1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn xuôi việt nam đương đại từ góc nhìn phân tâm học

103 27 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu dấu ấn phân tâm học trong văn xuôi Việt Nam đương đại trên bình diện thế giới nhân vật và phương thức biểu hiện nhằm góp phần khẳng định những đóng góp của các nhà văn trong mạc

Trang 1

Chủ nhiệm đề tài

Đồng Tháp, 5/2019

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng Chủ nhiệm đề tài

Nguyễn Trọng Hiếu

Đồng Tháp, 5/2019

Trang 3

Trang

Trang bìa phụ

MỤC LỤC

Thông tin kết quả nghiên cứu

MỞ ĐẦU 1

1 Tình hình nghiên cứu 1

2 Tính cấp thiết của đề tài 7

3 Mục tiêu của đề tài 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

6 Nội dung nghiên cứu 10

Chương 1 CÁC KHUYNH HƯỚNG PHÊ BÌNH VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC 11

1.1 Phê bình phân tâm học tiểu sử 11

1.1.1 Sigmund Freud - người đặt nền móng cho phân tâm học 11

1.1.2 Một số nhà phê bình phân tâm học tiểu sử tiêu biểu 14

1.2 Phê bình phân tâm học văn bản 16

1.2.1 Card Gustav Jung - lý thuyết phê bình siêu mẫu 16

1.2.2 Một số nhà phê bình phân tâm học văn bản tiêu biểu 19

1.3 Phê bình phân tâm học người đọc 21

Chương 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC 26

2.1 Nhân vật với đời sống vô thức, tâm linh 26

2.1.1 Nhân vật sống trong vô thức 26

2.1.2 Nhân vật với sự ám ảnh của tâm linh 31

2.2 Nhân vật với các phức cảm 37

2.2.1 Mặc cảm thân phận - mặc cảm hoạn 37

2.2.2 Mặc cảm Oedipe 41

Trang 4

2.3.2 Nhân vật với khao khát tính dục 49

Chương 3 PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC 57

3.1 Các biểu tượng 57

3.1.1 Biểu tượng bến nước, dòng sông 58

3.1.2 Biểu tượng lửa 62

3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật 67

3.2.1 Không gian và thời gian hư ảo 67

3.2.2 Không gian và thời gian hiện thực 73

3.3 Ngôn ngữ và tình huống truyện 76

3.3.1 Ngôn ngữ mang màu sắc tính dục 76

3.3.2 Tình huống tâm trạng 81

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 5

1 Thông tin chung

- Tên đề tài: “Văn xuôi Việt Nam đương đại từ góc nhìn phân tâm học”

- Mã số: SPD2018.01.11

- Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Trọng Hiếu

- Đơn vị: Khoa Giáo dục, Trường Đại học Đồng Tháp

- Thời gian thực hiện: 12 tháng (từ tháng 6/ 2018 đến tháng 6/ 2019)

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong đề tài, chúng tôi xem văn xuôi Việt Nam đương đại là chất liệu để khảo sát còn phân tâm học là phương tiện để thực hiện đề tài này

Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến việc giới thiệu các khuynh hướng phê bình văn học từ góc nhìn phân tâm học

Tìm hiểu dấu ấn phân tâm học trong văn xuôi Việt Nam đương đại trên bình diện thế giới nhân vật và phương thức biểu hiện nhằm góp phần khẳng định những đóng góp của các nhà văn trong mạch nguồn văn học Việt Nam đương đại, vừa khẳng định vai trò không thể thiếu của phân tâm học trong việc giúp văn học khám phá con người

- Ba khuynh hướng phê bình văn học từ góc nhìn phân tâm học

- Đặc sắc về thế giới nhân vật và phương thức biểu hiện trong văn xuôi Việt Nam đương đại từ góc nhìn phân tâm học

- Đóng góp của các nhà văn Việt Nam đương đại trong tiến trình văn học Việt Nam

- Sản phẩm khoa học: 01 bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành (0,5 điểm)

- Sản phẩm đào tạo: là tài liệu tham khảo

- Sản phẩm ứng dụng: đề tài có thể phát triển thành bài giảng, giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại tại Trường Đại học Đồng Tháp

- Các kết quả chính dự kiến khác: báo cáo tổng kết đề tài (khoảng 90 trang A4)

Trang 6

1 General information

- Name of subject: “Contemporary Vietnamese Prose from a Psychoanalytic Perspective”

- Code: SPD2018.01.11

- Experimental topic: Nguyen Trong Hieu

- Unit: Faculty of Education, Dong Thap University

- Implementation time: in 12 months (from June 2018 to June 2019)

2 Objectives of the study

In the topic, we consider contemporary Vietnamese prose as the material for investigation, while psychoanalysis is the medium for this topic

In pursuit of this theme, we aim to introduce literary criticisms from a sychoanalytic perspective

Understanding the psychological traces of contemporary Vietnamese literature

on the world level of characters and modes of expression in order to contribute to affirm the contributions of writers in contemporary Vietnamese literature sources Identifies the indispensable role of psychoanalysis in helping literature to discover people

3 Results of the study

- Three trends of literary criticism from a psychoanalytic perspective

- Characteristics of character world and expression in contemporary Vietnamese prose from psychoanalytic point of view

- Contribution of contemporary Vietnamese writers in the process of Vietnamese literature

4 Product of the task

- Scientific product: 01 article 0.5 point magazine posted ISSN index

- Product training: is a reference

- Applied products: the topic can be developed into modern lectures and curriculums of Vietnamese literature at Dong Thap University

- Other expected results: Summary report (about 90 A4 pages)

Trang 7

MỞ ĐẦU

1.1 Ti ếp nhận lý thuyết phân tâm học qua dịch thuật tác phẩm nước ngoài

Từ sau năm 1975, đặc biệt, với sự kiện đại hội Đảng lần thứ VI (1986), đất nước đổi mới đã tạo bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển của văn học - nghệ thuật Phân tâm học dần dà được quay trở lại đời sống học thuật và sáng tạo ở Việt Nam Việc dịch thuật các tác phẩm phân tâm học trong giai đoạn này diễn ra vô cùng sôi động Nhiều lĩnh vực khác nhau hướng đến phân tâm học với vai trò là phương pháp nghiên cứu về con người, góp phần vào việc mổ xẻ và giải quyết những vấn đề hạt nhân của tồn tại: vấn đề nhân bản Bởi thế, lý thuyết về phân tâm học, đặc biệt, những tác phẩm kinh điển của các bậc thầy về phân tâm học như S.Freud, C.G.Jung… được tái bản và dịch mới nhiều hơn lúc nào hết

Công trình Vật tổ và cấm kị của Freud (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, in 1999

và tái bản năm 2001) do Đoàn Văn Chúc dịch và Nguồn gốc của tôn giáo và văn hóa

do Lương Văn Kế dịch nguyên bản từ tiếng Đức Công trình đã trình bày những quan điểm cơ bản của ông về cội nguồn tôn giáo và văn hóa, một quan điểm mang nhiều luận điểm duy vật lịch sử hết sức lý thú Hạt nhân của học thuyết này chính là các khái

niệm như vật tổ (Totem), cấm kị (Tabou) và khái niệm mặc cảm Oedipe về tính dục

Công trình Freud đã thực sự nói gì? (Nxb Thế giới, Hà Nội, 1998) của David

Stafford Clack do Lê Văn Luyện và Huyền Giang dịch Tác phẩm đã khái quát toàn bộ quá trình sáng lập học thuyết của Freud Đầu tiên công trình đề cập đến những nghiên cứu Hysteria và những kết quả đầu tiên của chúng, vạch ra những nguyên nhân dẫn đến căn bệnh trên có chung nguồn gốc là tính dục Cuốn sách đã đi sâu làm rõ quan

điểm của Freud về hai bản năng cơ bản: bản năng bảo vệ sự tồn tại của cơ thể và bản năng sự tái sinh nòi giống

Năm 2000, trong cuốn sách Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, tác giả Đỗ Lai Thúy đã sưu tầm bài viết của các nhà phân tâm học như: Phân tâm học và văn học của J.Bellemin (Phan Ngọc Hà dịch), Phân tâm học về lửa (1938) của G.Bachelard

(Ngô Bình Lâm dịch) Trong đó, ta có thế thấy Bachelard có cách nhìn nhận sáng tạo văn chương theo một hướng khác Ông đã đối sánh giữa hiểu biết khoa học và hiểu

Trang 8

biết thơ ca Có nguồn gốc từ những dằn vặt, ức chế và tinh thần ấy sẽ bật dậy trong sự sáng tạo, khi những dồn nén ấy tiến tới sự “thăng hoa của nó”, điều ấy giống như “tinh thần của lửa”

Đặc biệt, từ năm 2004 trở đi, phân tâm học trở thành tâm điểm của sự chú ý Nắm bắt được hướng đi ấy, cũng trong năm này, Nxb Văn hóa thông tin cho in công trình Phân tâm học và văn hóa tâm linh do Đỗ Lai Thúy biên soạn, xuất bản lần đầu

năm 2002 Đây là một cẩm nang về văn hóa, trong đó, tập hợp rất nhiều tác phẩm của

các nhà phân tâm học Bên cạnh chuyên luận Sự trở lại ấu thơ của tục totem do Freud viết, Thăm dò tiềm thức của C.G.Jung lần lượt được Đoàn Văn Chúc và Vũ Đình Lưu dịch thì đáng chú ý còn có Phân tâm học và tôn giáo của E.Fromm do Trí Hải chuyển

ngữ Tôn giáo quyền uy thừa nhận cái sức mạnh tối cao nào đó chỉ huy số phận con người Trái lại, trong tôn giáo nhân bản, con người được đặt ngang với thượng đế, có địa vị trung tâm: vấn đề cơ bản của tôn giáo là vấn đề con người Mục đích của con người trong tôn giáo nhân bản là đạt đến sức mạnh tối cao bằng con đường tự hiện

thực hóa, chứ không phải bằng con đường sùng bái Trong Phân tâm học và thiền của

E.Fromm do Như Hạnh dịch, tác giả cho rằng thiền là một con đường đi đến giải thoát tâm linh, giúp tâm hồn chúng ta thanh tịnh nên có thể giải phóng được mọi ẩn ức, mặc

cảm và những ham muốn bản năng để hòa nhập vào vũ trụ to lớn Cuối cùng là Bông hồng tâm linh hay sự phát triển siêu thức cá nhân của R.Assagioli do Huyền Giang

dịch cũng đưa ra những miền xa lạ của tâm linh con người Assagioli có sự hợp nhất

ba chiều căn bản của sự thể nghiệm hiện sinh: chiều văn hóa: tri thức từ thời cổ đại đến nay; chiều khoa học: kinh nghiệm của một thầy thuốc tâm thần và tâm lý liệu

pháp; chiều cá nhân: thiên hướng thật sự về sự phát triển cá nhân Tất cả biểu hiện

thành sự đại giác nội tâm và lòng yêu con người tha thiết Bởi vậy, công trình là một khoảng lặng để người đọc nghĩ suy, tìm kiếm chân lý ngay trong những chiều sâu thực thể của mình

Trong công trình Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ (Nxb Thế giới,

Hà Nội, 2005) có một số bài viết của Freud đã phần nào hoàn thiện thêm cho cuốn sách Giải thích giấc mơ được viết vào năm 1900 của ông Những bài viết trong công trình này được ông thực hiện trong 33 năm, từ tiểu luận Linh cảm trong mơ mà có thật

(Giải thích giấc mơ - 1899) đến tiểu luận Sự tiếp xúc của tôi với Joef Popper - Lynkeus

Trang 9

(1932), với tất cả 9 bài Trong đó, Về giấc mơ được viết vào năm 1909 là bài quan

trọng nhất, đã tổng kết một cách khái quát tất cả những kết luận cốt yếu nhất cho cuốn

Giải thích giấc mơ của ông Tác phẩm này đem lại hành trang quý cho người đọc để đi

sâu vào thế giới của giấc mơ và là công trình có tính chuyên sâu về lý thuyết phân tâm học của Freud

Ngoài ra, còn rất nhiều tác phẩm khác nghiên cứu về phân tâm học được độc

giả biết đến như: Bệnh lí học tinh thần về sinh hoạt đời thường (2002), Phân tâm học nhập môn (2002), Tâm lí học đám đông và phân tích cái tôi (2006), Theo vết chân người không lồ (2006),…

1 2 Vận dụng lý thuyết phân tâm học trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam

Sau năm 1975, đặc biệt từ năm 1986, cùng với chính sách mở cửa, đổi mới của đất nước, phân tâm học đã vượt qua thời kì “e lệ dậy thì” và được nhìn nhận lại một cách khách quan, đúng đắn hơn Vậy là vượt qua mọi thiên kiến và sự phản cảm của mọi người trong thời gian đầu, phân tâm học đã dần thuyết phục, lấy lại cảm tình của đông đảo công chúng, chứng tỏ được sức nặng của mình qua thời gian Vì vậy, công việc nghiên cứu phân tâm học về văn học giai đoạn sau 1986 cũng diễn ra rất hồ hởi

