TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN Theo đơn khởi kiện Bà Thu yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau: Ngày 17/7/2006, bà Thu và Công ty YD cùng nhau thỏa thuận ký kết Hợp đồng lao động với nội du
Trang 1HỒ SƠ TÌNH HUỐNG
Mã số: LS.DS 09/B3.TH4_DA/LĐ TRANH CHẤP VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG
THEO HÌNH THỨC SA THẢI
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện Bà Thu yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau: Ngày 17/7/2006, bà Thu và Công ty YD cùng nhau thỏa thuận ký kết Hợp đồng lao động với nội dung: Thời hạn hợp đồng là: không xác định thời hạn, trình
độ chuyên môn: Kế toán, chức danh: Kế toán trưởng
Mức lương hiện tại được hưởng: 21.733.600 và các chế độ khác theo quy
định của pháp luật Việt Nam Trong quá trình thực hiện Hợp đồng bà Thu luôn
chấp hành đầy đủ nội quy, quy chế của Công ty và quy định của pháp luật Tuy
nhiên, sau thời kỳ nghỉ thai sản theo quy định của pháp luật Việt Nam, ngày 09/12/2015, bà Thu trở lại Công ty YD để tiếp tục làm việc theo Hợp đồng lao động, thì bà Thu được thông báo không cho bà Thu vào làm việc Đồng thời, bà Thu nhận được Thông báo số 05/2015/TB ngày 5/12/2015 với nội dung: đúng 9 giờ sáng ngày 15/12/2015 đến Công ty để làm rõ sai phạm kế toán Nội dung cuộc họp Ban lãnh đạo quy kết trách nhiệm, gây áp lực thúc ép, yêu cầu bà Thu phải nhận những sai phạm cá nhân nhưng không cho biết rõ về những sai phạm cụ thể
là những vấn đề gì và những bằng chứng về các lỗi sai phạm, đồng thời đưa ra yêu cầu bà Thu cung cấp hồ sơ cá nhân (hồ sơ xin việc) mà Công ty đã làm thất lạc, sau đó Ban lãnh đạo tuyên bố sẽ tiến hành sa thải bà Thu
Đến ngày 20/12/2015, bà Thu tiếp tục nhận được Thông báo số 07/2015/TB, với nội dung: đúng 9 giờ ngày 25/12/2015, mời bà Thu đến Công ty để tham gia cuộc họp Hội đồng kỷ luật lao động đối với bà Thu Ban lãnh đạo Công ty tiếp tục cho rằng bà Thu đã có một số sai phạm, nhưng lại không đưa ra nội dung của những sai phạm là gì và cơ sở hay chứng cứ cụ thể, rõ ràng về sai phạm
Ngày 14/5/2016, Ban quản lý khu kinh tế và Công Đoàn khu kinh tế Hải Phòng đã tiến hành buổi làm việc giữa bà Thu với lãnh đạo Công ty YD Việt Nam Tại cuộc họp bà Thu nhận được Biên bản xử lý kỷ luật lao động đề ngày 20/3/2016 với hình thức sa thải
Ngày 06/7/2016, bà Thu nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án huyện AD, thành phố Hải Phòng buộc Công ty YD bồi thường thiệt hại cho bà do hành vi
sa thải trái pháp luật Cụ thể:
- Thanh toán toàn bộ tiền lương kể từ ngày 09/12/2015 đến hết ngày 09/7/2016 (07 tháng) theo mức lương 21.733.600 đồng/01 tháng, tổng số là 152.135.200 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu, một trăm ba mươi lăm nghìn hai trăm đồng chẵn)
Trang 2- Thanh toán tiền trợ cấp thôi việc: từ ngày 17/7/2006 đến ngày 31/12/2008 (2,5 năm) Tiền lương của 06 tháng liền kề trước khi nghỉ việc là 21.733.600 đ/01 tháng, tiền trợ cấp thôi việc là 21.733.600 x ½x 2,5 = 27.167.000 đ (Hai mươi bảy
triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng chẵn) Tổng số tiền là 179.302.200 đồng
(Một trăm bảy mươi chín triệu ba trăm linh hai nghìn hai trăm đồng)
- Buộc Công ty chốt sổ Bảo hiểm xã hội cho bà Trần Thị Thu
Ngày 11/5/2017 bà Trần Thị Thu bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau:
1 Buộc Công ty YD hủy Biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016
với hình thức Sa thải đối với bà Thu;
2 Buộc Công ty YD khôi phục mọi quyền lợi của bà theo quy định tại Hợp
đồng lao động ký ngày 17/7/2006
Cụ thể:
+ Thanh toán toàn bộ tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong thời gian bà Thu không làm việc kể từ ngày 9/12/2015 đến khi chính thức nhận lại
Tạm tính đến ngày 09/5/2017 (17 tháng) theo mức lương bà hưởng hàng
tháng là: 20.393.000 đồng/ 01 tháng, tổng số là 20.393.000 đồng/ 01 tháng x 17 tháng = 346.681.000 đồng.
