1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BAI THU HOACH DAN SU 13 CTY KIM lân CTY NHẬT LINH

16 418 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 139 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở Hợp đồng nguyên tắc này, Công ty Kim Lân đã thực hiện việc cung cấp hàng hóa cho Công ty Nhật Linh theo như thỏa thuận và đến nay Công ty TNHH Nhật Linh vẫn chưa thanh toán hế

Trang 1

HỒ SƠ VỤ ÁN

HỒ S Ơ 13 :

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

1 Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân

- Giấy CNĐKDN số 21.02.000533, đăng ký lần đầu: ngày 25/11/2003, đăng

ký thay đổi lần thứ 3: ngày 12/3/2017;

- Địa chỉ trụ sở chính: Cụm Công nghiệp Thanh Khương, Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh

- Người Đại diện theo pháp luật của Công ty: Ông Hàn Anh Tuấn, sinh năm

1963, CMND số 010158960 do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 05/01/2003; Chức vụ: Giám đốc Công ty

* Người đại diện theo ủy quyền là bà Kiều Thị Hải Vân, Luật sư Văn phòng Luật sư Kiều Vân và Cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

2 Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh

- Giấy CNĐKDN số 23003366011, đăng ký lần đầu: ngày 12/6/2008, đăng

ký thay đổi lần thứ 7: ngày 15/5/2013;

- Địa chỉ trụ sở chính: Cụm Công nghiệp Thanh Khương, Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh

- Người Đại diện theo pháp luật của Công ty: Ông Nguyễn Chí Linh, sinh năm 1964, CMND số 02152363 do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 24/9/2003; Chức vụ: Giám đốc Công ty

3 Nội dung vụ việc như sau

Công ty TNHH Kim Lân (sau đây gọi là Công ty Kim Lân) và Công ty TNHH Nhật Linh (Sau đây gọi là Công ty Nhật Linh) có thỏa thuận mua bán hàng với nhau theo Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL được ký kết giữa hai Công ty Trên cơ sở Hợp đồng nguyên tắc này, Công ty Kim Lân đã thực hiện việc cung cấp hàng hóa cho Công ty Nhật Linh theo như thỏa thuận và đến nay Công ty TNHH Nhật Linh vẫn chưa thanh toán hết tiền hàng cho Công ty TNHH Kim Lân

Căn cứ vào biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 về việc chốt nợ của năm 2015, biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016 để xác nhận công nợ tính đến ngày 30/4/2016, số tiền Công ty Nhật Linh đang nợ chưa thanh toán là

3.270.212.570 đồng (Ba tỷ hai trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai ngàn năm trăm bảy mươi đồng).

Trang 2

Ngày 09/5/2016, Công ty TNHH Kim Lân đã gửi Công văn số 0506/ĐN/CN

về việc yêu cầu thanh toán tiền hàng đến Công ty TNHH Nhật Linh Theo nội dung Công văn này, Công ty TNHH Kim Lân xác nhận số tiền mà Công ty Nhật Linh

đang nợ chưa thanh toán là 3.270.212.570 đồng (Ba tỷ hai trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai ngàn năm trăm bảy mươi đồng) và yêu cầu công ty TNHH Nhật

Linh thanh toán ngay sau khi nhận được Công văn nói trên

Ngày 17/5/2016, Công ty TNHH Kim Lân và Công ty TNHH Nhật Linh đã

có làm việc với nhau để giải quyết việc thanh toán tiền hàng cho công ty TNHH Kim Lân

Tại Công văn số 77/CV-NL ngày 27/5/2016 Công ty Nhật Linh đã thông báo với Công ty TNHH Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ như sau: Mỗi tuần thanh toán một lần với số tiền là 300 triệu đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào ngày 30/7/2016

Ngày 07/6/2016, bằng Công văn số 87/CV-NL công ty TNHH Nhật Linh đã thể hiện việc không trả nợ Công ty TNHH Kim Lân như đã nêu trên

Công ty Kim Lân cho rằng sự chậm trễ thanh toán của công ty TNHH Nhật Linh đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi pháp của Công ty Kim Lân

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Công ty TNHH Kim Lân khởi kiện Công ty TNHH Nhật Linh ra Tòa án để đòi nợ tiền thanh toán hang hóa

đã cung cấp Cụ thể:

1 Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ kiện đòi nợ tiền hàng giữa nguyên đơn là Công ty TNHH Kim Lân và bị đơn là Công ty TNHH Nhật Linh