Đầu tiên, trong cuốn Về tư tưởng và văn hóa phương Tây hiện đại của Phạm

Văn Sĩ, ông đã đề cập đến phân tâm học trong văn học Việt Nam Bên cạnh lược khảo

và giới thiệu những trào lưu triết học có thể ứng dụng vào nghiên cứu văn học như: hiện sinh chủ nghĩa, cấu trúc luận, siêu thực, hiện tượng học, ông còn khái lược sự ảnh hưởng của phân tâm học Freud trong văn học Sài Gòn trước năm 1975 Phạm Văn Sĩ chỉ ra những nhược điểm trong ứng dụng phân tâm học Freud vào nghiên cứu cũng như trong sáng tác văn học của một số nhà văn, nhà lý luận phê bình

Đáng chú ý là công trình của Trần Thị Mai Nhi: Văn học hiện đại - văn học Việt Nam: Giao lưu và gặp gỡ (1994) Tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề thông qua từng

nhà văn, tác phẩm cụ thể và được phân chia thành hai giai đoạn: văn học hiện đại trong văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám năm 1945 và văn học hiện đại dưới hình thức văn học hiện sinh ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1960 - 1970 Riêng văn học giai đoạn năm 1975 - 2000, tác giả nhấn mạnh đến sự sáng tạo của nhà văn trong các tác phẩm tiêu biểu của Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp…

Trang 10

Tác phẩm đã đưa ra một cách nhìn mới về phân tâm học, chấm dứt giai đoạn học thuyết Freud bị kì thị một cách nặng nề

Một công trình đáng chú ý nữa là Mười trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây đương đại (1999) của Phương Lựu Bằng nguồn tư liệu dồi dào, cùng một

kiến thức uyên thâm, tác giả đã giới thiệu nhiều trường phái phê bình nửa sau thế kỷ

XX như: giải thích học, mỹ học tiếp nhận, xã hội học văn học, cùng các trường phái nằm khoảng giữa thế kỷ XIX: chủ nghĩa hiện sinh, kí hiệu học… Ngoài ra, còn có phê bình cổ mẫu, phê bình thần thoại… Trong đó, Phương Lựu đề cập đến phân tâm học

và được nhìn nhận trên phương diện: lý thuyết vô thức tập thể của Jung Ông đã đưa ra khẳng định của Jung về lý thuyết này rằng: “Vô thức tập thể có gốc gác sâu xa từ kinh nghiệm lịch sử của nhân loại và chủng tộc, thậm chí có gốc gác cả đến hành động của loài thủy tổ tiền nhân loại” Với một lối viết chặt chẽ, dễ hiểu, tác giả đã giúp người đọc khơi mở được những luận điểm cơ bản nhất về phân tâm học như vô thức tập thể, siêu mẫu của Jung Công trình này là tiếp nối của công trình Tìm hiểu tâm lý văn học

phương Tây hiện đại (Nxb Văn học, Hà Nội, 1995)

Đỗ Lai Thúy là một trong những nhà phê bình chuyên nghiệp, đổi mới, có ý thức vận dụng những lý thuyết phê bình độc đáo và cũng là người có khả năng vận dụng các lý thuyết để giải mã các tác giả, tác phẩm cổ điển Việt Nam một cách tương

thích và khoa học Nếu như công trình Con mắt thơ, ông đã vận dụng thi pháp học vào nghiên cứu Thơ mới thì cuốn Hồ Xuân Hương - hoài niệm phồn thực, Đỗ Lai Thúy đã

sử dụng phân tâm học để giải mã hiện tượng đầy bí ẩn Hồ Xuân Hương Tác giả vận dụng phương pháp mới để giải thích hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương, giải quyết “câu đố” do Hồ Xuân Hương đặt ra, đấy là sự có mặt bất khả kháng về cái mà người ta thường gọi là dâm, tục trong thơ của bà Tác giả đã tìm ra mã khóa thơ Hồ Xuân Hương từ hoài niệm phồn thực, tức là một hệ pháp: tín ngưỡng phồn thực - thờ cúng phồn thực - lễ hội phồn thực - văn hóa dâm tục - thơ Hồ Xuân Hương Cách tiếp cận này, theo tác giả, một mặt khắc phục những hạn chế của những cách tiếp cận đã có từ trước như dồn nén - ẩn ức - thăng hoa, đồng thời không phủ nhận, loại bỏ các phương pháp đã có mà chỉ biến chúng thành trường hợp cụ thể đúng trong việc giải quyết từng bình diện cụ thể của thơ Hồ Xuân Hương Ở một góc độ mới này có tác dụng giúp tác giả có những phát hiện, khám phá, hoặc những tiên cảm của các nhà nghiên cứu đi

Trang 11

trước trong hành trình khám phá thế giới thơ Công trình là một thành tựu nổi bật trong phê bình văn học dưới ánh sáng của học thuyết Freud

Từ năm 2000 trở đi, ở Việt Nam, bên cạnh những thành tựu rực rỡ của công việc dịch thuật phân tâm học thì tình hình nghiên cứu học thuyết phân tâm học cũng đã

có bước phát triển với hàng loạt công trình ứng dụng nó trong văn học Việt Nam được liên tiếp ra đời

Trong năm 2008, tác giả Hồ Thế Hà cũng có một đề tài khoa học mang tên Yếu

tố Phân tâm học trong truyện ngắn Việt Nam 1986 - 2005 Công trình đã nêu ra những

khía cạnh ban đầu như: những vấn đề chung về phân tâm học; quan niệm phân tâm học

về văn học và quá trình hấp thu phân tâm học của truyện ngắn hiện đại Việt Nam 1930

- 1945 Từ năm 1930 - 1975, với những tác phẩm để lại dấu ấn phân tâm học như các

truyện của Nguyễn Thị Hoàng: Vòng tay học trò, Ngày qua bóng tối, Tuổi Sài Gòn… Thanh Tâm Tuyền với Cát lầy Nhìn một cách khái quát, các nhà văn đều say sưa và

có phần đề cao quá những vấn đề tính dục, một cách sai lệch Từ năm 1975 - 2005, các

tác phẩm văn học nghiêng về đời tư thế sự, có yếu tố phân tâm học như: Họ đã trở thành đàn ông của Phạm Ngọc Tiến, Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo, Vũ điệu của cái bô của Nguyễn Quang Thân… Sự thể hiện yếu tố phân tâm học trong

truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này đã có bước đổi mới Tâm lý con người không miêu tả, lý giải một cách thô lỗ và trần trụi mà xuất phát với những tình thương, sự đồng cảm thực sự Công trình còn chứng minh phân tâm học trong truyện ngắn Việt Nam ở giai đoạn này được xem như là một thủ pháp nghệ thuật để chiếm lĩnh hiện thực và cuộc sống, đó còn là sự khai thác chủ đề, đề tài và thể hiện được bản sắc, phong cách sáng tạo Ngoài ra, tác giả đi sâu khám phá từ bình diện phương thức biểu hiện của tác phẩm như: đặc điểm ngôn từ, không gian và thời gian nghệ thuật, cùng các phương thức và môtíp chủ yếu Trên cơ sở đó, tác giả Hồ Thế Hà đi đến nhận xét:

“Ở giai đoạn này, việc vận dụng phân tâm học của các nhà văn đã nhuần nhuyễn hơn,

đa dạng hơn, có biến hóa, tích hợp và sáng tạo trên cơ sở nền tảng lý thuyết phân tâm học” Công trình này đã đem lại một hình dung sơ lược về sự thể hiện của yếu tố phân tâm học trong truyện ngắn Việt Nam 1986 - 2005, với những đặc điểm và thành tựu nổi bật

Trang 12

Công trình Học thuyết S.Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam

(Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008) của Trần Thanh Hà, tác giả đã đưa ra những vấn đề cốt lõi nhất của phân tâm học, dẫn người đọc vào những lý thuyết cơ bản của Freud chẳng hạn: sự ra đời và phát triển của phân tâm học, vô thức, giấc mơ, nguyên tắc khoái lạc và nguyên tắc thực tại, bản năng sống và bản năng chết, tính dục, những vấn đề đời sống văn học liên quan đến tính dục bộc lộ qua tôn giáo, đạo đức, văn minh, văn học nghệ thuật Qua đó, tác giả chứng minh sự thể hiện của học thuyết này trong văn học Việt Nam, đây là một vấn đề mới chưa được nghiên cứu nhiều Trần Thanh Hà đã chứng minh sự thể hiện của học thuyết Freud vào văn học Việt Nam dưới nhiều khía cạnh Từ những luận điểm lớn cấu thành từ một hệ thống những luận điểm nhỏ kết thành một kết cấu mạng lưới chặt chẽ khoa học Có thể nói bằng cách mổ xẻ, bóc tách từ nhiều phía, tác giả đã tìm đến tầng sâu cốt lõi của vấn đề Công trình xuất hiện đã giải tỏa nhu cầu của thời cuộc, đồng thời, giúp độc giả có cái nhìn khái quát nhất về phân tâm học và sự thể hiện của nó ở trong văn học Việt Nam

Trần Hoài Anh với cuốn Lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954 -

1975 (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009) đã đề cập vấn đề “Ứng dụng phân tâm học vào

phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954 - 1975”, ở đây, tác giả đã tổng quan được quá trình tiếp nhận lý thuyết phân tâm học từ buổi đầu với các sáng tác của Vũ Trọng Phụng, rồi những công trình nghiên cứu của Trương Tửu, Nguyễn Văn Hanh… cho đến những tác phẩm đặc sắc ứng dụng phân tâm học ở miền Nam trong những năm 70

như: Các nhà văn nữ Việt Nam 1900 - 1970 (1973) của Uyên Thao, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (1972) của Tạ Ty… Tựu trung, qua công trình, đã hiện lên một

cuộc hành trình đầy biến động nhưng cũng đã bắt đầu khai cuộc của phân tâm học ở nước ta trong giai đoạn năm 1945 - 1975 Cuối cùng Trần Hoài Anh đã kết luận: “Sự hiện hữu của khuynh hướng phê bình phân tâm học là một thực thể tồn sinh trong đời sống lý luận phê bình tạo cho người đọc nhiều sự lựa chọn trong phương thức tiếp nhận các hiện tượng văn học”

Công trình gây được tiếng vang lớn nhất trong phê bình văn học Việt Nam đầu

thế kỷ XXI, trước hết là tập Bút pháp của ham muốn - Đỗ Lai Thúy (2009) Công trình

được tác giả viết khúc chiết tinh tế, mang lại một món ăn lạ cho người đọc thưởng thức

và ngẫm nghĩ Ðỗ Lai Thúy áp dụng phân tâm học để làm hiển lộ cơ chế vô thức sinh

Trang 13

thành tác phẩm, nhưng bên cạnh đó vẫn chú ý đến đặc sắc về tư duy nghệ thuật, phong cách, ngôn ngữ của tác giả như một sản phẩm của cái tôi ý thức Và vì thế, sáu gương mặt nổi bật của văn học Việt Nam đã được vẽ lại theo một cách cụ thể hơn và độc đáo hơn so với những gì chúng ta đã biết về họ từ trước Tác giả đã giới thiệu về phân tâm học nghệ thuật và một phần quan trọng đó là: nghiên cứu bút pháp của ham muốn Đỗ Lai Thúy đã trực diện khám phá vào phương thức tồn tại của văn học, đi tìm và giải

mã cấu trúc vô thức trên văn bản, để chỉ ra “Bút pháp của ham muốn” của các nhà thơ

có dấu ấn phân tâm học như: Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Gia Thiều, Hoàng Cầm, Chế Lan Viên, Xuân Diệu

Và đặc biệt, năm 2014, Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế đã tổ chức Hội

thảo khoa học Phân tâm học với văn học Hội thảo đã nhận được 42 bài tham luận của

các tác giả từ các Viện, Trường Đại học và Tạp chí Văn nghệ trong cả nước Các tham luận đề cập đến các hướng tiếp cận mới mẻ, mở rộng khả năng ứng dụng phân tâm học vào những nội dung liên ngành, liên phương pháp mà nói như tác giả Hồ Thế Hà là kiểu “phê bình phân tâm học tạo sinh” Nhìn chung, các tham luận tại hội thảo đề cập đến các vấn đề: lý thuyết phân tâm học đã được du nhập vào Việt Nam từ khi nào, với những tiền đề nào? Có bao nhiêu cách hiểu, cách vận dụng và các cách hiểu, cách vận dụng đó khác nhau ra sau? Sự vận dụng lý thuyết phân tâm học đã ảnh hưởng gì đến thực tiễn sáng tạo văn học và tiếp nhận văn học Việt Nam hiện đại? Việc tham chiếu lý thuyết phân tâm học đến từng tác giả, tác phẩm ra sao? Đó là những câu hỏi chính yếu

