Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa, việc nghiên cứu và phát triển ngành công tác xã hội đ i hỏi các nhà chuyên gia ngành CTXH, các giảng viên và sinh viên dạy và học môn tiếng Anh chu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những tư liệu
và số liệu trong luận án là trung thực Đề tài nghiên cứu và các kết quả chưa được ai công bố
Tác giả luận án
Võ Thị Mỹ Hạnh
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu, hoàn thành nhiệm vụ được giao
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn quan tâm, động viên và đồng hành cùng tôi, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận án này
Tác giả luận án
Võ Thị Mỹ Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam 7
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ Công tác xã hội trên thế giới và ở Việt Nam 15
1.2 Cơ sở lí luận 21
1.2.1 Một số vấn đề lí thuyết về thuật ngữ 21
1.2.2 Thuật ngữ và lí thuyết định danh 31
1.2.3 Khái niệm Công tác xã hội và thuật ngữ Công tác xã hội 34
1.2.4 Lí thuyết dịch thuật và vấn đề dịch thuật ngữ 37
1.2.5 Tiểu kết 45
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ CÔNG TÁC XÃ HỘI TIẾNG ANH 47
2.1 Đơn vị cấu tạo thuật ngữ và đơn vị cấu tạo thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh 47
2.1.1 Đơn vị cấu tạo thuật ngữ 47
2.1.2 Đơn vị cấu tạo thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh 48
2.2 Đặc điểm của thuật ngữ CTXH tiếng Anh có cấu tạo là từ 49
2.2.1 Thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh là từ đơn (từ gốc) 51
2.2.2 Thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh là từ phái sinh 51
2.2.3 Thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh là từ ghép 54
2.2.4 Thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh là từ viết tắt 56
2.3 Đặc điểm của thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh có cấu tạo là ngữ 57
2.3.1 Số lượng thành tố cấu tạo thuật ngữ Công tác xã hội trong tiếng Anh 57
2.3.2 Thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh là danh ngữ 58
2.3.3 Thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh là tính ngữ 64
2.4 Mô hình cấu tạo của hệ thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh 66
2.4.1 Mô hình cấu tạo 1 66
Trang 62.4.2 Mô hình cấu tạo 2 67
2.4.3 Mô hình cấu tạo 3 68
2.4.4 Mô hình cấu tạo 4 68
2.4.5 Mô hình cấu tạo 5 69
2.4.6 Mô hình cấu tạo 6 70
2.4.7 Mô hình cấu tạo 7 71
2.4.8 Mô hình cấu tạo 8 71
2.4.9 Mô hình cấu tạo 9 72
2.4.10 Mô hình cấu tạo 10 73
2.4.11 Mô hình cấu tạo 11 73
2.4.12 Mô hình cấu tạo 12 74
2.4.13 Mô hình cấu tạo 13 75
2.4.14 Mô hình cấu tạo 14 75
2.5 Tiểu kết 78
Chương 3: PHƯƠNG THỨC HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA THUẬT NGỮ CÔNG TÁC XÃ HỘI TIẾNG ANH 80
3.1 Phương thức hình thành thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh 80
3.1.1 Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường 81
3.1.2 Tạo thuật ngữ CTXH trên cơ sở ngữ liệu vốn có 82
3.1.3 Tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài 84
3.1.4 Tiếp nhận thuật ngữ tiếng Anh từ các ngành khoa học khác 85
3.2 Đặc điểm định danh của thuật ngữ CTXH tiếng Anh xét theo kiểu ngữ nghĩa 88
3.3 Đặc điểm định danh của thuật ngữ CTXH tiếng Anh xét theo kiểu cách thức biểu thị 90
3.3.1 Các thuật ngữ chỉ các vấn đề của đối tượng trong CTXH 91
3.3.2 Các thuật ngữ chỉ các chủ thể hoạt động trong CTXH 94
3.3.3 Các thuật ngữ chỉ hoạt động của chủ thể trong CTXH 96
3.3.4 Các thuật ngữ chỉ đối tượng của CTXH 98
3.3.5 Các thuật ngữ chỉ các chương trình, dịch vụ trong CTXH 100
3.3.6 Các thuật ngữ chỉ các loại hình công tác xã hội 103
Trang 73.3.7 Các thuật ngữ chỉ các vấn đề xã hội trong công tác xã hội 105
3.3.8 Các thuật ngữ chỉ các liệu pháp trong công tác xã hội 107
3.3.9 Các thuật ngữ chỉ các luật, lệnh thường gặp trong công tác xã hội 108
3.4 Tiểu kết 110
Chương 4: CÁCH CHUYỂN DỊCH THUẬT NGỮ CÔNG TÁC XÃ HỘI TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT 112
4.1 Các tiêu chí đảm bảo tương đương của sản phẩm dịch thuật 112
4.2 Thực trạng cách chuyển dịch thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh sang tiếng Việt 113
4.2.1 Phân tích tương đương dịch thuật thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh và tiếng Việt theo loại đơn vị cấu tạo thuật ngữ 113
4.2.2 Phân tích tương đương dịch thuật thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh và tiếng Việt theo số lượng đơn vị 119
4.3 Những thuận lợi và khó khăn trong dịch thuật ngữ Công tác xã hội từ tiếng Anh sang tiếng Việt 126
4.3.1 Thuận lợi 126
4.3.2 Khó khăn 127
4.4 Phương hướng và giải pháp chuẩn hóa dịch thuật ngữ Công tác xã hội từ tiếng Anh sang tiếng Việt 129
4.4.1 Phương hướng chuẩn hóa dịch thuật ngữ Công tác xã hội từ tiếng Anh sang tiếng Việt 129
4.4.2 Giải pháp chuẩn hóa dịch thuật ngữ Công tác xã hội từ tiếng Anh sang tiếng Việt 130
4.4.3 Ý kiến đề xuất về dịch thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh sang tiếng Việt 133
4.5 Tiểu kết 142
KẾT LUẬN 144
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2.1: Thuật ngữ CTXH tiếng Anh là từ xét theo số lượng thành tố 49
Bảng 2.2.2: Thuật ngữ CTXH tiếng Anh phân loại theo từ loại 50
Bảng 2.3.1: Thuật ngữ CTXH tiếng Anh là ngữ 58
Bảng 2.3.2.1: Thống kê từ loại của TN CTXH tiếng Anh là danh ngữ có 2 thành tố 60
Bảng 2.3.2.2: Thống kê từ loại của TN CTXH tiếng Anh là danh ngữ có 3 thành tố 60
Bảng 2.3.2.3: Thống kê từ loại của TN CTXH tiếng Anh là danh ngữ có 4 thành tố 63
Bảng 2.3.2.4: Thống kê từ loại của TN CTXH tiếng Anh là danh ngữ có 5 thành tố 64
Bảng 2.3.3.1: Thống kê các thuật ngữ là tính ngữ hai thành tố 65
Bảng 2.4: Tổng hợp mô hình cấu tạo thuật ngữ CTXH tiếng Anh 77
Bảng 3.1.1: So sánh giữa nghĩa thông thường và nghĩa chuyên ngành 82
Bảng 3.1.4: Thuật ngữ CTXH tiếng Anh được tiếp nhận từ các ngành khoa học khác 88
Bảng 3.3.1: Mô hình định danh TN CTXH chỉ vấn đề của đối tượng trong tiếng Anh 94
Bảng 3.3.2: Mô hình định danh TN CTXH chỉ chủ thể trong tiếng Anh 96
Bảng 3.3.3: Mô hình định danh TN CTXH chỉ hoạt động của chủ thể trong tiếng Anh 98
Bảng 3.3.4: Mô hình định danh TN CTXH chỉ đối tượng trong tiếng Anh 100 Bảng 3.3.5: Mô hình định danh TN CTXH chỉ các chương trình, dịch vụ trong tiếng Anh 103
Bảng 3.3.6: Mô hình định danh TN CTXH chỉ các loại hình CTXH trong tiếng Anh 105
Bảng 3.3.7: Mô hình định danh TN CTXH chỉ các vấn đề xã hội trong tiếng Anh 106
Trang 10Bảng 3.3.8: Mô hình định danh TN CTXH chỉ các liệu pháp trong tiếng Anh 108 Bảng 3.3.9: Mô hình định danh TN CTXH chỉ các luật, lệnh trong tiếng Anh 109 Bảng 4.2.1.1 Kiểu tương đương 1//1 của thuật ngữ CTXH tiếng Anh và
tiếng Việt 116 Bảng 4.2.1.2: Kiểu tương đương 1//>1 của thuật ngữ CTXH118 tiếng
Anh và tiếng Việt 118 Bảng 4.2.1: Tổng hợp các kiểu tương đương của thuật ngữ CTXH tiếng
Anh và tiếng Việt 119 Bảng 4.2.2: Tỉ lệ tương đương theo số lượng đơn vị của thuật ngữ CTXH
tiếng Anh và tiếng Việt 125
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nh m tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội Sứ mệnh của Công tác xã hội là trợ gi p các cá nhân, gia đình và cộng đồng trong nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời hỗ trợ các nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và ph ng ngừa các vấn đề xã hội thông qua th c đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội Việt Nam, Công tác xã hội là một ngành non tr so với nhiều ngành khác trong xã hội Tháng 3 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng H a xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã k Quyết định
số 323/2010/QĐ-TTg chính thức công nhận công tác xã hội là một nghề Điều này
kh ng định Đảng và Chính phủ Việt Nam đánh giá cao tầm quan trọng và nghĩa nhân văn sâu sắc của nghề công tác xã hội trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa, việc nghiên cứu và phát triển ngành công tác xã hội đ i hỏi các nhà chuyên gia ngành CTXH, các giảng viên và sinh viên dạy và học môn tiếng Anh chuyên ngành CTXH tại các trường Đại học phải quan tâm tới hệ thuật ngữ tiếng Anh của ngành để nghiên cứu, trao đổi thông tin và tiếp thu những tinh hoa của thế giới phục vụ cho sự phát triển ngành CTXH của đất nước nước ta, nhiều nhà khoa học đã thực hiện các công trình nghiên cứu về thuật ngữ học, trong đó có các luận án tiến sĩ nghiên cứu về thuật ngữ của một số ngành, tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về hệ thống thuật ngữ CTXH tiếng Anh Theo khảo sát ban đầu cho thấy, hiện nay, việc vay mượn từ ngữ tiếng Anh nói chung, vay mượn các thuật ngữ tiếng Anh trong đó có các thuật ngữ CTXH nói riêng, đang khá phổ biến, việc chuyển dịch thuật ngữ CTXH tiếng Anh sang tiếng Việt c n chưa được toàn diện và thống nhất Một số thuật ngữ CTXH có trong tiếng Anh nhưng chưa có trong tiếng Việt Việc nghiên cứu để xây dựng, phát triển, tiến tới chuẩn hóa các thuật ngữ công tác xã hội là một yêu cầu cấp thiết