2 Đề nghị Tòa án buộc Công ty TNHH Nhật Linh phải trả cho Công ty TNHH Kim Lân số tiền nợ gốc là 3.270.212.570 đồng (Ba tỷ hai trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai ngàn năm trăm bảy mươi đồng) và lãi suất theo quy định của pháp luật

3 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp:

Căn cứ hồ sơ vụ án thì đây là vụ án kinh doanh thương mại về việc “Tranh chấp kiện đòi nợ tiền hàng”

Trang 3

II TRÌNH BÀY YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA BỊ ĐƠN

Kính thưa: Hội đồng xét xử;

Thưa vị đại diện viện kiểm sát;

Các vị luật sư bảo vệ cho nguyên đơn

Tôi là Luật sư A……, là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, xin trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện và những chứng cứ chứng minh theo yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Theo thỏa thuận tại Biên bản làm việc ngày 17/5/2016, Công ty Kim Lân cam kết ký và xác nhận số tài sản trên đất của Công ty Kim Lân thì Công ty nhật Linh

sẽ thanh toán cho công ty Kim Lân tiền hàng còn nợ của hai bên Do đó, Công ty Nhật Linh không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giữ

nguyên yêu cầu phản tố của mình như sau: “Yêu cầu Công ty TNHH Kim Lân

ký và hoàn trả toàn bộ tài sản của Công ty TNHH Nhật Linh trên đất của Công ty TNHH Kim Lân”

Hiện nay, Công ty Kim Lân cũng đang sử dụng các tài sản của Nhật Linh nên yêu cầu đổi trừ tiền Công ty Nhật Linh nợ Công ty Kim Lân bằng các lợi ích mà Công ty Kim Lân đã thu qua việc sử dụng các tài sản này

Ngoài ra, chúng tôi được biết có vi phạm thủ tục tố tụng nên chúng tôi đề nghị đình chỉ vụ án, không giải quyết và trả lại đơn khởi kiện cho nguyên đơn

III MỘT SỐ VĂN BẢN LUẬT, TÀI LIÊU CẦN NGHIÊN CỨU

- Bộ Luật Dân sự 2015;

- Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015;

- Luật Thương mại 2005;

- Luật trọng tài thương mại năm 2010;

- Luật Doanh nghiệp 2005;

- Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013;

- Luật Công chứng 2006;

- Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 về việc thi hành Bộ luật TTHC;

Trang 4

- Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của VKSNDTC và TANDTC quy định phối hợp giữa VKSND và TAND trong việc thi hành quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự

*Tài liệu:

- Điều lệ của Công ty TNHH Kim Lân

- Điều lệ Công ty TNHH Nhật Linh

IV DỰ THẢO KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM

1 Kế hoạch hỏi đối với nguyên đơn

- Công ty Kim Lân do ai thành lập?

- Khi tiến hành ký kết hợp đồng hai bên đã thỏa thuận điều kiện thanh toán như thế nào?

- Khi giao hàng cho bên mua có ký nhận phiếu nhập kho không?

- Hai bên có thỏa thuận trong Hợp đồng các điều khoản về việc chậm thanh toán tiền hàng không?

- Hai bên có cử người thực hiện đối chiếu công nợ không?

- Công ty Kim Lân đã gửi văn bản yêu cầu thanh toán nợ mấy lần? Trong thời gian nào?

- Có biết vì sao Công ty Nhật Linh không thanh toán tiền hàng như thỏa thuận tại hợp đồng nguyên tắc?

- Phía Công ty TNHH Nhật Linh có văn bản hay cử người để làm việc với Công ty TNHH Kim Lân không?

- Công ty TNHH Kim Lân có gặp khó khăn gì do việc chậm thanh toán trên

từ phía công ty TNHH Nhật Linh không?

2 Kế hoạch hỏi đối với bị đơn

- Công ty được thành lập từ thời điểm nào? Loại hình doanh nghiệp là gì?

- Thành viên góp vốn của Công ty TNHH Nhật Linh gồm những ai?

- Trong hợp đồng nguyên tắc giữa nguyên đơn và bị đơn có điều khoản nào quy định việc thanh toán sẽ được thực hiện sau khi nguyên đơn đã ký vào bản xác nhận kiểm kê tài sản trên đất không?

- Nguyên do từ đâu mà Công ty Nhật Linh lại xây dựng nhà xưởng và trang thiết bị trên đất của Công ty Kim Lân?

