1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ nữ thần tại thành phố sa đéc tỉnh đồng tháp

169 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 5,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

T ổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay, việc nghiên cứu về tín ngưỡng nữ thần và công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần đã được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa

Trang 2

DƯƠNG THANH TÙNG

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

TÍN NGƯỠNG THỜ NỮ THẦN TẠI THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 8229042

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN NGỌC THƠ

TP Hồ Chí Minh - 2018

Trang 3

Công trình “Bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ nữ thần tại thành phố Sa Đéc - tỉnh Đồng Tháp” là sản phẩm nghiên cứu khoa học của

chính tác giả thực hiện từ năm 2015 đến năm 2018 tại Thành phố Sa Đéc - Tỉnh Đồng Tháp Đây đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa, khóa đào tạo 2015 - 2017, mã số 8229042, tại Trường Đại học Văn hóa Thành phố

Hồ Chí Minh

Để hoàn thành công trình này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và bày

tỏ lòng kính trọng đối với PGS TS Nguyễn Ngọc Thơ - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn

Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ông Nguyễn Nhất Thống, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy, kiêm Chủ tịch Hội Khoa học Lịch

sử thành phố Sa Đéc; ông Võ Thanh Tùng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Sa Đéc; ông Nguyễn Hữu Hiếu, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Đồng Tháp cùng với tập thể Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Sa Đéc; Ủy ban nhân dân và cán bộ công chức văn hóa thông tin các xã phường ở Sa Đéc Đồng thời, tôi xin cảm ơn quý Cô, Chú của Ban quản lý di tích, Ban tế tự trên địa bàn thành phố Sa Đéc đã nhiệt tình giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình khảo sát và phỏng vấn thực tế về đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh và quý Thầy/Cô của Khoa Sau Đại học đã tận tình giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình đào tạo Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng đến quý Thầy/Cô là thành viên trong Hội đồng chấm luận văn thạc

sĩ đã có những góp ý khoa học hết sức quý báu nhằm giúp đề tài của tôi được hoàn thiện tốt hơn Chân thành cảm ơn!

Trang 4

Tôi xin cam đoan về những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả

do chính bản thân tôi nghiên cứu Đồng thời, tôi đã có dẫn nguồn đầy đủ, chính xác đối với việc kế thừa, tham khảo các kết quả của những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những kết quả nghiên cứu và toàn bộ nội dung đã được trình bày trong bản luận văn

Trân trọng./

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

TÁC GIẢ

Dương Thanh Tùng

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4.1 Đối tượng nghiên cứu 8

4.2 Phạm vi nghiên cứu 8

5 Lý thuyết, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 9

5.1 Lý thuyết nghiên cứu 9

5.2 Câu hỏi nghiên cứu 9

5.3 Giả thuyết nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 9

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11

7.1 Ý nghĩa khoa học 11

7.2 Ý nghĩa thực tiễn 11

8 Bố cục luận văn 11

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN Ở THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP 13

1.1 Cơ sở lý luận 13

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 13

1.1.2 Một số hướng tiếp cận nghiên cứu 18

1.1.3 Diễn giải lý thuyết nghiên cứu 20

1.1.4 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa 22

1.2 T ổng quan về văn hóa dân gian ở thành phố Sa Đéc 26

1.2.1 Tổng quan vùng đất Sa Đéc 26

1.2.2 Khái quát về văn hóa dân gian ở thành phố Sa Đéc 32

Tiểu kết chương 1 35

Trang 6

2.1 Các hình thức tín ngưỡng nữ thần phổ biến ở thành phố Sa Đéc 36

2.1.1 Tín ngưỡng Chúa Xứ 36

2.1.2 Tín ngưỡng Ngũ Hành 39

2.1.3 Tín ngưỡng Thiên Hậu 42

2.1.4 Các tín ngưỡng nữ thần khác 45

2.2 Đặc điểm và giá trị văn hóa của tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 46

2.2.1 Đặc điểm của tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 46

2.2.2 Giá trị văn hóa của tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 50

2.3 Thực trạng công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 54

2.3.1 Hệ thống tổ chức nhân sự và cơ chế hoạt động quản lý văn hóa ở Sa Đéc 54

2.3.2 Tổ chức hoạt động quản lý văn hóa ở địa phương 60

2.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý văn hóa ở Sa Đéc 70

2.4.1 Về ưu điểm, thuận lợi 71

2.4.2 Về hạn chế, khó khăn 73

Tiểu kết chương 2 77

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG NỮ THẦN Ở SA ĐÉC 78

3.1 Tính cấp thiết và định hướng quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 78

3.1.1 Tính cấp thiết của công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng nữ thần 78

3.1.2 Định hướng công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 79

3.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc 82

3.2.1 Nguyên tắc, quan điểm bảo tồn và phát huy 82

3.2.2 Giải pháp bảo tồn 86

Trang 7

3.3.1 Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp 95

3.3.2 Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Sa Đéc 98

3.3.3 Đối với các nhà khoa học và cộng đồng tín ngưỡng 100

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 115

PHỤ LỤC 1 HÌNH ẢNH MỘT SỐ CƠ SỞ THỜ NỮ THẦN Ở THÀNH PHỐ SA ĐÉC 1

PHỤ LỤC 2 THỐNG KÊ CƠ SỞ THỜ NỮ THẦN TẠI THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP - NĂM 2018 17

PHỤ LỤC 3 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN 20

Trang 8

M Ở ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Tín ngưỡng, tôn giáo chiếm giữ vai trò nhất định trong đời sống tinh thần của hầu hết các quốc gia, dân tộc [80] Từng địa phương và mỗi tộc người, do điều kiện môi trường tự nhiên và bối cảnh lịch sử - xã hội khác nhau sẽ dẫn đến đời sống văn hóa của cư dân khác nhau, tín ngưỡng, tôn giáo cũng khác nhau

và mang đậm nét đặc trưng của địa phương đó

Vùng văn hóa Nam Bộ, với điều kiện tự nhiên trù phú, là đồng bằng nhiều phù sa, kênh rạch đan xen, đồi núi thấp tạo điều kiện tốt cho canh tác nông nghiệp lúa nước và nuôi trồng thủy sản phát triển Quá trình di cư và khai hoang vùng đất Nam Bộ còn nhiều hoang sơ, đến nổi “con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh” (ca dao Nam Bộ) Với một môi trường sinh sống nhiều bất trắc và khó khăn như vậy, đời sống tâm linh của người dân luôn ước vọng được che chở, cầu mong vạn vật sinh sôi nảy nở và các loại hình tín ngưỡng ở Nam Bộ tồn tại không phân biệt ranh giới rõ ràng mà thường dung hòa với nhau, miễn sao các loại hình tín ngưỡng đó phù hợp với nền tảng truyền thống văn hóa và các giá trị nhân văn của cộng đồng Tất cả tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu bởi sự dung hợp, giao lưu với nhau giữa dòng văn hóa tộc người chủ thể - người Việt và dòng văn hóa các tộc người khác như Chăm, Khmer, Hoa Vì thế, một số loại hình tín ngưỡng sẽ bị chuyển hóa để thích ứng với đời sống tâm linh của cộng đồng Đây là hiện tượng dễ dàng tìm thấy trong các loại hình tín ngưỡng ở Nam Bộ, trong đó có tín ngưỡng nữ thần

Ở Sa Đéc, do đặc thù lối sống cư dân mang tính mở thoáng, chan hòa, sự hội nhập cộng cư giữa các tộc người khá mạnh mẽ nên việc tìm hiểu nguồn gốc hình thành và nhận diện giá trị tín ngưỡng nữ thần trong đời sống tâm linh của người dân vẫn còn mờ nhạt và chưa đầy đủ Để hiểu và tận dụng lợi thế của

tính đa dạng trong văn hóa Việt Nam, đặc biệt là văn hóa dân gian, việc tìm

Trang 9

hiểu tín ngưỡng nữ thần ở Nam Bộ nói chung, ở Sa Đéc nói riêng, cần được quan tâm khảo cứu sâu hơn về các vấn đề cụ thể ở vùng Sa Đéc, tỉnh Đồng

Tháp, bao gồm diện mạo, đặc trưng, tác động và ý nghĩa của tín ngưỡng nữ thần ở địa phương Những vấn đề này vẫn đang còn bỏ ngỏ và chưa được quan

tâm nhiều bởi những người làm công tác quản lý văn hóa ở địa phương Bởi vì,

Sa Đéc là một trong những vùng đất có bề dày lịch sử, là vùng thị tứ phồn hoa của Nam Bộ từ xa xưa nên đã có sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người Việt, Hoa, Khmer Chính vì vậy, tín ngưỡng nữ thần hay còn gọi là tục thờ cúng các

Bà (theo cách gọi dân gian) là sản phẩm của quá trình dung hợp đa văn hóa hết sức phong phú và có những nét giá trị đặc sắc riêng nhưng chưa được nhận diện đầy đủ Vì thế, công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình tín ngưỡng này chưa được hoàn thiện

Chính từ những lý luận và thực tiễn trên mà tôi quyết định chọn đề tài

“Bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ nữ thần tại thành phố Sa Đéc - tỉnh Đồng Tháp” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa

2 M ục đích nghiên cứu

Luận văn mong muốn đạt được các mục đích sau:

Nhận diện đặc điểm và giá trị văn hóa của tín ngưỡng nữ thần ở thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

Nghiên cứu thực trạng quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của tín ngưỡng nữ thần

Đề xuất giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản

lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc

3 T ổng quan tình hình nghiên cứu

Hiện nay, việc nghiên cứu về tín ngưỡng nữ thần và công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần đã được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đề cập đến, có thể điểm ra đây một số công trình liên quan với đề tài

Trang 10

Tiền đề lý luận về các hình thức tín ngưỡng dân gian và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu và văn hóa Đạo Mẫu,