Trang 12Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “ Thuật ngữ C ng tác hội tiếng Anh
và cách chuyển dịch sang tiếng Việt” cho luận án của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ đặc trưng về mặt cấu tạo và định danh của hệ thống thuật ngữ CTXH trong tiếng Anh Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các phương hướng, giải pháp chuẩn hóa chuyển dịch hệ thống thuật ngữ CTXH tiếng Anh sang tiếng Việt
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau: a) Hệ thống hóa các quan điểm lý luận về thuật ngữ khoa học trên thế giới
và ở Việt Nam, qua đó xác lập cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu;
b) Phân tích đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ CTXH trong tiếng Anh, xác định các loại mô hình kết hợp các thành tố để tạo thành thuật ngữ CTXH trong tiếng Anh;
c) Tìm hiểu đặc điểm định danh của thuật ngữ CTXH tiếng Anh về các mặt: kiểu ngữ nghĩa và đặc điểm cách thức biểu thị của thuật ngữ CTXH d) Khảo sát, nêu thực trạng việc chuyển dịch thuật ngữ CTXH hiện nay Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và khảo sát, luận án đề xuất phương thức chuyển dịch thuật ngữ CTXH tiếng Anh sang tiếng Việt góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành CTXH tại Việt Nam
3 Đối tƣợng, phạm vi, ngữ liệu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống thuật ngữ CTXH tiếng Anh và tiếng Việt, tức là các thuật ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực CTXH
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào các nội dung: đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh của thuật ngữ CTXH tiếng Anh và cách chuyển dịch thuật ngữ CTXH tiếng Anh sang tiếng Việt Các vấn đề lịch sử phát triển, tên các nhân
Trang 13vật lịch sử liên quan đến CTXH, tên riêng của các cơ quan, tổ chức hoạt động CTXH không n m trong phạm vi nghiên cứu của luận án
3.3 Ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu nghiên cứu của luận án là 3159 thuật ngữ tiếng Anh được thu thập từ:
nhà xuất bản NASW Press, 2014 (có khoảng hơn 10.000 thuật ngữ)
sóc xã hội), John Harris và Vicky White, nhà xuất bản Oxford University Press, 2013 (có khoảng hơn 1.500 thuật ngữ
Martin Thomas, nhà xuất bản Open University Press, 2010 (có khoảng hơn 1500 thuật ngữ)
Mizrahi và Larry E Davis, nhà xuất bản Oxford University Press, 2011 (có khoảng hơn 10.000 thuật ngữ
Nguyễn Thị Nga, Hoàng Việt Dùng và các tác giả khác, nhà xuất bản GIZ
và Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2011 ( có khoảng 200 thuật ngữ)
xã hội, giáo trình, sách báo, tạp chí về Công tác xã hội b ng tiếng Anh
và tiếng Việt
3159 thuật ngữ này là các thuật ngữ cùng xuất hiện trong đa số các từ điển, bách khoa thư nêu trên và được bổ sung bởi các thuật ngữ khoa học CTXH mới
nhất từ Từ điển c ng t c x hội ti ng nh của Robert L Baker, được xuất bản bởi
NASW Press (Nhà xuất bản Hiệp hội nhân viên CTXH quốc gia Mỹ năm 2014 và các thuật ngữ an sinh xã hội thông dụng được sử dụng ở Việt Nam trong cuốn
Thuật ngữ an sinh xã hội Việt Nam do Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ) và
Viện Khoa học Lao động và Xã hội (LISSA) xuất bản năm 2011 Các thuật ngữ về vấn đề lịch sử phát triển, tên các nhân vật lịch sử liên quan đến CTXH, tên riêng
Trang 14của các cơ quan, tổ chức hoạt động CTXH không n m trong phạm vi nghiên cứu của luận án
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng nh m miêu tả đặc điểm cấu tạo và định danh cũng như các vấn đề liên quan đến việc chuyển dịch hệ thuật ngữ CTXH tiếng Anh sang tiếng Việt
4.2 Phương pháp nghiên cứu đối chiếu
Phương pháp này được áp dụng để khảo sát, xem xét các đặc điểm tương đồng
và khác biệt của hai ngôn ngữ, làm cơ sở cho cách thức dịch các đơn vị ngôn ngữ từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, đến các nhận xét, đề xuất cách thức chuyển dịch thuật ngữ CTXH từ tiếng Anh sang tiếng Việt
4.3 Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được sử dụng để xác định số lượng, tần số xuất hiện, tỉ lệ phần trăm của các phương thức tạo thành thuật ngữ, các mô hình cấu tạo, các mô hình định danh thuật ngữ Các kết quả thống kê được tổng hợp lại dưới dạng bảng biểu,
gi p hình dung rõ hơn các nét đặc trưng cơ bản về cấu tạo, cấu trúc ngôn ngữ của hệ thuật ngữ CTXH tiếng Anh
Trang 155 Cái mới của luận án
Việc nghiên cứu thuật ngữ và ứng dụng những kết quả của lí thuyết thuật ngữ vào nghiên cứu hệ thống thuật ngữ của một ngành khoa học cụ thể không c n mới ở Việt Nam Tuy nhiên, việc vận dụng các cơ sở lí luận chung về thuật ngữ để khảo sát hệ thống thuật ngữ CTXH tiếng Anh một cách chuyên sâu và toàn diện trên cơ sở ngôn ngữ học, thì luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam Vì vậy, có thể coi đây là cái mới của luận án
Việc khảo sát, đánh giá tình hình dịch thuật và đề xuất cách chuyển dịch thuật ngữ CTXH tiếng Anh sang tiếng Việt cũng là cái mới nữa của luận án
6 Ý nghĩa đóng góp của luận án
Có thể nói đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về thuật ngữ CTXH tiếng Anh trên phương diện đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và cách chuyển dịch sang tiếng Việt Vì vậy, luận án sẽ có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
6.1 Về mặt lý luận
Luận án sẽ góp phần làm rõ thêm việc áp dụng các vấn đề lý thuyết về thuật ngữ học, lý thuyết dịch thuật nói chung và dịch thuật ngữ vào việc nghiên cứu và chuyển dịch thuật ngữ CTXH tiếng Anh sang tiếng Việt
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ:
- Cho phép đề xuất được các biện pháp, phương hướng tạo mới các thuật ngữ CTXH mà tiếng Việt hiện chưa có;
- Đóng góp thiết thực cho việc dịch, chỉnh l để góp phần chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ CTXH của Việt Nam;
- Là cơ sở để biên soạn từ điển thuật ngữ CTXH Việt - Anh, Anh - Việt và
từ điển thuật ngữ CTXH tiếng Việt phục vụ cho sự phát triển ngành CTXH nước ta;
- Phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy và biên soạn giáo trình ngành CTXH
- Luận án còn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu thuật ngữ học
Trang 167 Bố cục của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, K t luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án
gồm 4 chương sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ C ng tác hội tiếng Anh
Chương 3: Phương thức hình thành và đặc điểm định danh của thuật ngữ C ng tác hội tiếng Anh
Chương 4: Cách chuyển dịch thuật ngữ Công tác xã hội tiếng Anh sang tiếng Việt
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên th giới
Theo Hà Quang Năng [56, 80-86], việc nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới bắt đầu sớm ngay từ thế kỉ 18 Các nghiên cứu về thuật ngữ trong thời kỳ này chủ yếu tập trung vào nội dung tạo lập thuật ngữ, xác định các nguyên tắc cho việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ riêng cho từng ngành khoa học CarlvonLinné (1736); (Beckmann, 1780); A.L Lavoisier, G.de Morveau, M.Berthellot và A.F.de Fourcoy (1789) và William Wehwell (1840) được xem là các tác giả tiên phong trong nghiên cứu thuật ngữ giai đoạn này Carl von Linné (1707 - 1778) có thể được coi là người xác lập công tác nghiên cứu thuật ngữ, trong đó gồm có việc nêu quy tắc tạo thuật ngữ, xác định chuẩn mực của thuật ngữ và lập kế hoạch xây dựng các hệ thuật ngữ
khoa học Từ khi tác phẩm Fundamenta botanica (1736) của ông ra đời, người ta
mới có thể nói đến một hệ thuật ngữ thực vật học được xác định theo quy tắc nhất định Ông đã giải thích nghĩa của gần 1000 thuật ngữ và chỉ rõ cách sử dụng chúng rất tỉ mỉ Trong khi Linné dựa vào ngôn ngữ khoa học đang được sử dụng ở châu Âu thời bấy giờ là tiếng Latinh để xây dựng thuật ngữ khoa học, thì ngay từ giữa thế kỉ 18, M.V Lomonosov đã đưa ra một hệ thống thuật ngữ lí - hoá riêng của tiếng Nga Ông sử dụng tối đa các thuật ngữ b ng tiếng Nga và chỉ sử dụng các thuật ngữ ngoại lai khi không thể tìm ra các tương đương trong tiếng Nga
