn nhận một cách tỉ mỉ để đưa ra những nhận định vô cùng tinh tế về sự vật, hiện tượng Và thông qua những nhận định ấy, chúng ta có thể cảm nhận được những tình cảm, cảm xúc, những thông điệp ý nghĩa và vô cùng cao đẹp mà tác giả muốn gửi gắm đến cho người nghe, người đọc

Ví dụ: Cuộc sống quê tôi gắn bó với cây cọ Cha làm cho tôi chiếc chổi cọ để

quét nhà, quét sân Mẹ đựng hạt giống đầy móm lá cọ, treo lên gác bếp để gieo cấy mùa sau Chị tôi đan nón lá cọ, lại biết đan cả mành cọ và làn cọ xuất khẩu Chiều chiều chăn trâu, chúng tôi rủ nhau đi nhặt những trái cọ rơi đầy quanh gốc về om,

ăn vừa béo vừa bùi Quê tôi có câu hát: “Dù ai đi ngược về xuôi, Cơm nắm lá cọ là người sông Thao” Người sông Thao đi đâu rồi cũng nhớ về rừng cọ quê mình

(Trích Rừng cọ quê tôi - Nguyễn Thái Vận) Văn miêu tả không chỉ có mục đích thông báo mà còn mang trong mình tính thẩm mĩ rất cao Thẩm mĩ ở đây không đơn giản chỉ là nói về cái đẹp bản chất bên ngoài của đối tượng được miêu tả mà nó còn hướng cho người đọc có cái nhìn đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống Đó là sự hòa mình vào thiên nhiên, hòa mình vào cộng đồng, phải biết hướng tới những suy nghĩ lạc quan, tích cực Từ đó, mọi người sẽ luôn vui vẻ và thêm yêu cuộc sống xung quanh nhiều hơn

Ví dụ: Từ làng, Thủy đi tắt qua đồng để ra bến tàu điện Sớm đầu thu mát

lạnh Giữa những đám mây xám đục, vòm trời hiện ra như những khoảng vực xanh vòi vọi Một vài giọt mưa loáng thoáng rơi trên chiếc khăn quàng đỏ và mái tóc xõa ngang vai của Thủy; những sợi cỏ đẫm nước lùa vào dép Thủy làm bàn chân nhỏ bé của em ướt lạnh Người trong làng gánh lên phố những gánh rau thơm, những bẹ cải sớm và những bó hoa huệ trắng muốt Bầy sáo cánh đen mỏ vàng chấp chới liệng trên cánh đồng lúa mùa thu đang kết đòng Mặt trời đã mọc trên những ngọn cây xanh tươi của thành phố

(Theo Lưu Quang Vũ, TV5 – T1, tr.14) b.2 Văn miêu tả mang tính sinh động, tạo hình

Trang 23

20

Tính sinh động, tạo hình là đặc điểm quan trọng của văn miêu tả Vì miêu tả

là cả một nghệ thuật, nó không quá tỉ mỉ hay cầu kì mà là sự tinh tế trong cách diễn đạt, cách dùng từ Miêu tả nhưng không có nghĩa là tả càng nhiều càng tốt, tả một cách dài dòng mà nó phải là sự quan sát, tìm hiểu thật chính xác, nắm cho được cái hồn, cái dáng vẻ đặc biệt của từng đối tượng (con người, cây cối, cảnh vật,…) định

tả, rồi dùng ngôn ngữ của cá nhân để vẽ và tô điểm thêm cho nó để nó hiện lên thật sinh động và hấp dẫn trước mắt người đọc, người nghe, gợi cho người ta có cùng suy nghĩ, cảm nhận với mình

Ví dụ: Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại Nắng nhạt ngả màu vàng

hoe Trong vườn, lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng Từng chiếc lá mít vàng ối Tàu đu đủ, chiếc lá sắn héo lại mở năm cánh vàng tươi Buồng chuối đốm quả chín vàng Những tàu lá chuối vàng ối xõa xuống như những đuôi áo, vạt áo Nắng vườn chuối đương có gió lẫn với lá vàng như những vạt áo nắng, đuôi áo nắng, vẫy vẫy Bụi mía vàng xọng, đốt ngầu phấn trắng Dưới sân, rơm và thóc vàng giòn Quanh đó, con gà, con chó cũng vàng mượt Mái nhà phủ một màu rơm vàng mới Lác đác cây lụi có mấy chiếc lá đỏ Qua khe giậu, ló ra mấy quả ớt đỏ chói Tất cả đượm một màu vàng trù phú, đầm ấm lạ lùng

(TV5 – T1, tr.10) Một bài văn được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, cây cối, con người,… miêu tả trong đó hiện lên qua từng câu chữ, từng dòng như trong cuộc sống thực, tưởng như có thể cầm nắm, nhìn thấy được, thậm chí là chạm tay vào được

Ví dụ: Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm Gió đưa hương thơm ngát như

hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn Hoa đậu từng chùm, màu tím ngát Cánh hoa như vảy cá, hao hao giống cánh sen con, lác đác vài nhụy li ti giữa những cánh hoa Mỗi cuống hoa ra một trái Nhìn trái sầu riêng lủng lẳng dưới cành trông giống những tổ kiến Mùa trái rộ vào dạo tháng tư, tháng năm ta