đặt ra để giải quyết trong Hội thảo Phân tâm học với văn học, nhằm khẳng định: “tính

hiệu năng, tính thực hành khả thi của một phương pháp tiếp cận văn học từ phân tâm học trong tương lai”

Những đánh giá bước đầu của những người đi trước sẽ là những gợi mở quý báu cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài Và trước sự đa dạng của các ý kiến cũng như nguồn tư liệu, chúng tôi buộc phải khách quan để “gạn đục khơi trong”, tìm ra những tư liệu, những bài viết có giá trị nhằm phục vụ tốt cho mục tiêu mà đề tài đặt ra

2 Tính cấp thiết của đề tài

Từ sau 1986 với sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật, quan niệm về hiện thực đã

giúp nhà văn đi đến những miền khuất, những mặt trái của đời sống, đến với chiều sâu

Trang 14

tâm tưởng, với đời sống tâm linh, mà ở đó mỗi con người là một thế giới riêng, vừa mang đặc điểm chung của nhân loại, vừa mang nét riêng cá nhân không trộn lẫn, vừa chịu sự chi phối của đặc điểm thời đại Sau đổi mới, văn xuôi nước nhà mang một “bộ mặt mới” Thông qua sáng tạo nghệ thuật, các nhà văn đương đại đã tạo ra một đời sống văn học với nhiều sắc điệu

Học thuyết phân tâm học ra đời đầu thế kỷ XX như một sự hậu thuẫn giúp văn xuôi đi vào thế giới bên trong của con người bản thể, khám phá những điều sâu kín nhất trong tâm hồn con người, nơi chất chứa bao kí ức, đam mê, khát vọng Mặt khác, với phân tâm học, bạn đọc có thêm một công cụ hữu hiệu để đi vào thế giới nghệ thuật Nhà văn khám phá con người trong tác phẩm ở phương diện tâm linh, ở chiều sâu tâm hồn Bởi phân tâm học đã chỉ ra rằng: con người không chỉ có hiện thực bên ngoài, mà còn có hiện thực bên trong - hiện thực tâm hồn với đời sống nội tâm phong phú Chính vì vậy, tiếp cận văn học từ góc độ phân tâm học là một trong những phương thức để nhận thức rõ sự phức tạp về con người, về cuộc đời như chính bản

thân của nó

Tiếp cận văn học Việt Nam từ 1986 đến nay, đặc biệt ở mảng văn xuôi, người đọc ngỡ ngàng trước sự nở rộ của nhiều nhà văn tìm tòi và trải nghiệm Hiện thực cuộc đời đã được tác giả soi chiếu từ góc nhìn riêng, cách thể nghiệm riêng Bức tranh toàn cảnh của đời sống như động đậy, phập phồng trên trang viết Đó cũng là lúc con người thực sự sống sâu với đời và rung cảm với chính mình Văn xuôi Việt Nam đương đại, với hàng loạt vấn đề mới mẻ được đặt ra, việc chọn nhiều toạ độ, nhiều góc nhìn khác nhau để có thể tham chiếu bổ sung cho nhau thật sự là hướng nghiên cứu cần thiết Mặt khác, không thể phủ nhận rằng, phân tâm học có thế mạnh trong việc mở ra một đối thoại mới ở những miền nội tâm uẩn khúc - đặc biệt khi gắn liền với xung động sáng tạo tinh thần này

Có thể nói, từ tọa độ phân tâm học để nhìn riêng về văn xuôi Việt Nam đương đại - vấn đề không phải là không thú vị Từ sự yêu thích của bản thân, sự hấp dẫn của văn xuôi đương đại khi phóng chiếu phân tâm học vào tác phẩm, tôi đã mạnh dạn chọn

đề tài Văn xuôi Việt Nam đương đại từ góc nhìn phân tâm học, với mong muốn được

góp một cái nhìn riêng vào việc tiếp cận quá trình vận động và phát triển của văn xuôi đương đại nước ta trong xu thế đổi mới và hội nhập với nền văn học nhân loại

Trang 15

3 Mục tiêu của đề tài

Trong đề tài, chúng tôi xem văn xuôi Việt Nam đương đại là chất liệu để khảo sát còn phân tâm học là phương tiện để thực hiện đề tài này

Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến việc tái hiện lại khái niệm phân tâm học về văn học và sự vận động của học thuyết phân tâm học theo tiến trình lịch sử trên những phương diện văn hóa, xã hội, văn học để từ đó có những nét phác thảo cơ bản

về ý nghĩa của việc nghiên cứu phân tâm học trong văn học Việt Nam từ truyền thống cho đến hiện đại

Tìm hiểu dấu ấn phân tâm học trong văn xuôi Việt Nam đương đại trên bình diện thế giới nhân vật và phương thức biểu hiện nhằm góp phần khẳng định những đóng góp của các nhà văn trong mạch nguồn văn học Việt Nam đương đại, vừa khẳng định vai trò không thể thiếu của phân tâm học trong việc giúp văn học khám phá con người

4 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp phê bình phân tâm học: đây được xem là phương pháp chính Nhằm quy chiếu những nội dung của lý thuyết phân tâm học vào thực tiễn sáng tạo và nghiên cứu văn học ở nước ta, đặc biệt là ở văn xuôi Việt Nam đương đại

- Phương pháp lịch sử: nhằm nhìn nhận lại quá trình biểu hiện, tiếp biến phân tâm học trong tiến trình văn học nghệ thuật với sự sáng tạo độc đáo riêng

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích dữ liệu, văn bản, chi tiết của văn bản để khái quát hóa thành những kết luận đáng tin cậy, đồng thời tường minh cho các luận điểm

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: nhằm làm sáng tỏ những đặc điểm, dấu hiệu phân tâm học cả về nội dung lẫn phương thức biểu hiện trong sáng tác của các nhà văn đương đại

- Phương pháp so sánh: chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt của biểu hiện phân tâm học trong văn xuôi Việt Nam đương đại

- Phương pháp liên ngành: sử dụng một số kiến thức xã hội học, văn hóa học…

để phân tích tác phẩm một cách toàn diện và sâu sắc hơn

Trang 16

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Lực lượng sáng tác văn xuôi hiện nay rất đông đảo với số lượng tác phẩm lớn

Vì vậy, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những tác phẩm có chứa yếu tố phân tâm học của các nhà văn tiêu biểu như Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Đình Tú, Phạm Thị Hoài, Trần Thùy Mai, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Xuân Hà, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư,…

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là dấu ấn phân tâm học được thể hiện trong sáng tác của các nhà văn Việt Nam đương đại ở phương diện nổi trội về thế giới nhân vật và phương thức biểu hiện Chủ yếu là phân tâm học của Sigmund Freud và Carl Gustav Jung Vì hệ thống lý thuyết này thể hiện dấu ấn rõ nét trong sáng tác của các nhà văn Việt Nam đương đại

6 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của đề tài được triển khai thành 3 chương:

Chương 1 Các khuynh hướng phê bình văn học từ góc nhìn phân tâm học Chương 2 Thế giới nhân vật trong văn xuôi Việt Nam đương đại từ góc nhìn phân tâm học

Chương 3 Phương thức biểu hiện trong văn xuôi Việt Nam đương đại từ góc nhìn phân tâm học

Trang 17

C hương 1 CÁC KHUYNH HƯỚNG PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Chịu ảnh hưởng thuyết tiến hóa của Darwin hay chủ nghĩa thực chứng trong triết học của August Comte, Herbert Spencer tư duy tiền hiện đại giải thích thực tế bằng những lí lẽ của đạo đức trên cơ sở niềm tin hay thuyết nhân - quả Trong văn học, người ta thường diễn giải văn chương từ bối cảnh xã hội, tiểu sử tác giả, diễn giải chủ

đề từ các nguyên tác bên người chủ thể Ở Châu Âu, hai trào lưu quan trọng là thực chứng và lịch sử tinh thần đều dựa vào nguyên tắc của lịch sử Tư duy tiền hiện đại thể

hiện rõ phân tâm học thời kì đầu mà đại diện tiêu biểu là Sigmund Freud Theo đó thì giai đoạn này, phân tâm học đề cao vô thức tác giả trong quá trình diễn giải văn học

1.1.1 Sigmund Freud - người đặt nền móng cho phân tâm học

Sinh thời, S.Freud là người yêu thích văn chương và cho rằng chính các nhà

văn mới là người phát hiện đầu tiên về vô thức Freud thường tìm trong văn học những điều mà ông cho là hợp lý với lý thuyết của mình, minh họa cho lý thuyết hơn là việc khám phá văn học Chính điều đó khiến cho nhiều nhà nghiên cứu sau này nhìn nhận cách diễn giải của Freud về văn học chỉ mang tính minh họa cho học thuyết phân tâm, như nhà phê bình Liễu Trương đã nhận xét: “Freud đã đặt học thuyết của mình trên

một nền tảng mang tên vô thức Khi tìm hiểu cái phần vô thức của con người, Freud đã dần dà bước sang lĩnh vực nghệ thuật Nếu phần nhiều những hoạt động của con người

về trí óc và vật chất đáp ứng những động cơ và mục đích hiển nhiên như việc kiếm tìm

hạnh phúc hay tiện nghi vật chất, thì có ít ra một hoạt động hãy còn là một điều khó hiểu, đó là vấn đề sáng tạo nghệ thuật Và để tìm hiểu phần nào về vấn đề này, Freud

đã quan tâm đến lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt là văn chương Vả chăng, chính nhờ Sophocle mà cuộc phiêu lưu phân tâm học đã khởi đầu, rồi đến Shakespeare, Jensen và bao nhiêu tác giả khác đã thu hút Freud; trong tác phẩm của họ Freud đã tìm dấu vết của vô thức”

Học thuyêt phân tâm học từ khi mới ra đời đã gây nhiều tranh cãi và có những biến đổi nhất định trong nội hàm, nhưng phần cốt lõi là vô thức và dục tính thì ngay từ đầu đã luôn khẳng định một cách bền vững Trong đó, vô thức là cái chủ yếu của đời

Trang 18

sống tinh thần và dục vọng có vai trò quyết định trong đời sống tinh thần đó Freud chia bộ máy tâm thần thành: vô thức - tiềm thức, ý thức và siêu thức Ông cho rằng, vô thức (inconscient) chính là tâm thần, là toàn bộ những hiện tượng tâm thần mà ý thức không thể đạt đến Trong khi tiềm thức chỉ định những nội dung tiềm tàng trong chốc lát thì vô thức thường xuyên ở ngoài tầm với của ý thức và vô thức cũng quyết định

đến sự hình thành nhân cách ở con người Đối với khái niệm tính dục (libido) của

Freud, đó không chỉ là hoạt động sinh lý như những quan niệm thông thường mà nó bao gồm hai mặt: một mặt là bản năng sống (libido) và một mặt là bản năng chết (pulsion de mort) Bản năng sống hướng đến những hành động tích cực và bản năng chết hướng tới những suy nghĩ và hành dộng tiêu cực Ông cho rằng quá trình trưởng thành của con người trải qua nhiều giai đoạn tính dục, gắn với những bộ phận khác nhau trên cơ thể, trong đó tính dục ấu thơ có vai trò đặc biệt quan trọng Tính dục ấu

thơ có liên quan đến sự hình thành nhân cách của con người mà ông gọi là mặc cảm

Oedipe (complexe Oedipe) Mặc cảm Oedipe là một yếu tố cơ bản của học thuyết phân

tâm học và nó được bắt nguồn từ huyền thoại về Oedipe trong vở kịch Oedipe làm vua

của Sophocle (thần thoại Hi Lạp) Đối với Freud, vở bi kịch của Sophocle đã tiết lộ cho ông về phức cảm Oedipe, trong phức cảm đó, tình yêu chiếm vị trí hàng đầu Đứa

bé trai yêu mẹ vì ganh tị với cha và mong muốn chiếm đoạt người mẹ cho riêng mình Đối với cha, nó xem người cha như một kẻ cạnh tranh và cản trở Phức cảm Oedipe

cũng có thể biến thành phức cảm gia đình nếu có những đứa anh em trai, anh em gái trong gia đình được bố hoặc mẹ yêu thương hơn Lúc đó, đứa trẻ bị bỏ rơi còn lại sẽ cảm thấy ganh tị và đôi lúc ao ước đứa em hoặc anh/chị chết đi Phức cảm Oedipe có ảnh hưởng đến tình cảm và đạo đức của con người, đặc biệt là cái tâm thức đạo đức trong cuộc đấu tranh giữa cái tôi hiện thực và cái tôi lý tưởng Khi đứa trẻ thoát khỏi phức cảm đó, nó dần dần chấp nhận những quy tắt đạo đức mà cha mẹ buộc nó phải tuân theo và khi lớn lên nó sẽ phát hiện những tình yêu đối với cha mẹ của mình

Freud cho rằng giấc mơ là con đường để đạt đến sự hiểu biết những cơ chế của

vô thức và chứng tỏ rằng vô thức là có thật Giấc mơ còn có thể là sự thỏa hiệp giữa vô

thức và ý thức, là cách thể hiện ước muốn vô thức của con người khi không được thỏa mãn Ông đã chỉ ra, những ước muốn bị kìm nén mà vô thức không bao giờ quên là nguồn gốc của những giấc mơ Khi con người chìm vào giấc ngủ nghĩa là là giảm bớt