Thời kì này ở nước Pháp người ta cũng nỗ lực xây dựng hệ thuật ngữ hoá học A L Lavoisier, G de Morveau, M Berthellot và A F de Fourcroy đã xây
dựng một hệ thuật ngữ gọi tên các chất hoá học trong công trình Méthode de
nomenclature chimique được xuất bản năm 1787 Hệ thống thuật ngữ này đã thể
hiện rõ các mối quan hệ qua lại trong các kết hợp của các chất (ví dụ ở các kết hợp
với lưu huỳnh: sulphite, sulphate, sulphurate v.v để tạo ra một hệ thuật ngữ thống
nhất và bao quát được toàn bộ hệ thống tên gọi các chất hóa học
Trang 18Johann Beckmann (1739 - 1811) cũng đã tạo dấu mốc quan trọng với việc lập ra một hệ thuật ngữ công nghệ Ông đã xây dựng hệ thống thuật ngữ kĩ thuật trong lĩnh vực thủ công Beckmann biết rõ trong các nghề thủ công người ta sử dụng rất nhiều các thuật ngữ khác nhau nhưng ch ng lại không thống nhất giữa các ngành Có nhiều thuật ngữ rất khác nhau lại được dùng để gọi tên những quá trình hay những phương tiện kĩ thuật giống nhau Những người thợ thủ công đã không thể dùng tiếng Latinh, thứ tiếng của các học giả thời đó, để đặt thuật ngữ cho ngành nghề của mình Còn các ngôn ngữ quốc gia lại rất khó khăn để có thể diễn đạt được đầy đủ và rõ ràng các thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực kĩ thuật Từ đó, Beckmann cho r ng để có một hệ thuật ngữ công nghệ được quy định thống nhất thì, một mặt, "phải loại bỏ đi các từ đồng nghĩa, mặt khác, phải dần tiếp nhận một lượng từ ngữ mới” Tuy nhiên, những chỉ dẫn về việc chuẩn hoá thuật ngữ của Beckmann phải mãi 150 năm sau mới được thực hiện đối với hệ thống thuật ngữ về
kĩ thuật
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, công tác nghiên cứu và xây dựng một hệ thuật ngữ mang tính hệ thống b ng tiếng mẹ đ của mỗi một dân tộc hay b ng ngôn ngữ quốc gia được chú trọng và đạt được đỉnh điểm của nó vào đầu những năm 30 của thế kỉ 20 Đến đầu thế kỉ 20, ý tưởng về khoa học thuật ngữ mới hình thành và việc nghiên cứu thuật ngữ lúc này mới được định hướng khoa học, đồng thời được công nhận là một hoạt động quan trọng về mặt xã hội
Năm 1930 đánh dấu mốc của nhiều thành tựu nổi bật trong nghiên cứu thuật ngữ Cũng từ đây xuất hiện ba trường phái nghiên cứu thuật ngữ tiêu biểu và lớn nhất trên thế giới, đó là: trường phái nghiên cứu thuật ngữ Áo, trường phái nghiên cứu thuật ngữ Xô Viết và trường phái nghiên cứu thuật ngữ Tiệp Khắc Đây được coi là nền tảng cho sự khởi đầu của ngành thuật ngữ học trên thế giới
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo gắn liền với tên tuổi của
E.Wuster (1898 -1977) Ông không chỉ được coi là người đầu tiên đặt nền móng cho công tác nghiên cứu và phát triển thuật ngữ hiện đại ở thế kỉ 20 mà c n là người
có ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu thuật ngữ của nhiều học các giai đoạn sau này Nghiên cứu thuật ngữ của trường phái này dựa theo những nguyên tắc cơ bản
Trang 19được trình bày rất rõ ràng trong cuốn Lí luận chung về thuật ngữ của Wuster
(1931) Trong tác phẩm này, Wuster đã đề cập đến những phương diện ngôn ngữ học của công tác nghiên cứu thuật ngữ liên quan đến hệ thống tên gọi các khái niệm, đối tượng trong lĩnh vực kĩ thuật Ông đã xác lập được các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ, đưa ra một số nguyên tắc xây dựng thuật ngữ và xác định các phương pháp xử lí ngữ liệu thuật ngữ Leo Weisgeber (1975) đã đánh giá công trình của Wuster như là một cột mốc của ngôn ngữ học ứng dụng
Đặc điểm quan trọng nhất của trường phái nghiên cứu thuật ngữ Áo là tập trung vào các khái niệm và hướng việc nghiên cứu thuật ngữ vào chuẩn hóa các thuật ngữ và các khái niệm Việc nghiên cứu của trường phái này nh m phục vụ nhu cầu của các nhà kĩ thuật, các nhà khoa học là chuẩn hóa thuật ngữ trong lĩnh vực của họ để đảm bảo sự giao tiếp hiệu quả và có thể chuyển tải kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn Những nguyên tắc nghiên cứu thuật ngữ của trường phái này được trình bày cụ thể trong các tài liệu về chuẩn hóa từ vựng của thuật ngữ Đa số các nước vùng Trung Âu và Bắc Âu (Áo, Đức, Na Uy, Thụy Sĩ, Đan Mạch đều nghiên cứu thuật ngữ theo hướng này
Với trường phái thuật ngữ học Tiệp Khắc, vấn đề chuẩn hóa các ngôn ngữ và thuật ngữ là mối quan tâm lớn nhất của các nhà nghiên cứu Các học giả của trường phái này chú trọng đến miêu tả cấu trúc và chức năng của các ngôn ngữ chuyên
ngành, trong đó thuật ngữ đóng vai trò quan trọng L.Drodz là đại diện tiêu biểu cho
trường phái này, là người tiên phong và phát triển từ cách tiếp cận ngôn ngữ về mặt chức năng của trường phái ngôn ngữ học Praha Đặc trưng của các ngôn ngữ chuyên ngành theo trường phái này mang tính văn phong nghề nghiệp tồn tại cùng những văn phong khác như: văn học, báo chí và hội thoại Các nhà nghiên cứu theo trường phái này coi thuật ngữ như là những đơn vị tạo nên văn phong nghề nghiệp mang tính chức năng
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Nga - Xô Viết Theo tổng kết của
các tác giả công trình "Thuật ngữ học - Những vấn đề lí luận và thực tiễn" [54], sự
phát triển khoa học về thuật ngữ ở Nga và Liên Xô trải qua 4 thời kì
Trang 20- Thời kì chuẩn bị: Bắt đầu từ năm 1780 và kéo dài đến cuối thập niên 20 của
thế kỉ 20 Đây là thời kì lựa chọn, xử lí sơ bộ các thuật ngữ và xác định các khái niệm chuyên biệt liên quan Sự bắt đầu thời kì này được đánh dấu b ng việc dịch các thuật ngữ và biên soạn từ điển thuật ngữ học đầu tiên vào năm 1780
- Thời kì thứ nhất: từ năm 1930 đến năm 1960 của thế kỉ 20 Đặc điểm cơ
bản thời kì này là sự ra đời các lí thuyết về thuật ngữ học và những hoạt động thực tiễn về thuật ngữ học trên nền tảng giáo dục kĩ thuật của hai chuyên gia là D S Lotte và E.K.Drezen, cũng như những đóng góp lớn lao cuả A A Reformatsky và
G O.Vinokur Trong các công trình khoa học của mình, D.S Lotte và E.K.Drezen
đã đưa các quan điểm ngôn ngữ học vào việc tìm hiểu sự phát triển khoa học về thuật ngữ ở Nga Đại diện tiêu biểu của trường phái nghiên cứu thuật ngữ Nga - Xô
viết là Đ.X Lotte (1898 -1950) với công trình Nguyên lí xây dựng hệ thuật ngữ khoa
học kĩ thuật, ông được coi là người đứng đầu trong công tác phát triển hệ thuật ngữ
hiện đại của Liên Xô Lotte được xem là người tạo nền móng về lí thuyết và phương pháp cho công tác thuật ngữ của Liên Xô
- Thời kì thứ hai kéo dài từ năm 1970 đến 1990 của thế kỉ 20: Thuật ngữ học
trở thành một ngành khoa học độc lập Những thành tựu trong ngôn ngữ học, logic học và tiến bộ trong công nghệ thông tin đã dẫn đến việc xác định rõ chủ thể và khách thể của thuật ngữ học với những cải tiến về phương pháp nghiên cứu, góp phần giải quyết những vấn đề cơ bản của thuật ngữ học Hoạt động của các Ủy ban
về thuật ngữ trong phạm vi nghiên cứu mang tính hàn lâm cuả các nước cộng hòa trong Liên bang Xô Viết về công tác chuẩn hóa thuật ngữ được đặc biệt chú ý Thời
kì này, ở Cộng h a Liên bang Nga đã tổ chức một số hội nghị, hội thảo về thuật ngữ học, hàng chục chuyên khảo đã được công bố, gần 20 tuyển tập các bài báo về thuật ngữ đã được xuất bản và hơn 100 luận án Phó tiến sĩ, Tiến sĩ đã được bảo vệ Ngoài
ra, hàng nghìn các từ điển bách khoa và từ điển thuật ngữ học, bao gồm từ điển thuật ngữ kĩ thuật tổng hợp, từ điển thuật ngữ khoa học công nghệ chung và các loại
từ điển chuyên ngành sâu… đã được biên soạn với sự đóng góp của các nhà khoa học như L.N Beljaeva, L I Borisova, L.Ju Bujanova, A.S Gerd, B.N Golovin, S.V Grinev, V.P Danilenko, G.A Dianova, A D Hajutin, T.L Kandenlaki, R.Ju
Trang 21Kobrin, Z.I Komarova, T.B Kryuchkova; O D.Mitrofanova,V.I Mikhailova, S.E Nikitina, A V Superanskaja, V.D.Tabanakova, V.A Tatarinov, L.B Tkacheva, N.I.Tolstoy, O.N Trubachev, N.V Vasilieva, M.N Volođina
- Thời kì thứ ba là thập niên cuối cùng của thế kỉ 20 Đặc điểm của thời kì
này là việc nghiên cứu thuật ngữ được thực hiện trong bối cảnh sau khi Liên Xô sụp
đổ, với những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội, khoa học Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu thuật ngữ học được đánh dấu b ng sự khủng hoảng ở nửa đầu thập niên và những đổi mới ở nửa sau thập niên cuối cùng của thế kỉ 20 Trong những thập niên đầu của thế kỉ 21, số lượng các công trình nghiên cứu thuật ngữ ở Nga không ngừng tăng lên, tập trung nghiên cứu những phương thức sáng tạo thuật ngữ, nguyên tắc xây dựng các hệ thống thuật ngữ mới và chỉnh lí một số hệ thống thuật ngữ đã có Hiện nay các nhà nghiên cứu cũng đã tập trung nghiên cứu thuật ngữ theo hướng ngôn ngữ học tri nhận, như vấn đề tính đa dạng trong cách tri nhận, trong sáng tạo thuật ngữ Đã có nhiều công trình nghiên cứu thuật ngữ theo hướng
tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận, như: "Cơ sở ngôn ngữ - tri nhận của việc nghiên
cứu thuật ngữ chuyên ngành", "Nghiên cứu từ vựng chuyên ngành từ góc độ định danh - tri nhận (trên tư liêu tên gọi các cây thuốc", "M hình hóa và cơ sở tri nhận
hệ thống thuật ngữ bệnh học trong ti ng Anh hiện đại", "Thuật ngữ học từ vựng là một hệ thống",v.v.[56]
Như vậy, cả ba trường phái nói trên đều có chung quan điểm là nghiên cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học Thuật ngữ được các nhà khoa học xem như là phương tiện để diễn đạt và giao tiếp trong lĩnh vực chuyên môn Từ việc hình thành
cơ sở lí thuyết về thuật ngữ cũng như các nguyên lí xây dựng thuật ngữ, cả ba trường phái đều mang tính phương pháp chi phối những ứng dụng của thuật ngữ Những thành tựu nghiên cứu thuật ngữ của các trường phái này là một trong nền tảng quan trọng cho việc phát triển những hướng mới nghiên cứu thuật ngữ sau này như nghiên cứu thuật ngữ theo hướng dịch thuật hay kế hoạch hóa ngôn ngữ
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam
Việt Nam, vấn đề thuật ngữ đến đầu thế kỉ XX vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu Từ những năm 30, Đảng Cộng sản Đông Dương đưa ra chủ trương
Trang 22“đấu tranh vì tiếng nói, chữ viết” của dân tộc, thuật ngữ khoa học tiếng Việt bắt đầu được quan tâm L c này đáng ch nhất có cuốn “Danh từ khoa học” (1942 của Hoàng Xuân Hãn trình bày các quan điểm về thuật ngữ một cách hệ thống Ông là người đầu tiên đề ra 8 yêu cầu đối việc xây dựng thuật ngữ khoa học và 3 phương sách đặt thuật ngữ như sau: phương sách dùng tiếng thông thường, phương sách dùng tiếng phiên âm và phương sách lấy gốc chữ nho Trên cơ sở 3 phương sách này, Hoàng Xuân Hãn đã xây dựng cuốn thuật ngữ đối chiếu Pháp – Việt đầu tiên
về các môn Toán, L , Hóa, Cơ và Thiên văn
Tiếp theo công trình của Hoàng Xuân Hãn, một số tập thuật ngữ đối chiếu
cũng bắt đầu được biên soạn như cuốn Danh từ thực vật của Nguyễn Hữu Quán và
Lê Văn Căn, cuốn Tủ sách Nông học Việt Nam của Đào Văn Ti n, cuốn Danh từ
vạn vật học của Tổng hội sinh viên cứu quốc, cuốn Danh từ Y học của Lê Khắc
Thiên và Phạm Khắc Quảng, v.v…
Có thể nói thành công của Cách mạng tháng 8 đánh dấu một cột mốc quan trọng của lịch sử phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt, và đó cũng là dấu mốc quan trọng của lịch sử phát triển thuật ngữ tiếng Việt Số lượng thuật ngữ chính trị, kinh
tế, quân sự, văn hóa, nghệ thuật, giáo dục…ngày càng được mở rộng Trong quá trình xây dựng thuật ngữ, quan điểm của các nhà khoa học rất khác nhau, không thống nhất Trong 2 năm 1978 và 1979 có nhiều hội thảo, hội nghị khoa học về chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà chuyên môn có uy tín ở hầu hết các chuyên ngành trong cả nước Khái niệm thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, phương thức đặt tên thuật ngữ, vấn đề xử
lí đối với thuật ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài vào tiếng Việt là các vấn đề luôn được đặt ra Các nhà khoa học như Lê Khả Kế, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Như Ý, Hoàng Văn Hành, Lê Văn Thới, Nguyễn Thạc Cát, Võ Xuân Trang, v,v…đã nêu lên các quan điểm của mình về thuật ngữ trên tạp chí Ngôn ngữ
Bước sang thế kỉ XXI, vấn đề thuật ngữ đặc biệt được quan tâm nghiên cứu
do xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học, kĩ thuật và công nghệ Năm 2008 hội
thảo Thuật ngữ ti ng Việt trong đổi mới và hội nhập do Hội Ngôn ngữ học Việt
Nam tổ chức với 10 báo cáo khoa học, tham luận được trình bày Nội dung chủ yếu
Trang 23tập trung vào 3 vấn đề: thống nhất, hoàn chỉnh và chuẩn hóa thuật ngữ; đặc điểm thuật ngữ và tiêu chuẩn xác định thuật ngữ; sử dụng thuật ngữ, giải thích thuật ngữ trong sách giáo khoa và trong văn bản quản lí nhà nước
Trong công trình Sự phát triển của từ vựng ti ng Việt nửa sau th kỉ XX
(2009 , Hà Quang Năng đã có một chương nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt Những nội dung trọng tâm của chương này là xác định chặng đường phát triển của tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt, những con đường hình thành thuật ngữ tiếng Việt
và những giải pháp cho việc tiếp nhận thuật ngữ nươc ngoài vào tiếng Việt
Năm 2010, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã nghiệm thu
chương trình khoa học cấp Bộ Một số vấn đề cơ bản về cơ sở lí luận và phương
pháp luận biên soạn các loại từ điển và b ch khoa thư Việt Nam do Phạm Việt
Hùng làm chủ nhiệm Trong đó, về thuật ngữ, có đề tài nhánh nghiên cứu những vấn đề lí luận và phương pháp luận biên soạn từ điển chuyên ngành và thuật ngữ do
Hà Quang Năng làm chủ nhiệm Cuốn Thuật ngữ học – những vấn đề lí luận và
thực tiễn do Hà Quang Năng chủ biên, được Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa thuộc
Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam xuất bản năm 2013 chính là kết quả nghiên cứu của đề tài này sau khi được nghiệm thu
Nội dung cuốn sách tập trung vào những vấn đề chính sau:
- Tổng kết những thành tựu nghiên cứu lí luận và nghiên cứu ứng dụng về thuật ngữ học ở Liên Xô, Liên bang Nga và Cộng h a Liên bang Đức;
- Đặc điểm định danh thuật ngữ và những con đường hình thành, sáng tạo thuật ngữ;
- Những nguyên tắc biên soạn từ điển thuật ngữ;
- Đánh giá cống hiến công trình, nghiên cứu, biên soạn thuật ngữ đầu tiên ở
Việt Nam – Danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn;
- Khảo sát, miêu tả, nhận xét cấu tr c vĩ mô và cấu trúc vi mô của một số cuốn từ điển thuật ngữ cụ thể
Năm 2012, Viện Ngôn ngữ học đã nghiệm thu đề tài cấp Bộ Nghiên cứu,
khảo sát thuật ngữ ti ng Việt phục vụ cho việc xây dựng Luật ngôn ngữ ở Việt Nam
do Nguyễn Đức Tồn làm chủ nhiệm Đề tài đã tập trung tổng kết những vấn đề lí
Trang 24luận truyền thống về thuật ngữ như dịnh danh ngôn ngữ, xây dựng thuật ngữ, vay mượn thuật ngữ nước ngoài và nội dung áp dụng lí thuyết điển mẫu vào nghiên cứu thuật ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt
Năm 2016, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã ấn hành cuốn Thuật ngữ học
ti ng Việt hiện đại do Nguyễn Đức Tồn làm chủ biên Cuốn sách gồm 3 phần: phần
thứ nhất: Những vấn đề lí luận chung, phần thứ hai: Thực trạng xây dựng và sử dụng thuật ngữ hiên nay qua một số ngành khoa học và chuyên môn, phần thứ ba: Kiến nghị giải pháp xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước để làm cơ sở xây dựng luật ngôn ngữ Chuyên khảo đã làm rõ khái niệm thuật ngữ và các tiêu chuẩn của thuật ngữ trong sự phân biệt với các đơn vị từ vựng phi thuật ngữ
Bên cạnh các công trình nghiên cứu, có khá nhiều luận án tiến sĩ làm về đề
tài thuật ngữ Năm 1991, Vũ Quang Hào với luận án phó tiến sĩ Hệ thuật ngữ quân
sự ti ng Việt: đặc điểm và cấu tạo thuật ngữ đã mở đầu cho xu hướng nghiên cứu
chuyên sâu hệ thuật ngữ của một ngành khoa học cụ thể Tiếp theo đó, có các luận
án tiến sĩ sau: So sánh cách cấu tạo thuật ngữ kinh t thương mai trong ti ng Nhật
và ti ng Việt hiện đại (Nguyễn Thị Bích Hà, 2000), Khảo sát hệ thuật ngữ tin học viễn thông ti ng Việt (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005), Khảo sát thuật ngữ y học
ti ng Anh và cách phiên chuyển sang ti ng Việt (Vương Thị Thu Minh, 2006), So sánh cấu tạo đặc điểm hình thức và ngữ nghĩa của thuật ngữ tài chính-k toán-ngân hàng ti ng Anh và ti ng Việt (Nguyễn Thị Tuyết, 2011), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa thuật ngữ sỡ hữu trí tuệ ti ng Việt (Mai Thị Loan, 2012), Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên ti ng Việt (trên tư liệu thuật ngữ Toán – Cơ – Tin học – Vật lí) (Ngô Phi Hùng 2013), Thuật ngữ khoa học kỹ thuật xây dựng trong ti ng Việt (Vũ Thị Thu Huyền, 2013), Đối chi u thuật ngữ du lịch Việt –Anh (Lê Thanh Hà, 2014), Nghiên cứu thuật ngữ báo chí ti ng Việt
(Quách Thị Gấm, 2015), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa hệ thuật ngữ khoa học
hình sự ti ng Việt (Nguyễn Quang Hùng, 2016), Đối chi u thuật ngữ phụ sản trong
ti ng Anh và ti ng Việt (Phí Thị Việt Hà, 2017), Đối chi u thuật ngữ âm nhạc Việt Nam (Nguyễn Thanh Dung, 2017), Đối chi u thuật ngữ hành chính Việt- nh (Vũ
Trang 25Thị Y n Nga, 2018), Đối chi u thuật ngữ cơ khí trong ti ng Anh và ti ng Việt (Trần Ngọc Đức, 2018), Đối chi u thuật ngữ dầu khí Anh-Việt (Nguyễn Thị Thu Hà, 2019), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ mĩ thuật ti ng Việt (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2019),…Các luận án tập trung chủ yếu vào nội dung phân tích đặc điểm cấu