+ Bồi thường cho bà 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động (Phụ lục Hợp đồng lao động ký ngày 01/01/2015) theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Bộ luật
lao động là: 02 tháng x 20.393.000 đồng = 40.786.000 đồng.
Tổng số tiền Công ty YD phải trả cho bà là: 346.681.000 đồng + 40.786.000 đồng = 387.467.000 đồng (Ba trăm tám mươi bảy triệu, bốn trăm sáu mươi bảy
nghìn đồng
3 Do bà không có nhu cầu quay trở lại Công ty YD làm việc nên ngoài
khoản tiền nêu trên thì bà yêu cầu Công ty bồi thường thêm các khoản như sau:
+ Thanh toán trợ cấp thôi việc: Bắt đầu làm việc tại Công ty YD vào ngày 17/7/2016 cho đến thời điểm hiện tại Căn cứ Điều 48 Bộ luật lao động thì tổng thời gian bà được hưởng trợ cấp thôi việc từ ngày 17/7/2006 đến ngày 31/12/2008 được tính là 2,5 năm Tiền lương của 06 tháng liền kề trước khi bà nghỉ việc là
20.393.000 đồng x 1/2/2 = 25.491.250 đồng.
+ Bồi thường cho bà 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động (Phụ lục Hợp đồng lao động ký ngày 01/01/2015) theo quy định tại khoản 3 Điều 42 Bộ luật
lao động là: 02 tháng x 20.393.000 đồng = 40.786.000 đồng.
Tổng số tiền Công ty YD phải trả cho bà là: 346.681.000 đồng + 25.491.250 đồng + 40.786.000 đồng = 453.744.250 đồng (Bốn trăm năm ba triệu, bảy trăm
bốn mươi bốn nghìn, hai trăm năm mươi đồng
+ Buộc Công ty YD thực hiện ngay việc chốt sổ Bảo hiểm xã hội cho bà Thu kể từ ngày 09/12/2015 đến khi có phán quyết của Tòa án
Trang 3Tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn khởi kiện:
1 Bản sao CMND, Sổ hộ khẩu;
2 Giấy xác nhận CMND của Công an thành phố Hải Phòng;
3 Giấy ủy quyền cho Công ty Luật K ngày 22/12/2015;
4 Hợp đồng lao động ký ngày 17/10/2008;
5 Thông báo ngày 05/12/2015; ngày 20/12/2015 của Công ty YD;
6 Công văn đề nghị giải quyết quyền lợi của Công ty Luật K ngày 09/01/2016; ngày 28/01/2016; ngày 03/3/2016; ngày 29/5/2016;
7 Biên bản cuộc họp kỷ luật ngày 25/12/2016; ngày 20/3/2016;
8 Quyết định số 008/14QĐ ngày 30/12/2015 của Công ty YD;
9 Công văn đề nghị phối hợp hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của Ban quản lý khu kinh tế Hải Phòng ngày 01/4/2016;
10 Biên bản làm việc tại Công đoàn khu Kinh tế Hải phòng ngày 14/5/2016;
11 Đơn đề nghị hòa giải tranh chấp lao động cá nhân số 12/2016/CV-K ngày 12/3/2016; số 20/2016 ngày 27/3/2016 của Công ty Luật K;
12 Công văn số 39/LĐTBXH ngày 25/3/2016 của Phòng Lao động, Thương binh – Xã hội huyện AD, thành phố Hải Phòng
II VỀ TỐ TỤNG
1 Tư cách đương sự
Nguyên đơn bà: TRẦN THỊ THU Sinh năm: 1985
Địa chỉ: Số … phố Đ, phường Hoàng Văn Thụ, Quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
Chỗ ở hiện tại: Số 6xx, phố Đ, phường Hoàng Văn Thụ, Quận Hồng Bàng,
TP Hải Phòng
Bị đơn: CÔNG TY TNHH YD VIỆT NAM (Công ty YD)
Đại diện theo pháp luật: Ông Shuhei – Chức vụ: Giám đốc
Địa chỉ: Lô 12xx khu công nghiệp NM – Hải Phòng, TP Hải Phòng
2 Quan hệ pháp luật tranh chấp
Quan hệ tranh chấp trong vụ án này là: Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải giữa bà Trần Thị Thu và Công ty TNHH YD Việt Nam
3 Thời hiệu khởi kiện của nguyên đơn
Căn cứ theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động năm 2012 Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện
ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm Việc bà Thu khởi kiện phù hợp về thời hiệu
Trang 44 Thẩm quyền của Tòa án
- Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo quy định điểm a khoản 1 điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- Theo quy định điểm c khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thầm quyền giải quyết (Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này)
- Căn cứ theo quy định điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 Điều 39 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ Thẩm quyền giải quyết vụ
án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
Bị đơn: CÔNG TY TNHH YD VIỆT NAM (Công ty YD) Đại diện theo pháp luật: Ông Shuhei – Chức vụ: Giám đốc Địa chỉ trụ sở chính: Lô 12xx khu
công nghiệp NM – Hải Phòng, TP Hải Phòng Nên Tòa án huyện AD, thành phố Hải Phòng, thành phố Hải Phòngcó thầm quyền giải quyết)
III NỘI DUNG TRÌNH BÀY YÊU CẦU CỦA NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa: Hội đồng xét xử;
Kính thưa vị đại diện viện kiểm sát;
Cùng vị luật sư đồng nghiệp bảo vệ cho bị đơn.
Tôi là Luật sư Hồ Tấn Phát - Văn phòng Luật sư BT, thuộc Đoàn Luật sư
tỉnh Bến Tre, là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, xin trình bày về yêu cầu khởi kiện theo nội dung đơn khởi kiện ngày 06/7/2016, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 11/5/2017 và những chứng cứ chứng minh cho yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Ngày 17/7/2006, bà Thu và Công ty YD cùng nhau thỏa thuận ký kết Hợp đồng lao động với nội dung: Thời hạn hợp đồng là: không xác định thời hạn, trình
độ chuyên môn: Kế toán, chức danh: Kế toán trưởng Mức lương hiện tại được hưởng: 21.733.600 và các chế độ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam Trong quá trình thực hiện Hợp đồng bà Thu luôn chấp hành đầy đủ nội quy, quy chế của Công ty và quy định của pháp luật Sau thời kỳ nghỉ thai sản theo quy định của pháp luật Việt Nam, ngày 09/12/2015, bà Thu trở lại Công ty YD để tiếp tục làm việc theo Hợp đồng lao động Tuy nhiên, bà Thu được thông báo không cho bà Thu vào làm việc và qua nhiều lần làm việc với Công ty Ban lãnh đạo Công ty tuyên bố sẽ tiến hành sa thải bà Thu Ngày 14/5/2016, Ban quản lý khu kinh tế và Công Đoàn khu kinh tế Hải Phòng đã tiến hành buổi làm việc giữa bà Thu với lãnh
Trang 5đạo Công ty YD Việt Nam Tại cuộc họp bà Thu nhận được Biên bản xử lý kỷ luật lao động đề ngày 20/3/2016 với hình thức sa thải
Ngày 06/7/2016, bà Thu đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án huyện AD, thành phố Hải Phòng buộc Công ty YD bồi thường thiệt hại cho tôi do hành vi
sa thải trái pháp luật Tuy nhiên, đến ngày 11/5/2017 bà Trần Thị Thu có đơn
bổ sung khởi kiện yêu cầu như sau:
1 Buộc Công ty YD hủy biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016
với hình thức Sa thải đối với bà Thu;
2 Buộc Công ty YD khôi phục mọi quyền lợi của bà theo quy định tại Hợp đồng lao động ký ngày 17/7/2006, cụ thể:
+ Thanh toán toàn bộ tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong thời gian bà Thu không làm việc kể từ ngày 9/12/2015 đến khi chính thức nhận lại
Tạm tính đến ngày 09/5/2017 (17 tháng) theo mức lương bà hưởng hàng
tháng là: 20.393.000 đồng/ 01 tháng, tổng số là 20.393.000 đồng/ 01 tháng x 17 tháng = 346.681.000 đồng.