(TV4 – T2, tr.34)

Trang 24

21

Sự sinh động, tạo hình trong văn miêu tả còn thể hiện ở cái mới, cái riêng trong mỗi tác phẩm, nó giúp cho tác giả làm nên một phong cách riêng, bản chất riêng không thể nhầm lẫn với bất kì ai

Ví dụ: Khi cùng nhìn lên một bầu trời đầy sao nhưng cách miêu tả của các nhà văn lại khác nhau hoàn toàn:

Huy – gô miêu tả: Nó như một cánh đồng lúa chín, ở đó người gặt bỏ quên

lại một cái liềm con là vành trăng non

Ga – ga – rin thì tả: Là những hạt thóc giống mới mà loài người vừa gieo vào

vũ trụ

Mai – a – cốp – xki lại cho rằng: Những ngôi sao kia như giọt nước mắt của

người da đen

b.3 Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh

Để viết được một bài văn miêu tả hay, người ta thường chú ý vào cách sử dụng ngôn ngữ miêu tả Vì chỉ có ngôn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn tả cảm xúc của người viết một cách chân thực, vẽ được sinh động, tạo hình cho đối tượng miêu tả Do đó, ngôn ngữ miêu tả bao giờ cũng là sự phong phú và đa dạng của các động từ, các tính từ chỉ màu sắc, chỉ tính chất,…có tác dụng gợi tả, gợi cảm, đan xen vào nhau tạo thành một chùm sáng lung linh trong văn miêu tả Bên cạnh đó, các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ,…cũng được sử dụng thường xuyên trong các bài văn miêu tả, làm tăng thêm sức sống, sự sinh động, hấp dẫn cho bài văn Vì vậy, ngôn ngữ miêu tả luôn tỏa sáng trong lòng người đọc, nó gợi lên trong lòng họ những cảm xúc, tình cảm, những ấn tượng, từ đó họ như được cảm nhận trực tiếp cảnh vât, hình ảnh đang diễn ra trước mắt mình

Ví dụ: Đó là một buổi chiều mùa hạ có mây trắng xô đuổi nhau trên cao

Nền trời xanh vời vợi Con chim sơn ca cất lên tiếng hót tự do, tha thiết đến nỗi khiến người ta phải ao ước giá mà mình có một đôi cánh Trải khắp cánh đồng là nắng chiều vàng dịu và thơm hơi đất, là gió đưa thoang thoảng hương lúa ngậm đòng và hương sen

(Theo Đỗ Chu, TV4 – T1, tr.102)

Trang 25

22

Có khi lại là một đoạn văn giàu cảm xúc, thể hiện tình cảm của tác giả đối với vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước Hoàng Phủ Ngọc Tường, tác giả của “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, chắc phải yêu quý và am hiểu dòng sông Hương lắm, ông mới có thể quan sát sự thay đổi về màu sắc của nó một cách tinh tường “sớm xanh, trưa vàng, chều tím”

Ví dụ: Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn,

vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản, để sắc nước trở nên xanh thắm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột khởi như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lưu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ

bé vừa bằng con thoi Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây – nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả

(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông, Hoàng Phủ Ngọc Tường) b.4 Văn miêu tả có tính chân thật

Một bài văn miêu tả muốn có thể dễ dàng chạm đến cảm xúc, cũng như đi sâu vào lòng người thì đòi hỏi bài văn ấy phải có tính chân thật Bởi lẽ, tính chân thật mới là công cụ hiệu quả nhất để người đọc có thể cảm nhận bài văn một cách tự nhiên và sâu sắc Tố Hữu từng viết: “Văn chương là sự sáng tạo, là tưởng tượng nhưng đừng có nói dối, đừng có bịa đặt những điều mình không nghĩ, không cảm thấy chân thật”

Muốn miêu tả đúng, miêu tả hay trước hết cần miêu tả chân thật Chân thật ở đây là chân thật trong quan sát và sự thể hiện những điều quan sát ấy, ngoài ra còn

là sự chân thật trong cách nghĩ, cách cảm của người viết

Ví dụ: Cà Mau là đất mưa dông Vào tháng ba, tháng tư, sớm nắng chiều

mưa Đang nắng đó, mưa đổ ngay xuống đó Mưa hối hả, không kịp chạy vào nhà Mưa rất phũ, một hồi rồi tạnh hẳn Trong mưa thường nổi cơn dông

Cà Mau đất xốp Mùa nắng, đất nẻ chân chim, nền nhà cũng rạn nứt Trên cái đất phập phều và lắm gió, dông như thế, cây đứng lẻ khó mà chống nổi với

Trang 26

23

những cơn thịnh nộ của trời Cây bình bát, cây bần cũng phải quây quần thành chòm, thành rặng; rễ phải dài, phải cắm sâu vào trong lòng đất Nhiều nhất là đước Đước mọc san sát đến tận mũi đất cuối cùng, thẳng đuột như hằng hà sa số cây dù xanh cắm trên bãi Nhà cửa dựng dọc theo những bờ kênh, dưới những hàng đước xanh rì Nhà nọ sang nhà kia phải leo lên cầu bằng thân cây đước…