Trang 19

áp lực của sự kiểm duyệt ý thức, là lúc mà những ước muốn trong vô thức xuất hiện và thường gắn liền với một cảm tưởng của ngày hôm trước Ông cũng cho rằng, không có giấc mơ nào là vô nghĩa, mọi giấc mơ đều thể hiện ước muốn sâu xa trong vô thức của con người Theo ông, tác phẩm văn học trước hết là một giấc mơ, khi những ước muốn bản năng không thể thỏa mãn trực tiếp, có hai trường hợp xảy ra: một là chìm sâu vào

vô thức gây nên những ức chế thần kinh, tạo nên những triệu chứng tâm thần; hai là có thể biến thành sự thăng hoa trong các hoạt động tinh thần như nghệ thuật, khoa học, tôn giáo, Freud đã có rất nhiều công trình lý giải cơ chế thăng hoa trong lĩnh vực văn

chương nghệ thuật, ông đã bàn luận trực tiếp đến các vấn đề của sáng tạo văn chương như tác giả, tác phẩm, độc giả, biểu tượng, nhân vật, trong đó hai vấn đề ông quan tâm hàng đầu là người sáng tạo (tác giả) và vấn đề sáng tạo (tác phẩm)

Đối với vấn đề người sáng tạo (tác giả), Freud quan tâm đếm tâm lý người sáng tạo: “Do đâu có sự sáng tạo?” Freud cho rằng những huyễn tưởng của trẻ con, tức tâm

lý ấu thơ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sáng tạo, đặc biệt là tính dục ấu thơ Mặc

cảm Oedipe có những ảnh hưởng tâm lý không nhỏ đến đời sống con người, đặc biệt những người có ấn tượng mạnh sẽ để lại những dư chấn tâm lý khó phai trong vô thức Điều đó rất quan trọng đối với sự sáng tạo Freud đã tiến hành khảo sát quá trình sáng

tạo của nhà văn hào Dostoievki và họa sĩ lừng danh Lénard de Vinci và phát hiện rằng:

sự thiếu vắng chăm sóc của người mẹ có ảnh hưởng lớn đến các bức họa nổi tiếng của Lénard de Vinci Mặc cảm Oedipe, bệnh động kinh và sự ghét cha đã tạo nên những tác phẩm văn học lừng danh của Dostoievski Sự sáng tạo văn chương cũng là một huyễn tưởng do những ước muốn không được thoản mãn, gây ức chế và hằn sâu trong

vô thức Freud cho rằng có hai loại huyễn tưởng: huyễn tưởng có tính hứng dục và những giấc mơ uy quyền, giấc mơ uy quyền là từ huyễn tưởng hứng dục mà sinh ra

Khi quan niệm tác phẩm văn chương như một huyễn tưởng được viết ra, ở đó sẽ

xuất hiện tư duy vô thức Đó là những dấu vết, những kỉ niệm trong ấu thơ đã bị vùi sâu dưới vô thức Nhà văn không những vận dụng vô thức của mình mà còn vận dụng

cả vô thức của người đọc để tạo ra hiệu quả của sán phẩm Freud cũng cho rằng: “Khi

một người sáng tạo dùng những chủ đề có tính dân gian hay văn chương, cá tính của

họ biểu hiện trong sự lựa chọn những chủ đề và trong những biến đổi các chủ đề do họ gây ra” Có hai loại huyễn tượng và từ đó có hai cách thức tạo nên tác phẩm: tái tạo

Trang 20

hiện thực nhưng là một hiện thực đầy đau thương như trường hợp của các nhà văn Balzac, Hugo, Dostoievki, ; nhà văn sáng tạo ra một thế giới khác hẳn với thế giới hiện thực đang có, như trường hợp của các nhà văn Hoffmann, Kafka,

Như vậy, cách làm của Freud mặc dù xuất phát chủ yếu từ việc minh chứng cho những luận điểm của học thuyết phân tâm học nhưng quá trình đó đã đưa ra nhiều ý

tưởng cho các nhà phê bình văn học sau này

1.1.2 M ột số nhà phê bình phân tâm học tiểu sử tiêu biểu

Người đầu tiên nhắc đến như một đại diện tiêu biểu cho phương pháp phê bình này là Charles Mauron (1899 – 1966) Ông là nhà phê bình nổi tiếng của Pháp, người sáng tạo ra lối phê bình mới được gọi là phê bình tâm lý (psychocritique) Căn cứ vào những lý thuyết của Freud, Charles Mauron muốn mọi người hiểu được quá trình hình thành một tác phẩm văn học dựa trên những hiểu biết tâm lý của nhà văn Có thể nói, ông là người kết hợp cả hai khuynh hướng, quan tâm đến cả tiểu sử và văn bản trong quá trình làm việc Charles Mauron cho rằng, nghiên cứu một tác phẩm là phải: Tìm ra cái vô thức biểu hiện trong tác phẩm: ẩn dụ và biểu tượng chứa đựng những thực tế trong đời sống tinh thần Ở đây cơ chế sáng tạo gần gũi với cơ chế của giấc mơ tỉnh;

Khảo sát và đối chiếu các ẩn dụ và biểu tượng tồn tại trong nhiều tác phẩm khác nhau

của cùng một tác phẩm; Làm nổi bật các mạng lưới ẩn dụ, làm sáng tác rõ các biểu tượng xuất hiện nhiều lần Mỗi một tác phẩm là một sự thực hiện các ham muốn của nhà văn; Soi lại cuộc đời của tác giả và quá khứ của ông ta sẽ cho phép hiểu hơn những mạng lưới ẩn dụ và biểu tượng đó Huyền thoại cá nhân của cá nhân xuất hiện

từ đó Phê bình tâm lý của Charles Mauron không chỉ giới hạn trong việc tìm kiếm các

dữ kiện trong tiểu sử của nhà văn mà còn nhằm tiết lộ cá tính vô thức của nhà văn thông qua tác phẩm, nghĩa là hiểu được cơ chế sáng tạo của tác phẩm đó, đồng thời giải thích được cấu trúc của tác phẩm

Charles Mauron đề xuất một cách đọc văn bản có tính khoa học đó là phương pháp xếp chồng văn bản Đầu tiên là chồng văn bản lên nhau nhằm phát hiện ra những

mạng lưới liên tưởng, những hình tượng xuất hiện có tính ám ảnh Tiếp theo là tìm trong tác phẩm những hình ảnh lặp đi lặp lại và nó biến đổi như thế nào trong toàn bộ

tác phẩm Giai đoạn thứ ba là tìm kiếm huyền thoại cá nhân của nhà văn, huyền thoại này có thể biến đổi tùy theo những sự kiện trong cuộc đời và hoàn cảnh vô thức đối

Trang 21

với nhà văn Giai đoạn thứ tư là kiểm lại những kết quả đạt được bằng cách nhờ đến sự hiểu biết về cuộc đời của nhà văn, dùng nó để so sánh với kết quả tìm ra trước đó Huyền thoại cá nhân có liên quan đến thời gian và không gian nhà văn từng sống Vì vậy, dựa vào đó có thể phát hiện ra vô thức và phúng dụ trong tác phẩm của nhà văn

Ở Pháp, René Laforgue đã dùng các lý thuyết phân tâm để nghiên cứu nhà thơ Baudelaire René Laforgue không nghiên cứu tác phẩm mà nghiên cứu căn bệnh của nhà thơ được phóng chiếu lên tác phẩm như thế nào Cách làm này đặc biệt lưu tâm đến tiểu sử nhà thơ, dùng nó như một cách lý giải những hình ảnh trong thơ René Laforgue cho rằng những bài thơ của Baudelaire là sự phóng chiếu của phức cảm Oedipe không được giải tỏa, nó thể hiện sự bất lực, ấm ức trong đời sống tinh thần René Laforgue gần như thu hẹp sự sáng tạo văn học vào khuôn khổ của một chứng

học thuyết của ông

Một nhà phê bình phân tâm học người Pháp nổi tiếng khác là Jean Delay Jean Delay nhấn mạnh sự quan trọng của những năm đầu đời của con người trong sự sinh thành của cá tính, đặc biệt là trong sáng tạo nghệ thuật Ông đã thiết lập phương pháp phê bình gọi là tâm lý tiểu sử Jean Delay sử dụng phương pháp này nghiên cứu nhà văn André Gide để tìm ra nguồn gốc vô thức trong tác phẩm Phương pháp tâm lý tiểu

sử nghiên cứu song song những biến cố tuổi thơ và cuộc đời của nhà văn tưng ứng với

sự khúc xạ của mỗi biến cố trong giai đoạn sáng tác văn học Ông còn đặc biệt chú ý đến tính di truyền, những hình ảnh gia đình và thời thơ ấu của André Gide có ảnh

hưởng đến văn chương

Phương pháp phê bình phân tâm học tiểu sử chú ý đến biến cố thời thơ ấu, mối quan hệ giữa vô thức của người sáng tạo với sản phẩm sáng tạo được phóng chiếu

Trang 22

trong tác phẩm Phương pháp này cũng có những giới hạn nhất định Đó là sự đơn giản hóa ý nghĩa, làm mất tính độc đáo của văn bản, thu hẹp phạm vi nghệ thuật và thay vào đó là mở rộng phạm vi của tâm lý sáng tạo, dùng văn học để diễn giải tâm lý

1.2 Phê bình phân tâm học văn bản

Đến thế kỉ XVIII, con người theo đuổi những tri thức khách quan và phương pháp khoa học thay cho tư duy tiền hiện đại Trong văn học nghệ thuật, thay vì tìm hiểu tiểu sử tác giả, người ta chuyển sang nghiên cứu văn bản như sự tồn tại tự thân Phê bình phân tâm học cũng chuyển trọng tâm sang nghiên cứu văn bản và xem tác

phẩm như một quá trình sáng tạo Công việc của nhà phê bình lúc này là khám phá quá trình hình thành của văn bản, tìm hiểu văn bản đó được tạo dựng như thế nào

1.2.1 Card Gustav Jung - lý thuyết phê bình siêu mẫu

Card Gustav Jung (1875 – 1961) là môn đệ của S.Freud, đã từng được chỉ định

sẽ kế ngôi vị chủ tịch Hội phân tâm học quốc tế Tuy nhiên, những phát triển của Jung ngày càng xa ông thầy của mình, khiến tình thầy trò xa cách và dẫn đến li khai vào

năm 1913 Hai điểm khác nhau cơ bản trong lý thuyết giữa Jung và Freud là: Jung không giải thích libido như là một đặc điểm tính dục mà coi nó như một năng lượng

sống, đồng thời Jung phát hiện ra vô thức cá nhân tồn tại dưới dạng vô thức tập thể được cấu trúc bởi các siêu mẫu (archétype); Jung còn đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực

văn hóa, tâm linh, thần bí hơn Freud và có ảnh hưởng đặc biệt sâu rộng đối với phê bình văn học nghệ thuật

Đối với khái niệm libido, Jung đã nới rộng phạm vi so với quan điểm của Freud Jung cho rằng, libido không chỉ là bản năng tính dục mà nó còn là một sức sống bao gồm nhiều hoạt động khác Ông chia libido ra làm hai loại: hướng nội và hướng ngoại Người hướng nội, các cảm xúc và tư tưởng của họ thường hướng vào trong Họ

ưa thích những suy tư, cô độc và sự yên tĩnh Ngược lại, người hướng ngoại thường

hướng những cảm xúc và tư tưởng ra bên ngoài, do đó họ thích hoạt động giao du, vui

vẻ và dễ thích nghi với hoàn cảnh Tuy nhiên, trong mỗi người đều có cả hai loại hình này, chỉ là có một loại hình nào vượt trội hơn mà thôi

Đối với thuật ngữ vô thức, Jung cho rằng dưới vô thức còn là các vô thức tập thể Kết cấu tâm lý theo Jung gồm ba phần: hai phần nhô trên mặt nước là ý thức (ego)

và siêu thức (superego), phần dưới mặt nước là vô thức (id) Khác với Freud, Jung cho