được trình bày chi tiết trong công trình nghiên cứu về Tín ngưỡng và văn hóa

tín ngưỡng ở Việt Nam [73], [75] của tác giả Ngô Đức Thịnh xuất bản vào năm

2001 và 2012 Công trình nghiên cứu của Ngô Đức Thịnh về Đạo Mẫu ở Việt

Nam [76 ] xuất bản năm 2012 và Đạo Mẫu Tam Phủ, Từ Phủ [77] xuất bản năm

2014 có đề cập chi tiết về những cơ sở tiền đề lý luận về tục thờ nữ thần, quá trình phát triển từ Nữ Thần đến Tam tòa Thánh Mẫu và vị trí của Đạo Mẫu trong hệ thống tín ngưỡng của người Việt, cùng với các dạng thức thờ Nữ Thần, Mẫu Thần và Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ ở ba miền Bắc - Trung - Nam của Việt Nam Đây là một trong những cứ liệu khoa học quan trọng để tham khảo của luận văn này

Công trình nghiên cứu của Nguyễn Minh San được xuất bản thành quyển

Lễ hội về nữ thần của người Việt [59] năm 2011 đã cho thấy nguồn gốc, đặc

điểm và miêu tả khái lược về một số lễ hội nữ thần của người Việt và đây cũng

là điều cần tham khảo và nghiên cứu

Nhà văn Sơn Nam, một trong những nhà nghiên cứu đi đầu và có công khai phá các giá trị lịch sử - văn hóa ở vùng đất Nam Bộ đã cho ra đời quyển

Đình miễu và Lễ hội dân gian miền Nam [51] được Nhà xuất bản Trẻ ấn hành

năm 2015 cho thấy cách tiếp cận vấn đề thiết thực bằng phương pháp điền dã, tham dự và phỏng vấn với người dân bản địa, tác giả cho thế hệ đi sau một cái nhìn đặc sắc về đình, miếu và lễ hội ở miền Nam, các lễ nghi, tín ngưỡng, của người dân bản địa cùng với việc phân tích các nghi thức của tín ngưỡng

Tác giả Nguyễn Hữu Hiếu đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian khu vực Nam Bộ Trong luận văn này chúng tôi kế thừa một số kiến

giải thuộc các công trình của ông Cuốn Tục thờ thần qua am miếu Nam Bộ

(2015), tác giả sử dụng hướng tiếp cận diễn trình lịch sử, Nguyễn Hữu Hiếu đã

Trang 11

nhận diện, khảo tả rõ ràng về cơ sở hình thành, danh xưng, diện mạo và nội dung của tục thờ Bà ở Nam Bộ cùng với các tục thờ thần liên quan đến đất và tục thờ bàn thiên Kết quả nghiên cứu của công trình đã góp phần tích cực cho

đề tài của chúng tôi về hướng tiếp cận lịch sử để nhận diện đối tượng, đồng thời, cung cấp cho chúng tôi có được cơ sở khoa học về diễn trình hình thành tục thờ nữ thần (hay còn gọi là tục thờ Bà) ở khu vực Nam Bộ [28] Để có được những cơ sở tư liệu nghiên cứu về văn hóa - con người của vùng đất Sa Đéc góp phần cho nội dung của đề tài thêm hoàn chỉnh, chúng tôi đã kế thừa những

kết quả trong cuốn Văn hóa dân gian miệt Sa Đéc (2016) của tác giả Nguyễn

Hữu Hiếu Trong công trình này, tác giả đã góp phần nhận diện tổng quan về vùng đất Sa Đéc với những đặc điểm về đời sống vật chất (kiến trúc, nghề thủ công, nghề truyền thống) và đời sống tinh thần (tâm linh, văn học dân gian,

nghệ thuật diễn xướng dân gian) của người dân nơi đây [29] Trong cuốn Tục

thờ Bà Chúa Xứ - Ngũ Hành và nghi lễ bóng rỗi Nam Bộ của tác giả Nguyễn

Hữu Hiếu (2017) đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu khoa học về diễn trình hình thành của tục thờ Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành ở Nam Bộ và đó cũng

là một trong những đối tượng nghiên cứu của đề tài Đồng thời, tác giả cũng đã nhận diện rõ nét về đặc điểm của thực hành nghi lễ trong tục thờ Bà [30]

Cuốn về Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây Nam Bộ [80] của Nguyễn Ngọc

Thơ (2017) đã phân tích, đánh giá chi tiết về lai lịch, hành trạng của bà Thiên Hậu, đồng thời, tác giả cũng nhận diện đầy đủ những đặc trưng và giá trị của tín ngưỡng thờ bà Thiên Hậu trong sự tương quan với bối cảnh lịch sử - xã hội

và tộc người ở vùng văn hóa Tây Nam Bộ Từ đó, chúng tôi có đầy đủ cơ sở để

nhận diện những đặc trưng và giá trị của loại hình tín ngưỡng Thiên Hậu tại Sa Đéc

Để có thêm cơ sở nhận diện về đặc trưng và giá trị của tín ngưỡng nữ thần, tác giả cũng đã tham khảo thêm các công trình, bài viết như: Tác giả Phan

Trang 12

An viết về “Tích hợp và dung hợp trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt

Nam Bộ”, in trong Tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ - Bản sắc và giá trị [1]; Cuốn Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ của Nguyễn Hữu Hiếu [25]; bài viết

“Tín ngưỡng thờ nữ thần ở Bà Rịa - Vũng Tàu” của Nguyễn Thanh Lợi, in trên

Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, S.1 (60) (2007), tr.34-42 [41]; Phan Thị Yến

Tuyết viết về “Tín ngưỡng thờ mẫu và nữ thần từ chiều kích văn hóa biển của

vùng biển đảo Kiên Hải, Kiên Giang”, in trong Tuyển tập Việt Nam học và đăng

trên Tạp chí Khoa học xã hội, Số 5 (141) - 2010, tr.61-69 [89]; Và các bài viết

của tác giả Nguyễn Ngọc Thơ mà luận văn đã tham khảo như: “Tín ngưỡng tôn

giáo ở Thoại Sơn, An Giang” in trên Tạp chí Phát triển Khoa học và Công

ngh ệ, Tập 18 - Số 4X (2015), tr.77-97 [78]; “Dấu tích tục thờ Tam Phủ trong

tín ngưỡng Thiên Hậu của người Việt vùng Tây Nam Bộ” in trên Tạp chí Văn hóa dân gian, Số 6/2015, tr.24-34 [79] cùng với một số bài viết khác có liên quan đề tài Những kết quả nghiên cứu này đã đặt nền móng về lý luận và thực tiễn cơ bản cho việc nghiên cứu tín ngưỡng nữ thần/mẫu thần ở Nam Bộ, trực tiếp hình thành cách tiếp cận nghiên cứu ở một địa bàn cụ thể là Thành phố Sa Đéc của chúng tôi

Đồng thời, tác giả luận văn cũng tham khảo các công trình nghiên cứu

liên ngành về lịch sử - văn hóa, tộc người, địa lý như: Hồ sơ về Lục Châu học:

Tìm hiểu con người ở vùng đất mới dựa vào tài liệu văn, sử bằng Quốc ngữ ở miền Nam từ 1865 - 1930 của tác giả Nguyễn Văn Trung [87]; Bản Monographie De La Province De Sa Đéc (chuyên khảo tỉnh Sa Đéc) [47] cùng

với các bản Monographie De La Province De tương tự về các vùng đất Trà Vinh, Vĩnh Long, Phú Quốc, Long Xuyên, Bến Tre, Cần Thơ v.v; Mô tả lịch

sử xứ Nam Kỳ của Jean Koffler [39]; Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt của Cléopold Cadière [10]; Tôn giáo xứ Nam Kỳ của L Louvet [42]

v.v Các tác phẩm trong nước chuyên khảo tả và phân tích đánh giá lịch sử văn

Trang 13

hóa và tộc người Nam Bộ có thể kể đến như Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức [19]; Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu [62]; Thần

người và đất Việt của Tạ Chí Đại Trường [88]; Lịch sử khai phá vùng đất Nam

Bộ của Huỳnh Lứa (1987) [44]; Lịch sử khẩn hoang miền Nam của Sơn Nam

(1994) [50]; Văn minh miệt vườn của Sơn Nam (1992) [49]; Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long của Mạc Đường (1991) [20]; Văn hóa cư dân Đồng bằng sông Cửu Long của nhóm tác giả Nguyễn Công Bình (1990) [7]; Văn hóa tâm linh Nam Bộ của Nguyễn Đăng Duy (1997) [17]; Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ của nhóm tác giả Thạch Phương (1992) [52]; Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo của Nguyễn Phương Thảo (1997) [67]; Sa Đéc Xưa

và Nay của Huỳnh Minh [48]; Đồng Tháp 300 năm của nhóm tác giả Nguyễn Hữu Hiếu - Ngô Xuân Tư - Lê Đức Hòa - Nguyễn Đắc Hiền [26]; Việt sử xứ

Đàng Trong (1558 - 1777) cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam của tác giả

Phan Khoang; Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ (từ khởi thủy đến năm 1945) do Trần Đức Cường làm chủ biên cùng các tác giả Võ Sĩ Khải

- Nguyễn Đức Nhuệ - Lê Trung Dũng [15] Đồng thời, tác giả còn có sự tham khảo thêm đối với các công trình luận văn, luận án chuyên ngành gần với đề tài

như: Bảo tồn và phát huy tín ngưỡng thờ bà Thiên hậu tại Tuệ Thành Hội Quán

- Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị Như Trang [85]; Tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở Nam Bộ của Võ Thanh Bằng [6]; Tín ngưỡng của người Hoa ở Quận 5 - Thành phố Hồ Chí Minh của Trần Đăng Kim Trang [84]; Tín ngưỡng dân gian của người Kinh ở Thành phố Cao Lãnh của Nguyễn Thuận

Quý [58]; Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở tỉnh Đồng Tháp trong thời kỳ đổi mới hiện nay của Nguyễn Thị Song Thương [83]