tạo, những con đường hình thành của thuật ngữ, đặc điểm định dạnh của các hệ thuật ngữ, khảo sát và tìm ra các thuật ngữ chưa đạt chuẩn theo các tiêu chuẩn của thuật ngữ, từ đó đề xuất phương hướng chuẩn hóa và xử lí các thuật ngữ không chuẩn này, đối chiếu thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt về phương diện cấu tạo và định danh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ của hai ngôn ngữ, tiến hành khảo sát cách chuyển dịch thuật ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt để tìm ra các kiểu tương đương trong dịch thuật ngữ
Như vậy, nhìn lại chặng đường phát triển của thuật ngữ Việt Nam, rõ ràng
sự hình thành và phát triển của thuật ngữ tiếng Việt gắn với xu hướng phát triển chung của thuật ngữ thế giới và những dấu mốc quan trọng của lịch sử phát triển
xã hội Việt Nam
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ Công tác xã hội trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ Công tác xã hội trên th giới
Tháng 6 năm 1926, LeRoy E Bowman đã có bài viết Thuật ngữ Công tác xã
hội: Những thuật ngữ được sử dụng thịnh hành (The Terminology of Social Workers: Vogues in Social Work Terms) (Tạp chí American Speech, Số 9, tháng 6/
1926) Bài viết chỉ r ng trong CTXH cũng như các lĩnh vực khoa học khác đều có những từ hay cụm từ được dùng thịnh hành (vogues) Những người nói cùng ngôn ngữ một ngành khoa học không những cùng xây dựng khái niệm gốc mà còn làm giàu các thành phần, lớp nghĩa rộng của khái niệm đó do yếu tố văn hóa khác nhau của từng dân tộc Bài báo chủ yếu tập trung vào việc phân tích một số từ hay cụm từ được sử dụng thịnh hành trong ngành CTXH Ngôn ngữ, tưởng, kinh nghiệm có sức mạnh gắn kết giữa những cộng đồng nhân viên CTXH sử dụng cùng một hệ ngôn ngữ ngành chung Điều này được ví như ngôn ngữ tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa cộng đồng người cùng một quốc gia
Trang 26Werner W Boehm là một nhà giáo dục công tác xã hội lỗi lạc đã từng được vinh danh và nhận rất nhiều giải thưởng do Hiệp hội nhân viên Công tác xã hội quốc gia, trường Đại học Công tác xã hội Tulane, Hội đồng giáo dục Công tác xã
hội, v.v… Năm 1954 ông có bài viết Thuật ngữ Công tác xã hội: Nỗ lực làm rõ lý
thuy t trên Tạp chí The Social Service Review (Vol 28, no 4 (December 1954):
381-391) Bài báo chỉ ra r ng trong Công tác xã hội, lý thuyết ngành được phát triển
và làm phong ph , đa dạng bởi sự thay đổi về mặt nghĩa của các khái niệm cũ dưới
sự tác động của những trải nghiệm và kiến thức mới của nghành chứ không phổ biến ở việc tạo ra những khái niệm mới Bài báo đã tập trung khảo sát các thuật ngữ
để đánh giá mặt nghĩa của các thuật ngữ, xem xét các thuật ngữ được sử dụng không thống nhất, cố gắng làm rõ những thay đổi của lớp nghĩa của các thuật ngữ trong công tác xã hội trong xã hội ngày nay
Đây là một nhiệm vụ khó khăn bởi nó vượt qua ranh giới của một bài báo và cần sự tập trung nỗ lực của nhiều thành viên trong nghề Bài báo này được thiết kế
để bổ sung tài liệu các khái niệm hiện có trong lĩnh vực CTXH thông qua thực hành CTXH trong thực tế Hai phương pháp nghiên cứu được sử dụng : Thứ nhất đó là đánh giá CTXH chống lại ma trận xã hội mà nó là một phần và ảnh hưởng đến phạm vi và chức năng của nó Điều này có tính đến nghĩa mới mà thuật ngữ bắt nguồn từ điều kiện xã hội mới; Thứ hai đó là việc áp dụng phương pháp điều tra logic đối với định nghĩa các thuật ngữ Điều này bảo vệ tính hợp lí của kết quả nghiên cứu
Năm 2003 nghiên cứu sinh ngành Ngôn ngữ Đức Zhigunova, Zhanna
Gennadievna đã bảo vệ thành công công trình nghiên cứu “Thuật ngữ Công tác xã
hội ti ng nh đồng đại và lịch đại” tại Nga Nghiên cứu này là một mô tả toàn diện
về sự hình thành, phát triển và hiện trạng của thuật ngữ công tác xã hội tiếng Anh Xác định thuật ngữ quốc tế trong hệ thuật ngữ CTXH tiếng Anh, mô tả cấu trúc chính, khảo sát hiện tượng đồng nghĩa của các thuật ngữ trong lĩnh vực này
Năm 2005, tại Nga, nghiên cứu sinh Bolshak, Alla Viktorovna ngành Ngôn
ngữ đã bảo vệ thành công đề tài Cơ sở chức năng ngữ nghĩa của c c thuật ngữ
C ng t c x hội: Trên nền ngữ liệu ti ng nh và ti ng Nga Công trình tập trung
Trang 27các nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau: phân tích các quan điểm khoa học và triết học khác nhau về định nghĩa bản chất của thuật ngữ trên cơ sở phương pháp tiếp cận lịch đại; xem xét các tính năng của thuật ngữ CTXH như một mô hình thông tin nhận thức về sự thể hiện tri thức khoa học; xác định các yếu tố xã hội và đạo đức ảnh hưởng đến việc diễn giải các thuật ngữ công tác xã hội ở tất cả các giai đoạn hoạt động của chúng; mô tả các đặc điểm của sự hình thành bộ máy thuật ngữ của CTXH trong bối cảnh tiếp cận nhân chủng học; phân tích các bản dịch tài liệu khoa học về công tác xã hội và chứng minh các biến thể của mô tả từ vựng của thuật ngữ; nghiên cứu cách hình thành từ vựng, ngữ nghĩa, hình thái học của các thuật ngữ CTXH tiếng Nga và tiếng Anh
Năm 2011, luận án tiến sĩ Đặc điểm thuật ngữ Công tác xã hội ti ng Anh
trong quốc gia không đồng nhất ngôn ngữ của nghiên cứu sinh Petrashova, Tamara
Georgievna ngành Ngôn ngữ Đức cũng đã được bảo vệ thành công tại Nga Công trình nghiên cứu các biến thể của thuật ngữ CTXH tiếng Anh Đối tượng nghiên cứu là các thuật ngữ CTXH tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Anh ở Anh, Mỹ, Canada, Úc Theo tác giả, việc hiểu một cách đầy đủ, dịch thuật và giao tiếp chuyên nghiệp trong lĩnh vực CTXH bị cản trở rất nhiều bới các biến thể này Công trình đã
đề xuất các cách thức để thay đổi thuật ngữ trong bối cảnh các cộng đồng Anh ngữ khác nhau
Luận án Thuật ngữ Bảo trợ xã hội của nghiên cứu sinh Nechuikina E.V
dưới sự hướng dẫn của Giáo sư A Yu Pidzhakov cũng được bảo vệ năm 2008 Tác giả phân tích các thuật ngữ được sử dụng trong quá trình điều chỉnh pháp lý về bảo trợ xã hội, chứng minh sự cần thiết thống nhất hệ thuật ngữ trong lĩnh vực này và đưa ra phương hướng thống nhất
Thuật ngữ C ng t c x hội: cấu trúc, ngữ nghĩa, chức năng - Luận án của
nghiên cứu sinh Olga Bursina dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư V Eliseev, bảo
vệ năm 2014, nghiên cứu phân tích hệ thuật ngữ CTXH ở các mặt từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa Công trình nghiên cứu xem xét các vấn đề của thuật ngữ hiện đại
là điều kiện khoa học và l thuyết cho việc nghiên cứu các thuật ngữ CTXH Kết quả nghiên cứu cho thấy thuật ngữ CTXH vượt ra khỏi phạm vi sử dụng chuyên
Trang 28biệt, thâm nhập vào nhiều lĩnh vực thông qua phương tiện thông tin và được làm giàu bởi các thuật ngữ của các lĩnh vực tri thức khác như là kết quả của sự tương tác chặt chẽ với lĩnh vực CTXH Các thuật ngữ liên ngành CTXH gồm có: y học, tâm lí học, xã hội học, luật, kinh tế
Đối với bất kì ngành khoa học nào, cuốn bách khoa toàn thư của ngành đó được xem là cẩm nang căn bản để các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, người sử dụng có được sự thống nhất trong các khái niệm thuộc ngành Việc nghiên cứu xây dựng bách khoa thư CTXH cũng được các nhà khoa học quan tâm như là một trong những nhiệm vụ ưu tiên trong phát triển các vấn đề lý thuyết của ngành Có thể
nhắc tới các cuốn Bách khoa thư CTXH như: B ch khoa thư C ng t c x hội ti ng
Anh của Tổ chức Russell Sage năm 1960, B ch khoa thư C ng t c x hội Ấn Độ
ti ng Anh của tác giả S Radhakrishnan năm 1968, B ch khoa thư C ng t c x hội
ti ng Anh của Morris, Robert năm 1977, nhà xuất bản New York, National
Association of Social Workers, B ch khoa thư phúc lợi xã hội Nhật – Anh của Shōji Yōko năm 1999, B ch khoa thư C ng t c x hội ti ng nh của Terry Mizrahi và Larry E Davis năm 2011, B ch khoa thư C ng t c x hội ti ng Nga của EI
Holostova năm 2017…
Có thể thấy r ng, các nghiên cứu về thuật ngữ CTXH được quan tâm từ rất sớm và thiên về xu hướng của thuật ngữ học ứng dụng (applied terminology) Khối lượng rất lớn các cuốn từ điển đối chiếu hay giải thích của các tác giả khác nhau trên thế giới với nhiều ngôn ngữ đa dạng như tiếng Anh, Nhật, Nga, Pháp, Trung, Đức, Tây Ban Nha, Hàn, Bồ Đào Nha, Ả Rập, Ấn độ, v.v…chính là minh chứng cho điều này Có rất nhiều cuốn từ điển ngành CTXH được biên soạn như: Từ điển tiếng Anh dành cho nhân viên CTXH của Young, Erle Fiske năm 1939, Từ điển CTXH tiếng Nhật của Tsukamoto, Tetsu năm 1966, Từ điển CTXH tiếng Tây Ban Nha của Ander-Egg, Ezequiel năm 1974, Từ điển phúc lợi xã hội tiếng Hàn của Kim, Kyu-su năm 1985, Từ điển công tác xã hội tiếng Ả Rập của tác giả Badawi,