Trang 23

ba phần đó là: ý thức là phần ở trên mặt nước, vô thức cá thể là phần chìm dưới nước

và vô thức tập thể là phần dưới đáy sâu Như vậy, Jung còn nhấn mạnh vô thức hơn cả Freud và coi vô thức tập thể mới là yếu tố quyết định hành vi của con người Jung cho rằng vô thức tập thể là giá trị chung của toàn nhân loại và thể hiện giống nhau ở tất cả mọi người, nó chứa đựng yếu tố di truyền mang tính xã hội nằm sâu trong văn hóa của

cộng đồng người

Jung cho rằng vô thức tập thể nằm trong những kinh nghiệm nguyên thủy và những yếu tố cơ bản của nó chính là các siêu mẫu (archétype) Trong cuộc sống nguyên thủy có bao nhiêu tình cảnh điển hình thì có bấy nhiêu loại siêu mẫu: sinh nở, chết, quyền lực, anh hùng, trẻ con, ác quỷ, cha, mẹ, mặt trời, sông, nước, biển, Các siêu mẫu này có tác dụng dẫn đường và điều phối sự phát triển tâm lý của con người từ

một tâm thần nguyên thủy chung thành cá nhân riêng biệt mà Jung gọi là quá trình cá nhân hóa (individuation) Trong đó, có năm loại siêu mẫu quan trong nhất là: mặt nạ nhân cách (persona), nữ tính (anima), nam tính (animus), bóng đêm (shadow) và vô thức tự ngã (self)

Mặt nạ nhân cách là loại siêu mẫu của tâm lý cộng đồng mà mỗi khi giao tiếp với kẻ khác, con người cần sắm một mặt nạ nhân cách để che đậy đi cái tôi thật sự

Nếu con người mang mặt nạ nhân cách quá lâu sẽ làm mất đi nhân cách thực sự của mình Về siêu mẫu bóng đêm, Jung cho rằng nó là phần sâu nhất của vô thức tập thể

và gần gũi với bản năng động vật tính Nó là nguồn gốc của mọi thiện ác trong con người Trong cuộc sống hiện đại, shadow thường bị persona chi phối cho phù hợp với các chuẩn mực của xã hội Về bản chất, shadow được cấu thành chủ yếu từ ham muốn

bị dồn nén và những xung lực hoang dã, những động cơ thấp kém về đạo đức, những huyễn tưởng trẻ con và những sự thù hận tức là tất cả những gì mà con người muốn che giấu đi Những đặc trưng cá nhân không được biết này thường được trải nghiệm qua người khác thông qua sự phóng chiếu Shadow và persona tồn tại trong một mối quan hệ bù trừ, và xung đột giữa chúng luôn hiện diện trong sự bùng phát của nhiễu tâm Nhưng shadow không chỉ có mặt xấu vì những mong đợi của xã hội đặt lên cá nhân không phải lúc nào cũng vì cá nhân mà nhiều khi mang tính tập thể và chỉ vì xã hội Mặt bị che giấu trong shadow chỉ là những gì không thích nghi được với xã hội nhưng lại có tính tích cực

Trang 24

Nữ tính và nam tính là ý tưởng về nữ giới trong lòng nam giới và ngược lại Nghĩa là trong mỗi người đàn bà có một phần đàn ông và ngược lại Lúc đầu anima được đồng nhất với người mẹ nhưng sau đó được trải nghiệm ở những phụ nữ khác và

có ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc đời người đàn ông Với tư cách là yếu tố bên trong, anima là sự bổ sung cho persona và tồn tại trong quan hệ bù trừ với persona Những đặc điểm của anima nói chung có thể suy ra từ những đặc điểm của chính persona, tất

cả những phẩm chất vắng mặt ở thế giới bên ngoài sẽ được thấy ở thế giới bên trong Nếu như người đàn ông, Jung tìm ra anima, ở người phụ nữ được gọi là animus Giống

như anima, animus vừa là tổ hợp cá nhân, vừa là một hình ảnh siêu mẫu và cũng có thể được phóng chiếu Theo Jung, anima và animus là những gì mang tính số phận mà cá nhân không thể phủ nhận hay lẩn tránh được mà buộc phải đương đầu với nó, tức là khám phá cái tôi ý thức của mình chỉ là một phần của một nhân cách rộng lớn Tuy nhiên với việc đương đầu và vượt qua được anima/ animus, cá nhân lại có cơ hội thực

sự để khám phá cái phần sâu thẳm nhất mang tính điều phối toàn bộ sự phát triển tâm

lý cá nhân, đó là một cổ mẫu về tính tổng thể và trọng tâm mà ông đặt tên là self

Self – vô thức tự ngã chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống các loại siêu mẫu, nó

có tác dụng điều hòa các siêu mẫu trên Jung cho rằng, với tư cách là vô thức tập thể, các siêu mẫu này được bảo tồn trong thần thoại nguyên thủy và được thể hiện trong giấc mơ của con người hiện đại Phương pháp phê bình này đem văn học gắn liền với

văn hóa nhân loại đã mở ra một không gian rộng lớn cho tư duy văn học Tuy nhiên, phương pháp này cũng mắc một số giới hạn nhất định trong việc khám phá giá trị lịch

sử chân thực và khám phá tình cảm thẩm mỹ của văn học Giống như các loại cổ mẫu khác, bản chất thực sự của self là không thể biết được nhưng nó biểu hiện nội dung trong các huyền thoại và truyền thuyết Sự nhận biết của self như một nhân tố tâm thần

tự trị thường được thúc đẩy bởi sự xuất hiện của những nội dung vô thức mà cái tôi không kiểm soát được Điều này có thể đưa đến sự nhiễu tâm và sự đổi mới sau đó của nhân cách, hoặc đồng nhất có tính lạm phát với một sức mạnh lớn hơn

Quan điểm về siêu mẫu chứa đựng vô thức tập thể mang dấu ấn tư duy thần thoại của Jung chính là cơ sở lý thuyết của trường phái phê bình văn học siêu mẫu Khác với thầy của mình là Freud tìm đến văn học như là sự mô phổng lý thuyết về phân tâm, Jung là người nghiên cứu và viết nhiều công trình liên quan đến văn học

Trang 25

như Phân tâm học và nghệ thuật thơ ca, Vấn đề loại hình trong mỹ học, Tâm lý học và văn học Phê bình siêu mẫu của Jung đem văn học gắn liền với văn hóa cổ sơ của

nhân loại đã mở ra một không gian vô cùng rộng lớn cho tư duy văn học, Ở điểm này

có thể khẳng định Jung hơn hẳn người thầy của mình là S.Freud

1.2.2 M ột số nhà phê bình phân tâm học văn bản tiêu biểu

Gaston Bachelard (1884 – 1962) là một triết gia kiêm nhà phê bình văn học và

là một người chịu ảnh hưởng khá nhiều từ Jung Dựa trên những lý thuyết về phân tâm, ông đề xuất một hướng phê bình đi tiên phong cho phương pháp phê bình mới ở Pháp Bachelard vận dụng các lý thuyết phân tâm học theo một hướng khác, không theo hướng tính dục mà thuần túy là vô thức Vô thức bắt nguồn từ trạng thái vật chất như nước, lửa, không khí, đất mà người ta gọi là phê bình phân tâm học vật chất Ông cho rằng, những tiếp xúc ban đầu của con người với thế giới vật chất có vai trò cực kì quan trọng và để lại lâu dài trong thế giới vô thức của con người Nó nằm sâu trong vô thức và trong quá trình sáng tạo của nhà văn và bộc lộ ra bằng sự sáng tạo Bachelard đã thay thế giấc mơ (rêve) bằng sự mơ mộng (rêverie) Theo tâm lý học truyền thống, con người nhìn thấy trước, rồi nhớ lại và sau cùng mới tưởng tượng Bachelard đi ngược lại khi cho rằng: con người tưởng tượng trước, rồi mới nhìn thấy

và sau cùng mới nhớ lại Như vậy, Bachelard đã đặt vấn đề tưởng tượng lên hàng đầu

và từ đó ông xây dựng lý thuyết triết học về văn học Bachelard khẳng định thơ ca chính là sự mơ mộng xung quanh những vật chất nguyên thủy, các yếu tố này tồn tại trong vô thức tập thể với tư cách là các siêu mẫu chi phối hoạt động sáng tạo của con người Những tác phẩm nổi tiếng của ông như Phân tâm học về lửa (1938), Nước và

những giấc mơ (1938), Không khí và những giấc mơ (1943),

Một nhà phê bình phân tâm học khác cũng đặc biệt quan tâm đến vô thức là Jacques Lacan (1901 – 1981) Ông chủ trương trở về học thuyết Freud bằng cách dựa vào cấu trúc luận với tuyên bố nổi tiếng: vô thức được cấu trúc như ngôn ngữ

(L’inconscinet est structuré comme un langage) Lý thuyết của Lacan về vô thức đặt trên nền tảng về ngôn ngữ đã tạo nên tiếng vang sâu rộng trong lĩnh vực phê bình Ông cho rằng không những vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ mà còn là sản phẩm của ngôn ngữ Lacan sáng lập ra trường phái phân tâm học cấu trúc (structuralist psychoanalysis), khai mở con đường từ Freud dưới dóc độ của chủ nghĩa cấu trúc

Trang 26

(structuralism) và chủ nghĩa hậu cấu trúc (post-structuralism) Ông đã tạo lập ra bộ ba khái niệm: cái thực (the real) – cái tưởng tượng (the imaginany) – cái biểu tượng (the symbolic) thay cho bộ ba: vô thức (id) – ý thức (ego) – siêu thức (superego) của Freud

Bộ ba khái niệm đó thiết lập một cấu trúc ngôn ngữ chặt chẽ và không có khái niệm nào vượt qua được phạm vi của ngôn ngữ, kể cả vô thức

Với tác phẩm nổi tiếng Luận thuyết (Écrits, 1966) Lancan đã đặt vô thức gần kề

với năng biểu và lời nói Ông đã làm nổi bật chức năng của biểu tượng, các biểu tượng

là chìa khóa để tìm hiểu vô thức Cái biểu tượng là cấp thứ ba và cũng là cấp quan

trọng nhất trong mô hình phân tâm học của Lancan Với Lancan: “vô thức được cấu trúc như ngôn ngữ” và vô thức là diễn ngôn của kẻ khác” Lancan cho rằng, bản chất của con người ở trong ngôn ngữ và ngôn ngữ tạo nên con người Để hiểu được lý thuyết này cần nắm được khái niệm về cái biểu đạt và cái được biểu đạt của Saussure

Dausure đề xuất ý niệm về cái biểu đạt và cái được biểu đạt là hai chuỗi liên tục, hỗn độn giữa ý nghĩ và âm thanh Cái biểu đạt là âm thanh, ứng với cái được biểu đạt là khái niệm Lacan phát triển ý niệm của Saussure về cái biểu đạt và cái được biểu đạt bằng cách chỉ ra rằng có thể đem áp dụng một cái biểu đạt khác cho cùng một cái được biểu đạt Nếu như Freud cho rằng cái vô thức có trước ngôn ngữ thì Lacan cho rằng vô

thức hiện hữu đồng thời với ngôn ngữ Khi từ ngữ thất bại đối với những ham muốn thì vô thức xuất hiện Trong hệ thống của Freud, vô thức tồn tại như một khối hỗn độn các bản năng thì trong hệ thống của Lacan vô thức là kết quả của sự cấu trúc hóa ham muốn bằng ngôn ngữ Ham muốn đầu tư ý nghĩa cho cái biểu đạt nhưng nó chỉ là chủ quan, còn vô thức là ham muốn được tạo nghĩa nhưng lại không được nhận biết Lacan

sử dụng hoán dụ và ẩn dụ (Lacan mượn thuật ngữ của Jakobson) để miêu tả sự biến đổi đó

Với Lacan chức năng của ngôn ngữ không phải để giao tiếp mà để cấp cho một

chủ thể một vị trí phát ngôn, trong đó cái biểu đạt quan trọng hơn cả Vì vậy, phê bình văn học của theo chủ trương của ông có xu hướng tập trung vào những cấu trúc của ham muốn, xác định bởi một chuỗi biểu nghĩa Ông khẳng định chủ thể không hiện

hữu cho đến khi nó đòi hỏi được ý thức Theo Lacan điều này xảy ra trong giai đoạn tiền ngôn ngữ Những luận điểm này đã làm thay đổi mối quan hệ giữa phân tâm học

và phê bình văn học Phân tâm học cổ điển đặt câu hỏi sử dụng văn bản như những

Trang 27

dấu hiệu của tâm lý tác giả hoặc nhân vật trong tác phẩm Lacan lại tra vấn nó ở cả lý thuyết và thực hành bằng việc đánh giá những quy luật của ngôn ngữ thông qua biểu tượng Ông cho rằng biểu tượng là chìa khóa của vô thức và trở về với Freud bằng cách làm nổi bật chức năng của biểu tượng Lacan tạo lập một cách đọc văn bản mới: đầu tiên là đối chiếu hai loại văn bản – văn bản của Freud về lý thuyết và văn bản của tác phẩm, từ đó nắm bắt các biểu tượng làm chìa khóa để giải mã Lacan cũng bỏ qua việc nghiên cứu tâm lý nhân vật mà diễn giải truyện theo phương pháp cấu trúc luận Mối bận tâm chính của ông là làm rõ sự lặp lại của một cấu trúc và sự tái diễn đó có

một ý nghĩa quan trọng trong diễn giải văn bản Việc quan tâm đến cấu trúc các ham muốn tạo ra sự phân loại các nhân vật, nó nhắc lại chính nó qua sự khác biệt của các nhân vật, di chuyển từ vị trí của người này sang vị trí của người khác, hành động này sang hành động kia Dựa vào phân tích biểu tượng và các cảnh trong tác phẩm, Lacan tìm những sự trùng hợp lặp đi lặp lại và tổ chức cho hợp lý, từ đó lí giải các biểu tượng dựa trên thuyết về phân tâm Phê bình cấu trúc của Lacan đã đi xa hơn một sự diễn giải

về văn bản cụ thể đã mở lối vào một diễn ngôn rộng hơn với sự liên tưởng rộng rãi, tạo nên sự diễn giải mới một tác phẩm văn chương