Các kết quả nghiên cứu này đã giúp cho chúng tôi xác định ngữ cảnh tại

Sa Đéc nằm trong tổng thể vùng văn hóa Nam Bộ/Tây Nam Bộ với hoàn cảnh địa lý - lịch sử cụ thể Việc đặt Sa Đéc trong bối cảnh khu vực sẽ giúp tìm kiếm

Trang 14

những kiến giải mới gắn với thực tiễn hơn là diễn giải theo trường nghĩa cố định của biểu tượng hay các hiện thực văn hóa mang tính khuôn mẫu của trường phái chức năng

Bên cạnh đó, quyển Địa chí tỉnh Đồng Tháp (2014) [4] do Ban Tuyên

giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp xuất bản đã cung cấp thông tin về một bức tranh tổng thể của vùng đất Đồng Tháp Trên cơ sở sử dụng các biện pháp khảo cổ, các nhà khoa học đã tìm ra các minh chứng chỉ dấu về cư trú trên mảnh đất Đồng Tháp từ rất sớm Nơi đây còn có dấu tích của một trong những quốc gia phát triển thời kỳ Đông Nam Á cổ đại - Vương quốc Phù Nam, qua kết quả khảo cổ tại khu di tích Gò Tháp Công trình này cho thấy đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ

20, xuất phát từ những biến động chính trị, xã hội và cuộc sống đã tạo nên làn sóng di cư của người Việt ở miền Trung (nhất là vùng đất ngũ Quảng) cùng với

cư dân thuộc các cộng đồng Khmer, Hoa và Chăm đã ra sức khai phá, cải tạo thiên nhiên để góp phần làm cho vùng đất hoang sơ trở nên trù phú, màu mỡ Với những kết quả đạt được của công trình cho thấy sự đóng góp quý báu, đáng tin cậy về tư liệu lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng v.v giúp cho việc hoạch định phát triển và chính sách quản lý văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương trong tỉnh được thuận lợi và trong đó có Sa Đéc

Đề tài kế thừa những kết quả đạt được về mặt khoa học và thực tiễn của các công trình nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng và tín ngưỡng nữ thần - mẫu thần ở Bắc - Trung và Nam Bộ để thực hiện Tuy nhiên, các công trình đi trước

hoặc nghiên cứu tín ngưỡng nữ thần ở phạm vi khu vực (Tây Nam Bộ, Nam

Bộ) hoặc ít nhiều đề cập trên bình diện rộng, khái quát, bao hàm các yếu tố lịch

sử, ngôn ngữ, tự nhiên, dân cư v.v ở một số địa phương, hoàn toàn chưa đề cập nhiều đến tín ngưỡng nữ thần hoặc mẫu thần ở tỉnh Đồng Tháp Vì vậy, việc nghiên cứu giá trị tín ngưỡng nữ thần tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

hoàn toàn mang tính mới, không trùng lắp với bất kỳ công trình nào hiện có

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là thực trạng công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần ở Thành phố Sa Đéc - Đồng Tháp Qua đó, đề xuất giải pháp, kiến nghị cho công tác quản lý, bảo tồn,

phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2 1 Phạm vi không gian

Phạm vi không gian của đề tài nghiên cứu tập trung ở thành phố Sa Đéc gồm 06 phường và 03 xã (Phường 1, 2, 3, 4, An Hòa, Tân Quy Đông, Xã Tân Quy Tây, Tân Khánh Đông, Tân Phú Đông) Mặc dù có hơn 40 cơ sở thờ nữ thần, song có thể xếp thành 4 - 5 nhóm chính (theo đối tượng được thờ: Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành, Bà Thiên Hậu, Bà Cửu Thiên Huyền Nữ và nữ thần khác), do đó việc lựa chọn cơ sở để khảo sát chủ yếu dựa vào những tiêu chí vị

trí địa lý (trung tâm cộng đồng cư dân địa phương - khu vực đô thị, khu vực nông thôn), quy mô, tính đại diện cộng đồng và nhóm tộc người

4.2.2 Phạm vi thời gian

Thời gian nghiên cứu đề tài này được thực hiện từ 2015 - 2018 Lý do tôi chọn thời gian nghiên cứu này là vì trong năm 2015 tỉnh Đồng Tháp ban

hành thực thi Đề án phát triển du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2015 - 2020

[96] Đến năm 2016 tỉnh Đồng Tháp tiếp tục ban hành Đề án tạo dựng hình

ảnh tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2017 - 2020 [31] và tiếp theo ngay sau đó là việc

ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội thành phố Sa Đéc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 [32] Qua đó, tôi có lộ trình xem xét sự

chuyển biến đời sống tín ngưỡng của người dân, xem xét công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần tại Sa Đéc trong việc phát triển du lịch, kinh tế - xã hội tại địa phương

Trang 16

5 Lý thuy ết, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu tín ngưỡng trực tiếp liên quan tới mối quan hệ giữa hai thế

giới trần tục và cõi thiêng, có liên quan trực tiếp đến các nhóm tộc người cùng chia sẻ quá trình lịch sử - văn hóa Nam Bộ ở một địa phương cụ thể; do đó luận văn sử dụng chủ yếu nhóm Lý thuyết diễn giải văn hóa (quan điểm Đặc thù luận lịch sử (historical particularism) và quan điểm Diễn giải và tái diễn giải văn hóa gắn với ngữ cảnh cụ thể (context-based reinterpretation)) cùng Lý thuyết cấu trúc (structuralism) nhấn mạnh mối quan hệ tương tác giữa cặp phạm trù thiêng - phàm trong đời sống tín ngưỡng (chủ yếu của Emile Durkheim) Nội dung cụ thể của hai nhóm lý thuyết này sẽ được trình bày cụ thể trong Chương 1 của luận văn

Luận văn tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu: Tín ngưỡng nữ thần ở

Sa Đéc hình thành trên cơ sở nào và có những đặc điểm, giá trị gì? Thực trạng

và vai trò của công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc trong bối cảnh xã hội hiện nay ra sao?

Vùng đất Sa Đéc sớm là nơi tụ cư các dân tộc Việt, Khmer và Hoa, tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc hiện nay là sản phẩm của sự dung hợp đa văn hóa trên nền tảng văn hóa chủ thể tộc người Việt ở Nam Bộ Tuy nhiên vì chưa được nhận diện đầy đủ về đặc điểm, giá trị nên vai trò công tác quản lý, bảo tồn

và phát huy giá trị tín ngưỡng này chưa được hoàn thiện, chưa đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp sử dụng chủ yếu trong luận văn là phương pháp định tính,

bao gồm hai nhóm thao tác nghiên cứu:

Trang 17

Thao tác t ổng hợp, phân tích tài liệu thành văn

Từ các nguồn tư liệu sách, báo, tạp chí, kỷ yếu về văn hóa tín ngưỡng, tín ngưỡng nữ thần và mẫu thần, lễ hội dân gian ở Bắc - Trung và Nam Bộ có liên quan đến đề tài nghiên cứu, chúng tôi tiến hành thu thập, tìm hiểu, phân tích xử lý, hệ thống hóa các tư liệu và khai thác các khía cạnh vấn đề cần nghiên cứu thêm để bổ sung hoàn thiện luận văn Đây là thao tác đầu tiên để có những tiền đề lý luận cho quá trình nghiên cứu Đối với thao tác này, chúng tôi đã lên

kế hoạch chi tiết, thời gian cụ thể để lựa chọn và hệ thống hóa 101 tài liệu giúp làm sáng tỏ các giả thuyết và đi đúng hướng mục đích nghiên cứu

Thao tác điền dã, quan sát tham dự và phỏng vấn thực địa

Đối với thao tác điền dã, quan sát tham dự có vai trò quan trọng cần phải thực hiện khi nghiên cứu vấn đề mang tính chất định tính như các nghi thức lễ, thành phần tộc người đến vía tại các điểm thờ cúng nữ thần Khi thực hiện thao tác này, chúng tôi đã linh hoạt xác định địa điểm quan sát, vị trí, đối tượng để

có thể quan sát những hành vi tự nhiên của đối tượng Thao tác này góp phần làm cho đề tài mang tính xác thực, việc đi điền dã giúp chúng tôi nhận diện được những đặc điểm, giá trị và thực trạng công tác quản lý, bảo tồn, phát huy tín ngưỡng nữ thần tại địa phương

Ở thao tác phỏng vấn thực địa, chúng tôi lựa chọn có chủ đích một số đối tượng để phỏng vấn sâu đối với: Cán bộ phòng Văn hóa - Thông tin, Phó Chủ tịch phụ trách lĩnh vực văn hóa - xã hội cấp thành phố để chú trọng nắm rõ quan điểm chỉ đạo, hướng dẫn về công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần ở địa phương, đồng thời, nhờ sự hỗ trợ về số liệu liên quan đến nội dung đề tài

Sau đó, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu đối với người quản lý các điểm cơ sở tín ngưỡng để biết được vai trò, nhận thức của cộng đồng về việc thờ cúng các Bà và tầm ảnh hưởng của Bà trong đời sống tinh thần của người

Trang 18

dân Tiếp theo là tiến hành phỏng vấn thuận tiện đối cộng đồng tín ngưỡng (các

hộ dân xung quanh khu vực thờ nữ thần và người dân đến vía Bà) để tìm hiểu mức độ ảnh hưởng về quyền năng của nữ thần, sự tôn kính đối với các nữ thần, nội dung ước nguyện gửi gắm đến các nữ thần trong tâm thức người dân Khi thực hiện tốt phương pháp này kết hợp với phương pháp quan sát tham dự để rút ra những nhận định, dữ liệu gắn liền với thực tiễn góp phần đi tìm lời giải đáp thỏa đáng và khoa học cho các câu hỏi nghiên cứu đề ra

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm

có 03 chương như sau:

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN Ở THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

Trình bày cơ sở lý luận về các khái niệm cơ bản như: nữ thần, mẫu thần, tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng; hướng tiếp cận nghiên cứu; vận dụng lý thuyết nghiên cứu; quan điểm của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, di sản văn hóa; trình bày về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - văn hóa - xã hội ở Sa Đéc