(TV5 – T1, tr.90)

1.1.2.2 Việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5

Từ lớp 2, HS đã bắt đầu làm quen với văn miêu tả theo cách đơn giản nhất là thông qua quan sát tranh để trả lời câu hỏi Vì vậy có thể nói, văn miêu tả rất gần gũi với HS Ở lớp 2 và 3, HS đã biết viết một đoạn văn miêu tả ngắn khoảng 5 đến

7 câu theo yêu cầu sẵn có Đến lớp 4, HS được tìm hiểu kĩ hơn về văn miêu tả, được học 1 tiết riêng về khái niệm miêu tả cũng như hiểu được vai trò của văn miêu tả Vì thế cho đến lớp 5 thì HS đã được trang bị kiến thức cần thiết về văn miêu tả, kĩ năng viết đoạn văn, bài văn miêu tả sẽ thành thạo và hiệu quả mang lại cao hơn Các kiến thức này thường được cung cấp qua các nội dung: Cấu tạo bài văn miêu tả (tả cảnh,

tả người,…), luyện tập quan sát, luyện tập lập dàn ý, xây dựng đoạn văn (mở bài, thân bài, kết bài), viết bài và trả bài viết và những nội dung này cứ được lặp đi lặp theo theo một khuôn mẫu sẵn có qua các bài: Tả cảnh, tả người, ôn tập tả đồ vật, ôn tập tả cây cối, ôn tập tả con vật

Trong chương trình tiểu học hiện hành, văn miêu tả lớp 5 được dạy theo hai kiểu bài: Hình thành kiến thức mới và Luyện tập thực hành

- Kiểu bài hình thành kiến thức mới có cấu tạo 3 phần: Nhận xét, ghi nhớ và luyện tập Phần nhận xét và phần luyện tập được xây dựng dưới dạng bài tập Các bài tập ở phần nhận xét sẽ giúp cho HS phân tích ngữ liệu để rút ra từng khái niệm hoặc quy tắc cần ghi nhớ Mỗi bài tập sẽ tương ứng với một bộ phận tri thức lý thuyết ở phần ghi nhớ Phần ghi nhớ là nội dung lý thuyết khái quát được rút ra từ phần nhận xét, những nội dung này sẽ được củng cố và mở rộng thêm ở phần luyện tập

Trang 27

24

- Kiểu bài luyện tập thực hành thường bao gồm một tổ hợp bài tập liên quan đến phần nội dung lý thuyết mà HS đã đúc kết được ở kiểu bài hình thành kiến thức mới Học sinh sẽ dựa vào nội dung ở phần ghi nhớ để vận dụng vào việc giải quyết các bài tập một cách hiệu quả nhất

Tùy thuộc hai kiểu bài khác nhau nhưng các bài tập của kiểu bài luyện tập thực hành và các bài tập ở mục luyện tập của kiểu bài hình thành kiến thức mới đều

có mục đích và hình thức giống nhau Chúng bao gồm 2 loại: Bài tập nhận diện và bài tập vận dụng

- Bài tập nhận diện không chỉ giúp HS củng cố các kiến thức lý thuyết đã được hình thành trong bài mà còn củng cố cả những kiến thức các em đã được học ở những tiết trước

- Bài tập vận dụng góp phần rèn luyện khả năng ứng dụng lý thuyết về các kiểu bài của văn miêu tả, ứng dụng để nói và viết các phần trong một bài văn miêu

tả theo nhiều cách khác nhau trước một đề bài, một gợi ý, một tình huống cụ thể

1.1.3 Liên kết câu và việc dạy liên kết câu cho học sinh lớp 5

1.1.3.1 Liên kết câu trong văn bản

a Khái niệm

Liên kết giữ vai trò rất quan trọng trong một văn bản, nó giúp các câu tưởng chừng như không liên quan thành có liên quan Chính nhờ sự liên kết này, các câu văn có thể hợp lại với nhau thành một thể thống nhất từ đó tạo ra các đoạn văn, bài văn sinh động, hấp dẫn Xung quanh vấn đề về liên kết văn bản thì có rất nhiều người nghiên cứu và đưa ra nhận định như sau:

Tác giả Lê A trong Giáo trình Tiếng Việt 3 đưa ra quan niệm: “Liên kết là mạng lưới các mối quan hệ trong nội bộ văn bản cũng như giữa văn bản với những yếu tố ngoài văn bản” [2; tr.167]

Nguyễn Thị Ly Kha khẳng định: “Liên kết trong văn bản là mạng lưới liên

hệ về logic và ngữ nghĩa giữa các đơn vị pháp tạo thành văn bản, là điều kiện để chuỗi câu trở thành văn bản ” [18; tr.265]