+ Bồi thường cho bà 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động (Phụ lục Hợp đồng lao động ký ngày 01/01/2015) theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Bộ luật
lao động là: 02 tháng x 20.393.000 đồng = 40.786.000 đồng.
Tổng số tiền Công ty YD phải trả cho bà là: 346.681.000 đồng + 40.786.000 đồng = 387.467.000 đồng (Ba trăm tám mươi bảy triệu, bốn trăm sáu mươi bảy
nghìn đồng
3 Do bà không có nhu cầu quay trở lại Công ty YD làm việc nên ngoài
khoản tiền nêu trên thì bà yêu cầu Công ty bồi thường thêm các khoản như sau:
+ Thanh toán trợ cấp thôi việc: Bắt đầu làm việc tại Công ty YD vào ngày 17/7/2016 cho đến thời điểm hiện tại Căn cứ Điều 48 Bộ luật lao động thì tổng thời gian bà được hưởng trợ cấp thôi việc từ ngày 17/7/2006 đến ngày 31/12/2008 được tính là 2,5 năm Tiền lương của 06 tháng liền kề trước khi bà nghỉ việc là
20.393.000 đồng x 1/2/2 = 25.491.250 đồng.
+ Bồi thường cho bà 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động (Phụ lục Hợp đồng lao động ký ngày 01/01/2015) theo quy định tại khoản 3 Điều 42 Bộ luật
lao động là: 02 tháng x 20.393.000 đồng = 40.786.000 đồng.
Tổng số tiền Công ty YD Việt Nam phải trả cho bà là: 346.681.000 đồng + 25.491.250 đồng + 40.786.000 đồng = 453.744.250 đồng (Bốn trăm năm ba triệu,
bảy trăm bốn mươi bốn nghìn, hai trăm năm mươi đồng
+ Buộc Công ty YD thực hiện ngay việc chốt sổ Bảo hiểm xã hội cho bà Thu kể từ ngày 09/12/2015 đến khi có phán quyết của Tòa án
Tài liệu, chứng cứ kèm theo chứng minh cho yêu cầu khởi kiện gồm có:
(Đã giao nộp đầy đủ cho Tòa án những tài liệu):
- Bản sao Hợp đồng lao động số YC-S008/PLHĐ-2008 ngày 17/10/2008;
Trang 6- Bản sao Thông báo số 05-2015/TB ngày 05/12/2015 về việc yêu cầu tạm dừng làm việc;
- Bản sao Quyết định số S008-14/QĐ ngày 30/12/2015 về việc bố trí công việc;
- Bản sao Công văn số 01/2016/CV-K ngày 09/01/2016 về việc đề nghị giải quyết quyền lợi cho bà Trần Thị Thu;
- Bản sao Công văn số 04/2016/CV-K ngày 09/01/2016 về việc đề nghị giải quyết quyền lợi cho bà Trần Thị Thu;
- Bản sao Công văn số 10/2016/CV-K ngày 03/3/2016 về việc đề nghị giải quyết quyền lợi cho bà Trần Thị Thu;
- Bản sao Công văn số 33/2016/CV-K ngày 29/5/2016 về việc đề nghị giải quyết quyền lợi cho bà Trần Thị Thu;
- Bản sao Biên bản họp Hội đồng kỷ luật ngày 25/12/2015;
- Bản sao Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động số 02-BB/VPKL ngày 20/3/2016;
- Bản sao Công văn số 619/BQL-LĐ ngày 01/4/2016 về việc phối hợp hòa giải;
- Bản sao Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động (sa thải) ngày 14/8/2016;
- Bản sao Quyết định xử lý kỷ luật lao động (sa thải) số 02-QĐ/HĐKL ngày 15/8/2016;
- Bản sao Bảng lương tháng 3/2015, 4/2015, 10/2015
Trên đây là nội dung yêu cầu khởi kiện (theo đơn khởi kiện ngày 06/7/2016)
và những chứng cứ chứng minh cho yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn
II KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHÊN TÒA SƠ THẨM
1 Hỏi Bị đơn Đại diện Công ty YD
- Công ty đã nhận được Thông báo về việc bà Thu khởi kiện không?