Trang 19

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO TỒN, PHÁT HUY TÍN NGƯỠNG NỮ THẦN Ở

SA ĐÉC

Trình bày về các đặc điểm, giá trị văn hóa của tín ngưỡng nữ thần qua việc thờ cúng phổ biến Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành, Bà Thiên Hậu Đồng thời, chúng tôi phân tích thực trạng về vai trò công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng nữ thần của cơ quan, ban ngành địa phương

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG NỮ THẦN Ở SA ĐÉC

Trình bày về tính cấp thiết và những định hướng cùng với các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng nữ thần tiếp tục đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Sa Đéc

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN

Ở THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1.1 Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng

Theo nghĩa từ nguyên Hán Việt, “tín ngưỡng” (信仰) được ghép bởi từ

“tín” (信) hiểu là “tin tưởng/ lòng tin/ niềm đức tin”, từ “ngưỡng” (仰) hiểu là

“ngưỡng mộ/ ngưỡng vọng/ ngưỡng - ngẫng lên” hoặc hiểu theo nghĩa xa hơn

là “sự kính mến” [12, tr.17,26], [2, tr.52,282] Điều 2 của Luật tín ngưỡng, tôn

giáo ghi “tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những

lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về

tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” [56] Trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa

tín ngưỡng ở Việt Nam, tác giả Ngô Đức Thịnh đưa ra quan điểm rõ ràng hơn

“tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao

cả, siêu nhiên hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với “cái trần tục” hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng, niềm tin của “cái thiêng” Do vậy, niềm tin của cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người” [73, tr.16] Có những quan điểm đồng nhất tín ngưỡng với tôn giáo nhưng vẫn có quan điểm cho thấy sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo như quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm

trong quyển Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam thì “đời sống mỗi cá nhân trong

cộng đồng tuân theo những phong tục lâu đời và khi trình độ hiểu biết còn thấp,

họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng) Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có

Trang 21

giáo chủ, cơ sở thờ tự v.v tín ngưỡng có thể trở thành tôn giáo” [70, tr.262] Tín ngưỡng không có đầy đủ yếu tố cấu thành hệ thống như tôn giáo Điều quan trọng của tín ngưỡng là đức tin vào cái thiêng nhưng chỉ có niềm tin vào cái thiêng thì tín ngưỡng và mê tín có khi đồng nhất Ở đây, chúng tôi không phân tích sâu khái niệm mê tín dị đoan mà chỉ quan niệm theo nghĩa phổ quát, đó là

“sự tin tưởng một cách mù quáng vào những điều nhảm nhí gây tổn hại sức khỏe, tài sản, tính mạng và tổn phí về thời gian cho cá nhân, gia đình và xã hội” [43, tr.9] Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi quan niệm tín ngưỡng hay

tục thờ là hệ thống giá trị niềm tin mang đặc trưng tính tâm linh do con người

tạo ra nhằm gửi gắm những nguyện vọng, mong ước đến một đối tượng được thần thánh hóa hay thế lực siêu nhiên để được che chở, cứu rỗi tránh khỏi những bất trắc, tai họa hay những nỗi sợ hãi về tinh thần trong thế giới quan mà con người đang sinh sống nhằm mục đích hướng con người đến những giá trị đạo đức tốt đẹp

Tác giả Nguyễn Đăng Duy cho rằng: “nếu tín ngưỡng đồng nghĩa với tâm linh (niềm tin thiêng liêng), thì văn hóa tín ngưỡng có thể được hiểu là “văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [17, tr.29] Còn theo tác giả Ngô Đức Thịnh, “văn hóa tín ngưỡng là toàn bộ hiện tượng và giá trị văn hóa được sản sinh, tích hợp, bảo lưu trong môi trường tôn giáo tín ngưỡng, thỏa mãn nhu cầu về nhận thức, lối sống, ứng xử và thẩm mỹ của con người Chúng là hiện tượng phái sinh gắn bó với tôn giáo và lễ hội Đó là những hiện tượng văn hóa như múa nghi lễ, múa thiêng, tranh thờ, lễ hội, một số hiện tượng văn học dân gian gắn với tín ngưỡng” [74, tr.215] Tín ngưỡng chính là môi trường sản sinh, tích hợp và bảo tồn nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian Con người muốn gửi gắm ước nguyện của mình đến thần linh thì cần phải có các công cụ, phương tiện như: múa hát, tượng thờ, nghi lễ, phẩm vật, nơi thờ cúng,

Trang 22

v.v Như vậy, văn hóa tín ngưỡng chính là sự gắn kết từ một đức tin nhất định, rồi tích hợp các giá trị văn hóa khác như: di tích, lễ hội, truyền thuyết dân gian, diễn xướng, nghệ thuật có liên quan Từ góc độ tiếp cận những giá trị văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể thông qua cơ sở thờ tự, nghi thức thờ cúng, các giai thoại dân gian, địa danh và lễ hội có liên quan đến các hình thái tín ngưỡng sùng bái con người; tín ngưỡng phồn thực; tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt v.v thì văn hóa tín ngưỡng được hiểu là “hệ thống giá trị về cung cách ứng xử

của con người đối với môi trường sống (tự nhiên và xã hội) nhằm đạt được những ước vọng tốt lành cho cuộc sống của mình Sản phẩm của những cung cách ứng xử ấy vừa phản ánh các điều kiện tương ứng với môi trường sống vừa hàm chứa tri thức dân gian được đúc kết qua lịch sử được thể hiện dưới một cấu trúc đa tầng của những ý nghĩa ẩn thị và hiển thị” [80, tr.21]

1.1.1.2 N ữ thần và mẫu thần

Theo quan niệm dân gian, nữ thần là lực lượng tạo tác ra vũ trụ, loài người hoặc là những vị nữ tướng hy sinh vì dân vì nước, những người nữ có công giúp dân khai mương, xây cầu, lập chợ, truyền dạy kinh nghiệm sản xuất, những người bà, người mẹ, người chị có tài năng hoặc đức cao vọng trọng Từ

đó, người dân đã tạo tác ra những điều kỳ vĩ nhằm nâng lên thế giới tâm linh

như một giao thức thần thánh hóa tôn vinh lên hàng nữ thần Do vậy, nữ thần

là những người phụ nữ mà đó là nhân vật lịch sử hay nhân vật truyền tích/huyền thoại hoặc vạn vật được người dân nhân cách hóa mang tính nữ và thần thành hóa để thờ phụng với niềm đức tin, ngưỡng vọng của mỗi người hoặc của cộng đồng Trong đó, có vị được tôn vinh là mẫu thần - thánh mẫu Như vậy, “mẫu thần có xuất thân từ nữ thần nhưng không phải nữ thần nào cũng đều là mẫu” [75, tr.93-94] Vì vậy, theo quan niệm của chúng tôi về mẫu thần là sự tin tưởng,

ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị nữ gắn liền với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ (trời, đất, sông, nước, núi, rừng) được con người cho rằng có

Trang 23

quyền năng như Mẹ làm sinh sôi nảy nở, che chở cho cuộc sống của con người, phù hộ cho người yên vật thịnh, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, giúp con người thoát khỏi thiên tai, địch họa

Tín ngưỡng nữ thần là một loại hình tín ngưỡng dân gian của tộc người Việt, Hoa, Khmer trên vùng đất Sa Đéc, được hình thành từ ngàn đời xưa đối với mỗi tộc người, đã in sâu vào tiềm thức của mỗi người và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hóa dân tộc Cho đến nay, tín ngưỡng

nữ thần vẫn đang phát triển mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của người dân

Như vậy, tín ngưỡng nữ thần là một bộ phận của ý thức xã hội để tôn vinh

những người phụ nữ có công với nước, với cộng đồng là đại diện tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội và được tôn thờ lên hàng thần - thánh để người ta gửi gắm niềm tin vào sự che chở, giúp đỡ, phù

hộ, độ trì của các lực lượng siêu nhiên này Cho dù hiểu như thế nào thì vị trí của nữ thần trong tiềm thức của người Việt luôn là sự thành kính, sự tôn trọng trong đời sống của họ Sa Đéc nói riêng và Nam Bộ nói chung là vùng đất đa tôn giáo, đa tín ngưỡng với đặc điểm nổi bật là sự mở thoáng, sự bao dung, sự hòa hợp lẫn nhau của các tôn giáo, vì thế ở đồng bằng sông Cửu Long theo thống kê năm 2008 của Cục Văn hóa cơ sở hiện nay có 1.234/7.966 lễ hội cả nước [14] Theo số liệu thống kê của tác giả Nguyễn Xuân Hồng, đồng bằng sông Cửu Long hiện nay có 683 lễ hội (trong đó, có 635 lễ hội tại đình, 10 lễ hội tại đền, 23 lễ hội tại miếu, 9 lễ hội tại lăng - dinh - miếu thờ cá ông và 6 lễ hội tại dinh - lăng - mộ - điện - gò) [33, tr.65] Kết quả thống kê trên cho thấy mặc dù số lượng lễ hội tại miếu là không nhiều, nhưng nếu dày công khảo sát thì số lượng miếu thờ là rất phong phú Nhân vật được thờ tự trong các miếu gồm nhiều thần linh, không gian thờ bao phủ từ cộng động làng xã đến từng hộ gia đình