Trang 5

IV BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO

BỊ ĐƠN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM

Kính thưa: Hội đồng xét xử;

Vị đại diện Viện kiểm sát;

Luật sư đồng nghiệp

Kính thưa: Hội Đồng xét xử;

Thưa vị đại diện Viện Kiểm Sát và các vị luật sư đồng nghiệp

Tôi là Luật sư A………….Theo yêu cầu của Công ty TNHH Nhật Linh (Công

ty Nhật Linh), và được sự chấp thuận của Quý Tòa, tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty Nhật Linh là Bị đơn trong vụ án “Tranh chấp kiện đòi nợ tiền hàng” đã được quyết định đưa ra xét xử theo Quyết định số 12/2016/QĐXXST-KDTM ngày 26 tháng 12 năm 2016

Qua phần trình bày của các bên và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, xét thấy đã thể hiện rõ nội dung tranh chấp, tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung vụ án

Sau khi nghe phát biểu của Luật sư phía nguyên đơn, tôi hoàn toàn không đồng

ý với các nội dung này và xin trình bày các lập luận sau đây:

Thứ nhất, Bị đơn không chậm thanh toán cho nguyên đơn tiền hàng.

Nguyên đơn và Bị đơn có mối quan hệ hợp tác làm ăn từ năm 2009 đến nay Trong thời gian này, Nguyên đơn và Bị đơn đã ký kết Hợp đồng nguyên tắc số

01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015 (sau đây gọi là “Hợp đồng 01”) Theo Hợp

đồng 01, Nguyên đơn bán cho Bị đơn các hàng hóa theo đơn giá, số lượng và quy cách theo chi tiết từng đơn hàng mà Bị đơn gửi bằng Fax hoặc Email

Hình thức mua bán giữa hai bên là gối đầu hàng: Nguyên đơn có trách nhiệm giao hàng theo yêu cầu, sau khi nhận hàng hóa và đầy đủ các chứng từ thì Bị đơn

sẽ thực hiện thanh toán trong vòng 06 tháng Điều này đã được Nguyên đơn xác nhận tại Biên bản lấy lời khai ngày 30/10/2016 (BL 79) và cũng được quy định rõ trong Điều 2 mục 2.2 của Hợp đồng 01:

“Điều 2: Giá trị hợp đồng và phương thức thanh toán

2.2 Bên mua sẽ thanh toán cho bên bán sau khi bên bán hoàn tất việc giao hàng cho bên mua tại đúng địa điểm giao hàng như thỏa thuận.

Bên mua sẽ thanh toán cho bên bán trong vòng 6 tháng kể từ khi bên bán cung cấp đầy đủ các giấy tờ, phiếu nhập kho, hóa đơn VAT và giấy đề nghị thanh toán, báo giá chi tiết.”

Theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật Thương mại 2005, bên mua sẽ tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã

Trang 6

thỏa thuận và theo quy định của pháp luật Mà theo thỏa thuận tại Hợp đồng giữa Nguyên đơn và Bị đơn, một trong các điều kiện để Bị đơn tiến hành thanh toán là Nguyên đơn cung cấp đầy đủ các phiếu nhập kho, hóa đơn VAT, giấy đề nghị thanh toán và báo giá chi tiết Thực tế trong quá trình hai bên mua bán, Nguyên đơn đã không thực hiện đúng nghĩa vụ gửi đầy đủ các chứng từ, giấy như đã thỏa thuận tại Hợp đồng Và điều này cũng đã được làm rõ trong phần hỏi tại phiên tòa hôm nay

Căn cứ Điều 294 BLDS 2005: “Trong trường hợp các bên có thoả thuận về điều kiện thực hiện nghĩa vụ dân sự thì khi điều kiện phát sinh, bên có nghĩa vụ phải thực hiện”

Bị đơn và Nguyên đơn đã không có thỏa thuận thanh toán nào khác ngoài Điều

2 mục 2.2 Hợp đồng 01, nên Bị đơn chỉ tiến hành thanh toán tiền hàng cho Nguyên đơn khi Nguyên đơn cung cấp đầy đủ các giấy tờ, chứng từ đã nêu trong thời hạn

06 tháng

Như vậy, lập luận của Nguyên đơn cho rằng Bị đơn chậm thanh toán tiền hàng

và yêu cầu Bị đơn trả thêm lãi phạt chậm trả là không có cơ sở

Thứ hai, Bị đơn không thừa nhận số tiền nợ 3.270.212.570 đồng (hoặc 3.250.319.430 đồng).