- Theo Đai diện Công ty thì có ý kiến gì về nội dung này? (Nếu trình bày là biết rõ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn)
- Công ty có ký Hợp đồng lao động với bà Thu không? Thời điểm ký Hợp đồng khi nào?
- Công ty có thông báo tuyển dụng hay cách thức nào bà Thu đến xin làm việc tại Công ty?
- Hợp đồng lao động xác định như thế nào? công việc của bà Thu là sẽ làm những công việc gì?
- Như vậy theo Hợp đồng lao động bà Thu được Công ty trả lương hàng tháng bao nhiêu tiền? Hình thức? thời gian trả lương thế nào?
Trang 7- Trong thời gian làm việc tai Công ty bà Thu có sai phạm gì không?
- Quá trình làm việc bà Thu có hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong thời gian làm việc tại Công ty không? Mức độ hoàn thành như thế nào?
- Công ty đã tổ chức bao nhiêu lần họp để bàn giải quyết vấn đề liên quan đến bà Thu? Như vậy nững lần Công ty họp để giải quyết công việc có liên quan đến Bà Thu Công ty có mời bà Thu đến tham dự không?
- Tại sao Công không bố trí bà Thu làm công việc cũ theo như Hợp đồng lao động đã ký mà bố trí bà Thu quản lý kho rác?
- Trước khi bố trí làm việc khác với bà Thu Công ty làm việc trao đổi với bà như thế nào? ý kiến của bà Thu như thế nào về việc này?
- Công việc quản lý kho rác là làm những việc gì? có phù hợp với phụ hợp đồng không? có phù hợp với trình độ chuyên môn của bà Thu không? phù hợp với sức khỏe của phụ nữ mới sinh con không?
- Lý do nào mà từ Kế toán trưởng lại bố trí sang phụ trách quản lý kho rác Công ty có ban hành Quyết định sa thải Bà Thu không? Bà Thu đã sinh sinh con vậy thời điểm bố trí nhận công việc khác con bà đã đủ 12 tháng tuổi chưa?
- Tại sao khi bà Thu đi làm lại thì Công ty lại ban hành quyết định sa thải?
- Việc chuyển bà Thu sang làm công việc khác thì công ty có hỏi ý kiến bà
- Khi được bố trí việc khác bà Thu có phản ứng gì? Khi chuyển bà Thu làm công việc khác thì Công ty có ký lại hợp đồng làm việc với bà Thu không?
2 Hỏi Nguyên đơn Bà Trần Thị Thu
- Nguyên đơn bắt đầu làm việc tại Công ty từ ngày tháng năm nào?
- Công việc của nguyên đơn theo Hợp đồng lao động là gì?
- Trong quá trình làm việc nguyên đơn có hoàn thành tốt công việc được giao không? Khi xảy ra sự việc, nguyên đơn có vi phạm kỷ luật lần nào không?
- Nguyên đơn nghỉ thai sản vào thời gian nào?
- Các phiên họp của Công ty liên quan đến việc giải quyết việc làm cho Nguyên đơn, Nguyên đơn có được mời tham dự không?
- Sau khi nghỉ thai sản nguyên đơn được công ty phân công công việc gì?