Từ giữa thế kỷ XX, con người thất vọng về hiện thực và nhận ra khoa học và tư duy duy lý không khiến cuộc sống hạnh phúc như họ mong đợi Tất nhiên, người ta không quay lưng lại với tư duy tiền hiện đại là xác lập niềm tin đối với tôn giáo hay quy luật nhân quả, mà chuyển sang tư duy mới – tư duy hậu hiện đại: con người kiếm tìm ý nghĩa của riêng mình Chính vì vậy, văn học nghệ thuật cũng chuyển sang chú

trọng đến người đọc như một yếu tố không thể thiếu trong quá trình lý giải Phê bình phân tâm học lúc này cũng coi sự tiếp nhận của người đọc như một đối tượng ưu tiên trong quá trình nghiên cứu và tìm kiếm ý nghĩa của văn bản Phê bình phân tâm học

người đọc là phương pháp ứng dụng lý thuyết phân tâm học để phê bình văn học nhưng chủ yếu trên phương diện tiếp nhận Phương pháp này chỉ ra vô thức người đọc

có vai trò như thế nào trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học

Norman Holland sinh năm 1927 tại New York là nhà phê bình hàng đầu về tâm

lý học của Mỹ Ông cũng là một trong những nhà phê bình phân tâm học đầu tiên quan tâm đến vấn đề người đọc và sự tiếp nhận Theo quan niệm truyền thống phương Đông

Trang 28

thì người đọc lý tưởng là người đồng cảm chia sẻ với tác giả về tác phẩm Ở phương Tây, việc nghiên cứu về người đọc phát triển mạnh vào những năm giữa thế kỷ XX bởi nhà nghiên cứu Roman Ingarden (công trình Tác phẩm văn học, 1931) Roman Ingarden cho rằng tác phẩm văn học chịu sự tác động có ý thức của người đọc và chính người đọc sẽ lấp đầy những “khoảng trống” của văn bản để tạo thành tác phẩm Theo quan điểm của mỹ học tiếp nhận, người đọc giữ vai trò tích cực và chủ động trong quá trình tạo nghĩa cho văn bản, vì vậy nó đóng trò quan trọng trong các hoạt động văn học Hans Robert Jauss và W.Iser đại diện tiêu biểu cho mỹ học tiếp nhận

cũng khẳng định người đọc và văn bản có mối quan hệ mật thiết với nhau Iser đưa ra khái niệm “người đọc tiềm ẩn” hay “độc giả - đồng tác giả” đánh giá vai trò cực kì quan trọng của đối tượng tiếp nhận Manfred Maumann thì cho rằng có hai loại người đọc là người nhận và người đọc giả định M.Maumann đặt người nhận trong các phạm trù xã hội học, tâm lý học và thẩm mỹ Khái niệm người đọc giả định được ông nhắc tới thuộc về nhóm người đọc có trong ý thức, tiềm thức của tác giả, được tác giả

mới bị nhiều nhà phê bình theo thuyết người đọc (reader theory) chống lại, trong đó có

lý thuyết của Norman Holland Holland cho rằng việc tiếp nhận là quá trình cái tôi đem nội dung vô thức chuyển thành ý thức

Holland đã có hàng loạt công trình về bình bình phân tâm học người đọc thể hiện quan điểm của mình Trong bài viết Phân tâm học văn học, Holland đã khái quát qua các hướng phê bình phân tâm, trong đó nêu rõ cả những thành công và sự chỉ trích đối với phân tâm học Ông chỉ ra rằng, trước đó các nhà phê bình chủ yếu quan tâm đến hai cách: một là phê bình văn bản trong mối quan hệ với các chi tiết về tiểu sử của nhà văn và hai là loại diễn giải văn bản dựa trên văn bản và cách xây dựng nhân vật Đối với Holland, ông quan tâm nhiều hơn đến sự tiếp nhận của độc giả và coi đó là phần thú vị nhất của phê bình phân tâm học hiện nay Ông cho rằng trong công việc giảng dạy hoặc phê bình, quan trọng là làm thế nào để người đọc hiểu được những gì

Trang 29

mà văn học đem đến cho họ, làm cách nào để người đọc xâm nhập được vào thế giới của nhà văn để thu nhận những tinh hoa của tác phẩm

Holland cho rằng, mục đích quan trọng nhất đối với phân tâm học là những kiến thức về tâm thần, nhận thức, trí tuệ, còn đối với một nhà phê bình phân tâm học là trong cách sử dụng ngôn ngữ Việc tích hợp những lý thuyết của phân tâm học vào phê bình văn học là cách tìm hiểu về não bộ và cơ chế sử dụng ngôn ngữ của não bộ Ông cũng cho rằng nó không đơn giản như cách Lacan đã làm, mà thay vào đó nó có một ý nghĩa rộng lớn phía sau Hay nói đúng hơn, khi sử dụng một từ, não phải sử dụng một

loạt các tính năng riêng biệt, âm thanh, vai trò ngữ pháp như một khu biệt riêng cho từ

đó Và để đi đến nghĩa của từ, não bộ lại lắp rắp với các thông tin khác Việc của nhà phê bình là chỉ ra ý nghĩa, thông tin và cảm xúc đằng sau mỗi từ đó Công trình Văn

học và bộ não đã cho biết chức năng của bộ não hoạt động theo những cách rất riêng

biệt đối với tác phẩm văn học nghệ thuật Cuốn sách đã giải quyết một số vấn đề cơ bản về văn học và tâm lý: điều gì làm cho chúng ta cảm nhận được một ngôn ngữ như

là văn học? Có nghĩa gì khi chúng ta cảm nhận được một tác phẩm văn học là tuyệt vời hay kinh khủng? Những tình trạng nào của bộ não giải thích cho sự sáng tạo văn học? Tại sao có tất cả các nền văn hóa trong mọi thời đại nhưng lại có một hình thái nghệ thuật ngôn ngữ?

Holland đưa ra thuật ngữ những vấn đề bản tính (indentity themes) của người

đọc Ông cho rằng, chủ đề của một tác phẩm văn học là sự phóng chiếu những tưởng tượng, nó được tạo ra do sự mâu thuẫn giữa ham muốn vô thức và sự tự vệ có tính chất

ý thức của nhà văn Còn người đọc tác phẩm thực chất là quá trình tái tạo chính bản thân mình Sự tái tạo đó phụ thuộc vào kết quả sự gặp gỡ giữa những tưởng tượng được phóng chiếu bởi tác giả và sự tưởng tượng của người đọc Theo Holland, tác phẩm văn học không có một ý nghĩa tổng thể xác định mà nó phụ thuộc vào kinh nghiệm tâm lý của người đọc Những người đọc có sự diễn giải tác phẩm giống nhau nhưng cũng chỉ ở một mức độ nào đó và điều đó cũng phụ thuộc vào những kinh nghiệm tâm lý giống nhau

Holland chỉ ra trong cách tiếp nhận văn bản của người đọc, chúng ta cần chú ý nhiều hơn vào những người đọc đã phản ứng với tác phẩm trong một thời gian dài, nghĩa là những đánh giá đã được thẩm định bởi thời gian, đặc biệt là người đọc lý

Trang 30

tưởng – đó là các nhà phê bình Đối với các bạn đọc thông thường, cách để họ tiếp cận

và hiểu được tác phẩm nào đó phải thông qua một tâm trí – là chính bạn hoặc bởi một nhà phê bình Nếu bị ảnh hưởng bởi nhà phê bình, người đọc sự chịu sự chi phối những yếu tố tâm lý nhất định bởi nhà phê bình đó Mặc khác, độc giả phản ứng lại với tác phẩm bằng cách sử dụng nó để tái tạo quá trình tâm lý của riêng mình Ông cho

rằng mỗi người đọc sẽ tạo ra cho mình một phong thái riêng, như cách ăn uống, đi lại, nói cười, ngủ nghỉ Và việc tiếp nhận văn học cũng như vậy, mỗi “tạng” người sẽ cảm thấy phù hợp với một kiểu văn học khác nhau Holland đã tổng kết bốn nguyên

tắc mô tả những phản ứng của người đọc đối với tác phẩm văn học Ở nguyên tắc đầu tiên, mỗi người đọc sẽ liên kết lại những hình ảnh, nhân vật, ngôn ngữ trong tác phẩm để tạo ra ý nghĩa mà mình mong muốn Nguyên tắc thứ hai, khi người đọc tổng

hợp được những yếu tố trong tác phẩm văn học sẽ tạo ra ý nghĩa mà mình mong muốn Lúc này, người đọc sẽ phải giải quyết những xung lực bên trong bản thân, mong muốn của bản thân với ý nghĩa thực tế của tác phẩm văn học Nguyên tắc thứ ba, sau khi

người đọc vượt qua những xung lực của bản thân để hòa hợp với các dữ liệu trong tác phẩm văn học, lúc này người đọc sẽ tái tạo ý nghĩa của tác phẩm đó để phù hợp với những gì mà mình mong muốn khi đọc tác phẩm Và cuối cùng, những dấu ấn trong

tuổi thơ có ảnh hưởng lớn trong việc tiếp nhận văn học và tái tạo ý nghĩa của tác phẩm văn học Ông đã nghiên cứu các tác phẩm của các nhà văn như Jonson, Dickens, Gogol, Balzac và giải thích những tác phẩm có liên quan đến tuổi ấu thơ

Quan điểm về phân tâm học người đọc của Holland giúp người đọc định hình được những kinh nghiệm của bản thân bằng cách hiểu được kinh nghiệm tâm lý của nhà văn hoặc nhân vật trong tác phẩm, qua đó hiểu hơn về thế giới xung quanh mình

và tạo ra cách ứng xử hợp lý với thế giới Bằng cách đó, tác phẩm văn học mới thật sự

có giá trị phổ quát và mang lại ý nghĩa nhân văn

* * * Mỗi phương pháp phê bình phân tâm học sẽ đưa lại hiệu quả nhất định trong quá trình tìm kiếm giá trị thẩm mỹ của tác phẩm Việc khéo léo kết hợp cả ba khuynh hướng phê bình sẽ tạo nên một kết quả thuyết phục hơn Tuy nhiên có thể thấy, khuynh hướng phê bình phân tâm học tiểu sử và phê bình phân tâm học văn bản được

Trang 31

các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều hơn hết Có thể xuất phát từ việc phê bình phân tâm học người đọc còn rất mới, đồng thời việc truy tìm vô thức của người đọc cần một quá trình làm việc rất dài và tốn nhiều công sức nên gây khó khăn cho nhà nghiên cứu Chính vì vậy, với đối tượng nghiên cứu là văn xuôi Việt Nam đương đại, chúng tôi tập trung sử dụng kết hợp phê bình phân tâm học tiểu sử và phê bình phân tâm học văn

bản để lý giải những giá trị thẩm mỹ trong thế giới nhân vật cũng như phương thức biểu hiện trong các tác phẩm

Trang 32

Chương 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC

2.1 Nhân vật với đời sống vô thức, tâm linh

2.1.1 Nhân vật sống trong vô thức

2.1.1.1 Vô thức

Khái niệm “vô thức” chiếm vị trí quan trọng nhất và là đối tượng nghiên cứu của phân tâm học Freud cho rằng: phân tâm học là lý thuyết về vô thức: “Phân tâm học là một phương pháp kinh nghiệm có mục đích phát hiện những vô thức được che giấu đằng sau những hành vi có vẻ hợp lý, phải đạo của mỗi cá nhân” [137, tr.131] Freud đã làm nhân loại choáng váng khi đề cao vị trí của vô thức trong hoạt động của con người Theo Freud, hành vi của con người do vô thức mà thành Sự phủ nhận vai trò của ý thức trong hoạt động người là một tuyên bố tưởng chừng vô lý, trái ngược với quan niệm thường thấy Vô thức là nơi ẩn chứa ham muốn bị kìm nén, nơi tồn tại xung năng libido, nơi hữu thức bị dồn nén trở thành vô thức Đó là cõi mênh mông vô định trong sâu thẳm tâm lý người, ẩn chứa bản năng dục vọng của con người Các nhà phân tâm học xem vô thức như một hầm trú ẩn cá nhân chứa đầy những ước muốn chính đáng hoặc không chính đáng không được thoả mãn Vô thức càng bị dồn nén thì càng có khuynh hướng tìm cách thoát ra để được giải toả, bộc lộ mình giữa trời đất, cỏ cây