Như đã trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/11/2016 (BL 81) và phần trả lời của các bên trong phiên tòa ngày hôm nay, Bị đơn xác định số tiền nợ Công ty Kim Lân đến nay là 3.177.970.970 đồng

Căn cứ Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 mà hai bên đã ký xác nhận,

số tiền Bị đơn nợ Nguyên đơn tính đến ngày 31/12/2015 là 3.250.319.430 đồng Tuy nhiên, sau đó Bị đơn đã trả cho Nguyên đơn số tiền 72.348.460 đồng Như vậy, tính đến ngày 30/4/2016, Bị đơn chỉ còn nợ Nguyên đơn số tiền 3.177.970.970 đồng Chính Nguyên đơn cũng đã xác nhận số tiền này tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016 (ông Hàn Anh Tuấn là Giám đốc Công ty Kim Lân đã ký tên và đóng dấu) Sau thời gian này, Bị đơn không phát sinh thêm bất kỳ khoản tiền nợ nào đối với Nguyên đơn

Tại nội dung Biên bản đối chiếu công nợ ghi nhận “công nợ tính đến hết ngày 30/4/2013”, tuy nhiên đây chỉ là sai sót do lỗi đánh máy, không phải là nội dung thực chất mà hai bên xác nhận Do đó, Nguyên đơn cho rằng không chấp nhận Biên bản đối chiếu công nợ vì lý do này là không hợp lý

(Trường hợp Nguyên đơn không thừa nhận Biên bản đối chiếu công nợ do tại nội dung ghi nhận “hai bên thống nhất xác nhận công nợ tính đến thời điểm hết

ngày 30/4/2013…”).

Vì những cơ sở nêu trên, Bị đơn không đồng ý với yêu cầu trả số tiền nợ 3.270.212.570 đồng (hoặc 3.250.319.430 đồng) của Nguyên đơn

Thứ ba, Bị đơn yêu cầu đối trừ tiền nợ Nguyên đơn bằng các lợi ích mà Nguyên đơn đã thu được qua việc sử dụng các tài sản của Bị đơn còn để lại trên đất của Nguyên đơn.

Trang 7

Trong các bút lục và lời khai của Nguyên đơn ngày hôm nay, Nguyên đơn đều không thừa nhận đã góp vốn vào Công ty TNHH Nhật Linh bằng 11.735,4 m2 cùng toàn bộ tài sản, công trình xây dựng tạo trên đất theo Hợp đồng góp vốn số 288/HĐ/2008 Nguyên đơn cho rằng đã cho Bị đơn thuê đất này theo hợp đồng thuê vào năm 2009 và đã nhận 60.000 USD tiền thuê đất

Như vậy, dù thực tế bằng hình thức Hợp đồng góp vốn hay hợp đồng thuê thì Nguyên đơn cũng đã đồng ý để Bị đơn sử dụng hợp pháp thửa đất diện tích 11.735,4 m2 này

Bị đơn đã đầu tư xây dựng nhà xưởng, trang bị các máy móc thiết bị giá trị trên diện tích đất này và đã sử dụng ổn định từ năm 2009 đến năm 2016 mà Nguyên đơn đã không có sự phản đối nào Một mặt, Nguyên đơn cũng không xuất trình được giấy tờ để chứng minh tất cả các tài sản trên đất này thuộc sở hữu của Nguyên đơn

Mặt khác, tại Bút lục số 77 và Bút lục số 87, Nguyên đơn thừa nhận rằng nhà kho 3 tầng, các máy phát điện và xe ô tô là tài sản của Bị đơn Đến nay khi xảy ra tranh chấp giữa hai bên, Nguyên đơn lại tự ý bẻ khóa niêm phong và sử dụng các tài sản này của Bị đơn mà không có sự đồng ý của Bị đơn là xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của Bị đơn

Tại buổi làm việc ngày 17/5/2016 (Bút lục 33) và buổi hòa giải ngày 03/9/2016 (BL 57, 58), Nguyên đơn đã đồng ý sẽ ký vào biên bản thống kê tài sản của Bị đơn còn để lại trên dất của Nguyên đơn Đây là thỏa thuận tự nguyện giữa hai bên, nhưng đến nay Nguyên đơn vẫn không thực hiện thỏa thuận này mà vẫn sử dụng trái phép các tài sản của Bị đơn Việc nguyên đơn khai thác các tài sản này đã thu được nhiều lợi ích vật chất mà đáng lẽ ra là quyền lợi hợp pháp và chính đáng của

Bị đơn sẽ có được

Căn cứ Điều 599 BLDS 2005 và Điều 579 BLDS 2015: “Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu”, Nguyên đơn có nghĩa vụ hoàn trả các tài sản của Bị đơn còn