Cụ thể là làm việc gì? Có phù hợp với điều kiện sức khỏe của phụ nữ đang nuôi con nhỏ không?
- Nguyên đơn có biết lý do bị Công ty TNHH YD Việt Nam sa thải không?
- Nguyên đơn nhận quyết định sa thải của Công ty vào thời gian nào, có đồng ý với Quyết định sa thải không?
Trang 8IV NỘI DUNG CHUẨN BỊ BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN
1 Định hướng bảo vệ
Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH YD phải bồi thường cho bà
Trần Thị Thu tổng số tiền là: 346.681.000 đồng + 25.491.250 đồng + 40.786.000 đồng = 453.744.250 đồng (Bốn trăm năm ba triệu, bảy trăm bốn mươi bốn nghìn,
hai trăm năm mươi đồng Nghĩa vụ Công ty YD phải chốt sổ Bảo hiểm xã hội cho
bà Thu kể từ ngày 09/12/2015 đến khi có phán quyết của Tòa án
2 Nội dung bản luận cứ
Kính thưa: Hội đồng xét xử;
Kính thưa vị đại diện viện kiểm sát;
Cùng vị luật sư đồng nghiệp bảo vệ cho bị đơn.
Tôi là Luật A………., theo yêu cầu của bà Trần Thị Thu, được sự phân công của Trưởng Văn phòng Luật sư BT và được sự chấp thuận của Quý tòa Tôi tham gia phiên Tòa hôm nay để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn Trần Thị Thu
Với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn tôi xin phát biểu quan điểm của mình về vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định trong quá trình nghị án nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn theo đúng quy định pháp luật
Nội dung phát biểu của tôi bao gồm những vấn đề sau đây:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời
trình bày của nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa
Về nội dung vụ án: Bà Thu và Công ty YD cùng nhau thỏa thuận ký kết
Hợp đồng lao động với nội dung: Thời hạn hợp đồng là: không xác định thời hạn, trình độ chuyên môn: Kế toán, chức danh: Kế toán trưởng Mức lương hiện tại được hưởng: 21.733.600 và các chế độ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam Trong quá trình thực hiện Hợp đồng bà Thu luôn chấp hành đầy đủ nội quy,
quy chế của Công ty và quy định của pháp luật Sau thời kỳ nghỉ thai sản theo quy
định của pháp luật Việt Nam, ngày 09/12/2015, bà Thu trở lại Công ty YD để tiếp tục làm việc theo Hợp đồng lao động
Tuy nhiên, khi đến cổng Công ty thì bà Thu được bảo vệ thông báo Ban lãnh đạo Công ty chỉ thị không cho bà Thu vào làm việc và bà Thu bất ngờ nhận được Thông báo số 05/2015/TB ngày 5/12/2015 với nội dung: đúng 9 giờ sáng ngày 15/12/2015 đến Công ty để làm rõ sai phạm kế toán
Đến ngày 20/12/2015, bà Thu tiếp tục nhận được Thông báo số 07/2015/TB (do ông TGĐ SHUHEI ký, đóng dấu Công ty), với nội dung: đúng 9 giờ ngày 25/12/2015, mời bà Thu đến Công ty để tham gia cuộc họp Hội đồng kỷ luật lao
Trang 9động đối với bà Thu Ban lãnh đạo Công ty cho rằng bà Thu đã có một số sai phạm, nhưng lại không đưa ra nội dung của những sai phạm là gì và cơ sở hay chứng cứ cụ thể, rõ ràng về sai phạm Qua các buổi làm việc giữa bà Thu với lãnh đạo Công ty YD Việt Nam Tại cuộc họp bà Thu nhận được Biên bản xử lý kỷ luật lao động đề ngày 20/3/2016 với hình thức sa thải
Ngày 06/7/2016, bà Thu nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án huyện AD, thành phố Hải Phòng buộc Công ty YD bồi thường thiệt hại và ngày 11/5/2017
bà Trần Thị Thu bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau:
1 Buộc Công ty YD hủy Biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 20/3/2016
với hình thức Sa thải đối với bà Thu;
2 Buộc Công ty YD khôi phục mọi quyền lợi của bà theo quy định tại Hợp đồng lao động ký ngày 17/7/2006, cụ thể: Thanh toán toàn bộ tiền lương, tiền bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong thời gian bà Thu không làm việc kể từ ngày
9/12/2015 đến khi chính thức nhận lại Tạm tính đến ngày 09/5/2017 (17 tháng) theo mức lương bà hưởng hàng tháng là: 20.393.000 đồng/ 01 tháng, tổng số là 20.393.000 đồng/ 01 tháng x 17 tháng = 346.681.000 đồng Bồi thường cho bà 02
tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động (Phụ lục Hợp đồng lao động ký ngày 01/01/2015) theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Bộ luật lao động là: 02 tháng x
20.393.000 đồng = 40.786.000 đồng.