A mad Zaki năm 1987, Từ điển các thuật ngữ CTXH tiếng Ấn Độ của Suparlan, Y
B năm 1990, Từ điển CTXH tiếng Trung của Cai, Hanxian năm 2000, Từ điển CTXH tiếng Anh của John Pierson and Martin Thomas năm 2002, Từ điển CTXH
Trang 29tiếng Anh của Robert L Barker năm 2003, Từ điển CTXH tiếng Nga của M Gulina năm 2008, Từ điển CTXH tiếng Pháp của Zheng Zhijun năm 2008, Từ điển Công tác xã hội và chăm sóc xã hội của John Harris và Vicky White năm 2013…
Đáng ch hơn cả là cuốn Thuật ngữ Công tác xã hội ti ng Anh (ấn bản 6)
của tác giả Barker, Robert L xuất bản bởi NASW Press (Nhà xuất bản Hiệp hội nhân viên CTXH quốc gia Mỹ năm 2014 Robert L Barker là một nhà tham vấn, nhà biện hộ, nhà lâm sàng trong thực hành CTXH cá nhân Ấn bản đầu tiên của cuốn từ điển CTXH này được xuất bản đầu năm 1987 Những ấn bản tiếp theo được xuất bản vào các năm 1991, 1995, 1999 và 2003 Ngôn ngữ ngành CTXHi, cũng giống như chính ngành CTXH, tiếp tục phát triển và trở nên phong ph hơn nhiều Đây là kết quả của sự phát triển kiến thức ngành và mong muốn giao tiếp chính xác, hiệu quả ngày càng lớn của những người hoạt động trong nghề Sự phát triển của hệ thuật ngữ ngành này cũng chính là sản phẩm của mối quan hệ liên ngành của CTXH với các ngành nghề khác đã tạo nên nhiều biệt ngữ và thuật ngữ mới Bắt nguồn từ chính những nguyên nhân trên, Barker, Robert L đã tái bản cuốn từ điển lần thứ 6 với hơn 10.000 thuật ngữ, sử dụng định dạng chuẩn dành cho từ điển chuyên nghiệp
Như vậy, nhìn chung các sách công cụ về CTXH đã khá phát triển, song việc nghiên cứu thuật ngữ CTXH trên thế giới về lí luận c n chưa được quan tâm nghiên cứu thích đáng, thiếu những công trình thực sự đi vào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về hệ thống TN CTXH, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu về cách chuyển dịch thuật ngữ CTXH tiếng Anh sang một ngôn ngữ khác
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ Công tác xã hội ở Việt Nam
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH dự thảo Chiến lược An sinh Xã hội giai đoạn 2011-2020 Trong quá trình dự thảo chiến lược, Bộ LĐTBXH đã gặp không ít khó khăn do không có sự thống nhất về cách hiểu nhiều thuật ngữ thuộc lĩnh vực an sinh xã hội giữa các học giả, cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách trong lĩnh vực này
Trang 30Để thống nhất về nội hàm của các thuật ngữ an sinh xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện các chính sách an sinh xã hội cũng như Chiến lược An sinh Xã hội giai đoạn 2011-2020, Viện Khoa học Lao động và Xã hội (LISSA) phối hợp với Dự án Hỗ trợ Giảm nghèo tại Việt Nam do Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ) thực hiện dưới sự ủy nhiệm của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Đức (BMZ) xây dựng Cuốn Thuật ngữ An sinh Xã hội, được xuất bản vào tháng 9 năm 2011 Trong quá trình soạn thảo, cơ quan chủ trì đã tham vấn nhiều cơ quan có liên quan trong nước và quốc tế, nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật, tham khảo các nguồn thông tin quốc tế đáng tin cậy nh m chọn lựa và đưa ra những thuật ngữ có sự thống nhất cao trong cuốc sách này
Cuốn thuật ngữ gồm 3 phần: Phần thứ nhất trình bày Sơ đồ Hệ thống An sinh
Xã hội ở Việt Nam với mục đích cung cấp cho độc giả một cái nhìn tổng quan về mối liên hệ giữa các trụ cột trong Hệ thống An sinh Xã hội ở Việt Nam cùng các chương trình, chính sách có liên quan Sơ đồ cũng thể hiện định hướng phát triển của Hệ thống An sinh Xã hội ở Việt Nam như được trình bày trong Chiến lược An sinh Xã hội giai đoạn 2011-2020 Phần thứ hai là danh mục gồm gần 200 thuật ngữ
an sinh xã hội sắp xếp theo thứ tự ABC tiếng Việt và được trình bày song ngữ tiếng Việt – tiếng Anh Phần cuối cùng là danh mục các thuật ngữ an sinh xã hội Tiếng Anh sắp xếp theo thứ tự ABC với mục tiêu hỗ trợ độc giả nói tiếng Anh thuận lợi hơn trong việc tra cứu các thuật ngữ được trình bày ở phần hai
Viện Khoa học lao động và xã hội thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã thực hiện một dự án nh m sưu tầm, tổng hợp và biên soạn hơn 1000 thuật ngữ ngành lao động và xã hội, cụ thể về các lĩnh vực như lao động – việc làm, an sinh, bảo vệ tr em, tệ nạn xã hội, quan hệ lao động, tiền lương, dạy nghề, an toàn
vệ sinh lao động… Các thuật ngữ này được giải thích b ng tiếng Việt và đối chiếu thuật ngữ tiếng Anh tương ứng Các thuật ngữ và định nghĩa được lựa chọn từ Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 của Việt Nam, thuật ngữ di cư của Tổ chức di cư Quốc tế, Tổ chức lao động quốc tế, Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Quan hệ lao động, thuật ngữ an toàn – vệ sinh lao động của Cục An toàn lao động, Bộ LĐTB&XH, thuật ngữ Bảo vệ tr em của Bộ LĐTB&XH và Unicef ấn bản 2009
Trang 31Qua khảo sát, hiện nay một số trường Đại học tại Việt Nam đã biên soạn
giáo trình, tập bài giảng tiếng Anh chuyên ngành CTXH như: Ti ng Anh chuyên
ngành Công tác xã hội – Lê Anh Tuấn, Trần Thị H ng, Hoàng Thị Hiền, Đàm Lan
Hương, English in Social Work – Dương Bạch Nhật, Nguyễn Thị Xuân Trang Tuy
nhiên trong các tài liệu này, tác giả chỉ giới thiệu số lượng rất ít các thuật ngữ chuyên ngành, dưới dạng từ mới của mỗi đơn vị bài học
Có thể nói, cho đến nay, ở Việt Nam chưa có cuốn từ điển thuật ngữ chuyên ngành CTXH nào được biên soạn Việc nghiên cứu lý luận về thuật ngữ CTXH cũng như cách chuyển dịch thuật ngữ CTXH tiếng Anh sang tiếng Việt hầu như chưa được quan tâm Do vậy có thể kh ng định luận án của chúng tôi là công trình
lý luận đầu tiên ở Việt Nam khảo cứu một cách tương đối toàn diện về thuật ngữ CTXH tiếng Anh và cách chuyển dịch sang tiếng Việt
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Một số vấn đề lí thuyết về thuật ngữ
1.2.1.1 Khái niệm thuật ngữ
Hiện nay, thuật ngữ được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau nên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào, khái niệm thuật ngữ nào được các nhà nghiên cứu thống nhất và thừa nhận Từ góc độ ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm, gắn với chức năng và định nghĩa thuật ngữ trong sự phân biệt với các “từ ngữ phi thuật ngữ”
a Định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm
Năm 1977, nhà thuật ngữ học Xô Viết V.P.Đanilencô đưa ra quan niệm:
“Thuật ngữ dù là từ (ghép hoặc đơn hay cụm từ đều là một kí hiệu mà một khái niệm tương ứng với nó” “Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân” “Thuật ngữ gọi tên khái niệm chuyên môn Đặc trưng của khái niệm này là ở chỗ nó không bị mất tính hoàn chỉnh dù nội dung của khái niệm được diễn đạt b ng bất kì phương tiện, phương thức nào” (Dẫn theo [27, tr 13])
Trang 32Xem xét thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm, các nhà ngôn ngữ học
Âu Mỹ Erhart Oeser và Gerhart Budin kh ng định: “Thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm, trong mỗi lĩnh vực chuyên ngành đều có các mô hình cấu tr c đại diện cho tập hợp các khái niệm Kiến thức khoa học được sắp xếp thành các cấu trúc khái niệm, các phương tiện biểu đạt ngôn ngữ và kí hiệu tương ứng được sử dụng trong văn phong khoa học để thông tin với người khác về kết quả khoa học và bình luận các ngôn bản khác”[117, tr 12]
Khi nói về thuật ngữ, Thorsten Trippel quan niệm: “Thuật ngữ là kí hiệu ngôn ngữ cho một khái niệm Kí hiệu ngôn ngữ này không nhất thiết phải là từ đơn,
nó cũng có thể là một nhóm từ, một cụm từ cố định được sử dụng để mô tả một khái niệm chuyên môn.” [169, tr 8]
Việt Nam, các nhà nghiên cứu thuật ngữ cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa
khác nhau Theo Nguyễn Văn Tu trong cuốn Khái luận ngôn ngữ học (1960 , định
nghĩa thuật ngữ được xác định trong mối quan hệ với khái niệm như sau: “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dung trong các ngành khoa học, kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật, v.v…và có một nghĩa đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên” [88, tr.176] Năm 1968, khái niệm thuật ngữ được ông định nghĩa cụ thể hơn, chỉ nhấn mạnh khái niệm mà các thuật ngữ biểu thị: “Thuật ngữ
là những từ và cụm từ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào đó, v.v…” [89, tr.114]