để lại trên đất của Nguyên đơn cho Bị đơn Đồng thời, theo khoản 1 Điều 601

BLDS 2005 và khoản 1 Điều 581 BLDS 2015 “Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”, Bị đơn có quyền yêu cầu đòi

khoản lợi ích quy đổi thành tiền đối với việc Nguyên đơn tự ý sử dụng nhà kho, máy phát điện và các tài sản khác trong thời gian vừa qua

Như vậy, Bị đơn yêu cầu Nguyên đơn cần phải thực hiện theo thỏa thuận: ký xác nhận các tài sản của bị đơn còn để lại trên đất của Nguyên đơn Bên canh đó, căn cứ Điều 296 BLDS 2005 và Điều 286 BLDS 2015 về thực hiện nghĩa vụ thay thế, Bị đơn kính đề nghị HĐXX xem xét để Bị đơn được thay thế nghĩa vụ thanh toán tiền nợ hàng hóa bằng cách sử dụng số tiền quy thu lợi từ tài sản của Bị đơn

mà Nguyên đơn sử dụng để đối trừ

Kính thưa Hội đồng xét xử:

Trang 8

Việc Bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ tiền hàng cho Nguyên đơn trước hết cần căn cứ Hợp đồng số 01/2015/NLBN-KL, các thỏa thuận giữa hai bên và quy định pháp luật có liên quan để giải quyết Theo đó, Nguyên đơn đã không thực hiện đúng nghĩa vụ gửi các chứng từ như thỏa thuận tại Điều 2 mục 2.2 của Hợp đồng để Bị đơn thực hiện thanh toán Như vậy, cần căn cứ khoản 2 Điều 50 Luật Thương mại 2005 và Điều 294 BLDS 2005 xem xét yếu tố lỗi của Nguyên đơn trong vấn đề này

Bị đơn đã thiện chí lập các biên bản đối chiếu công nợ giữa hai bên và xác định số tiền nợ hiện nay là 3.177.970.970 đồng theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 8/5/2016 Tuy nhiên, Bị đơn chỉ thanh toán số tiền nợ này cho Nguyên đơn khi Nguyên đơn gửi đủ các chứng từ và thực hiện đúng thỏa thuận là ký xác nhận các tài sản của Bị đơn còn để lại trên đất của Nguyên đơn

Về phương thức thanh toán tiền nợ, phía Bị đơn căn cứ khoản 1 Điều 601 BLDS 2005 và khoản 1 Điều 581 BLDS 2015, cứ Điều 296 BLDS 2005 và Điều

286 BLDS 2015, đề nghị được đổi trừ số tiền nợ với giá trị sử dụng các tài sản của

Bị đơn mà Nguyên đơn đã và đang tự ý sử dụng

ÁN PHÍ

Kính mong Hội đồng xét xử xem xét phần trình bày trên đây và giải quyết vấn

đề theo quy định pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Bị đơn là Công ty TNHH Nhật Linh Tôi xin chân thành cảm ơn

Tôi là Luật sư Hồ Tấn Ph - Văn phòng Luật sư BT, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh

Bến Tre, là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn

Tôi được tham dự phiên toà ngày hôm nay với tư cách luật sư bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn – Công ty TNHH Kim Lân trong vụ kiện Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa và được TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đưa ra xét xử ngày hôm nay

Với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn tôi xin phát biểu quan điểm của mình về vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định trong quá trình nghị án nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn theo đúng quy định pháp luật

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, các buổi làm việc, hòa giải, tham gia đánh giá chứng cứ và căn cứ vào lời khai của các đương sự tại phiên toà ngày hôm nay, với

tư cách của Luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Nguyên đơn, tôi có ý kiến sau:

Trang 9

Thứ nhất: Việc Công ty TNHH Kim Lân khởi kiện yêu cầu công ty TNHH Nhật Linh thanh toán tiền nợ trong Hợp đồng là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật vì các lý do sau:

Giữa Công ty TNHH Kim Lân và Công ty TNHH Nhật Linh tồn tại Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL ngày 02/01/2015 Tại Điều 2 của Hợp đồng quy định: “Bên mua sẽ thanh toán cho Bên bán sau khi bên bán hoàn tất nghĩa vụ giao hàng cho Bên mua tại đúng địa điểm giao hàng như đã thỏa thuận” Theo Khoản 2, Khoản 4, Điều 4 của Hợp đồng thì bên mua có trách nhiệm thanh toán cho Bên bán theo đúng Điều 2 của Hợp đồng này Trong trường hợp bên mua thanh toán cho bên bán trễ theo Điều 2 của hợp đồng, nếu không thỏa thuận, hoặc thông báo trước với bên bán thì bên mua phải chịu lãi suất là 10% tháng trên toàn bộ giá trị phần chưa thanh toán)