Trang 24

1.1.1.3 B ảo tồn và phát huy

“Bảo tồn” theo Từ điển Tiếng Việt nghĩa là “giữ lại cho nguyên vẹn,

không để cho suy suyển, mất đi như là bảo tồn di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hóa dân tộc”, còn “phát huy” là “làm cho cái hay, cái tốt lan tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [99, tr.39,616] Theo cách hiểu của Nguyễn Lân, “phát huy là làm cho tác dụng lan rộng ra hoặc phát triển lên” [40, tr.1433] Như vậy,

chúng tôi tiếp thu các quan điểm trước đó để đưa ra nhận định về bảo tồn là

những hoạt động đưa ra nhằm mục đích giữ gìn các giá trị và bảo vệ sự tồn tại của đối tượng trong hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể theo dạng thức vốn có của

nó trong quá khứ Phát huy là quá trình vận dụng các cách thức, phương pháp

để làm cho giá trị văn hóa (tín ngưỡng, lễ hội) tồn tại được trong bối cảnh xã hội hiện tại như chính giá trị bản chất vốn có của nó với những mặt tích cực phải được giữ gìn, phát triển và những mặt tiêu cực, không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại thì cần phải hạn chế và loại bỏ Hiểu theo cách khác, phát huy có nghĩa là những hành động nhằm đưa các giá trị văn hóa (tín ngưỡng, lễ hội) vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã

hội Chúng tôi giải nghĩa về bảo tồn và phát huy tín ngưỡng nữ thần là những

hoạt động đưa ra nhằm mục đích giữ gìn các giá trị và bảo vệ sự tồn tại của tín ngưỡng nữ thần trong bối cảnh lịch sử xã hội cụ thể theo dạng thức vốn có của

nó trong quá khứ và lấy đó làm nguồn lực tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 25

1.1.2 M ột số hướng tiếp cận nghiên cứu

1.1.2.1 Ti ếp cận từ góc nhìn giao lưu - tiếp biến văn hóa

Ở góc nhìn giao lưu tiếp biến văn hóa, Sa Đéc giống như nhiều thành

phố, thị tứ tiêu biểu khác ở Tây Nam Bộ là nơi hội tụ đa tộc người, đa văn hóa,

là vùng đất diễn ra quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, tuy âm thầm nhưng sâu sắc giữa yếu tố chủ thể và yếu tố các tộc người thiểu số (chủ yếu là người Khmer và người Hoa), tất cả cùng đan xen tồn tại và làm nền tảng cho sự tồn tại và phát triển tín ngưỡng truyền thống ở Sa Đéc Những vị thần linh được tôn kính không chỉ là vị thần linh của một dân tộc cụ thể nào đó mà một khi đã giao lưu, hội nhập vào tín ngưỡng chung của cả cộng đồng hoặc vùng miền thì các vị thần linh hay tín ngưỡng sẽ trở thành đức tin chung với tất cả các tộc người cùng chung sống trên một địa bàn Các vị nữ thần trong tín ngưỡng của người Hoa cũng trở nên phổ biến trong đời sống tâm linh của các tộc người ở

Sa Đéc thông qua việc thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Quan Âm Bồ tát, Ngũ Hành Nương Nương v.v Bóng dáng Mẹ xứ sở trong tín ngưỡng của người Chăm cùng với tín ngưỡng Néang Khmau của tộc người Khmer cũng được cư dân tiếp biến, tôn thờ qua hình tượng bà Chúa Xứ Vì vậy, kết quả của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa mang tính tộc người trong tín ngưỡng nữ thần và thờ mẫu của cư dân vùng đất Sa Đéc được thể hiện qua các loại hình tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ, Ngũ Hành Nương Nương, Thiên Hậu dưới ba dạng thức tiếp nhận, biến đổi, dung hòa/đồng hòa tín ngưỡng của tộc người này thành tín ngưỡng của tộc người mình hoặc là tiếp thu nguyên vẹn đưa vào từng tự cùng

hệ thống tín ngưỡng của tộc người mình (trường hợp này ít), hoặc là hai tộc người cùng thờ chung một nữ thần, chỉ khác nhau về chi tiết cách thờ và cách cúng lễ Vì vậy trong luận văn này, chúng tôi sử dụng góc nhìn giao lưu - tiếp biến văn hóa để diễn giải quá trình thay đổi hoặc biến đổi một số loại hình văn

Trang 26

hóa trong đó có văn hóa tín ngưỡng nữ thần diễn ra do sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa các nền văn hóa khác nhau của những tộc người ở Sa Đéc

Bên cạnh đó, chúng tôi còn nghiên cứu dựa trên góc nhìn sinh thái văn hóa để thấy được Sa Đéc cùng với Mỹ Tho, Cái Bè, Vĩnh Long là vùng đất khai khẩn sớm hơn so với nhiều nơi khác ở Tây Nam Bộ Vùng đất này có vị trí, địa hình địa mạo, điều kiện tự nhiên - sinh thái đặc thù có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến việc hình thành, tồn tại của các dạng thức tín ngưỡng, tôn giáo trong vùng Nét đặc thù ấy của Sa Đéc nằm ở các điểm (1) vị trí gò đất cao ven sông

Tiền, kết nối với vùng Sài Gòn - Gia Định qua hai ngã chính: đường sông từ Sa Đéc qua Mỹ Tho - sông Bảo Định - kênh Chợ Đệm - Chợ Lớn; đường bộ Sa Đéc - Cái Bè - Sài Gòn; (2) sự tổng hòa của ba yếu tố vườn (trái cây) - đồng

ruộng - sông nước Cả ba yếu tố này kết hợp đã làm cho vùng Sa Đéc sớm trở

thành nơi sản xuất, trung chuyển hàng hoá nông nghiệp từ đồng bằng đi Sài

Gòn - Chợ Lớn và hàng thủ công nghiệp từ Sài Gòn - Chợ Lớn về đồng bằng

Với thế đất cao ven sông Tiền ít bị ngập lụt, chợ Sa Đéc từ rất lâu đã trở thành nơi giao lưu - trao đổi hàng hóa mật tập vào bậc nhất nhì ở Nam Bộ

1.1.2.2 Ti ếp cận từ góc nhìn biến đổi văn hóa

Bắt nguồn từ kết quả của quá trình hỗn dung và biến đổi văn hóa đã làm cho hệ thống nữ thần - mẫu thần ở Sa Đéc hiện nay rất phong phú, phản ánh sự tích hợp văn hóa của các tộc người qua tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Ngũ Hành Nương Nương, Cửu Thiên Huyền Nữ, Kim Hoa Nương Nương, Mười hai Bà Mụ, Bà Cố Hỷ và phối kết giữa tín ngưỡng nữ thần - mẫu thần của miền Bắc, miền Trung Quá trình tiếp biến văn hóa của tín ngưỡng nữ thần, mẫu thần ở Sa Đéc trong quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa với người Chăm, người Khmer, người Việt đã đạt tới được mức độ chuyển hóa những yếu

tố văn hóa của Chăm, Khmer thành cái của riêng mình Lớp văn hóa Chăm, Khmer trong tín ngưỡng Bà Chúa Xứ của người Việt đã lắng đọng xuống tầng

Trang 27

sâu, khi nhìn một cách khái quát vào hiện tại chúng ta chỉ biết đây là vị thần của người Việt Nhưng đối với người Hoa, cộng đồng này tiếp thu tín ngưỡng của người Việt, họ vẫn giữ nguyên thần tích, cách thờ cúng Tức là, người Hoa tiếp nhận nguyên vẹn tín ngưỡng Bà Chúa Xứ của người Việt không biến đổi thành nét văn hóa riêng của tộc người mình Cùng với sự tương đồng này, người Việt tiếp nhận tín ngưỡng thờ Bà Thiên Hậu của người Hoa và dễ dàng nhận ra chủ nhân ban đầu của tín ngưỡng này tại một cơ sở tín ngưỡng của tộc người khác Đối với trường hợp khác, hai tộc người cùng ảnh hưởng văn hóa qua lại với nhau, cùng thờ chung nữ thần điển hình như: tín ngưỡng Cửu Thiên Huyền

Nữ, Mười hai Bà Mụ, Ngũ Hành Nương Nương

Để triển khai phân tích vấn đề chúng tôi chủ yếu dựa vào hai lý thuyết

chính: diễn giải văn hóa và lý thuyết cấu trúc

Trong nhóm lý thuyết diễn giải văn hóa (cultural interpretation), chúng tôi chủ yếu sử dụng quan điểm Đặc thù lịch sử (historical particularism) với

hai đại diện tiên phong là Franz Boas (1858 - 1942) và Alfred Kroeber (1876 - 1960), và quan điểm Diễn giải và tái diễn giải văn hóa gắn với ngữ cảnh cụ thể

(context-based reinterpretation) của Robert P Weller, Edward Sapir (1934) và Robert P Weller (1953 - ~)

Đối với quan điểm đặc thù lịch sử, theo Franz Boas (1858 - 1942) và Alfred Kroeber (1876 - 1960) đã khẳng định một cách hoàn toàn có lý

rằng: “Những nét văn hóa đơn lẻ phải được nghiên cứu trong bối cảnh của xã

hội mà nó đã xuất hiện Văn hóa của mỗi một dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa lý cụ thể” [37, tr.24] Vì vậy, chúng tôi sử dụng khung lý thuyết này để xem

xét đối tượng tín ngưỡng nữ thần khi đặt nó trong bối cảnh lịch sử cụ thể với

sự tương quan môi trường xã hội của Sa Đéc để nhận diện về nguồn gốc, đặc

Trang 28

trưng và các giá trị của loại hình tín ngưỡng này Từ đó, đề xuất các giải pháp thực thi bảo tồn, phát huy giá trị tín ngưỡng nữ thần được phù hợp với đặc điểm địa phương nhằm đem lại hiệu quả thiết thực trong thời gian tới

Ở quan điểm diễn giải văn hóa theo bối cảnh, Edward Sapir (1934:

200-205) từng nhận định “Văn hóa không phải là thứ đã sẵn có mà là cái con người

khám phá dần dà qua thực tiễn cuộc sống” [60] Còn theo Robert P

Weller (1987: 7), không phải nền văn hóa, hiện thực văn hóa nào cũng được định hình sẵn hệ thống các giá trị bất biến để có thể soi chiếu cho mọi cá thể,

nhóm cá thể qua các thời đại Ông nói, “hầu hết các thực hành văn hóa, tuy

nhiên, đều không phải là những hệ thống đã được định chế hóa hay lý tưởng hóa hoàn chỉnh Thay vào đó, nó tồn tại như là một quá trình diễn giải và tái diễn giải thực tế” [100] Do đó, ở vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa như Đồng

bằng sông Cửu Long nói chung, Sa Đéc nói riêng, diện mạo, hình hài và đặc điểm của nhiều hiện thực văn hóa, trong đó có tín ngưỡng nữ thần, là sản phẩm

của quá trình giao lưu - tiếp biến văn hóa trên nền tảng văn hóa của dân tộc chủ

thể (người Việt Nam Bộ) Khi phân tích, diễn giải vấn đề, chúng tôi đặc biệt lưu ý vai trò chủ chốt của người Việt trong quá trình hình thành, tiếp thu, “nhào

nặn” và phát triển các loại hình tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc Ngoài nhóm người Việt, người Hoa (và xa hơn là người Khmer) đóng vai trò “ngoại diện” trong mối quan hệ tương tác với người Việt