Đỗ Hữu Châu đề cập đến mặt biểu thị khái niệm khoa học, đồng thời chỉ tên một sự vật, hiện tượng khoa học “Thuật ngữ là từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kỹ thuật nào đó Có thuật ngữ của ngành vật lý, ngành hóa học, toán học, thương mại, ngoại giao,v.v… Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kỹ thuật nhất định” [6, tr.167]
Đến năm 1981, trong cuốn Từ vựng – ngữ nghĩa ti ng Việt ông đưa ra định nghĩa
khái quát hơn về thuật ngữ khoa học, kĩ thuật như sau: “Thuật ngữ khoa học, kĩ thuật bao gồm các đơn vị từ vựng được dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng,
Trang 33hoạt động, đặc điểm…trong những ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự nhiên hay xã hội” [7, tr.221-222]
Lưu Vân Lăng và Nguyễn Như Ý cũng khoanh vùng phạm vi các ngành khoa học khi đưa ra khái niệm: “Thuật ngữ là bộ phận ngôn ngữ (từ vựng) biểu đạt các khái niệm khoa học, là thuộc tính của khoa học, kĩ thuật, chính trị, tức là những lĩnh vực của hiện thực xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ Thuật ngữ có tính chất hệ thống hoàn toàn dựa trên sự đối lập giữa các kí hiệu, sự đối lập này về hình thức thể hiện ở chỗ khác nhau về âm thanh hoặc trật tự sắp xếp các yếu tố” [45, tr.44]
b Định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng
Khá nhiều nhà nghiên cứu lại quan tâm đến chức năng mà thuật ngữ đảm
nhiệm Theo Vinokur G.O (1939): "Thuật ngữ không phải là những từ đặc biệt, mà chỉ
là những từ có chức năng đặc biệt”, đó là “chức năng gọi tên” [30, tr.4] Cùng quan
điểm với Vinokur, Vinôgrađốp V.V (1947) cho r ng ngoài chức năng gọi tên, thuật ngữ
còn có chức năng định nghĩa: “Trước h t từ thực hiện chức năng định danh, nghĩa là
hoặc nó là phương tiện biểu thị, lúc đó nó chỉ là một kí hiệu đơn giản, hoặc nó là phương tiện của định nghĩa logich, lúc đó nó là thuật ngữ khoa học” [22, tr.14]
Gerd A.X (1968 cũng đưa ra định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng của
nó như sau:"Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và
được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi c c đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa" [70, tr.19]
c Định nghĩa thuật ngữ trong sự phân biệt với các từ ngữ phi thuật ngữ Một số nhà nghiên cứu nước ngoài, cũng đã chỉ ra sự khác biệt giữa thuật ngữ với từ thông thường khi định nghĩa thuật ngữ Kuz'kin N.P (1962) quan niệm:
"Nếu như từ thông thường, từ phi chuyên môn tương ứng với đối tượng thông dụng, thì từ của vốn thuật ngữlại tương ứng với đối tượng chuyên môn mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến" [22, tr.10] Moiseev A.I (1970) cũng cho
r ng: "Chính biên giới giữa thuật ngữ và phi thuật ngữ không n m giữa các loại từ
và cụm từ khác nhau mà n m trong nội bộ mỗi từ và cụm từ định danh" [22, tr.10] Bên cạnh đó, Kapanadze L.A cũng kh ng định: "Thuật ngữ không gọi tên khái
Trang 34niệm như từ thông thường mà là khái niệm được gán cho nó dường như là gắn kèm theo nó cùng với định nghĩa" [13, tr.4]
Như vậy, có thể thấy các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều khái niệm thuật ngữ khác nhau, nhưng dù tiếp cận theo hướng nào thì về bản chất thuật ngữ là từ hoặc cụm từ, biểu hiện khái niệm hoặc đối tượng thuộc lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn nhất định Để có cơ sở khoa học cho quá trình kháo sát đối tượng của
luận án, ch ng tôi đưa ra cách hiểu về thuật ngữ như sau: Thuật ngữ là những từ và
cụm từ cố định, biểu thị khái niệm hoặc đối tượng thuộc lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn nhất định
1.2.1.2 Phân biệt thuật ngữ với một số khái niệm liên quan
“danh pháp có thể coi là thể liên tục của các chữ cái (vitamin A, vitamin B… , hay
là thể liên tục của các con số (MAC-5, MAC-8) và của mọi thứ dấu hiệu có tính ước
lệ, tùy tiện khác Danh pháp không tương quan trực tiếp với các khái niệm của khoa học Vì vậy, danh pháp không tiêu biểu cho hệ khái niệm của khoa học” [65, tr.146] Số lượng của danh pháp so với thuật ngữ là rất lớn: “Nếu cái máy nào đó
ch ng hạn có mấy nghìn chi tiết và mỗi chi tiết như thế lại có tên gọi riêng của mình thì điều này cũng không có nghĩa là phải có b ng ngần ấy khái niệm” [65, tr.145]
Như vậy, các nhà khoa học đã chỉ ra r ng, danh pháp và khái niệm khoa học
như thuật ngữ không có quan hệ trực ti p với nhau Danh pháp chỉ là tên gọi các sự
vật, hiện tượng cụ thể trong một ngành khoa học nhất định nào đó
Dù vậy, theo Hà Quang Năng (2012), điểm giống nhau duy nhất giữa thuật ngữ và danh pháp đó là “tính độc lập của danh pháp và của thuật ngữ khỏi ngữ
Trang 35cảnh và tính chất trung hòa về tu từ của chúng, tính mục đích rõ ràng trong sử dụng, tính bền vững và khả năng tái hiện trong lời nói” [54, tr.3] Superanskaja (2007) cũng cho r ng, thực ra không có ranh giới tuyệt đối giữa thuật ngữ và danh pháp, hai lớp từ vựng này có thể tác động qua lại lẫn nhau: “danh pháp, trong những trường hợp nhất định, có thể chuyển thành thuật ngữ khi nó rơi vào trong
hệ thống từ vựng khác” [69, tr.7]
b Thuật ngữ và từ ngữ thông thường
Khi nói về sự khác biệt giữ thuật ngữ với từ thông thường, M Teresa Cabre’ cho r ng: “Điểm khác biệt rõ nhất của thuật ngữ so với từ thông thường n m ở chỗ thuật ngữ được sử dụng để biểu thị các khái niệm thuộc ngành chuyên môn” [106, tr.81] Tuy nhiên từ thông thường được sử dụng để biểu đạt các khái niệm mà hầu hết mọi người đều biết Hơn nữa, nếu từ thông thường mang tính biểu cảm, thì thuật ngữ biểu hiện khái niệm chuyên môn, do đó không có tính biểu cảm
Dù là thuật ngữ hay từ thông thường (từ toàn dân) thì chúng đều là một bộ phận của hệ thống ngôn ngữ và sẽ chịu sự chi phối về các quy tắc của ngôn ngữ đó
“Giữa từ toàn dân và thuật ngữ có mối quan hệ xâm nhập lẫn nhau Từ toàn dân có thể trở thành thuật ngữ và ngược lại” [17, tr.276] Trong quá trình thuật ngữ hóa, nghĩa của từ toàn dân bị thu hẹp lại và mang tính chuyên môn hoá, được sử dụng trong một chuyên ngành khoa học cụ thể Khi trình độ và kiến thức khoa học của người dân được nâng cao, thuật ngữ trở thành từ thông thường Thuật ngữ mở rộng phạm vi hoạt động, mang biểu cảm, gợi hình ảnh khi trở thành từ thông thường
c Thuật ngữ và từ nghề nghiệp
Theo Đỗ Hữu Châu: “Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, ngành văn thư, v.v ” [7, tr.253] Nguyễn Thiện Giáp quan niệm: “Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Những từ này thường được những người trong ngành nghề đó biết và sử dụng Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể hiểu biết nhiều từ ngữ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng ch ng Do
Trang 36đó, từ nghề nghiệp cũng là một lớp từ vựng được dùng hạn chế trong xã hội”
[18,tr.265] Như vậy về mặt sử dụng, cả từ nghề nghiệp và thuật ngữ đều là lớp từ
được sử dụng hạn chế, chúng chủ yếu được dùng trong một ngành nghề nhất định [17, tr.303]
Về mặt nội dung, từ nghề nghiệp và thuật ngữ đều là những tên gọi duy nhất
của hiện tượng trong thực tế, đồng thời, cả thuật ngữ và từ nghề nghiệp đều có thể chuyển hóa thành từ thông thường khi những khái niệm của ch ng được sử dụng phổ biến trong xã hội và làm giàu thêm vốn từ vựng chung của dân tộc [17, tr 303] Đỗ Hữu Châu cũng cho r ng, về điểm này, cả thuật ngữ và từ nghề nghiệp đều có những đặc tính cơ bản là nghĩa biểu vật trùng với sự vật hiện tượng thực có trong ngành nghề và nghĩa biểu niệm đồng nhất với các khái niệm về sự vật, hiện tượng đó [7, tr.253]
Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng chỉ ra điểm khác biệt của từ nghề nghiệp đối với thuật ngữ, đó là: “vì gắn với những hoạt động sản xuất hoặc hành nghề cụ thể, trực tiếp cho nên từ vựng nghề nghiệp có tính cụ thể, gợi hình ảnh cao Mức độ khái quát nghĩa biểu niệm của ch ng cũng thấp hơn thuật ngữ khoa học” [7, tr.253] “Thuật ngữ chuyên môn gồm thuật ngữ thuộc những ngành khác nhau trong khoa học, các thuật ngữ -định nghĩa, xác định ra khái niệm, nghĩa của những thuật ngữ này không mang bất cứ thành tố xúc cảm và biểu cảm nào Từ nghề nghiệp là những hiện thực của các ngành sản xuất khác nhau, của các nghề thủ công v.v…có thể mang sắc thái xúc cảm và biểu cảm” [66, tr.132-133] Kapanadze (1965) cũng đưa ra một đặc điểm khác biệt quan trọng giữa từ nghề nghiệp và thuật ngữ đó là từ nghề nghiệp “không bao giờ tạo thành một hệ thống khép kín, đó là những đơn vị rời rạc không liên kết với nhau” [29, tr.14& 92]
Giữa thuật ngữ và từ nghề nghiệp đôi khi còn diễn ra quá trình xâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau Khi các ngành nghề thủ công được công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành ngành khoa học, từ nghề nghiệp có thể chuyển hóa thành thuật ngữ Ngược lại, các ngành nghề thủ công có thể tiếp nhận các thuật ngữ khoa học trở thành từ nghề nghiệp, hiện đại hóa và làm phong phú thêm cho ngành nghề của mình