Trang 28

25

Từ các quan niệm trên đây, chúng tôi nhận định rằng: Liên kết là mạng lưới các mối quan hệ về nội dung và hình thức giữa các đơn vị cấu thành văn bản (câu, đoạn văn) đồng thời nó cũng gắn kết văn bản với các nhân tố nằm ngoài văn bản

b Các mặt liên kết câu trong văn bản

Văn bản là một tổ chức phức tạp gồm nhiều bình diện khác nhau Vì vậy, tính liên kết của các câu trong văn bản cũng được thể hiện trên nhiều mặt khác nhau nhưng nhìn chung có hai mặt liên kết đáng chú ý nhất là liên kết nội dung và liên kết hình thức

b.1 Liên kết nội dung

Văn bản là một tổ chức ngữ nghĩa Nội dung của văn bản là một khái niệm rộng bao gồm nhiều yếu tố tạo thành Nhờ vào cách sử dụng từ ngữ, cách lựa chọn hình ảnh, ý nghĩa, nội dung của từng từ, từng câu, từng đoạn văn mà người viết có thể gửi được toàn bộ tư tưởng của văn bản cũng như tâm tư, tình cảm của tác giả đến với bạn đọc Trong liên kết nội dung của văn bản có thể tách thành hai bộ phận nhỏ là liên kết chủ đề và liên kết logic

- Liên kết chủ đề

Chủ đề là vấn đề cơ bản, trọng tâm được người viết đặt ra và nêu lên nội dung cụ thể của văn bản Mỗi câu văn, mỗi đoạn văn đều mang trong mình một thông tin, chứa một thông báo riêng Vì thế, khi chúng ta tập hợp nội dung của các câu, các đoạn lại với nhau sẽ được nội dung của toàn bộ văn bản hay nói cách khác

là chủ đề của văn bản Tóm lại, chúng ta muốn tìm được chủ đề của văn bản thì cần trả lời câu hỏi: Nội dung cơ bản, cốt lõi của văn bản là gì? Chủ đề của văn bản chính là tư tưởng, là linh hồn của văn bản Chủ đề có thể rõ ràng, cụ thể và được nêu ra một cách tường minh trong văn bản

Vậy chủ đề là gì? Theo Từ điển văn học định nghĩa: “Chủ đề nói lên chiều sâu tư tưởng, khả năng nắm bắt những vấn đề của đời sống Cùng với tư tưởng chủ đạo tạo nên tầm vóc của tác phẩm” (tr.44)

Trang 29

26

Theo Trần Ngọc Thêm: “Liên kết chủ đề của văn bản chính là sự tổ chức những chủ đề và phần nêu của các phát ngôn” [42; tr.239] Tác giả Nguyễn Thị Ly Kha nhận định: “Liên kết chủ đề là liên kết giữa các mảng hiện thực được nói tới” [18; tr.266]

Để liên kết chủ đề trong văn bản có hai cách, đó là: Duy trì chủ đề và phát triển chủ đề

Duy trì chủ đề là các câu có những vật, việc nào đó đều xoay quanh một đối tượng chung để tạo nên một chuỗi đồng nhất Các phương tiện hình thức thể hiện duy trì chủ đề chủ đề gồm: Lặp từ vựng, thế (thế đồng nghĩa, thế đại từ), tỉnh lược (tỉnh lược yếu, tỉnh lược mạnh) Nhưng phương tiện liên kết thể hiện duy trì chủ đề

rõ nhất là phép liên tưởng và phép tuyến tính

Phát triển chủ đề là liên kết văn bản bằng cách đưa các câu có những vật, việc mới nào đó vào văn bản nhưng chúng có liên đến những vật, việc đã có ở trước

đó nhằm phát triển và mở rộng nội dung theo hướng sâu hơn hoặc rộng hơn Phương thức liên kết phát triển chủ đề phổ biến nhất là phép liên tưởng, phép đối ít gặp hơn

Tóm lại, chủ đề là một trong những phương diện nội dung quan trọng của một văn bản Nhìn vào tổng thể của văn bản chúng ta thấy bên cạnh việc phải duy trì chủ đề thì người viết còn phải đưa thêm những đối tượng mới, khác vào (phát triển chủ đề) nhằm làm rõ chủ đề, xoáy sâu vào chủ đề - sợi dây cốt lõi chính của toàn bộ văn bản Thông qua các phép liên kết mà người viết dễ dàng bộc lộ tư tưởng, tình cảm của mình và làm cho người đọc nhận thức được một thông tin, một vấn đề nhất định nào đó qua việc tiếp nhận văn bản

- Liên kết logic

Logic là sự hợp lý, đúng đắn, không mâu thuẫn với quy luật (khách quan) và nhận thức, tư duy của con người Vậy liên kết logic chính là sự tổ chức sắp xếp nội dung các thành tố sao cho chúng phù hợp với nhau, phù hợp với thực tế khách quan

Trang 30

Liên kết chủ đề và liên kết logic tuy đều thuộc phương diện nội dung của sự liên kết các câu trong văn bản, nhưng vẫn là hai khía cạnh khác nhau Do vậy, có thể có những văn bản chỉ có liên kết chủ đề mà thiếu liên kết logic

b.2 Liên kết hình thức

Liên kết hình thức là một phương diện quan trọng của liên kết, là sự hiện thực hóa của liên kết nội dung Vì vậy, hai phương diện liên kết này là căn cứ để xem xét một chuỗi câu nào đó có phải là văn bản hay không Vai trò của liên kết hình thức là thể hiện nội dung, thể hiện chủ đề của văn bản bằng phương tiện liên kết là các yếu tố ngôn ngữ và các phương tiện này đều được xét theo các mức độ khác nhau của hệ thống ngôn ngữ Hệ thống ngôn ngữ này bao gồm: Ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Lĩnh vực ngữ âm bao gồm sự lặp lại âm tiết, lặp lại vần, lặp lại

số lượng âm tiết hoặc nhịp điệu của các câu trong văn bản Lĩnh vực từ vựng có từ đồng nghĩa, gần nghĩa, từ đối nghĩa (trái nghĩa) hay những từ ngữ thay thế hoặc lặp lại ở những câu trước Lĩnh vực ngữ pháp là việc sử dụng các từ chuyên biểu thị các mối quan hệ (quan hệ từ), việc tỉnh lược các thành phần câu, sắp xếp các câu theo trật tự nhất định