Trên thực tế, hầu hết các tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ đều trải qua biến đổi văn hóa Mọi biến đổi văn hóa đều phải dựa vào nền tảng tương tác với ngoại cảnh Robert P Weller (1987) nói, “rất nhiều hiện thực văn hóa, tuy nhiên, không hề được định chế hóa hay tư tưởng hóa Nó tồn tại như một quá trình diễn giải và tái diễn giải theo thực tế” “Một số người coi văn hóa và xã hội là một, một số người khác liên tưởng văn hóa với các nhóm cộng đồng bên trong thực thể xã hội ấy” Các nhóm khác nhau có phong cách diễn giải văn

Trang 29

hóa khác nhau, chúng hoàn toàn có thể thay đổi ngay khi các điều kiện xã hội thay đổi Robert P.Weller (1987) viết tiếp, “chính những mối quan hệ xã hội đa dạng đã thúc ước cách thức diễn giải văn hóa, và tất cả các đức tin đều ở dạng

mở để được tái diễn giải ý nghĩa ngay khi thể chế và các trải nghiệm xã hội chứa đựng đằng sau chúng thay đổi” [100]

Ở nhóm lý thuyết thứ hai, lý thuyết cấu trúc (structuralism) chúng tôi áp

dụng quan điểm của Emile Durkheim (1858 - 1917) về mối quan hệ tương tác

giữa cặp phạm trù thiêng - phàm để nghiên cứu, tìm hiểu ý nghĩa, đặc điểm của

các tục thờ nữ thần ở Sa Đéc cùng những biến đổi của chúng theo thời gian

Với cái lõi là đức tin tâm linh (cái thiêng), người dân Sa Đéc đã hình thành hệ

thống liên kết đức tin - thực hành tín ngưỡng - sinh hoạt văn hóa, qua đó một

phần của cuộc sống thực tại được tái hiện và thậm chí “lên khuôn” trong các

hoạt động tín ngưỡng Để tránh rơi vào bẫy cấu trúc nhị nguyên và bẫy chức năng luận, chúng tôi đặc biệt chú ý đến yếu tố bối cảnh, nhấn mạnh vai trò của

việc diễn giải văn hóa theo ngữ cảnh được minh chứng qua tài liệu khảo sát

thực địa và phỏng vấn cá nhân

1.1.4 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng,

Hiện nay, vấn đề quản lý di sản văn hóa và các chính sách quản lý di sản văn hóa tín ngưỡng đang được quan tâm với vai trò là nền tảng của sự phát triển Quan điểm quản lý thể hiện khác nhau ở từng góc nhìn, bối cảnh của thời đại, xã hội, nghề nghiệp, nên có nhiều cách hiểu khác nhau Từ đầu thế kỷ XXI, cách thức giải thích về quản lý có nhiều thay đổi, nhất là các xu hướng coi quản

lý là quan niệm, quá trình, là trách nhiệm chứ không phải kỹ thuật, hiện tượng

và quyền lực Theo Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn, “quản lý là hoạt động nhằm bảo đảm sự vận hành của hệ thống, một tổ chức một cách liên tục, đúng chức năng Chúng ta thường nói đến quản lý văn hóa với tư cách là một khoa

Trang 30

học, trong đó quản lý: dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên hay quy luật xã hội” [21, tr.24] Đồng thời, tác giả cũng cho rằng “những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con người và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt Mục đích, nội dung,

cơ chế và phương pháp quản lý xã hội tùy thuộc vào chế độ chính trị - xã hội” [21, tr.24] Vì vậy, công tác quản lý văn hóa thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật đã giúp tạo ra hành lang pháp lý an toàn, thuận tiện, tạo cơ chế

mở cho việc thực thi bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của địa phương Đồng thời, quan điểm pháp lý của Nhà nước cũng thể hiện tính đảm bảo tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được thể hiện qua Điều

6 trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo quy định: “Mỗi người có quyền tự do tín

ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo” [56]

Theo cách lý giải ở trên, tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc được xem như là một loại hình di sản văn hóa phi vật thể thuộc sở hữu của cộng đồng người dân

Sa Đéc và đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của người dân ở đây Điều 5 trong Luật di sản văn hóa [53] quy định cụ thể: “Nhà nước thống nhất quản lý

di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác về di sản văn hóa theo quy định của pháp luật” Cũng trong Luật này tại Điều 17 quy định “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác bảo vệ, phát huy giá trị di sản

Trang 31

văn hóa cũng được thể hiện cụ thể tại Điều 59: “Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt, bảo tàng quốc gia, bảo vật quốc gia, di tích lịch sử cách mạng và di sản văn hóa phi vật thể có giá trị tiêu biểu” và điều đó cũng cho thấy rõ tại Điều 61, “Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy

giá trị di sản văn hóa” - tín ngưỡng nữ thần ở Sa Đéc có những giá trị đặc sắc bởi nó gắn liền với đời sống tinh thần và các phong tục tập quán văn hóa của người dân, luôn được cả cộng đồng trân trọng và liên tục lưu truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau

Theo định nghĩa của Luật Di sản văn hóa tại Điều 1, Chương 1, “Di sản

văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền

từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [53] Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa giải thích tại

Điều 1 về di sản văn hóa phi vật thể là “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [54] Còn theo Công ước về bảo vệ di sản văn

hóa phi vật thể năm 2003, “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập

quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng - cũng như những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan - mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ” [91, tr.3] Cũng theo phân tích và diễn giải của Công ước này tại Khoản 2, Điều 2 về di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, bao gồm ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể; Nghệ thuật trình diễn; tập quán xã hội, tín ngưỡng và

Trang 32

lễ hội; tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; nghề thủ công truyền thống [91, tr.4]

Vì lẽ đó, tín ngưỡng nữ thần cùng với các hình thức sinh hoạt lễ hội vía

Bà ở Sa Đéc cũng là một loại hình thuộc di sản văn hóa phi vật thể Tác giả Bùi Hoài Sơn cho rằng “lễ hội là một hiện tượng xã hội tổng thể, trong đó có một

số đặc trưng chủ yếu: là một dạng sinh hoạt tín ngưỡng - tâm linh; là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng địa phương; là dịp đoàn kết, giáo dục truyền thống cộng đồng; là hội chợ trưng bày các sản phẩm địa phương và các vùng khác; là dịp tổ chức các sinh hoạt nghệ thuật, các trò chơi giải trí, thể thao; là địa điểm hành hương, du lịch cho các thành viên của cộng đồng tín ngưỡng nói

chung” [64, tr.21] Theo quan niệm của Nguyễn Xuân Hồng, “lễ hội là một hình thái văn hóa diễn ra nhân một sự kiện xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong một không gian và thời gian thiêng liêng và bằng những lễ thức trang trọng cùng với các sinh hoạt văn hóa cộng đồng hướng tới sự kiện đó” [33, tr.12-13] Đồng thời, tác giả còn cho rằng “Lễ hội của người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long là sự tiếp nối, phát triển lễ hội của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong quá trình di cư mở mang đất nước Trong quá trình này, một mặt lễ hội kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống có từ cội nguồn; mặt khác,

nó phát triển trong không gian, thời gian và chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, những điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội cụ thể” [33, tr.12-13] Theo

đó, các lễ hội xuất phát từ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, thường diễn ra như dịp để con người thể hiện tấm lòng sùng kính của mình với đức tin đã chọn Đặc trưng tính chất tín ngưỡng của lễ hội thể hiện rõ trong mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa tín ngưỡng và lễ hội, thực chất đó là mối quan hệ của văn hóa giao tiếp với văn hóa tâm linh Từ đó, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước cùng với các văn bản và cơ chế quản lý trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng và di sản văn hóa là hoàn toàn phù hợp với chức năng, ý nghĩa, giá trị

Trang 33

của tín ngưỡng và sinh hoạt tín ngưỡng, trong đó có cả tín ngưỡng nữ thần ở địa phương

1.2 T ổng quan về văn hóa dân gian ở thành phố Sa Đéc

1.2.1 Tổng quan vùng đất Sa Đéc

1.2.1.1 Tên g ọi Sa Đéc và đặc điểm tự nhiên

Về tên gọi Sa Đéc, trước đây là hạt thanh tra từ 16/8/1867 do đổi tên từ hạt thanh tra Tân Thành, là một trong số 24 hạt thanh tra toàn Nam Kỳ lúc bấy giờ Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975, Nhà nước giải thể các đơn vị hành chính trước đó và nhập Sa Đéc vào tỉnh Đồng Tháp Sa Đéc trở thành thị xã của tỉnh lỵ Đồng Tháp từ ngày 30/4/1975 với 06 xã Ngày 10/9/1981, ranh giới các xã được điều chỉnh, lập thành 04 phường Ngày 29/4/1994, trung tâm hành chính Đồng Tháp dời từ thị xã Sa Đéc đến thị xã Cao Lãnh Cuối năm 2004, thị xã Sa Đéc có 04 phường 1, 2, 3, 4 và 04 xã: Tân Khánh Đông, Tân Quy Tây, Tân Quy Đông, Tân Phú Đông [34, tr.922-924] Đến ngày 14/10/2013, thị xã Sa Đéc được nâng cấp lên thành phố trực thuộc

tỉnh Đồng Tháp theo Nghị quyết số 113/NQ-CP [11] của Chính phủ Đến năm

2016, thành phố Sa Đéc có 6 phường và 3 xã với tổng diện tích 60 ki-lô-mét vuông, dân số thành phố 105.006 người, phân bổ tập trung nhiều ở khu vực thành thị là 67.048 người, hoạt động kinh tế của người dân chủ yếu bằng các ngành nghề thương mại và dịch vụ Khu vực nông thôn là 37.958 người hoạt động kinh tế chủ yếu nông nghiệp hoặc chăn nuôi gia súc, thủy sản và số ít đi làm thuê trong các khu công nghiệp [13]