Như vậy, nghĩa vụ thanh toán của Bị đơn được xuất phát từ Hợp đồng (theo khoản 1, Điều 281 BLDS năm 2005) Tuy nhiên, Công ty TNHH Nhật Linh đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, mặc dù Công ty Kim Lân đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao hàng tại các phiếu xuất kho theo các phiếu nhập kho ngày 05/01/2016; ngày 08/01/2016; ngày 10/01/2016; 15/01/2016; 18/1/2016; 02/2/2016; 6/2/2016; 6/2/2016; 21/2/2016; 25/2/2016; 27/2/2016; 6/3/2016

Nhưng đến nay, Công ty TNHH Kim Lân vẫn không thanh toán dứt điểm khoản nợ 3.250.319.430 đồng Đây là một số tiền không hề nhỏ, Công ty Kim Lân

đã nhiều lần gửi Công văn nhắc nhở đề nghị phía bị đơn thanh toán

Ngày 27/5/2016, tại công văn số 77/CV-NL, công ty Nhật Linh đã thông báo

vs Công ty Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ như sau: mỗi tuần thanh toán 1 lần với số tiền là 300 triệu đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi việc thanh toán kết thúc vào ngày 30/7/2016 Nhưng trên thực tế, việc này đã không được bị đơn thực hiện như trong thông báo

Việc Công ty TNHH Kim Lân khởi kiện công ty TNHH Nhật Linh còn căn

cứ vào biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 và ngày 8/5/2016 Theo đó, tính đến ngày 08/5/2016, công ty bị đơn xác nhận còn nợ số tiền là 3.177.970.970 đồng chưa kể lãi Vì năm 2016 nguyên đơn có tiếp tục cung cấp hàng hóa cho bị đơn phía bị đơn tiếp tục nợ số tiền là 19.893.140 đồng Tổng cộng số tiền nợ là: 3.250.319.430 đồng (mặc dù chưa được đối chiếu công nợ)

Trang 10

Rõ ràng, hành vi nói trên của Công ty TNHH Kim Lân là chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1, Điều 286 BLDS năm 2005: “Chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện hoặc chỉ được thực hiện một phần khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết” và còn là hành vi vi phạm hợp đồng theo Khoản 12, Điều 3 Luật Thương mại năm 2005: “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”

Bởi lẽ, Điều 283 BLDS năm 2005 đã quy định: “Bên có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội

Do đó, Căn cứ vào các quy định tại Điều 290: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thoả thuận” và khoản 1, Điều 50 Luật thương mại năm 2005: “Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận” Công ty TNHH Kim Lân hoàn toàn

có cơ sở yêu cầu công ty TNHH Nhật Linh tiếp tục thực hiện Hợp đồng nguyên tắc

số 01/2015/NLBN-NL ngày 02/01/2015, buộc thanh toán số nợ là 3.250.319.430 đồng theo quy định tại khoản 1, Điều 292 Luật thương mại 2005 quy định về các chế tài trong thương mại trong đó có chế tài buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng và theo Khoản 1 Điều 297 Luật thương mại 2005: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.”

Thứ hai: Yêu cầu phản tố của Bị đơn hoàn toàn không liên quan đến nghĩa vụ thanh toán khoản nợ của Bị đơn đối với Nguyên đơn:

Ngày 23/10/2016, Bị đơn có yêu cầu phản tối gửi đến Tòa án nhân dân huyện Thuận thành, tỉnh Bắc Ninh Nội dung yêu cầu phản tố như sau: Yêu cầu Công ty TNHH Kim Lân hoàn trả toàn bộ tài sản của công ty Nhật Linh trên đất của Công

ty Kim Lân

Tôi cho rằng, yêu cầu phản tố này hoàn toàn không liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bởi lẽ:

+ Công ty TNHH Nhật Linh Bắc Ninh thành lập vào ngày 12/6/2008 tức là thành lập sau công ty TNHH Kim Lân 5 năm và giữa hai công ty không có bất kỳ

sự hợp tác góp vốn nào liên quan đến việc xây dựng tài sản trên đất Tại phiên tòa

Ngày đăng: 27/12/2020, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w