Cách sử dụng các phương tiện liên kết cùng loại xét ở phương diện biểu hiện được gọi là phép liên kết hoặc phương thức liên kết Các đơn vị liên kết hình thức trong văn bản là các thành tố tham gia vào kết cấu của văn bản, trong đó có hai

Trang 31

28

thành tố quan trọng, cơ bản và điển hình nhất là câu và đoạn văn Để tiện cho việc trình bày về liên kết hình thức, chúng tôi đặt ra quy ước như sau: Trong hai câu liên kết với nhau, có một câu gốc làm cơ sở gọi là câu chủ ngôn và câu sau liên kết với câu chủ ngôn gọi là kết ngôn Trong văn bản thường sử dụng các phương thức liên kết hình thức là:

- Phép lặp

Phép lặp là phương thức liên kết thể hiện ở việc lặp lại trong câu kết ngôn những yếu tố đã có ở câu chủ ngôn Hay có thể hiểu là câu sau sử dụng lại (giữ nguyên) những yếu tố đã được dùng ở câu trước Trong liên kết văn bản bằng phép lặp có các kiểu:

+ Lặp ngữ âm: Là sự lặp lại các bộ phận ngữ âm trong tiếng ở những câu khác nhau trong đoạn văn hay văn bản Các phương tiện lặp ngữ âm bao gồm: lặp vần, số lượng âm tiết, phụ âm đầu, thanh điệu, lặp nhịp

Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe

Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao long lánh bóng trăng loe

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt, Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy

Độ dăm ba chén đã say nhè

(Nguyễn Khuyến) Phương thức lặp gồm: Lặp vần: “e” (te, lòe, loe, hoe, nhè); lặp số lượng âm tiết: 7 âm tiết/1 câu; lặp nhịp: 4/3

+ Lặp từ vựng: Là phương thức lặp mà ở đó yếu tố được lặp là các từ ngữ (thực từ, cụm từ) ở câu chủ ngôn

Ví dụ: Giặc Minh xâm chiếm nước ta Chúng làm nhiều điều bạo ngược

khiến lòng dân vô cùng căm giận Bấy giờ, ở Lam Sơn có ông Lê Lợi phất cờ khởi

Trang 32

29

nghĩa Trong những năm đầu, nghĩa quân còn yếu, thường bị giặc vây Có lần, giặc

vây rất ngặt, quyết bắt bằng được chủ tướng Lê Lợi Ông Lê Lai liền đóng giả làm

Lê Lợi, đem một toán quân phá vòng vây Giặc bắt được ông, nhờ vậy mà Lê Lợi

và số quân còn lại được cứu thoát

(Lê Lai cứu chúa, TV3 – T2, tr.17) + Lặp ngữ pháp: Là phương thức lặp lại các hư từ và cấu trúc cú pháp của câu chủ ngôn

Ví dụ: Mặc dầu giặc Tây hung tàn, chúng quyết không thể ngăn trở các cháu

vui tươi, hăng hái Mặc dầu giặc Tây bạo ngược, chúng quyết không thể ngăn trở chúng ta kháng chiến thắng lợi, thống nhất và độc lập thành công

Ví dụ: Lăng của các vua Hùng kề bên đền Thượng, ẩn trong rừng cây xanh

xanh Đứng ở đây nhìn ra xa, phong cảnh thật đẹp

(Đoàn Minh Tuấn, TV5 – T2, tr.68) + Thế đồng nghĩa: Là việc dùng những từ ngữ có cùng nghĩa ở những câu khác nhau trong văn bản Có 4 kiểu:

Đồng nghĩa từ điển: Là từ thay thế trong câu kết ngôn đồng nghĩa với từ được thay thế trong câu chủ ngôn

Ví dụ: Một cái mũ len xanh nếu chị sinh con gái Chiếc mũ sẽ đỏ nếu chị đẻ

con trai

(Theo Anh Đức, Trích Con chị Lộc) Đồng nghĩa phủ định: Giữa từ thay thế và từ được thay thế có tương đương

về nghĩa do được phủ định một trong hai từ vốn có nghĩa đối lập nhau

Ví dụ: Bên này bức vách anh thao thức Bên kia bức vách em không ngủ

Trang 33

30

(Lưu Quý Kỳ)

Ta thấy: thao thức – không ngủ, là những từ đồng nghĩa phủ định Chúng tuy

có sự tương đương về nghĩa nhưng sắc thái nghĩa không hoàn toàn đồng nhất

Đồng nghĩa miêu tả: Là các cụm từ ở câu kết ngôn miêu tả những đặc trưng điển hình của đối tượng ở câu chủ ngôn