Địa danh Sa Đéc còn được biết đến với ba luận giải sau: (1) Theo ghi

chép của Vương Hồng Sển trong Tự vị Tiếng Việt miền Nam dựa vào di cảo của

cụ Trương Vĩnh Ký (Le Cisbassac), ghi chú về tên của sông Sa Đéc bằng tiếng Khmer là “Tonplé Phsar Dèk” và có giải thích thêm cho rằng: “Phsar - nghĩa là chợ; Dèk - nghĩa là sắt; ghép hai từ Phsar Dèk nghĩa thành chợ lớn bán sắt thời

Trang 34

Miên” [61, tr.563] Trong bản Monographie de da Province de Sa Đéc (1903)

ghi “au Cambodge et portait le nom de Phsr-Dek, qui signitie Marché au fers” [4, tr.79] Tuy nhiên, Sơn Nam và nhiều nhà nghiên cứu khác không chắc chắn với luận điểm này; (2) Sa Đéc là tên gọi một vị thủy thần của người Chân Lạp,

có nhiệm vụ phò trợ cho nhân dân trong vùng, thường được thờ trên sông Xưa kia, vàm rạch Sa Đéc có miếu thờ thần Phsar-Dek [29, tr.24-25]; (3) Sa Đéc là

tên một vị thần, được thờ nhiều nơi Sách Đại Nam nhất thống chí - Lục tỉnh

Nam Việt, phần Tự quán, có ghi: “Chùa Tô Sơn ở địa phận thôn Hưng Nhượng,

huyện Hà Dương, tỉnh An Giang Phía sau núi về phía tây có viên đá hình con rùa, người xưa tương truyền rằng: khi gặp trời hạn hán thì đến đây cầu đảo rất nghiệm ắc có được mưa cho nên người địa phương ở đây lập đền thờ ở chân núi gọi là Sa Đét (tức là chùa thờ/ miếu thờ thủy thần)” [57, tr.226]

Vùng đất Sa Đéc nằm giữa hai con sông lớn (sông Tiền và sông Hậu) nên khí hậu ôn hòa, thoáng mát, đất đai màu mỡ, lượng nước ngọt quanh năm với độ nhiễm phèn thấp, nên thuận lợi cho việc tưới tiêu sản xuất nông nghiệp, trồng cây ăn trái Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài thực vật và cây trồng chịu nước, cho nên thảm thực vật tự nhiên nơi đây luôn xanh tốt, phong phú đa dạng nhiều chủng loài Giao thông thuận lợi về đường thủy lẫn đường bộ góp phần phục vụ an sinh và phát triển kinh tế Mặc dù đến năm

1757, vùng đất Sa Đéc mới chính thức trở thành đạo Đông Khẩu của dinh Long

Hồ, nhưng trên thực tế, lưu dân người Việt đã đến vùng đất này khai hoang lập

nghiệp từ lâu trong diễn trình mở cõi như Gia Định thành thông chí mô tả vùng

đất này như một vùng địa linh, đô hội: “Ở bờ phía Nam Tiền Giang, rộng 42 tầm, sâu 28 thước ta, cách trấn về phía Tây 56 dặm rưỡi Trước chỗ này cách 4 dặm, ở bờ phía Nam có sông nhỏ Cái Sơn, rộng 9 tầm, sâu 10 thước ta có cầu ngang thông với chợ Sa Đéc ( ) Nước sông trong ngọt, vườn ruộng rất tốt, nhân dân đông đúc giàu có, có đạo Đông Khẩu đóng ở phía Nam, chợ phố liền

Trang 35

nhau, thuyền bè đông đúc, là chỗ đại đô hội của trấn này Phía trái có xóm Tiên Phổ thuộc Tân Quy Đông, cát trắng ngăn đục như cái mõm nhô môi ra, gió mát, sông lặng, người ta thường đậu thuyền nơi đây, không hề có ruồi muỗi quấy nhiễu, nên mới gọi là Tiên Phía phải có cồn Phụng Nga như bức la thành hộ

vệ, núi sông hiểm yếu, bờ cõi vững bền Chảy qua Tây Nam 33 dặm có Rạch Dầu (Du Câu) ở bờ phía Tây, rạch Nàng Hai (Nhị Nương) ở bờ phía Đông, rạch

Sa Nhân ở bờ phía Tây, rồi đến ngã ba Nước Xoáy, mạch đất như cuốn bó lại nguồn xa của dòng nước, để giữ lấy vượng khí” [19, tr.77] Theo tác giả Nguyễn Hữu Hiếu, “Sa Đéc nằm là vùng đất trù phú được khai phá sớm với đặc trưng

là hoạt động thủ công, thương nghiệp và dịch vụ với trung tâm là chợ Sa Đéc - khu buôn bán sầm uất, nơi quy tụ nhiều sản vật từ khắp các tỉnh miền Tây Nam

Bộ kể cả lượng hàng hóa đổ về từ vùng Đông Nam Bộ và cũng là nơi gặp gỡ, giao lưu của nhiều cộng đồng tộc người, nhiều dòng văn hóa của người Việt, Hoa, Khmer) [29, tr.21-22] Còn theo mô tả của Joseph Athanase Paul Doumer (1857 - 1932) trong cuốn L’Indo - Chine francaise: Souvenirs (Xứ Đông

Dương: Hồi ký) về vùng đất Sa Đéc như sau: “Trong ba tỉnh lỵ bên sông Mê

Kông mà tôi đi thăm đầu tiên, thành phố đẹp nhất chắc chắn là tỉnh lỵ Sa Đéc, nằm ở phía thượng lưu và cách Vĩnh Long khoảng 30 cây số Trung tâm thành phố rất thú vị với các hoạt động thương mại nhộn nhịp, với những cửa tiệm của người An Nam và người Hoa; tại đó người ta sản xuất và bán các loại hàng hóa,

đồ gia dụng, đồ nội thất; tô điểm cho Sa Đéc thêm vẻ duyên dáng và lôi cuốn

là các công viên, những cảnh đồng quê quanh thành phố Không có nơi nào thảm thực vật nhiệt đới lại duyên dáng hơn ở Sa Đéc Cái gốc thiên đường hạ giới xinh đẹp gán cho Sri Lanka không thể vượt được Sa Đéc” [16, tr.128 - 129] Đó chính là những điều kiện “thiên phú” dành riêng cho Sa Đéc, vì vậy

mà ngay từ buổi đầu khẩn hoang vùng đất này đã hấp dẫn và thu hút nhiều lưu

Trang 36

dân đến đây sinh sống, từ đó hình thành cho nơi đây kiểu thức phố thị đông đúc, nhộn nhịp từ rất sớm

1.2.1.2 Điều kiện dân cư và thành phần tộc người

Lưu dân người Việt đã đến khai hoang mở cõi từ rất sớm nhưng số lượng còn thưa ít nên dân cư nhìn chung là người Khmer phổ biến Mãi đến thế kỷ XVI - XVII đã xuất hiện tiến trình nhập và cộng cư của đại đa số lưu dân người Việt và người Hoa ở cả vùng Sa Đéc xưa Nhìn chung, đặc điểm cư dân ở Sa Đéc là sự cộng cư của các tộc người và chủ yếu chịu sự tác động của văn hóa tộc người Hoa mang đậm dấn ấn kinh doanh, mua bán, phố xá, thị tứ sầm uất, náo nhiệt Hiện nay, các tộc người trên vùng đất Sa Đéc đã an cư lạc nghiệp,

có cuộc sống ngày càng sung túc, đời sống kinh tế lẫn đời sống văn hóa ngày càng phong phú phát triển Theo số liệu do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

- thành phố Sa Đéc cung cấp về thành phần tộc người cũng khá phong phú bao gồm chủ yếu là người Việt (102.833 người), tộc người Hoa (2.086 người), tộc người Khmer (67 người) và số lượng còn lại là tộc người Tày, Thái, Nùng, Ê

Đê, Lào, Lô Lô, tất cả cùng chung sống chan hòa, đoàn kết với nhau trên mảnh đất Sa Đéc phồn thịnh (Tài liệu điền dã 2017)

1.2.1.3 Điều kiện kinh tế và văn hóa - xã hội

Chính quyền và nhân dân thành phố Sa Đéc đã khẳng định sự nổi tiếng của mình về mức độ hưng thịnh từ khi mới thành lập cho đến hôm nay Sa Đéc

chính thức được công nhận đô thị loại II theo Quyết định số 210/QĐ-TTg ngày

10 tháng 02 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ [81] Từ đây, Sa Đéc trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ và là khu đô thị công nghiệp phát triển bậc nhất của tỉnh Đồng Tháp Điều đó cho thấy tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội của thành phố đang từng ngày vươn mình phát triển và lớn mạnh thể hiện qua những kết quả đạt được sau đây:

Trang 37

Đối với sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Ước tính giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thực hiện được 1.798,5 tỷ đồng nâng tổng giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp những tháng đầu năm 2017 đạt 3.674,8 tỷ đồng Các sản phẩm có mức tăng khá cao so với cùng kỳ năm 2016 như: chế biến thủy sản tăng 71,5% (phần trăm) và bánh phồng tôm tăng 30,5% Tính theo giá thực tế giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ước thực hiện 2.221,5 tỷ đồng