Trang 371.2.1.3 Các tiêu chuẩn của thuật ngữ
Việc xác định các tiêu chuẩn của thuật ngữ đóng vai tr quan trọng trong công tác xây dựng, thống nhất thuật ngữ khoa học Vì vậy, nội dung này được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Theo các công trình nghiên cứu của D.S Lotte và Ủy ban Khoa học kỹ thuật thuộc viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô, Corsumôp và Xumburôva, bốn đặc điểm cần
có của thuật ngữ gồm có: (1) Không có thuật ngữ đa nghĩa trong một ngành, (2) Không có từ đồng nghĩa, (3 Phản ánh những đặc trưng cần và đủ của khái niệm và (4) Có tính hệ thống [9, tr.39-44] Dafydd Gibbon cũng kh ng định: “Thuật ngữ kĩ thuật phải chính xác, chỉ chứa những đặc điểm cần thiết và nên có một hình thái ngữ pháp phù hợp với khái niệm” Ông cũng nêu rõ “Thuật ngữ kĩ thuật không nên thay đổi vì bất kì một lí do nào,…thuật ngữ kí thuật lí tưởng chỉ nên biểu hiện một khái niệm, trong trường hợp chưa rõ, phải chỉ ra sự thay đổi” (Dẫn theo [49, tr.19])
Theo Lưu Vân Lăng, thuật ngữ bao gồm ba tiêu chuẩn sau: Tính chất khoa học; Tính chất dân tộc và Tính chất đại ch ng Đồng quan điểm với Lưu Vân Lăng,
Lê Khả Kế cho r ng, thuật ngữ cần phải khoa học, mà tính khoa học ở đây là sự chính xác và có hệ thống, tính dân tộc và đại ch ng được hiểu là phải đặt thuật ngữ sao cho ngắn gọn, dễ đọc, dễ nhớ và dễ hiểu [Dẫn theo 82, tr.1-9]
Ngoài các đặc điểm nêu trên của thuật ngữ, Nguyễn Văn Tu [88] và Nguyễn Thiện Giáp [17] c n đề cập đến tính quốc tế cần có của thuật ngữ Nguyễn Đức Tồn cho r ng đặc điểm mang tính bản thể của thuật ngữ là tính khoa học và tính quốc tế Trong đó, tính khoa học bao gồm tính chính xác, tính hệ thống và tính ngắn gọn [85, tr 345]
Trên cơ sở hệ thống và phân tích quan niệm của các tác giả đi trước về tiêu chuẩn của thuật ngữ, chúng tôi nhận thấy TN CTXH cần phải có những tiêu chuẩn:
tính khoa học (bao gồm tính chính xác, tính hệ thống, tính ngắn gọn), tính quốc t
và tính dân tộc
Dưới đây, luận án sẽ phân tích cụ thể các tiêu chuẩn trên để làm cơ sở cho việc đánh giá và chuẩn hoá hệ thống thuật ngữ CTXH
Trang 38Trong cùng một chuyên môn hay ngành khoa học, để đảm bảo tính chính xác, thuật ngữ phải có tính một nghĩa, tức là mỗi khái niệm chỉ được biểu đạt b ng một thuật ngữ,cần tránh hiện tượng đồng nghĩa Nói cách khác, thuật ngữ phải mang tính đơn nghĩa Đỗ Hữu Châu (1981) đề cập đến quan điểm này như sau: “trong thực tế, có những thuật ngữ, gọi tên khái niệm đ ng, có những thuật ngữ gọi tên khái niệm sai lầm Điều quan trọng là ở chỗ các thuật ngữ phải biểu thị cho đ ng các khái niệm (đ ng hoặc sai) mà chúng gọi tên Một thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khi nói ra, viết ra, người nghe, người đọc hiểu một và chỉ một khái niệm khoa học ứng với nó mà thôi” [7, tr.243]
Như vậy, hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa trong hệ thống thuật ngữ của cùng một ngành khoa học cần được loại bỏ để đảm bảo tính đơn nghĩa của thuật ngữ
Theo Nguyễn Thiện Giáp (1985 : “Mỗi ngành khoa học đều có một hệ thống các khái niệm được thể hiện b ng hệ thống các thuật ngữ, trong đó mỗi thuật ngữ bao giờ cũng là yếu tố của hệ thống thuật ngữ và chiếm một vị trí trong
hệ thống thuật ngữ nhất định nào đó” [17, tr.312] Khi bàn đến tính hệ thống trong khoa học, Lưu Vân Lăng (1977 nhận định, “các khái niệm được tổ chức thành hệ thống, có tầng, có lớp, có bậc h n hoi, có khái niệm hạt nhân làm trung tâm tập hợp nhiều khái niệm khác thành từng trường khái niệm, thành từng nhóm, từng cụm Mỗi trường khái niệm có thể là một hệ thống con Mỗi hệ thống nhỏ có một khái niệm hạt nhân” [43, tr.5-6]
Trang 39Hầu hết các tác giả đều chú trọng đến tính hệ thống của thuật ngữ trên cả hai khía cạnh, đó là nội dung -hệ thống khái niệm và hình thức - hệ thống kí hiệu Lưu Vân Lăng (1977) kh ng định, “khi xây dựng hệ thống thuật ngữ, cần phải xác định được hệ thống khái niệm trước khi đặt hệ thống kí hiệu cho chúng Thậm chí trong nhiều trường hợp, nội dung khái niệm phải đặt lên hàng đầu Vì vậy, khi đặt thuật ngữ không thể tách rời từng khái niệm riêng l mà phải xác định vị trí của thuật ngữ
đó trong toàn bộ hệ thống khái niệm” [43, tr 5-6]
Tính hệ thống của kí hiệu thường được thể hiện ở mối quan hệ liên tưởng (thay thế theo trục dọc) và ở mối quan hệ ngữ đoạn (nối tiếp theo trục ngang) của các tín hiệu ngôn ngữ Vì vậy cần phải dựa vào thế đối lập giữa các tín hiệu trong hệ thống mới đảm bảo được hệ thống về mặt kí hiệu Thực tế cho thấy, mỗi thuật ngữ
có một giá trị nhất định về nội dung, chính là do sự đối lập tín hiệu này với tín hiệu
khác trong cùng một hệ thống [43, tr.6] Do vậy, nhờ vào tính hệ thống của kí hiệu
mà thuật ngữ có được khả năng phái sinh rất lớn
Các nhà Việt ngữ học cũng quan niệm r ng, xét về mặt hình thức, yếu tố ngắn gọn, chặt chẽ của thuật ngữ cũng quyết định đến tính chính xác về mặt nội dung ngữ nghĩa của thuật ngữ Các yếu tố hợp thành thuật ngữ phải phù hợp tối đa với khái niệm mà chúng biểu thị, tránh hiện tượng yếu tố dư thừa gây hiểu lầm cho
dù các yếu tố này làm cho thuật ngữ có v phù hợp hơn với các quy luật cấu tạo của ngôn ngữ [7, tr.244], [80, tr.65] Các nhà thuật ngữ học Nga cũng đồng quan điểm khi kh ng định: “Tính ngắn gọn của thuật ngữ cần được hiểu là, trong thành phần cấu tạo thuật ngữ, chỉ cần chứa một số lượng đặc trưng tối thiểu cần thiết, nhưng vẫn đủ để đồng nhất hóa và khu biệt hóa các khái niệm được phản ánh b ng thuật ngữ đó”[3, tr.331-224] Điều này hoàn toàn trùng lặp với nguyên tắc định danh thuật ngữ, đó là chỉ lựa chọn những đặc trưng có tính khu biệt sự vật, khái niệm này với các sự vật, khái niệm khác chứ không thể bao chứa toàn bộ các đặc trưng của đối tượng cần định danh bên trong tên gọi của nó Như vậy, tính ngắn gọn và tính chính xác của thuật ngữ khá đồng nhất với nhau Ngoài ra, tính ngắn gọn của thuật
ngữ cũng tuân theo quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ
Trang 40Khi đề cập đến tính ngắn gọn của thuật ngữ, một số nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đưa ra những tiêu chuẩn rõ ràng về số lượng yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ Reformatxki chỉ ra: “đối với thuật ngữ là từ ghép hay cụm từ chỉ có thể gồm hai, ba hoặc tối đa là bốn yếu tố bởi vì nếu thuật ngữ quá dài sẽ không được chấp nhận trong thực tế” [58, tr.253-271]
Một số nhà ngôn ngữ học Nga cũng đề ra tiêu chuẩn cụ thể về độ dài tối ưu
của thuật ngữ [66, tr.17] Các nhà ngôn ngữ học nhấn mạnh về sự phù hợp giữa cấu
trúc hình thức với các đặc trưng của khái niệm chứ không giới hạn số lượng yếu tố tham gia vào cấu tạo thuật ngữ Với tính chất chuyên sâu trong khoa học, nên thuật ngữ có thể bao gồm một tập hợp các đặc trưng của khái niệm, nên quan niệm này khá phù hợp với sự phát triển của thời đại khoa học ngày nay Do đó, để thể hiện các đặc trưng của một khái niệm có thể phải cần đến khá nhiều yếu tố Vì vậy, trên thực tế vẫn có những thuật ngữ được xem là chuần khi chúng gồm nhiều yếu tố đặc trưng tham gia vào cấu tạo thuật ngữ
b Tính quốc tế
Chức năng quan trọng của thuật ngữ là biểu đạt khái niệm khoa học, trong khi tri thức khoa học chính là vốn tri thức chung của nhân loại, do đó thuật ngữ cần
có tính quốc tế Nói đến tính quốc tế của thuật ngữ, tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho
r ng “Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các tiếng khác nhau Vì vậy, sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ” [18, tr.274] Tính quốc tế của thuật ngữ thể hiện cả ở hai mặt nội dung và hình thức Xét về mặt nội dung - cái được biểu hiện, cần có sự thống nhất giữa những người nói những tiếng khác nhau Xét về mặt hình thức - cái biểu hiện, tính quốc tế được thể hiện qua mặt ngữ âm và các yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ Các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống nhau hoặc tương tự nhau, cùng xuất phát từ một gốc chung
Đôi khi tính quốc tế thể hiện trong thuật ngữ chính là kết quả của quá trình vay mượn, tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài Các thuật ngữ thường có tính thống nhất
về mặt hình thức trong phạm vi ảnh hưởng của những ngôn ngữ và vùng văn hóa lớn như khu vực Tây - Âu với tiếng La Tinh, khu vực Đông Á, Đông Bắc Á, Trung