Ví dụ: Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp Chị Dậu nghiến hai hàm

răng túm lấy cổ hắn, ấn giúi ra cửa Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm

(Ngô Tất Tố, Trích tác phẩm Tắt đèn) Trong ví dụ này, ta thấy có hai cặp thế đồng nghĩa miêu tả là:

Cai lệ => anh chàng nghiện Chị Dậu => người đàn bà lực điền Đồng nghĩa lâm thời: Là kiểu thay thế mà giữa từ thay thế và từ được thay thế vốn không đồng nghĩa mà có quan hệ bao hàm Nhưng khi đặt trong văn cảnh, chúng lại chỉ chung một sự vật, hiện tượng

Ví dụ: Trâu đã già Trông xa con vật thật đáng thương

- Phép liên tưởng: Phép liên tưởng là việc sử dụng từ ngữ chỉ những sự vật, hiện tượng trong câu kết ngôn với từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng trong câu chủ ngôn

để liên kết các câu với nhau và đặc biệt, những từ ngữ này phải có quan hệ về ngữ nghĩa (có chung một số nét nghĩa nào đó trong cùng một trường nghĩa) Cũng có thể nói ngắn gọn như sau: Phép liên tưởng là biện pháp sử dụng những từ ngữ cùng trường nghĩa để liên kết câu Có thể chia phép liên tưởng thành các loại:

Liên tưởng đồng loại: Các từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng đồng chất, đồng loại ngang hàng với nhau

Ví dụ: Trong làn nước biển trong xanh, một con sao biển đỏ thắm đang lờ

đờ bơi Bác tôm hùm mang bộ râu dài đang khệ nệ bước trên những hòn đa tảng Một con cua đang bò ngang

Liên tưởng bao hàm: Là dạng thức liên tưởng giữa từ ngữ riêng, cái bộ phận với từ ngữ chỉ cái chung, cái toàn thể

Trang 34

31

Ví dụ: Cánh cửa mở toang ra Cùng với khí lạnh của đêm mùa xuân trên núi

cao, bỗng tỏa vào nhà một thứ hương hoa tím nhạt

(Nguyên Ngọc, Trích Rẻo cao)

Liên tưởng định lượng: Các từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng cùng có quan hệ

về lượng (số lượng)

Ví dụ: Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn công chúa Một người là Sơn

Tinh, chúa miền non cao, còn người kia là Thủy Tinh, chúa miền nước thẳm

(Trích Sơn Tinh, Thủy Tinh) Liên tưởng định vị: Là dạng thức liên tưởng giữa từ ngữ chỉ những sự vật, hiện tượng với những từ ngữ chỉ vị trí tồn tại của nó (định vị trong không gian hoặc thời gian)

Ví dụ: Tuy chưa buồn ngủ nhưng nằm đắp chăn cho ấm và buông màn cho

khỏi muỗi thì vẫn tốt Hai cái giường nhỏ kê song song, cách nhau có một lối

đi nhỏ

(Nam Cao)

Liên tưởng định chức: Là dạng thức liên tưởng giữa các từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng với những từ ngữ chỉ chức năng của sự vật, hiện tượng đó (sự vật – chức năng) Nó là kiểu liên tưởng phong phú nhất của phép liên tưởng

Ví dụ: Những dải nắng mặt trời xuyên qua vòm cây như những sợi tơ năm

sắc óng ánh giăng mắc khắp nơi Núi rừng đang được sưởi ấm lại

(Trần Mai Nam, Trích Vào xuân) Liên tưởng đặc trưng (liên tưởng theo quan hệ giải thích): Là sự liên tưởng giữa các từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng với những từ ngữ chỉ dấu hiệu điển hình đặc trưng cho nó

Ví dụ: Những cánh hoa ánh lên một sắc vàng muốt, mượt mà Một mùi

hương thơm lựng như nếp hương phản phất bay ra

(TV4 – T2; tr.50) Liên tưởng nhân quả: Là sự liên tưởng giữa những từ chỉ nguyên nhân với những từ chỉ kết quả

Trang 35

32

Ví dụ: Từ năm 1931 đến năm 1933 thực dân Pháp khủng bố tợn Cán bộ và

quần chúng bị bắt và hy sinh rất nhiều

(Hồ Chí Minh) Liên tưởng đối lập: Là phương thức liên kết văn bản khi sử dụng từ ngữ ở câu chủ ngôn sẽ kéo theo những từ ngữ ở đối lập ở câu kết ngôn

Ví dụ: Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì có hại cho dân, ta

phải hết sức tránh

(Hồ Chí Minh)

- Phép tỉnh lược

Tỉnh lược là biện pháp lược bỏ trong câu kết ngôn những từ ngữ đã xuất hiện

ở câu chủ ngôn để liên kết và tránh lặp Trong văn bản, phép tỉnh lược được xem là một phương tiện liên kết văn bản khi: việc rút gọn một bộ phận nào đó trong câu kết ngôn có thể dễ dàng tìm thấy ở câu chủ ngôn Nó làm cho các câu văn gắn bó với nhau, phụ thuộc vào nhau về nội dung, ý nghĩa và cấu tạo Căn cứ vào thành phần tỉnh lược, các nhà nghiên cứu đã chia tỉnh lược thành hai loại:

Tỉnh lược mạnh: Là hiện tượng lược bỏ những thành phần nòng cốt đã xuất hiện trong câu chủ ngôn Yếu tố tỉnh lược có thể là trạng ngữ và/ hoặc chủ ngữ và/ hoặc vị ngữ và/ hoặc vế đầu của câu ghép hô ứng

+ Tỉnh lược chủ ngữ

Ví dụ: Tinh thần yêu nước cũng giống như các thứ của quý (1) Có khi được

trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê rõ ràng dễ thấy (2) Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm (3)

(Hồ Chí Minh)

Ta thấy câu (2) và câu (3) đã tỉnh lược bộ phận chủ ngữ (tinh thần yêu nước)

+ Tỉnh lược vị ngữ:

Ví dụ: Trên dãy ghế hạng nhất có chừng hai chục người Hạng nhì đông

hơn Hạng ba đông hơn nữa

(Nguyễn Công Hoan) + Tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ

Trang 36

33

Ví dụ: Trũi nằm xuống đất giả vờ chết Tôi phải nghe và đập vào ngực xem

còn thở không Vẫn còn

(Tô Hoài) Tỉnh lược yếu: Là việc lược bỏ những thành phần phụ ở ngoài nòng cốt trong những câu kết ngôn Các thành phần phụ thường do động từ, danh từ quy định (bổ ngữ, định ngữ…)

+ Tỉnh lược bổ ngữ

Ví dụ: Chị thích nhất khoai lang luộc Ngày nào má tôi cũng mua về cho

chị ăn

(Minh Hồng) + Tỉnh lược phần phụ định ngữ

Ví dụ: Điền khuân đủ bốn cái ghế ra sân Vợ bế con nhỏ ngồi một chiếc Con

lớn một chiếc Còn một chiếc Điền dùng mà gác chân

(Nam Cao)

- Phép nối

Phép nối là việc dùng các từ ngữ nối có chức năng liên kết các câu trong văn bản Phép nối được sử dụng trong câu kết ngôn (câu sau) từ ngữ có tác dụng chuyển tiếp để liên kết câu Phương thức nối có tác dụng liên kết logic Nó mang lại sự mạch lạc, chặt chẽ cho văn bản

Dựa theo loại từ ngữ được dùng làm phương tiện nối, có thể chia làm ba loại: + Nối bằng quan hệ từ: Các quan hệ từ dùng để nối các câu thường cũng chính là các quan hệ dùng trong nộ bộ câu Một số quan hệ từ thường dùng là:

Nhưng, và, vì, bởi, do, hay, hoặc,…

Ví dụ: Trong rừng, Thỏ, Nhím và Sóc đều nổi tiếng là thông minh, nhanh trí

Nhưng ai giỏi nhất thì chưa có dịp thi tài Vì thế, không ai chịu ai Mấy cậu liền tổ

chức một cuộc thi và mời cô Gõ Kiến làm trọng tài, ra đề thi rồi chấm luôn

(Phong Thu, Trích Ai thông minh nhất) + Nối bằng các từ ngữ chuyển tiếp: Các từ ngữ chuyển tiếp này có tác dụng:

Trang 37

34

Chỉ ra trình tự của việc trình bày: Một là, hai là, trước hết, cuối cùng,… Chỉ ra sự đánh giá chung có nghĩa tổng kết: Tóm lại, cuối cùng, nhìn chung,

kết luận lại,…

Chỉ ra sự giải thích, minh họa: Nghĩa là,cụ thể là, tức là, thì ra,…

Chỉ ra sự tương phản: Đối lập với, nhưng, ngược lại, trái lại,…

Ví dụ: Ngày xửa ngày xưa, có một vương quốc buồn chán khinh khủng vì cư

dân ở đó không ai biết cười Nói chính xác là chỉ có rất ít trẻ con cười, còn người

lớn thì hoàn toàn không

(TV4 – T2, tr.132)

+ Nối bằng trợ từ, phụ từ (thường làm phụ tố có ý nghĩa so sánh): Trợ từ,

phụ từ thường là những từ đi kèm với động từ, tính từ Cũng, vẫn, cứ, còn,…Ngoài

ra, chúng còn đi chung với danh từ, đại từ dùng làm phương tiện liên kết câu như:

Còn, riêng, khác nữa,…

Ví dụ: Gà lên chuồng từ lúc nãy Hai bác ngan cũng ì ạch về chuồng rồi

Chỉ có hai chú ngỗng vẫn tha thẩn đứng giữa sân

(Tô Hoài)

- Phép đối (phép nghịch đối)

Phép đối là biện pháp sử dụng từ ngữ trong câu sau chỉ những sự vật, hiện tượng tương phản, trái ngược với từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng đã xuất hiện ở câu chủ ngôn (câu trước) để liên kết câu Có thể phân chia phép đối thành bốn loại sau:

+ Đối trái nghĩa: Dùng từ trái nghĩa để liên kết, các yếu tố được sử dụng làm phương tiện liên kết (đối tố và kết tố) đều là từ trái nghĩa

Ai ngờ giếng cạn em tiếc hoài sợi dây

(Ca dao) + Đối phủ định: Dùng từ ngữ trái nghĩa phủ định để liên kết

Trang 38

35

Ví dụ: Thế là trắng tay phải đi ăn mày, nhưng anh ta không bao giờ xin

cơm, xin gạo mà chỉ gào lên: “Ới các ông, các bà, ai có tiền Cửu Phủ của Khương

Thái Công cho tôi một đồng!”