Về thương mại, dịch vụ và du lịch: Lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường khá dồi dào, phong phú về chủng loại đáp ứng yêu cầu mua sắm của người dân Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 1.015 tỷ đồng, nâng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ những tháng đầu năm 2017 thực hiện được 2.068 tỷ đồng Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 13 triệu USD (đơn vị tiền tệ của Mỹ), nâng tổng kim ngạch xuất khẩu thực hiện được 26,3 triệu USD Các khu, điểm lịch sử, văn hóa, tham quan giải trí trên địa bàn Thành phố như: (1) địa điểm thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa có Làng hoa

Sa Đéc, Kiến An Cung, Thất phủ Thiên Hậu cung, nhà cổ Huỳnh Thủy Lê, nhà

cổ Trần Phú Cương, nhà cổ Nguyễn Thành Giung, Trụ sở Ủy ban khởi nghĩa, Tòa hành chính tỉnh Sa Đéc xưa, Đình Vĩnh Phước, Đình Tân Quy Tây, Xóm Rẫy Cụ Hồ, Đài bia tưởng niệm Chi đội Trần Phú (2) địa điểm vui chơi và tham quan có Công viên Sa Đéc và Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh, khu quảng trường và giỏ hoa tươi lớn nhất Việt Nam, khuôn viên đảo Phụng Hoàng

và thác hoa tươi lớn nhất Việt Nam, khu mua sắm có Chợ Sa Đéc, hệ thống siêu thị Coopmart, Vinafood, trung tâm thương mại Vincom Plaza, Điện máy Chợ Lớn, Thế giới di động, Điện máy xanh và các cửa hàng thời trang vô cùng phong phú trên khắp Sa Đéc (3) địa điểm lưu trú và nghỉ dưỡng với hệ thống nhà hàng, khách sạn đạt chuẩn chất lượng phục vụ du lịch đã thu hút trên 22.000

Trang 38

lượt du khách trong nước và quốc tế (có khoảng trên 900 lượt khách quốc tế) đến tham quan, vui chơi, nghỉ dưỡng và mua sắm

Sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi: Tổng diện tích sản xuất hoa kiểng trên địa bàn đạt 485,5 héc-ta, với khoảng 2.300 hộ dân gieo trồng Ước tính số lượng hoa kiểng tiêu thụ trên 14 triệu giỏ các loại, với tổng doanh thu trên 249

tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2016 Diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn hiện có 188,2 héc-ta với sản lượng thủy sản thu hoạch 5.063,3 tấn

Về văn hóa - xã hội: Thành phố tập trung tổ chức thực hiện tốt các hoạt động văn hóa - văn nghệ, hoạt động lễ hội truyền thống; các buổi họp mặt truyền thống với nhiều hình thức phong phú thu hút khoảng hơn 10.000 người dân đến tham gia Thành phố tiếp tục duy trì và giữ vững các hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao như: tổ chức giao lưu các Câu lạc bộ thể dục dưỡng sinh; các Câu lạc bộ múa Lân - Sư - Rồng; giải đua xuồng; giải cờ tướng

và giải quần vợt v.v Hoạt động thể dục thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi, rộng khắp với nhiều nội dung phong phú, thu hút nhiều người tham gia Nhu cầu về văn hóa tinh thần và vui chơi giải trí của người dân được đáp ứng đầy

đủ với hệ thống Khu Công viên Sa Đéc có quảng trường, công viên cây xanh, khu vui chơi dành cho thiếu nhi, khu ẩm thực giải khát, sân khấu ngoài trời v.v

có sức chứa 20.000 người, rộng 22 ha, phục vụ nhu cầu vui chơi, thưởng ngoạn thư giãn cho người dân Bên cạnh đó, hệ thống các khu điểm du lịch, nhà cổ, làng hoa Sa Đéc, các di tích lịch sử - văn hóa, đình - chùa - miếu nằm ở khắp nơi trong khu vực thành phố đã đem lại sự thuận tiện và đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân và nhu cầu tham quan của du khách phương xa Trong thời gian tới, chính quyền thành phố Sa Đéc đang triển khai xây dựng nhiều dự án phát triển đô thị như: Trung tâm mua sắm Vincom Plaza, khu thương mại - tài chính, khu đô thị mới v.v hứa hẹn sẽ đáp ứng đầy đủ nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân địa phương và những khu vực xung quanh

Trang 39

1.2.2 Khái quát v ề văn hóa dân gian ở thành phố Sa Đéc

1.2.2.1 Văn hóa vật thể

Theo Khoản 2, Điều 4, Chương 1, Luật Di sản văn hóa năm 2001 [53]

thì “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” Vùng đất Sa Đéc với địa thế sông liền sông, chợ liền chợ nên đã sớm trở thành khu thị tứ phát triển, nhà cửa, phố xá đông đúc, các giá trị văn hóa vật thể biểu hiện đầy đủ thông qua lối kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo như Thất phủ Thiên Hậu Cung, Kiến An Cung, Đình Vĩnh Phước, Đình Tân Quy Tây, Tân Quy Đông, Tân Khánh, Tân Đông, Tân Phú Đông; Miếu Bà Chúa xứ, Miếu Ngũ Hành; Miếu Cửu Thiên Huyền Nữ, Chùa Hương, Chùa Phước Lâm; Nhà thờ Hòa Khánh, Nhà thờ Tân Quy, Nhà thờ Tin Lành v.v cùng với nhiều công trình kiến trúc khác

1.2.2.2 Văn hóa phi vật thể

Theo Khoản 1, Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di

sản văn hóa thì “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng

đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo

và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [54] Ở Sa Đéc, bên cạnh đời sống vật chất phong phú của người dân trong sự giao thoa, tiếp biến văn hóa, đời sống tinh thần và những giá trị văn hóa phi vật thể cũng khá đa dạng Khi xem xét đời sống tâm linh của người dân trên địa bàn Sa Đéc, chúng tôi thấy có các dạng tín ngưỡng Quan Công, Ông Địa, Ông Thần Tài, tục thờ Thổ thần, Bàn Thiên và các phong tục cưới hỏi, tang ma, giỗ tết, đặc biệt là sự phong phú của tín ngưỡng nữ thần trong cộng đồng và tại gia đình mà đề tài chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu Bên cạnh đó, kho tàng văn học dân gian cũng có những

Trang 40

đặc sắc và đa dạng như các truyện kể dân gian, giai thoại về địa danh, tên sông rạch tại Sa Đéc, giai thoại về chợ Nàng Hai1 [27, tr.216-218], giai thoại về Cô Hai Hiên2 [82, tr.111-117] và kho tàng phong phú về ca dao, tục ngữ chủ đề quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình; các vần thơ, câu hò, bài vè về thiên nhiên sông nước miệt vườn, thế sự nhân tình Đặc biệt là các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian như hát múa bóng rỗi, hát bội, đờn ca

tài tử như chia sẻ của ông N.N.T cho biết: “Nghệ thuật diễn xướng dân gian ở

Sa Đéc vô cùng phong phú như loại hình múa bóng rỗi ở Sa Đéc ra đời và tồn tại trong môi trường tín ngưỡng dân gian từ lâu mà đặc biệt là tín ngưỡng nữ thần hay còn gọi là tục thờ Bà Ngoài ra, còn có hai tuyến nghệ thuật hát bội và đờn ca tài tử cũng một thời nổi tiếng nức danh ở vùng Sa Đéc và các tỉnh miền Tây Nam Bộ” [PL3: Biên bản phỏng vấn số 4, tr.26-27]

1.2.2.3 Vai trò c ủa tín ngưỡng nữ thần trong tổng thể văn hóa dân gian vùng đất Sa Đéc

Tín ngưỡng nữ thần qua thời gian đã giữ vai trò riêng trong đời sống tinh thần của cư dân các tộc người ở Sa Đéc, chúng tôi nhận thấy những vai trò đó biểu hiện như sau: (1) Nữ thần cai quản xứ sở như bà Chúa Xứ, bà Ngũ Hành,

bà Cố Hỷ v.v phù hộ cho đất đai tốt tươi, mùa màng bội thu, quán xuyến, trông coi toàn bộ vùng đất, xứ sở, thậm chí là độ mạng cho nữ giới (2) Nữ thần cai quản không gian vũ trụ như Ngũ Hành Nương Nương, Cửu Thiên Huyền Nữ,

1 Dân gian tương truyền, khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, tại vàm rạch giữa hai làng Tân Quy Tây và Tân Quy Đông, có một gia đình nông dân già, trong nhà có hai người con gái sinh đôi tuổi vừa 16 dựng quán nước, đưa đò để bí mật hoạt động cách mạng Vì muốn cứu giúp nghĩa quân thoát khỏi sự vây bố của giặc nên hai nàng đã dùng thân mình chịu đạn và hy sinh trong lúc đưa đoàn nghĩa quân qua sông Về sau mỗi khi đi ngang vàm rạch này, người dân thường nhắc lại những việc hai nàng đã làm và gọi rạch này là rạch Hai Nàng, qua năm tháng nói trại thành Nàng Hai, tên chợ Nàng Hai bên vàm rạch cũng bắt nguồn từ đó

2 Theo chuyện kể trong dân gian, Cô Hai Hiên tên thật là Phạm Thị Hiên con gái duy nhất của Hương cả Phạm Văn Cần Càng lớn lên thì Cô Hai Hiên càng xinh đẹp cộng với tính tình nết na, thùy mị nên đến năm 18 tuổi,

Cô Hai Hiên nức danh tài sắc, chẳng khác tiên nữ giáng trần ở vùng Nha Mân - Sa Đéc xưa kia Một hôm, Cô đang dạo chơi bên bờ sông bổng nghe tiếng gọi đò của bà lão bên kia bờ nhưng người chèo đò đi vắng, thấy vậy, Cô liền chèo đò qua rước bà lão Chẳng ngờ, ra đến giữa sông, dòng nước chảy xiếc, Cô bị sút tay chèo rồi té nhào xuống sông chết Những ngày sau, dân làng thường thấy Cô hiển linh về giúp đỡ mọi người nên được tôn kính và súng bái đến ngày hôm nay

Ngày đăng: 28/12/2020, 07:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w