Chạm vào cõi vô thức của nhân vật, nhà văn đã thể hiện được mọi ngóc ngách

trong thế giới tâm hồn thẳm sâu Nhân vật Mai trong Mưa ở kiếp sau (Đoàn Minh

Phượng) đã bước đi trong sự dẫn dắt của vô thức Sự hoang mang của Mai cũng chính

là sự ngỡ ngàng của hữu thức trước vô thức khi cô cảm nhận sự bất lực của chính mình Ai đã mang hành lý cho tôi? Tôi đã làm gì? Tôi đã ngủ khi nào? Tất cả như cõi mộng du mà Mai không thể hiểu, chỉ tồn tại trong cô cảm giác buồn, sợ và trống rỗng Có một con người khác trong Mai đã điều khiển mọi hành động của Mai, buộc Mai phải lên đường tìm cha, tìm cái quá khứ chôn vùi, cái tuổi thơ đầy mặc cảm Ngay

cả việc Mai đến Muôn Hoa cũng là một quyết định rất mong manh, sờ sợ như một nụ cười khó hiểu của Chi Nụ cười không tượng hình chỉ thoáng qua trong linh cảm, trong cõi vô thức mơ hồ Đứa con gái hư ảo với bóng đen và mái tóc dài hay cõi vô thức

Trang 33

trong Mai đã dẫn dắt cô tìm đến với cha giữa những nghịch cảnh trớ trêu, vùng vẫy, đáng sợ? Với Freud, đằng sau ý thức là sự điều khiển của vô thức, có khả năng chỉ huy mọi hành động của con người Trong cõi ảo giác ấy, Mai cứ thấy chập chờn hình ảnh Chi, tiếng nói Chi, về cái chết đầy ám ảnh, về tình yêu hay một nỗi oán hận đã thành

ẩn ức?! “Tôi thức giấc đầy sợ hãi Tôi sợ những giấc mơ, không dám ngủ lại Tôi không dám thức, sợ Chi sẽ đến ngồi nơi đầu bên kia của tấm phản, buông mái tóc ma

lỵ xuống hai vai, u uất nhìn tôi bằng cặp mắt của chính tôi” [135, tr.207] Nỗi ám ánh

vô thức và sự sợ hãi chập chờn đã khiến con người nhiều lúc như chạy vụt ra khỏi thực

tại, quấn chặt mình giữa hư vô Đọc Mưa ở kiếp sau, người đọc đôi khi cũng chìm

trong vô thức hơn là cõi thực Dường như có một thế lực vô hình trong ta, điều khiển chính ta, mà ta không hề hay biết?!

Các nhà văn đương đại luôn có ý thức nới rộng diện tích phản ánh của mình sang thế giới uẩn khúc sương khói của tâm linh Tác phẩm của Nguyễn Đình Tú thực

sự đưa người đọc vào cõi vô thức, với ám ảnh của tâm linh Đó là thế giới thực sự thuộc về ta, đã xảy ra những sự kiện không thể giải thích được Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú thường được đặt giữa hun hút tâm trạng Thực ảo không còn

đường biên rõ nét Ở Nháp, Đại hiện về trong nhân vật Tôi như một bóng ma, chập

chờn trong nhật ký, trong blog Những linh hồn vất vưởng kia nối tiếp với nhân vật

“Tôi” bằng mối tâm linh đặc biệt Đại ám ảnh đôi mắt nâu, chiếc váy trắng, tất trắng của Thảo như một kẻ mộng du giữa cuộc đời, đến nỗi người ta xem Đại như một thằng Điên, thằng hâm, kẻ tâm thần, hoang tưởng và chập mạch, khác người Đại cũng không thể lý giải chính mình Giống như hành vi sai lệch được chi phối bởi một sai khiến vô hình trong vô thức, lấn át cả phần ý thức mong manh trong Đại Cuộc sống

Đại bị bủa vây bởi những sai lạc, ảo giác Diệu trong Phiên bản cũng chập chờn

trong khoảng tâm linh, chìm sâu vào vô thức trong cảm giác của nỗi cô đơn, sợ hãi, hoảng loạn Từ trong nỗi cô đơn của một tâm hồn bị lưu lạc, Diệu ám ảnh bởi những con giao long, bởi một tuổi thơ kinh hoàng trong quá khứ Tất cả đã đi vào vô thức cô như nỗi chập chờn Bóng trăng xuất hiện như miền vô thức thẳm sâu trong Diệu Cô đối diện với mình, dằn vặt mình, đau đớn với chính mình Lời của bóng trăng hay lời cõi vô thức, tâm linh? Tiếng nói tự đáy sâu mà tựa hồ như miền vô thức đang réo gọi chính mình

Trang 34

2.1.1.2 Giấc mơ

Giấc mơ cũng là dạng biểu hiện khác của vô thức, là địa hạt của thế giới kỳ ảo, nơi mọi khát khao như vỡ ra Soi chiếu lý thuyết phân tâm học về khái niệm “giấc mơ” trong việc xây dựng thế giới nghệ thuật của các cây bút văn xuôi Việt Nam đương đại nhằm cho thấy những nét nổi bật trong sáng tác của họ Trên thực tế, nhiều tác phẩm văn học nói về giấc mơ, lấy giấc mơ làm chất liệu xây dựng hình tượng nghệ thuật, qua đó nhà văn đã gửi gắm thông điệp về cuộc sống Giấc mơ trong văn học hiện đại

là đời sống tâm linh của con người, là những kí ức toát ra từ miền sâu thẳm Nhà văn

sử dụng khái niệm “giấc mơ” với ý nghĩa để giải tỏa những ẩn ức, những ước vọng thầm kín trong tâm hồn con người Điều đó, cũng lý giải tại sao có nhiều tác phẩm nói

về giấc mơ, lấy giấc mơ làm chất liệu, từ đó thể hiện nhiều vấn đề sinh động có tính nghệ thuật cao Đó cũng là một trong những phương thức để các nhà văn Việt Nam đương đại thể hiện cái nhìn đa diện, đa chiều về con người

Trước hết, giấc mơ chính là sự ám ảnh của con người trước hiện thực không thể

thổ lộ Giấc mơ của Mai trong Mưa ở kiếp sau là nỗi ám ảnh hư thực về một đứa con

gái Giấc mơ về đứa con gái kia chập chờn quanh Mai như một định mệnh “Cơn sốt dâng lên, và tôi chìm vào một chuỗi những cơn ác mộng lạ lùng, tôi nằm mơ những điều ma quái trong lúc tôi không ngủ Ánh sáng, màu sắc, tiếng động của thế giới thật

và của những cơn mộng mị lẫn vào nhau, dồn dập trùng vây, chói lòa hay tối tăm mù mịt, tôi chơi vơi ở sườn núi cao hay dưới vực thẳm, người ta lũ lượt bao lấy tôi như một đàn kiến dữ, nhưng ngước mặt nhìn tôi không thấy một người nào” [135, tr.56] Trong giấc mơ ấy, Mai hoàn toàn chìm vào thế giới của vô thức, nơi ngập tràn trong

im lặng và bóng tối, nơi không có lấy tý ánh sáng và tiếng động, nơi không tồn tại không gian và thời gian Ở đó, chỉ có cảm giác về tiếng gọi từ một miền xa thẳm Khi tâm trạng bất an, con người thường rơi vào những khoảng lặng không thể lý giải Giấc

mơ cũng là một trạng thái chập chờn của vô thức, của nỗi sợ hãi, và sự bất ổn trong tâm hồn Tác giả đã khắc họa tâm trạng rất thực của Mai khi cô vừa muốn la hét để thoát ra khỏi mộng mị, vừa muốn buông xuôi để chìm vào vùng ánh sáng ấy, tiếng nói thân thuộc ấy - những thứ thuộc về thế giới tâm linh và mộng mị Có thể nỗi ám ảnh

về đứa em đã mất, về cái chết đã xâm nhập vào tâm hồn Mai trở thành nỗi sợ mơ hồ, chợt về trong giấc mơ Khi những giấc mơ lặp đi lặp lại, con người ta càng chìm vào

Trang 35

cõi mơ, càng không đủ tỉnh táo để nhận ra đâu là mơ, là thực Ngay cả trong những lúc tỉnh, con người lắm lúc vẫn chìm vào cõi vô thức Tâm trạng của Mai là một ví dụ Mai lãng quên hiện thực bằng cách đắm chìm vào thế giới chiêm bao “Tôi không thiết những câu chuyện ban ngày Tôi nằm nhớ lại giấc chiêm bao tôi thấy vào đêm qua và vào đêm trước đó và vào muôn nghìn đêm trước ấy nữa Những giấc mộng như những chiếc lá rừng rơi xuống mặt đất ẩm ướt, chồng chất lên nhau Những giấc mơ mới như những chiếc lá vừa rơi còn nửa xanh nửa vàng phủ lên trên những chiếc lá bên dưới, càng xuống sâu càng ẩm mục và ở một tầng nào đó đã mang màu của đất, đã một nửa biến thành đất nơi chúng đã rơi xuống” [135, tr.124] Thế giới mộng mị thường không

rõ nét Khi những giấc mơ đi qua, người ta chỉ còn lưu lại những cảm giác thật mơ hồ Chúng như một thứ ánh sáng hắt ra từ những khung cửa sổ của một gian phòng thuộc

về một thế giới nào đó không tồn tại Điều quan trọng là trong giấc mơ của Mai không bao giờ thiếu hình ảnh đứa con gái đó - đứa con gái bằng nắng, bằng gió, bằng ánh sáng lung linh đang cầm chiếc que, đang dẫn Mai bước vào cõi khác, mà chính Mai cũng đang muốn cưỡng lại, muốn vẫy vùng thoát ra Sức mạnh của vô thức nhiều khi

có thể cuốn con người vượt ra khỏi thế giới của thực tại Mai dường như chập chờn giữa hư thực Trong giấc mơ của Mai, hình ảnh của Chi luôn ám ảnh “Không, tôi không thật sự thấy mặt Chi, nó luôn luôn quay lưng lại với tôi Người nó mỏng như sương, lãng đãng chập chờn, nhạt đi mỗi khi tôi ngước nhìn, nhưng tôi luôn luôn biết rằng nó đang ở đó, nơi khung cửa sổ của toa tàu” [135, tr.194] Hai con người thực -

ảo cùng tồn tại trong cõi mộng, cùng âm thầm, dai dẳng và buồn rưng rức

Truyện ngắn Onkel yêu dấu của Trần Thùy Mai, nhân vật “tôi” cũng có lúc bị

giấc mơ hành hạ “Tôi” một người đàn ông Việt ba mươi tuổi, lần đầu xa vợ con đến làm nghiên cứu sinh ở Đông Đức Thế rồi, qua Maria, anh biết đến Eva Lần đầu tiên khi Eva ôm hôn anh, sự va chạm với tấm thân nảy nở mềm mại của cô thiếu nữ tóc vàng xinh đẹp để lại cho anh “vài giây xôn xao ngoài ý muốn” Dường như cảm giác

ấy được nâng lên thành cảm xúc khi một lần anh nhìn thấy Eva “mặc bikini ngồi trên xích đu, đôi chân thon dài duỗi ra mịn màng dưới ánh nắng” [111, tr.21] Hình ảnh trực giác ấy đã đánh thức bản năng sinh vật trong người đàn ông đã lâu ngày thiếu hơi

ấm đàn bà: “Máu tôi như ngưng đọng lại, dồn hết vào một chỗ trên cơ thể” [111, tr.21] Để rồi anh phải xấu hổ trước những cảm xúc rất bản năng của mình, anh “lặn

Trang 36

tuốt xuống đáy, giấu thân thể mình dưới chỗ sâu nhất của hồ bơi” [111, tr.21] Từ trong vô thức, tiếng nói của bản năng dục vọng lên tiếng, giục giã anh phải thỏa mãn những ham muốn Nhưng hiện thực không cho phép, những khao khát đầy bản năng

ấy đã được anh đem vào cả trong giấc mơ “đêm hôm ấy, trong giấc ngủ, bỗng tôi thấy trong bóng tối hiện ra cặp đùi trắng muốt, rồi toàn thân tôi rung bật Bừng tỉnh, thấy mình đã ướt sũng” [111, tr.21] Đời sống tính dục, nhu cầu tính dục là một nhu cầu hết sức bình thường của con người cũng giống mọi nhu cầu khác Nhu cầu ấy luôn chịu sức ép của hoàn cảnh, của hiện thực đời sống xã hội Sự không thỏa mãn bản năng trong hiện thực, con người đã tìm đến giấc mơ để giải tỏa dục vọng bị dồn nén Vì thế, trong giấc mơ, con người được là chính mình

Trong truyện Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, người phụ nữ bị đeo đuổi bởi một

thứ “tội tổ tông” Người phụ nữ ấy là con dâu trưởng của một gia đình khắt khe mà một năm có tới mười bảy đám giỗ Nhưng đó chưa phải là nỗi bất hạnh mà nỗi bất hạnh của người phụ nữ ấy là cái hiện tượng “bóng đè” đến với cô những ngày về quê làm giỗ Một điều kỳ bí trong hiện tượng này là cái được gọi là “bóng đè” kia với cô là