(TV5 – T2, tr.70) + Đối miêu tả: Dùng cụm từ miêu tả những đặc điểm đối lập để liên kết Các yếu tố được sử dụng làm phương tiện liên kết có thể đều là cụm từ hoặc một trong các yếu tố liên kết là cụm từ

Ví dụ: Còn những tia nắng mặt trời thì nhảy múa và sỏi đá cũng biết reo

vang dưới những bánh xe Vương quốc u buồn đã thoát khỏi nguy cơ tàn lụi

(TV4 – T2, tr.144) + Đối lâm thời: Dùng từ ngữ trái nghĩa văn cảnh để liên kết

Ví dụ: Sẻ già lao đến cứu con, lấy thân mình phủ kín sẻ con Giọng nó yếu ớt

nhưng hung dữ và khản đặc Trước mắt nó, con chó như một con quỷ khổng lồ Nó

sẽ hi sinh Nhưng một sức mạnh vô hình vẫn cuốn nó xuống đất

(TV4 – T2, tr.90)

- Phép tuyến tính (phép trật tự tuyến tính)

Phép tuyến tính là phương thức sử dụng trật tự tuyến tính của các phát ngôn vào việc liên kết những phát ngôn có quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt nội dung Khác với các phép liên kết trên, phép tuyến tính không có các yếu tố liên kết Vì vậy, cách nhận diện phép tuyến tính đơn giản nhất là thay đổi trật tự của hai phát ngôn đang xét Nếu sự thay đổi đó có ảnh hưởng đến phần văn bản đang xét thì ở hai phát ngôn này có sự liên kết bằng phép tuyến tính và ngược lại Có các kiểu liên kết tuyến tính như sau:

- Liên kết tuyến tính theo thời gian:

+ Quan hệ thời gian tiếp nối:

Ví dụ: Ngày nay, các cháu là nhi đồng Ngày mai, các cháu là người chủ

của đất nước, của thế giới

(Hồ Chí Minh) + Quan hệ thời gian nhân quả:

Trang 39

1.1.3.2 Dạy phép liên kết câu cho học sinh lớp 5

Dạy học về liên kết câu (LKC) cho HS lớp 5 góp phần giúp cho các em tiếp thu, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc nhất thông qua việc phân tích các ngữ liệu

có chứa các nội dung về liên kết câu Từ đó, HS nắm vững kiến thức và vận dụng chúng một cách linh hoạt vào trong các bài văn miêu tả, đồng thời rèn luyện, hoàn thiện kĩ năng viết văn của các em

Nội dung dạy học về các phép LKC được giảng dạy trong phân môn Luyện

từ và câu, suốt 3 tuần thực học ở lớp 5, từ tuần 25 đến tuần 27 và rải rác ở các tiết

ôn tập giữa và cuối học kì II với 4 bài gồm: 3 bài dạng hình thành kiến thức và 1 bài dạng luyện tập cũng cố Nhìn chung, thời lượng dạy học dành cho vấn đề LKC là không nhiều, chúng tôi sẽ thể hiện rõ hơn thông qua bảng thống kê sau:

- Để liên kết một câu với câu đứng trước nó, ta

có thể lặp trong câu ấy những từ ngữ đã xuất hiện

76

Trang 40

97

Thông qua nội dung chương trình Tập làm văn (TLV) lớp 5, chúng tôi thống

kê được các bài có vận dụng phép LKC trong dạy văn miêu tả như sau:

Tuần Tên bài Yêu cầu vận dụng phép liên kết Trang

tưởng thú vị nào?

Nêu tác dụng của những liên tưởng khi quan sát và miêu tả con kênh?

TV5 - T1 tr.62

trong mỗi đoạn và trong cả bài?

TV5 - T1 tr.71

13 Luyện tập tả người Cách sắp xếp các câu trong đoạn đã

hợp lí chưa?

TV5 - T1 tr.132

Nhìn chung, nội dung CT dạy học về các phép LKC trong phân môn Luyện

từ và câu và Tập làm văn là rất ít Từ đó, HS mới chưa nắm chắc được kiến thức, nội dung cũng như cách vận dụng các phép LKC vào bài văn miêu tả sao cho phù hợp Tất cả những điều đó sẽ dẫn đến việc các em không biết cách sử dụng các phép LKC một các linh hoạt để bài văn của mình thêm sinh động và hấp dẫn Chính vì vậy, việc đưa ra các biện pháp sửa lỗi LKC trong dạy học văn miêu tả cho HS là điều rất cần thiết

1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của học sinh lớp 5 trong việc dạy học vấn đề về liên kết câu

Ngày đăng: 28/12/2020, 07:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w