Tổng số tiền là: 346.681.000 đồng + 40.786.000 đồng = 387.467.000 đồng
(Ba trăm tám mươi bảy triệu, bốn trăm sáu mươi bảy nghìn đồng
3 Do bà không có nhu cầu quay trở lại Công ty YD làm việc nên ngoài
khoản tiền nêu trên thì bà yêu cầu Công ty bồi thường thêm các khoản như sau: Thanh toán trợ cấp thôi việc: Bắt đầu làm việc tại Công ty YD vào ngày 17/7/2016 cho đến thời điểm hiện tại Căn cứ Điều 48 Bộ luật lao động thì tổng thời gian bà được hưởng trợ cấp thôi việc từ ngày 17/7/2006 đến ngày 31/12/2008 được tính là
2,5 năm Tiền lương của 06 tháng liền kề trước khi bà nghỉ việc là 20.393.000 đồng x 1/2/2 = 25.491.250 đồng Bồi thường cho bà 02 tháng tiền lương theo Hợp
đồng lao động (Phụ lục Hợp đồng ký ngày 01/01/2015) theo quy định tại khoản 3
Điều 42 Bộ luật lao động là: 02 tháng x 20.393.000 đồng = 40.786.000 đồng.
Tổng số tiền Công ty YD phải trả cho bà là: 346.681.000 đồng + 25.491.250 đồng + 40.786.000 đồng = 453.744.250 đồng (Bốn trăm năm ba triệu, bảy trăm
bốn mươi bốn nghìn, hai trăm năm mươi đồng)
Như vậy qua nội dung khởi kiện, khẳng định rằng Quyết định sa thải bà Trần Thị Thu của Công ty TNHH YD là trái với quy định của pháp luật vì:
- Thứ nhất, trong quá trình làm việc tại Công ty YD, bà Thu hoàn thành tốt
công việc được giao và không vi phạm kỷ luật của Công ty Việc Công ty YD quyết định sa thải bà Thu là không có căn cứ, trái với nguyên tắc xử lý kỷ luật lao động được quy định tại Khoản 1 Điều 123 BLLĐ năm 2012
“Điều 123 Nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động
1 Việc xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:
Trang 10a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;
b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở;
c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; trường hợp là người dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật;
d) Việc xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản
4 Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:
d) Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới
12 tháng tuổi.
…”
+ Như vậy, theo điểm a khoản 1 điều 123 này thì Công ty YD không chứng minh được bà Thu đã vi phạm kỷ luật như thế nào mà đã ban hành quyết định sa thải là không đúng pháp luật
+ Trường hợp của bà Thu thuộc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động do bà Thu đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi Công ty YD không thể xử
lý kỷ luật bà Thu dưới bất kỳ hình thức nào (Điểm d Khoản 4 Điều 123 này)
+ “Theo Điều 155 Bộ luật lao động năm 2012 Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ
1 Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp sau đây:
b) Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
3 Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động
4 Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định
của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động.
…”
Hiện tại theo Điều 30 Nghị định 148/2018/NĐ-CP Về trình tự xử lý kỷ luật
lao động tại Điều 123 của Bộ luật lao động được quy định như sau:
- Khi phát hiện người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao động tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm, người sử dụng lao động tiến hành lập biên bản vi phạm, thông báo đến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật trong trường hợp người lao động là người dưới 18 tuổi để tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động