“thật” nhưng với mọi người nó lại là “giả” Không ai thấy, không ai hiểu, chỉ một mình cô biết, một mình cô chịu đựng, nhưng lại không thể làm gì để tự giải thoát mình “Bóng đè” là một hiện tượng, một thuật ngữ có thực trong đời sống Nhưng trong truyện, Đỗ Hoàng Diệu lại sử dụng hiện tượng này bằng phương thức giấc mơ của nhân vật nữ, như là một điều thần bí, kỳ lạ để phản ánh nỗi khổ về người phụ nữ

và cái đáng thương của họ Họ đâu có tội tình gì khi sống thực với bản năng của mình, khi mang trong mình cái khát khao sống rất đời thường là yêu và được yêu Chính họ cũng không mong muốn bất hạnh ấy xảy ra với mình Trong hiện tượng ấy, họ là người bị động, là nạn nhân, phải hứng chịu để rồi khi nghĩ lại họ thấy ghê tởm, đau khổ, dằn vặt, chán ghét bản thân mình Vậy mà tất cả mọi người xung quanh đều không biết, không hiểu và đều trút cho họ những cái nhìn lạnh nhạt, đầy khinh bỉ, kể

cả người chồng và càng bất hạnh hơn khi họ có nỗi khổ mà không thể chia sẻ cùng ai,

để rồi cứ tự dằn vặt với mình bởi “thứ tội tổ tông” đáng sợ

Giấc mơ thường có tính dự báo và linh cảm Đó phải chăng là hậu quả của những ám ảnh ban ngày đã bộc phát trong vô thức? Ở một góc nhìn tâm linh, con người thường có những linh cảm diệu kỳ đến không thể lý giải? Có lẽ vì thế, giấc mơ

Trang 37

luôn có sức hấp dẫn đối với Freud Chính Freud đã tìm ra con đường đoán mộng, cũng như ông nhìn thấy tính dự cảm về hiện thực trong bản thân những giấc mộng tưởng như vu vơ ấy Với Freud, lý giải giấc mơ chính là ngã rẽ đi vào cõi vô thức mông lung

của con người Với ông, đó thực sự là một khoa học - khoa học về các giấc mơ

2.1.2 Nhân vật với sự ám ảnh của tâm linh

Ở nhiều tác phẩm, linh hồn, ma trở được thể hiện trong tác phẩm với tư cách là một hình tượng có giá trị nghệ thuật độc đáo, giữ vị trí quan trọng, tạo nên sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc Đó là hồn ma Từ Vinh, hồn ma Thái hậu họ Dương, nguyên phi Ỷ Lan trong tác phẩm Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), hồn của bà Huy Ninh, hồn của cô ma Ngọc Lan xinh đẹp trong tác phẩm Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), hồn ma của Mai trong M ưa ở kiếp sau (Đoàn Minh Phượng) Người đọc bắt gặp ở Giàn thiêu

vô vàn những hồn ma Hằng đêm oan hồn của Thái hậu họ Dương và 76 cung nữ hiện lên để lên án, kết tội Linh Nhân Sự kết tội ấy đã vén lên cái phần khuất lấp của

Trang 38

Linh Nhân - Ỷ Lan, đó là lòng đố kị, giấc mơ quyền lực, tội ác tàn bạo Chính những hồn ma đã vén lên hiện thực vẫn bị che giấu bấy lâu nay về Ỷ Lan

Chốn cung đình trong Hồ Quý Ly có quá nhiều mưu mô khiến con người luôn

sống trong hoài nghi, Hồ Nguyên Trừng, Hồ Quý Ly chỉ dám sống thật với chính mình khi ở bên cạnh những linh hồn Hồ Nguyên Trừng đã coi “cô ma Ngọc Lan” như một người tri kỉ Lòng Nguyên Trừng chỉ dịu lại khi được gặp cô ma xinh đẹp Ngọc Lan Còn Hồ Quý Ly, khi bà Huy Ninh mất, “hằng đêm, trước lúc ngủ, ông vẫn đến bàn thờ bà để thắp hương, để tâm sự… Ông làm việc đó đều đặn như một tín đồ” [89, tr.561] Hồn bà Huy Ninh đã góp phần soi chiếu “sự thật lịch sử tâm hồn” con

người bên trong nhân vật Hồ Quý Ly Dù là nhân vật lịch sử lỗi lạc, dù lạnh lùng, sắt

đá đến mấy Hồ Quý Ly cũng có những phút thật yếu đuối, cũng có mọi cung bậc cảm xúc vui, buồn, yêu, ghét… Tham vọng, mưu mô, thâm hiểm, tàn nhẫn, lạnh lùng chỉ là cái vỏ bọc bề ngoài của Hồ Quý Ly, bên trong lại là một con người khác, con người rất mực tình cảm đầy nội tâm, đầy nỗi niềm Như vậy, linh hồn không chỉ là sự xác tín cho sự tồn tại của một thế giới vô hình, mở rộng nhận thức, cảm thụ về thế giới mà đó còn là sự thể hiện để soi tỏ thế giới bên trong tâm hồn con người

Đọc Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vẵng (Chu Lai), ta thấy những

sự kiện, những chiến dịch, những trận đánh, những linh hồn triền miên hiện lên trong

hồi ức của nhân vật Xuyên suốt tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là dòng

hồi ức và những giấc mơ của Kiên về vô số những bóng ma Trong những mảng kí ức

về chiến tranh, cái chết là một sự ám ảnh trở đi trở lại với Kiên hằng đêm Đó là những xác chết, những oan hồn binh sĩ ở truông Gọi Hồn, đồi Xáo Thịt, làng Hủi, “dằng dặc trôi qua trong hồi ức của Kiên vô vàn những hồn ma thân thiết, lẳng lặng âm thầm kéo

lê mãi trong đời anh nỗi đau buồn chiến tranh” [125, tr.33] Cũng bằng cái nhìn mới về

hiện thực chiến tranh, những ảo giác tâm linh trong Ăn mày dĩ vãng đã cho ta thấy một

bộ mặt chiến tranh đau thương với quá nhiều mất mát Hồn ma những liệt sĩ hiện hình giữa đêm khuya vang lên câu hỏi khắc khoải: Có nhận ra chúng tôi không? Có nhớ chúng tôi không? Hồn ma của những người lính đã góp phần thể hiện cái nhìn đa diện

về hiện thực chiến tranh, chiến tranh không chỉ có hào quang chiến thắng mà còn phải đánh đổi bằng biết bao chết chóc, thương đau, biết bao xương thịt, máu và nước mắt

Trang 39

Từ xa xưa dân gian đã quan niệm “sống gửi thác về”, con người khi chết không phải là hết, là chấm dứt mà là sự trở về với thế giới bên kia - thế giới vĩnh hằng Xuất phát từ niềm tin vào sự tồn tại của linh hồn, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt được hình thành Người sống và người chết mặc dù bị chia cắt bởi hai thế giới nhưng giữa hồn người chết và những người đang sống vẫn có mối tương thông, liên hệ với nhau, người chết tuy ở một thế giới khác nhưng vẫn luôn “có mặt” cạnh người sống Quan niệm này được thể hiện trong tác phẩm của khá nhiều nhà văn Niềm tin vào sự linh thiêng của linh hồn như một liều thuốc tinh thần vô giá để giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống

Ngày Hoa (Cõi người rung chuông tận thế) trở dạ, quằn quại đến gần sáng mà

vẫn không đẻ được, Giềng phải đốt ba nén hương, chạy ù ra cắm lên mộ Hùng, bố đứa trẻ trong bụng Hoa cầu khẩn linh hồn anh phù hộ cho Hoa mẹ tròn con vuông Ở đây,

sự hiển linh của linh hồn người đã khuất có ý nghĩa đem lại cho những người đang sống sự may mắn Chính vì vậy, trước những sự việc, sự kiện quan trọng của gia tộc, gia đình hay của cá nhân, họ đều thắp nén hương thơm dâng lên bàn thờ tổ tiên Nén hương thơm như chiếc cầu nối thiêng liêng giữa cuộc sống hiện hữu của con người với cõi tâm linh mơ hồ, ở một không gian vô định có những “con người vô hình” vẫn đang hướng về trần thế, dõi theo con cháu Thờ cúng, khấn vái linh hồn người đã khuất là biểu hiện của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt từ bao đời nay

Ngày giỗ tổ tiên được coi là ngày lễ quan trọng để người sống thể hiện sự tưởng nhớ đến người đã khuất, việc cúng giỗ thường được những người sống thực hiện rất thành tâm, chu đáo Bà Tú Cao “đối với việc giỗ tết hương khói, cụ rất coi trọng Ngày giỗ hai cụ thầy năm nào cũng làm thanh bạch thôi nhưng nhất quyết phải cho tươm tất” [141, tr.499] Việc bà Tú Cao cúng giỗ ông Tú “tươm tất” không chỉ là sự tưởng nhớ đến người đã khuất mà còn là sự nhắc nhở với con cháu phải có hiếu, phải nhớ đến cội nguồn cha ông: “Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu” Cúng giỗ tổ tiên là việc làm thể hiện lễ nghĩa với thánh thần, với tiền nhân, với tổ tiên, ông bà, cha mẹ Trong quan niệm đạo đức của người Việt, cúng giỗ

là đạo làm người Đó không phải là mê tín mà là lòng thành kính, biết ơn người đã khuất của thế hệ hiện tại đối với thế hệ đã qua và cũng là bổn phận của thế hệ mai sau Hành động tâm linh này không chỉ có ý nghĩa đối với người quá cố hay thần thánh mà

Trang 40

còn cả đối với người sống trong ý nghĩa giáo dục và nhân văn, góp phần bảo tồn và duy trì văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Linh hồn không tồn tại dưới dạng này thì sẽ tồn tại dưới dạng khác là quan niệm của Phật giáo Nhà Phật dù không thừa nhận linh hồn con người nhưng khẳng định sau khi chết linh hồn con người không mất đi

mà sẽ đầu thai chuyển kiếp

2.1.2.2 Mẫu

Đạo Mẫu là tín ngưỡng bản địa có ảnh hưởng sâu rộng trong tâm linh của người Việt Nó hình thành, tồn tại và phát triển trong cả một quá trình lâu dài và đầy biến động của lịch sử dân tộc Sau 1986, văn xuôi Việt Nam có nhiều tác phẩm viết về Mẫu với tư cách là một biểu tượng cho những giá trị thiêng liêng, cho sự hi sinh cao cả và

cho cái đẹp Ở thể loại truyện ngắn, ta có thể thấy trong các tác phẩm Tâm hồn mẹ, Con gái thủy thần (Nguyễn Huy Thiệp); Làm mẹ (Nguyễn Ngọc Tư); Đường về trần, Chuông vọng cuối chiều (Võ Thị Hảo)… Mẫu đã trở thành một kết tinh giá trị mang ý

nghĩa văn hóa Hướng về Mẫu là hướng tới sự an nhiên, tự tại, hướng về nơi có thể

thanh tẩy tâm hồn Trong truyện Con gái thủy thần của Nguyễn Thuy Thiệp, thực và

ảo đan xen, đem đến một chiều kích hiện thực hoàn toàn khác với chiều kích hiện thực

ta quen thấy trong văn xuôi 1945 - 1985 Đó không phải là hiện thực biết trước mà là hiện thực đầy bất ngờ Giấc mơ và tình yêu của Chương đối với Mẹ Cả đã thể hiện khát khao thoát khỏi kiếp sống tẻ nhạt, tù đọng, mòn mỏi Mẹ Cả là biểu tượng cho

khả năng cứu rỗi, thanh tẩy, tái sinh của Mẫu Đường về trần của Võ Thị Hảo đã miêu

tả vẻ đẹp của căn tính Mẫu qua hình tượng người mẹ Không chỉ trong truyện ngắn mà

ngay trong tiểu thuyết Giàn thiêu của mình, Võ Thị Hảo tạo nên sự đan xen giữa hai

không gian: không gian trần thế và không gian của những điều thiêng Có thể nói rằng, những nhà văn nhạy cảm với cái mới đã luôn luôn gắn văn học với văn hóa, nhìn đời sống không phải như những sự kiện biên niên, những biến động xã hội đơn thuần mà còn nhìn nó như những biến chuyển, biến động về đời sống văn hóa, đời sống tâm linh

Trong văn xuôi đương đại, chúng tôi xin dừng lại ở hai tiểu thuyết tiêu biểu thể

hiện đạo Mẫu như một phương diện văn hóa dân tộc là Kín của Nguyễn Đình Tú và Mẫu Thượng Ngàn Nguyễn Xuân Khánh Tiểu thuyết Kín của nhà văn Nguyễn Đình

Tú phản ánh cuộc sống của một bộ phận giới trẻ trong vòng quay chóng mặt của kinh

Ngày đăng: 28/12/2020, 07:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w